Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Báo cáo chất lượng không khí quý II2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (663.44 KB, 10 trang )

Báo cáo chất lượng không khí
Quý II năm 2018


1. Giới thiệu
Tốc độ phát triển nhanh, đi kèm với số lượng lớn phương tiện giao thông, quy hoạch
đô thị cao, việc tăng cường sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm
không khí tại Việt Nam, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh.
Đóng góp vào những nỗ lực chung cải thiện chất lượng không khí, GreenID đã xuất
bản báo cáo định kỳ về chất lượng không khí nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng và đóng
góp những giải pháp sáng tạo cải thiện chất lượng không khí. Tiếp nối các báo cáo trước
đây, báo cáo Quý III/2018 tiếp tục phân tích số liệu quan trắc được thu thập từ Đại sứ quán
Hoa Kì tại Hà Nội và Lãnh sự quán Hoa Kì tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khác với
các báo cáo trước, báo cáo này có thêm dữ liệu quan trắc được lấy từ ba điểm đo sử dụng
máy đo nhanh Airvisual Node.
Mặc dù không khẳng định số liệu thu được có tính đại diện đầy đủ cho chất lượng
không khí ở hai thành phố trên, và chúng tôi vẫn mong đợi các điểm đo cần được thiết lập
nhiều hơn, dữ liệu lịch sử theo giờ cần được cung cấp và sử dụng công khai hơn, tuy nhiên
báo cáo này vẫn có thể đưa ra cảnh báo về chất lượng không khí ở hai thành phố.
Nhìn chung, so với Quý I/2018, chất lượng không khí Quý II/2018 của Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh tốt hơn. Kết quả này cũng tương đồng với xu hướng thay đổi chất
lượng không khí trong những năm vừa qua, với chất lượng không khí thường tốt hơn vào
Quý 2 và Quý 3 của năm. Có rất nhiều yếu tố để xác định chất lượng không khí. Mặc dù
những thành phần chính gây ô nhiễm là CO2, Sox, NOx, O3, và VOC, các thành phần khác
cũng đóng góp phần quan trọng, như là địa hình (đồi, núi), thời tiết, ví đụ như gió, áp suất
không khí, vv., và tính chất vật lý và hóa học của chất gây ô nhiễm. Chất lượng của không
khí có thể được hình thành bởi sự tương tác phức tạp giữa những yếu tố trên và do đó, rất
khó để xác định được nguyên nhân chính dẫn đến sự cải thiện của không khí trong Quý II –
2018. Nhiều khả năng, kết quả này là do sự thay đổi trong điều kiện thời tiết như hướng gió,
nhiệt độ, áp suất không khí, mưa, vv.


Hơn thế nữa, với sự gia tăng số lượng các phương tiện giao thông, khu công nghiệp
và đặc biệt là các nhà máy nhiệt điện than (theo QHĐ VII điều chỉnh), vẫn còn quá sớm để
có thể kết luận liệu chất lượng không khí có thực sự tốt và sẽ tiếp tục tốt lên trong thời gian


tới hay không. Mặc dù vậy, sự tốt lên của chất lượng không khí tại Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh là một tin vui cho người dân sống tại những thành phố này. GreenID hi vọng rằng
kết quả chất lượng không khí Quý II – 2018 sẽ là tiêu chuẩn cho chất lượng không khí của
những Quý sau.

2.

Cập nhật thực trạng chất lượng không khí
quý II năm 2018

2.1 Nồng độ PM 2.5 và chỉ số chất lượng không khí tại Hà Nội
Tại thành phố Hà Nội, nồng độ bụi PM 2.5 trong Quý II – 2018 duy trì ở mức độ tương đối,
với nồng độ trung bình là 30.06 µg/m3. Con số này thấp hơn rất so với tiêu chuẩn chất lượng
không khí xung quanh của quốc gia QVCN 05/2013/BTNMT (50 µg/m3) và so với nồng đồ
PM 2.5 của Quý I – 2018 (63.2 µg/m3). Số ngày vượt ngưỡng tiêu chuẩn PM 2.5 quốc gia cũng
giảm xuống, 7 trong 91 ngày (8%) trong Quý II so với 49 trong 90 ngày (54%) trong Quý I.
Khi so sánh với khuyến cáo nống độ PM 2.5 của Tổ chức Y tế thế giới WHO (25 µg/m3), Hà
Nội có 41 trên 91 ngày (45%) vượt ngưỡng, thấp hơn nhiều so với Quý I, với 82 trên 90 ngày
(91%) vượt ngưỡng.
Hình 1: Nồng độ PM 2.5 trung bình ngày trong Quý II-2018 tại Hà Nội, so với Quy chuẩn
quốc gia (µg/m3)


Chỉ số chất lượng không khí AQI cho biết chất lượng của không khí dựa trên sáu mức độ,
tương ứng với sáu màu khác nhau: Xanh – Tốt, Vàng – Trung bình, Cam – Không tốt cho

nhóm nhạy cảm, Đỏ - Có hại cho sức khỏe, Tím – Rất có hại cho sức khỏe, và Nâu – Nguy
hại. GreenID đã thu thập dữ liệu từ Đại sứ quán Hoa Kì tại Hà Nội và so sánh với chỉ số chất
lượng không khí AQI của Quý I – 2018, Quý II – 2017, và Quý II – 2016. Kết quả cho thấy
chất lượng không khí có tiến triển rất đáng kể. So với Quý I – 2018, Quý II có nhiều ngày chỉ
số AQI tốt (10.7%) và ít ngày có chỉ số AQI “Có hại cho sức khỏe” (0.05%) (Hình 2). So với
cùng kì năm 2017 và 2016, số ngày có AQI ‘Có hại cho sức khỏe’ giảm xuống và ít ngày AQI
ở mức gây nguy hại hơn so với Quý II – 2017 và Quý II – 2016 (Hình 3). Tuy nhiên, không
khí tại thành phố Hà Nội vẫn chỉ được coi là mức trung bình và vẫn có khả năng gây ảnh
hưởng nhỏ tới một số nhóm đặc biệt nhạy cảm.
Hình 2: Chỉ số chất lượng không khí (AQI) Quý 1-2018 và Quý II - 2018 (%) tại Hà Nội


Hình 3: Chỉ số chất lượng không khí (AQI) Quý II - 2016, 2017, 2018 tại Hà Nội (%)

Bảng 1: Tổng quan về Chất lượng không khí tại Hà Nội Qúy II - 2018
Phân loại

Tổng

AQI Trung Bình

Tháng 4

86

Không tốt
cho nhóm
nhạy cảm

Mức AQI trung bình

PM

2,5

Trung

107

Tháng 5
67

Tháng 6
84

Trung bình Trung bình

bình

(µg/m )
3

Số ngày vượt quá Quy

30,2

40

20,1

30,6


7

5

0

2

41

26

5

10

chuẩn quốc gia
Số ngày vượt quá
khuyến cáo của WHO
Bên cạnh dữ liệu quan trắc được thu thập từ Đại sứ quán, GreenID cũng tiến hành đo chỉ số
chất lượng không khí AQI bằng thiết bị đo nhanh Airvisual Node (hình 4) tại ba địa điểm
khác nhau: Lương Thế Vinh, Trần Thái Tông, và Khương Đình. Thiết bị được đo liên tục 24
tiếng 1 ngày và hàng ngày trong vòng ba tháng của Quý II – 2018. Kết quả cho thấy chỉ số
AQI từ những điểm đo này khá tương đồng với những dữ liệu được đo bởi Đại sứ quán.
Tuy nhiên, dữ liệu tại Lương Thế Vinh và Khương Đình có mức ô nhiễm không khí nguy


hại cao hơn nhiều, 19,4% và 26,9%, nguyên nhân có thể do đây là những điểm có mật độ
giao thông và nhà máy sản xuất cao (hình 5).

Hình 4: Máy đo nhanh PM 2.5 Airvisual Node

Hình 5: Chỉ số chất lượng không khí (AQI) tại ba điểm đo tại Hà Nội Quý II-2018

2.2. Nồng độ PM 2.5 và chỉ số chất lượng không khí tại TP.HCM
Nhìn chung, chất lượng không khí tại thành phố Hồ Chí Minh tốt hơn so với Hà Nội.
Nồng độ PM 2.5 trung bình tại thành phố trong Quý II -2018 là 23,6 µg/m3, thấp hơn so với
Hà Nội (30,2 µg/m3). Mức độ này còn thấp hơn cả quy chuẩn quốc gia (50 µg/m3) và nồng độ
PM 2.5 của thành phố vào Quý I – 2018 (37.2 µg/m3). Thành phố Hồ Chí Minh không có


ngày nào vượt quy chuẩn chất lượng không khí xung quanh quốc gia. Tuy nhiên, khi so
sánh với khuyến cáo chất lượng không khí của WHO, thành phố Hồ Chí Minh có 36 trên 91
ngày (39.5%) vượt chuẩn trong Quý II – 2018. Con số này thấp hơn đáng kể so với thành phố
Hà Nội cùng Quý (82 ngày vượt chuẩn, tương đương với 91%).
Đối với chỉ số AQI, số liệu được thu thập từ Lãnh sự quán Hoa Kì tại thành phố Hồ
Chí Minh và được so sánh với dữ liệu quan trắc của Quý I – 2018, Quý II – 2017, và Quý II –
2016. So với Quý I – 2018, Quý II – 2018 của thành phố Hồ Chí Minh có nhiều ngày AQI tốt
và ít ngày AQI có hại cho sức khỏe hơn. So với cùng kì năm 2017 và 2016, chất lượng không
khí không có thay đổi đáng kể.
Hình 6: Nồng độ PM 2.5 trung bình ngày trong Quý II-2018 tại TP Hồ Chí Minh, so với
Quy chuẩn quốc gia (µg/m3)


Hình 7: Chỉ số chất lượng không khí (AQI) ở TP. HCM Quý I và II - 2018

Hình 8: Chỉ số chất lượng không khí (AQI) ở TP. HCM Quý II – 2016, 2017, 2018


Bảng 2: Chất lượng không khí tại thành phố Hồ Chí Minh tại QII/2018

Phân loại
AQI Trung Bình

Tổng

Tháng 4

Tháng 5

Tháng 6

74

72

84

66

Mức AQI
Nồng độ PM 2.5 trung
bình (µg/m3)
Số ngày vượt quá Quy

Trung bình Trung bình Trung bình

23,6

22,3


28,3

20,4

0

0

0

0

36

7

7

22

chuẩn quốc gia
Số ngày vượt quá
khuyến cáo của WHO


THÔNG TIN XUẤT BẢN
Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID)
Nhà C1 X3, ngõ 6, Trần Hữu Dực, Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: (+84) 4 3795 6372
Website:

Fanpage|Youtube: GreenID Vietnam
Tác giả:
Nguyễn Thị Hằng
Nguyễn Trác Đức
Biên tập:
Nguyễn Thị Hằng
Nguyễn Trác Đức
Người dịch:
Đặng Xuân Nguyên
Thiết kế:
Trần Thanh Huyền
Hình ảnh:
Tất cả hình ảnh trong tài liệu này thuộc bản quyền của GreenID
Địa điểm và thời gian xuất bản:
Hà Nội, Việt Nam, tháng 7 năm 2018



×