Tải bản đầy đủ (.doc) (123 trang)

Quản trị rủi ro dự án đường dây 500kv tại tổng công ty truyền tải điện quốc gia

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 123 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------------

VÕ SỸ NAM

QUẢN TRỊ RỦI RO
DỰ ÁN ĐƯỜNG DÂY 500KV TẠI
TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------------

VÕ SỸ NAM

QUẢN TRỊ RỦI RO
DỰ ÁN ĐƯỜNG DÂY 500KV TẠI
TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS: PHẠM THU HƯƠNG


XÁC NHẬN CỦA

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

CHẤM LUẬN VĂN

Hà Nội - 2015


CAM KẾT
Bằng tất cả sự nỗ lực và cố gắng nghiên cứu, tìm kiếm, khảo sát số liệu, phỏng
vấn, lập bảng hỏi, gửi các bảng hỏi cho hàng chục lãnh đạo và người quản lý để co
được số liệu thực tế nhất và sống động nhất. Các số liệu thu thập được tôi đã tom gọn
lại rất nhiều và cũng co đính kèm thành một phần riêng của cuốn Luận văn này.
Tôi cũng cam kết các số liệu thu thập được từ các nguồn tài liệu trích dẫn và
phương pháp phân tích số liệu không copy hay sao chép của bất kỳ người nào khác.
Các đề xuất tại chương 4 mang tính cá nhân và cần co thời gian để thử
nghiệm, kiểm tra, kiểm chứng hoạt động QTRR trong Quản trị dự án tại TCT
Truyền tải điện Việt Nam, phân tích nhiều hơn nữa để co thể áp dụng vào thực tiễn
trong Quản trị doanh nghiệp và quản trị dự án.
Hà Nội, ngày ……. tháng …… năm 2015
Học viên

Võ Sỹ Nam


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này tôi đã được sự giúp đỡ của rất nhiều

người đã hướng dẫn, bổ sung, cung cấp số liệu, hỗ trợ các công cụ phân tích để đề
tài được điều chỉnh đúng hướng, đúng nội dung và co chiều sâu. Một phần nội dung
của đề tài co tính ứng dụng thực tiễn trong hoạt động quản trị rủi ro trong quản trị
dự án, phần số liệu trong quy mô hạn chế số trang chưa phân tích, đánh giá sâu sắc
hơn nhưng co thể làm căn cứ để phân tích sâu sắc hơn, là cơ sở để phân tích chi tiết
hơn khi khai thác QTRR từng khía cạnh nhỏ.
Tôi trân trọng cảm ơn các Giảng viên tâm huyết của Đại học Quốc gia Hà
Nội – Trường Đại học Kinh tế đã đào tạo và rèn luyện, bổ sung rất nhiều kiến thức
cho tôi trong thời gian qua.
Tôi trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Thu Hương đã hướng dẫn chi tiết và
định hướng cho tôi phương pháp, cách thức xử lý nội dung đề tài.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo và các cán bộ tại Tổng Công ty Truyền
tải điện Quốc gia.
Tôi cũng trân trọng gửi lời cảm ơn tới một số doanh nghiệp thuộc Tổng Công
ty Truyền tải điện Quốc gia đã tham gia trả lời bảng hỏi và phỏng vấn về hoạt động
Quản trị rủi ro tại đơn vị mình.
Hà Nội, ngày ……. tháng …… năm 2015
Học viên

Võ Sỹ Nam


MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................i
DANH MỤC BẢNG.................................................................................................ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ...............................................................................................iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ...........................................................................................iii
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO...........................................................................................5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.....................................................................5
1.2. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro.......................................................................8
1.2.1. Khái niệm rủi ro.......................................................................................8
1.2.2. Khái niệm QTRR.....................................................................................9
1.2.3. Phân loại rủi ro.......................................................................................11
1.2.4. Các nhân tố để nhận diện và phân tích rủi ro..........................................15
1.2.5. Các phương pháp nhận diện và đánh giá rủi ro đối với dự án................17
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................................29
2.1. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................29
2.2. Quy trình thực hiện khảo sát.........................................................................32
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO DỰ ÁN 500KV
TẠI TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA.....................................37
3.1. Giới thiệu TCT Truyền tải điện Việt Nam.....................................................37
3.2. Hoạt động kinh doanh...................................................................................42
3.3. Thực trạng về QLRR tại TCT truyền tải điện Việt Nam...............................44
3.3.1. Hoạt động QLRR một số công trình 500KV..........................................45
3.3.2. Những vấn đề cần QTRR đối với dự án.................................................77
3.4. Nhận xét về thực trạng sử dụng các công cụ QTRR.....................................79
3.4.1. Việc sử dụng các công cụ định tính........................................................79


3.4.2. Nhận xét việc sử dụng công cụ định tính................................................81
3.4.3. Việc sử dụng các công cụ định lượng.....................................................82
3.5. Những nguy cơ nếu doanh nghiệp không kiểm soát rủi ro............................84
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI
RO DỰ ÁN 500KV TẠI TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA.....86
4.1. Giải pháp đối với NPT..................................................................................86
4.1.1 Vấn đề tài chính......................................................................................86
4.1.2 Vấn đề nhân sự........................................................................................88

4.1.3 Quản lý kỹ thuật......................................................................................90
4.1.4. Quản lý nguyên vật liệu..........................................................................94
4.1.5. Thành lập phòng QLRR.........................................................................95
4.1.6. Đào tạo và nâng cao nhận thức về QTRR...............................................97
4.1.7. Thuê đơn vị đánh giá, dự báo và đề phòng rủi ro cho từng dự án (nếu
không lập phòng đánh giá rủi ro)...................................................................100
4.1.8. Doanh nghiệp mua bảo hiểm đề phòng rủi ro.......................................100
4.1.9. Nhom giải pháp cho các công ty thành viên NPT.................................101
4.2. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước...............................................102
4.2.1. Giai đoạn lập dự án đầu tư....................................................................102
4.2.2. Giai đoạn triển khai dự án đầu tư.........................................................104
4.2.3. Giai đoạn hoàn công dự án đầu tư........................................................104
KẾT LUẬN...........................................................................................................106
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................107
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Stt

Kí hiệu

Nguyên nghĩa

1

BCTC

Báo cáo tài chính


2

DA

Dự án

3

DN

Doanh nghiệp

4

ĐT

Đầu tư

5

EVN

Tập đoàn điện lực

6

KSNB

Kiểm soát nội bộ


7

KTTC

Kế toán tài chính

8

KTV

Kiểm toán viên

9

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

10

NHTM

Ngân hàng Thương mại

11

NPT

Tổng Công ty truyền tải điện Việt Nam


12

QL

Quản lý

13

QLCL

Quản lý chất lượng

14

QLRR

Quản trị rủi ro

i


DANH MỤC BẢNG

STT

Bảng

Nội dung


Trang

1.

Bảng 1.1

Các mức độ của sự bất thường

17

2.

Bảng 1.2

Ưu nhược điểm các phương pháp tính VaR

27

3.

Bảng 2.1

Bảng tổng hợp kết quả trả lời khảo sát

35

4.

Bảng 3.1


Số liệu về đường dây 500kV mạch 1 và mạch 2

40

5.

Bảng 3.2

Chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh chính

43

6.

Bảng 3.3.

7.

Bảng 3.4

8.

Bảng 3.5

9.

Bảng 3.6

10.


Bảng 3.7

11.

Bảng 3.8

Tổng hợp khối lượng đường dây và trạm 500kV đến
hết tháng 6/2015
Tổng hợp số liệu đường dây 500kV 2010 - 2014
Số liệu tài chính các dự án 500KV đã và đang triển
khai
Tổng hợp BCTC của NPT từ năm 2010 đến 2015
(ước 6 tháng sau)
Vốn đầu tư phát triển điện lực giai đoạn 2005-2009
Tổng hợp đầu tư nguồn và lưới điện giai đoạn 20112030

43
44
50
53
56
56

DANH MỤC SƠ ĐỒ

STT

Sơ đồ

Nội dung


ii

Trang


1

Sơ đồ 1.1

Quá trình đánh giá rủi ro đối với dự án

22

2

Sơ đồ 2.1

Mô phỏng quá trình nghiên cứu

34

3

Sơ đồ 3.1

Cơ cấu tổ chức cảu NPT theo công bố từ tháng
8/2014 tại www.npt.com.vn

39


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT

Biểu đồ

Nội dung

Trang

1

Biểu đồ 3.1 Nhân sự của EVN từ năm 2001 đến 2012

60

2

Biểu đồ 3.2 Cơ cấu nhân sự tại NPT

61

iii


LỜI MỞ ĐẦU
1. Về tính cấp thiết của đề tài
QTRR là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong công tác quản trị và
dưới goc độ khoa học mới được quan tâm trong những năm gần đây khi xuất hiện

hàng loạt các rủi ro quản trị từ các Ngân hàng, các doanh nghiệp nhà nước lớn đến
các doanh nghiệp tư nhân nhỏ, các dự án đầu tư bị kéo dài tiến độ. Rủi ro trong hoạt
động quản trị không còn khoanh vùng dưới goc độ tài chính nữa mà đã chuyển sang
các lĩnh vực khác. Rủi ro trong hoạt động quản trị thực sự rất đa dạng, từ hoạt động
quản trị con người đến các nguồn lực, năng lực kỹ thuật, thi công thậm chí rủi ro co
thể xảy ra ngay từ nhân viên hành chính hay các thủ tục hành chính.
Nhiều người nghĩ QTRR chỉ áp dụng với ngân hàng khi họ quản trị hàng
nghìn tỉ đồng và đa số để bảo đảm quản trị rủi ro tín dụng. Nhưng với đề tài này tôi
co cơ hội nghiên cứu rất sâu đến QTRR trong một số dự án của NPT và mong muốn
áp dụng cụ thể vào lĩnh vực tôi thường xuyên tiếp xúc là quản trị dự án các dự án
truyền tải điện 500kV trong cả nước. Đề tài đặt ra 2 vấn đề chính là nghiên cứu sâu
lý thuyết về QTRR và áp dụng vào đánh giá hoạt động QTRR của các dự án truyền
tải điện 500kV tại Tổng công ty truyền tải điện Quốc gia. Co vẻ như nhiều tham
vọng trong một đề tài Thạc sĩ nhưng tôi nhận thấy cần nỗ lực hoàn thành Luận văn
này vì các dự án truyền tải điện này ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống điện trong cả
nước, gop giá trị lớn vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hệ thống điện
phục vụ đời sống xã hội cả nước trong gần 15 năm qua. Việc nghiên cứu hoạt động
quản trị rủi ro đối với các dự án điện này là một bước đi trước để tăng cường công
tác quản trị, hơn nữa là tìm ra một số rủi ro tiềm ẩn làm tiền đề nghiên cứu sâu hơn
các rủi ro khác trong thời gian dài.
Luận văn này cũng đề xuất mang tính thực tiễn để tăng cường hoạt động
QTRR các dự án điện 500kV tại NPT. Từ thực tế đo, nhiệm vụ quan trọng hiện nay
là cần phải nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của QTRR trong công tác QLDA,
QLNS, quản lý chi phí đầu tư, quản trị tài chính, quản trị logistic. Đo cũng là lý do

1


chủ yếu tác giả lựa chọn vấn đề: “Quản trị rủi ro dự án đường dây 500kV tại
TCT Truyền tải điện Quốc gia” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực tiễn công tác quản trị rủi ro dự án đường dây 500kV tại NPT
giai đoạn từ 2010 đến 2015, nhận diện những mặt đã làm được và những mặt còn
tồn tại, yếu kém trong công tác quản trị rủi ro dự án để đưa ra các giải pháp nhằm
tăng cường công tác quản trị rủi ro dự án đường dây 500kV tại NPT trong thời gian
tới, nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án đường dây 500kV.
Câu hỏi nghiên cứu là:
- QTRR là gì? QTRR đối với dự án là quản trị những gì? Co các công cụ nào
để QTRR các dự án? Làm thế nào để đưa hoạt động QTRR vào quản trị dự án?
- Thực trạng quản trị rủi ro các dự án 500kV tại TCT truyền tải điện Quốc gia
như thế nào?
- Giải pháp nào áp dụng QTRR cho dự án điện 500kV của TCT truyền tải
điện Quốc gia?
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích của đề tài đã đặt ra như trên, nhiệm vụ của đề tài
cần tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau
- Hệ thống hoá co bổ sung một số vấn đề lý luận cơ bản về QTRR noi chung.
- Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu dựa trên kết quả thống kê về sự quan
tâm tới QTRR một số dự án 500kV mà NPT đã đầu tư, đang triển khai giai đoạn
2010 đến 2015.
- Đưa ra kiến nghị và đề xuất các giải pháp khả thi để nâng cao hoạt động
QTRR trong quản trị dự án, trong và sau khi thi công các dự án đường dây 500kV
tại NPT trong thời gian tới.

2


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính tập trung vào hoạt động QTRR các dự án 500kV
của NPT, trên cơ sở các phiếu trả lời khảo sát của các lãnh đạo doanh nghiệp, các
nhà quản lý trong doanh nghiệp thành viên của NPT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- QLRR tại dự án đầu tư xây dựng công trình điện và quản trị dự án công
trình điện 500kV của NPT.
- Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề QTRR trong đánh giá dự án
đầu tư và tập trung một số dự án lớn, điển hình của các dự án đường dây 500kV đã
và đang thực hiện tại TCT truyền tải điện Quốc gia.
- Về mặt thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu các thông tin, tài liệu thu thập từ
các dự án đường dây 500kV đã thực hiện trong giai đoạn 2010 đến 2015. Là giai
đoạn cuối triển khai nhiều dự án chuyên sâu trên cơ sở đã đúc rút kinh nghiệm triển
khai các dự án của giai đoạn trước đo.
- Vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu công tác QTRR đối với các dự án đường
dây 500kV tại NPT bao gồm quản lý nhân sự, kỹ thuật, thông tin, tài chính, nguyên
vật liệu…
4. Dự kiến đóng góp của đề tài
- Tổng quan những vấn đề chung về QTRR và các phương pháp định tính,
định lượng là các công cụ hiện tại đang sử dụng để QLRR.
- Khảo sát và đánh giá QTRR tại nhom các dự án đường dây 500KV của
NPT xây dựng trong thời gian dài, những dự án đã hoàn thành, dự án đang thực
hiện hòa điện lưới quốc gia và những dự án đang triển khai thực tế, những dự án dự
kiến triển khai trong tương lai gần.
- Chỉ ra các nguy cơ và rủi ro đối với việc triển khai thực hiện dự án đầu tư,
áp dụng với dự án xây dựng đường dây truyền tải điện 500KV.

3


- Đề xuất một số giải pháp đối với từng giai đoạn cho phù hợp với thực

trạng, những đề xuất mang tính thực tiễn và co thể triển khai sau khi được nghiên
cứu kỹ lưỡng hơn các giải pháp cụ thể.
5. Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu
đề tài gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Thực trạng hoạt động QTRR dự án 500kV tại Tổng công ty
truyền tải điện Quốc gia.
- Chương 4: Giải pháp và kiến nghị để tăng cường quản trị rủi ro dự án
500kV tại Tổng công ty truyền tải điện Quốc gia.

4


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
QTRR là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong công tác quản trị. Rủi ro
trong hoạt động quản trị không còn khoanh vùng dưới goc độ tài chính nữa mà đã
chuyển sang nhiều lĩnh vực khác. Chính vì vậy, đã co rất nhiều nghiên cứu chuyên
sâu cả trong và ngoài nước về QTRR đặc biệt trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân
hàng, quản trị doanh nghiệp. Cụ thể:
- Về khái niệm rủi ro:
Theo một số nhà khoa học, rủi ro là tình trạng xảy ra một số biến cố bất lợi
nhưng co thể đo lường được bằng xác suất. Cụ thể:
Irving Pfeffer (1953)1 cho rằng: rủi ro là những sự ngẫu nhiên co thể đo lường
được bằng xác suất;
Còn theo Marilu Hurt McCarty2: rủi ro là tình trạng trong đo các biến cố xảy ra

trong tương lai co thể xác định được.
Theo các học giả Trung Quốc: rủi ro là tình hình sự việc phát sinh theo một xác
suất nhất định hoặc sự việc lớn thay hay nhỏ được bố trí theo một xác suất; người
đầu tư đối mặt với rủi ro là tính co thể lãi hoặc lỗ; lợi nhuận rủi ro là một loại lợi
nhuận được chấp nhận do giảm chi phí rủi ro.
Với một số nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng rủi ro là hoàn cảnh trong đo một
sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện
đo co một phân phối xác suất.
Bên cạnh những khái niệm kể trên, một số nhà khoa học khác lại định nghĩa rủi ro
với sự chú trọng đến kết quả được mà không chú ý đến xác suất xảy ra. Cụ thể:

1

Irving Pfeffer, Management in the arts research program. research paper ; no.7, a problem in risk
management (1971), University of California, Los Angeles. Graduate School of Management
2
Marilu Hurt McCarty - How the World's Greatest Economic Minds Shaped Modern Thought, by McGrawHill, 2000 – The Nobel Laureates

5


Theo Allan Willet3: rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến
cố không mong đợi.
Theo A.HrThur Williams4: rủi ro là sự biến động tiền ẩn ở kết quả.
Theo Georges Hirsch5: khái niệm rủi ro gắn liền với khả năng xảy ra của một số
biến cố không lường trước hay đúng hơn là một biến cố mà ta hoàn toàn không chắc
chắn (xác suất xảy ra <1) tức là rủi ro ứng với khả năng co sai lệch giữa một bên là
những gì xảy ra trong thực tế và một bên là những gì được dự kiến từ trước hoặc
được dùng làm hệ quy chiếu, mà sai lệch này lớn đến mức kho chấp nhận được
hoặc không chấp nhận được.

Tại Việt Nam, một chương trình nghiên cứu và công bố chính thức về quản trị rủi ro
của các doanh nghiệp là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Thương Mại tại
trường Đại học Ngoại Thương theo đo “Nghiên cứu, phân tích các rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế” do PGS.TS Nguyễn Thị Quý làm chủ nhiệm đề tài đã đề cập khá nhiều các
thông tin mang tính khái niệm về rủi ro và quản trị rủi ro của nhiều tác giả trong và
ngoài nước. Cũng trong tài liệu này đã cung cấp khá đầy đủ các phân tích và nhận
định khác nhau về khái niệm rủi ro noi chung và chi tiết các khía cạnh khác nhau
của rủi ro. Để hạn chế lặp lại tác giả luận văn xin nêu rõ tên nội dung đề tài và co
thể cung cấp tài liệu cụ thể này cho những ai quan tâm.
- Ngoài ra đối với từng chuyên ngành khác nhau đều co một số các công trình nghiên
cứu Tiến sĩ thuộc khối trường Tài chính – Ngân hàng nghiên cứu chuyên sâu về QTRR
đối với các hoạt động kinh doanh tài chính và hoạt động của các ngân hàng. Ví dụ:
Sách “Quản trị rủi ro trong kinh doanh tài chính ngân hàng”. TS. Peter Rose, bản dịch
của NXB Học viện Ngân hàng, 2005. Đây là cuốn sách nền tảng cho rất nhiều xuất phát
điểm nghiên cứu và giảng dạy về QTRR hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.

3

Allan H. Willett, The Economic Theory of Risk and Insurance, New York: Columbia University Press,
1901, reprinted by The University of Pennsylvania Press, 1951.
4
C. Arthur Williams (1924 – 1976) Risk Management and Insurance by, The Journal of Risk and Insurance,
Vol. 33, No. 1 (Mar., 1966), pp. 148-150, Published by: American Risk and Insurance Association
5
Georges Hirsch, The Assessment of the Political Risk in the Investment Decision, The Journal of the
Operational Research Society, Vol. 32, No. 7 (Jul., 1981), pp. 599-610

6



Sách “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”, TS. Nguyễn Văn Tiến (Giảng
viên Học viện Ngân hàng) NXB Thống kê, Hà Nội, 2010. Một cuốn sách khá đầy
đủ về QTRR mang tính chuyên ngành được nhiều trường đại học áp dụng đào tạo.
Luận án Tiến sĩ kinh tế QTRR trong kinh doanh ngoại hối của TS. Bùi Quang Tin,
ĐH Ngân hàng HCM, 2013. Tập trung chuyên sâu vào QTRR trong kinh doanh
ngoại hối, co nhiều đề xuất tốt ảnh hưởng tới chính sách ngoại hối của Ngân hàng
nhà nước.
Luận án Tiến sĩ kinh tế, Quản trị rủi ro tín dụng của Agribank Việt Nam của TS.
Nguyễn Tuấn Anh, ĐH Kinh tế quốc dân, 2013. Đây chính là tiền đề để Agribank
Việt Nam thành lập phòng QTRR vào cuối năm 2013 với các chính sách kiểm soát
QTRR chặt chẽ hơn.
Luận án Tiến sĩ kinh tế QTRR thị trường tại Ngân hàng công thương Việt Nam của
TS. Hoàng Xuân Phong, HV Ngân hàng, 2014. Luận án rất nổi tiếng này khái quát
nhiều kiến thức về QTRR thị trương tài chính, co nhiều đề xuất điều chỉnh chính
sách QLRR thị trường tín dụng tại VCB, là nền tảng của nhiều cuốn luận văn
nghiên cứu sau này.
- Đối với QTRR dự án đầu tư chưa thực sự co nhiều người quan tâm sâu sắc do sử
dụng rất nhiều thông tin dữ kiện liên quan đến tổ chức và quản lý dự án:
Giáo trình QTRR của TS. Phạm Công Thắng, ĐH Lạc Hồng, 2014. Giáo trình co
nội dung sâu sắc về quản trị rủi ro dự án đầu tư chỉ ra các đặc điểm mang tính riêng
biệt của dự án đầu tư và cách tính toán rủi ro, các hàm số tính hiệu quả đầu tư.
Luận văn thạc sĩ: QTRR dự án đầu tư xây dựng tại công ty CP BĐS điện lực miền
trung của Ths. Phạm Thị Hồng, ĐH Đà Nẵng, 2012, co một số định hướng tốt làm
cơ sở để khảo sát số liệu và đề xuất giải pháp trong luận văn nghiên cứu này.
Luận văn thạc sĩ: QTRR trong các dự án BOT tại Việt Nam của Ths. Lộc Diệu Linh,
ĐH Ngoại Thương, 2013, nhận thấy qua luận văn này tác giả đã phân tích các số
liệu cũ, thậm chí các chính sách nhà nước đã thay đổi nhiều nhưng không cập nhật.
Các đề xuất về chính sách chưa cụ thể, mang tính chính sách, chung chung.


7


Ưu điểm các tài liệu tham khảo là đã chỉ ra các biện pháp đo đạc dự phòng rủi ro từ
khâu lập kế hoạch để ước đoán tính khả thi của dự án, lựa chọn phương án đầu tư
hợp lý dưới goc độ tài chính, dòng tiền… Thực tế quá trình thực hiện dự án 500kV
gặp rất nhiều vướng mắc như: thiếu vốn đầu tư để công trình dang dở, thiếu nguồn
nguyên liệu, thay đổi địa điểm quy hoạch, thủ tục pháp lý, thay đổi điều kiện thi
công, mặt bằng thi công, địa hình… do quá trình khảo sát lập dự án đầu tư hoặc giải
phong mặt bằng không được đều co nguy cơ kéo dài thời gian thi công, thậm chí
phải hủy bỏ dự án đầu tư.
1.2. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro
1.2.1. Khái niệm rủi ro
Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh co những sự
cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra không thể báo trước được với một cá nhân hoặc tổ
chức, những tình huống bất ngờ như vậy gọi là rủi ro. Khi noi đến rủi ro người ta
thường nghĩ đến điều không tốt lành hoặc một thiệt hại, tổn thất nào đo về vật chất
hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến do những nguyên nhân khách quan hoặc
chủ quan. Như vậy: Rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người,
đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được(Bộ Thương mại,
2008). Mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi tình huống rủi ro bất chợt xảy đến khác nhau
thì người ta đặt rủi ro trong các sự kiện khác nhau, chính điều này tạo nên sự đa
dạng và cách hiểu rất khác nhau về rủi ro. Cũng chính sự khác nhau từ trong tư duy
và quan niệm nên cách để đề phòng và dự phòng trước rủi ro cũng rất khác nhau.
Tuy kho tìm được một định nghĩa rủi ro hoàn hảo song co thể biết được rằng
rủi ro thường co hai đặc tính sau: Thứ nhất là biên độ rủi ro, là sự thiệt hại từ rủi ro
gây ra ở mức nào. Thứ hai là tần số xuất hiện của rủi ro là nhiều hay ít. Co rất nhiều
loại rủi ro khác nhau và do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau gây ra. Co những
rủi ro do môi trường tự nhiên như rủi ro do lũ lụt, động đât, khô hạn, gây thiệt hại
lớn về của cải, vật chất và tính mạng con người; co những rủi ro do môi trường kinh

tế – xã hội, chính trị gây ra như lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, chiến
tranh làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của con người; co những rủi ro do bản thân

8


hoạt động của con người gây ra như rủi ro do tai nạn hoặc rủi ro thua lỗ do trình độ
quản lý, trình độ kinh doanh yếu kém; co những kỹ thuật lạc hậu dẫn đến hậu quả là
năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao hoặc co những rủi ro do tiến bộ
khoa học kỹ thuật như rủi ro hao mòn vô hình quá lớn, không kịp thu hồi vốn đầu tư
trong trang thiết bị máy moc thiết bị và tài sản cố định, các rủi ro này thường xuất
hiện trong lĩnh vực sản xuất đặc biệt là lĩnh vực sản xuất xây dựng. Hầu hết các rủi
ro xảy ra đều nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người.
Rủi ro (Risk) trong kinh tế là những tác hại bất thường xẩy ra mà các hệ
thống không thể dự phòng, dự báo trước nhưng phải chấp nhận để xử lý.
Theo tôi QTRR co vị trí và vai trò rất quan trọng trong môi trường doanh nghiệp
hiện đại và nhanh chong thay đổi thị trường như ngày nay, càng ngày nhận thức về rủi
ro càng phải nâng cao, chỉ cần một sơ xuất trong bài phát biểu, trong một bình luận trên
báo chí, một tấm ảnh của nhân viên phàn nàn tung lên facebook, một tin đồn thất thiệt
trên internet khiến bán tháo cổ phiếu... đều co thể gây thiệt hại hàng nghìn tỉ đồng. Đo
là những gì thực tế đang diễn ra và hàng ngày hàng ngàn doanh nghiệp lớn trên thế giới
vẫn phải giải quyết các rủi ro không thể báo trước này.
1.2.2. Khái niệm QTRR
Tuy vậy, QTRR chỉ mới được quan tâm rộng rãi sau sự sụp đổ kinh tế năm
1997 -1998 và càng rõ nét khi năm 2008 - 2009 sụp đổ các công ty huy động vốn
qua kênh chứng khoán và phát triển mạnh mẽ của thông tin truyền thông, cực kỳ
nhanh chong tác động tới quy mô hoạt động lớn của bất kỳ doanh nghiệp nào. Gần
đây nhất năm 2012 là một loạt các rủi ro do sự tính toán sai lầm của các quốc gia
lớn làm hệ thống kinh tế các quốc gia lớn nhỏ đều rung động, thay đổi cơ cấu nhanh
hơn bao giờ hết trong lịch sử. Đã co không ít các vụ đổ bể tài chính của các ngân

hàng, các tập đoàn kinh tế lớn diễn ra tại nhiều quốc gia từ các nước co nền kinh tế
phát triển đến các nước đang phát triển (Cẩn Văn Lực, 2013). Thực trạng này đã
khiến các nhà hoạch định chính sách đến các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp quan
tâm đặc biệt đến QTRR và đưa ra các tiêu chuẩn trong toàn hệ thống nhằm QTRR
nhưng vẫn không thể bao phủ hết được các rủi ro còn tiềm ẩn, mang tính nguy cơ.

9


Càng ngày việc QTRR càng thể hiện ở rất nhiều các cấp quản lý khác nhau, từ vấn
đề của các tổ chức quốc tế, các quốc gia đến các tổ chức, hoạt động của doanh
nghiệp, các dự án cụ thể đều co các nguy cơ rủi ro thể hiện mức độ khác nhau.
Nếu theo các mô hình quản trị doanh nghiệp phổ biến hiện nay như 4P, 5C,
7S thì các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp và yếu tố bên trong doanh nghiệp đều
tiềm ẩn các nguy cơ rủi ro buộc nhà quản trị doanh nghiệp phải biết, phải suy đoán,
phải dự phòng được bằng cách này hay cách khác.
Như vậy theo tôi hoạt động QTRR là hoạt động của người quản trị theo dõi,
giám sát quá trình vận hành sản xuất, cung cấp dịch vụ nhằm giảm thiểu tối đa các
thiệt hại đã được phát hiện hoặc nguy cơ tiềm ẩn gây ra thiệt hại đến tài sản hoặc
tài chính.
Các rủi ro co ảnh hưởng rất lớn đến các tổ chức, các doanh nghiệp, các hoạt
động SXKD, cung cấp dịch vụ, no gây ra những tổn thất đòi hỏi phải tốn kém
những khoản chi phí không nhỏ để khắc phục những tổn thất đo bị mất đi mà nếu co
dự phòng trước thì không mất hoặc giảm thiểu. Thông thường chi phí rủi ro co hai
dạng: chi phí rủi ro xác định và chi phí rủi ro kho xác định.
QLRR còn được hiểu là một sự cố gắng có tổ chức để nhận ra và lượng hoá
các khả năng xảy ra rủi ro đồng thời đề xuất các kế hoạch nhằm loại trừ hoặc giảm
bớt các hậu quả mà rủi ro có thể gây ra. (Nguyễn Thị Quý, 2007).
Theo một số tài liệu, QLRR đã được thực hiện một cách không chính thức
ngay từ thuở ban dầu của loài người nhưng hoạt động này được phát triển rầm rộ

vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XX. Theo giáo sư H.Wayne Snider thuộc đại học
Temple của Hoa Kỳ thì QLRR bắt đầu đi vào một giai đoạn mang tính quốc tế từ
giữa những năm 70 - ông gọi đo là “giai đoạn toàn cầu hoá". Cũng theo Snider, hiệp
hội QTRR và bảo hiểm (viết tắt là RIMS) - hiệp hội gồm những chuyên gia hàng
đầu trong lĩnh vực này - là hiệp hội đi đầu trong việc thiết lập những quan hệ với
các nhà QLRR châu Âu và châu Á vào những năm 70 của thế kỷ XX.
Trong những năm 90, các hoạt động QLRR tiếp tục phát triển, hàng loạt các
hiệp hội QLRR ra đời ở Mỹ như hiệp hội QLRR công cộng (viết lắt là PRIMA), hội

10


QLRR về chăm soc sức khoẻ Mỹ (viết tắt là ASHRM), hiệp hội QLRR và bảo hiểm
của trường đại học (viết tắt là URMIA), trung tâm quốc gia về QLRR và bảo hiểm
cộng đồng,... đã làm cho hoạt động này trở thành một hoạt động không thể thiếu đối
với các tổ chức và doanh nghiệp nhất là các tổ chức co qui mô lớn. Mặc dù co nhiều
chức năng quản trị cơ bản giống như các hình thức quản trị khác trong các tổ chức
hoặc các doanh nghiệp như quản trị chiến lược, quản trị hoạt động...nhưng mục đích
cuối cùng của các nhà QLRR là giúp cho các tổ chức, các doanh nghiệp giảm tối đa
các chi phí về rủi ro dưới mọi hình thức và làm tăng tối đa những lợi ích của rủi ro
nhờ mạo hiểm.
1.2.3. Phân loại rủi ro
Để co thể nhận biết và quản lý các rủi ro người ta thường phân biệt các rủi ro
tuỳ theo mục đích sử dụng trong phân tích các hoạt động kinh tế. Nhằm giảm thiểu số
lượng trang nên tác giả xin tom tắt rất ngắn gọn bằng các tiêu chí phân loại khác nhau.
a. Theo tính chất khách quan của rủi ro sẽ có rủi ro thuần tuý và rủi ro suy tính
(rủi ro suy đoán) (Pure Risks and Speculative Risks).
- Rủi ro thuần tuý là loại rủi ro tồn tại khi co nguy cơ tổn thất nhưng không
co cơ hội kiếm lời, đo là loại rủi ro xảy ra liên quan tới việc tài sản bị phá huỷ, lúc
đo hoặc là co mất mát tổn thất nhiều, hoặc là co mất mát tổn thất ít và khi rủi ro

thuần túy không xảy ra thì không co mất mát tổn thất. Hầu hết các rủi ro chúng ra
gặp phải trong cuộc sống và thường để lại những thiệt hại lớn về của cải vật chất và
co khi cả tính mạng con người đều là rủi ro thuần tuý không biết trước và co tính
bất khả kháng.
- Rủi ro suy tính (rủi ro suy đoán) là rủi ro tồn lại khi co một nguy cơ tổn thất
song song với một cơ hội kiếm lời. Đo là loại rủi ro liên quan đến quyết định lựa
chọn của con người. Thuộc loại này là các rủi ro khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh
(SXKD) được tính toán và ước lượng trước.
Nhận xét: Người ta co thề dễ dàng chấp nhận rủi ro suy tính nhưng hầu như
không co ai sẵn sàng chấp nhận rủi ro thuần tuý. Việc phân chia rủi ro thành rủi ro
thuần tuý và rủi ro suy tính co ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn kỹ thuật để

11


đối pho, phòng tránh rủi ro. Đối với rủi ro suy tính, người ta co thể đối pho bằng kỹ
thuật Hedging (rào cản) còn rủi ro thuần tuý được đối pho bằng kỹ thuật bảo hiểm.
Tuy nhiên, hầu hết trong các rủi ro đều chứa cả hai yêu tố: thuần tuý và suy tính và
trong nhiều trường hợp ranh giới giữa hai loại rủi ro này còn mơ hồ.
b. Theo hậu quả ảnh hưởng tới con người, người ta chia thành rủi ro số đông và
rủi ro bộ phận.
- Rủi ro số đông là các rủi ro gây ra tổn thất khách không phải do cá nhân
gây ra và hậu quả của no ảnh hưởng đến số đông con người trong xã hội. Loại này
co các rủi ro do chiến tranh, lạm phát, thất nghiệp, động đất, lũ lụt....
- Rủi ro bộ phận là các rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan của từng cá
nhân xét theo cả về nguyên nhân và hậu quả. Tác động của loại rủi ro này ảnh
hưởng tới một số ít người nhất định. Loại này gồm các rủi ro do tai nạn (tai nạn giao
thông, tai nạn lao động, hoả hoạn,…) do thiếu thận trọng trong khi làm việc cũng
như trong cuộc sống (rủi ro do mất trộm....).
Nhận xét: Việc phân biệt hai loại rủi ro này co ý nghĩa quan trọng trong việc

tổ chức xã hội, no liên quan đến việc co thể hay không thể chia sẻ bớt những rủi ro
trong cộng đồng xã hội. Nếu một rủi ro bộ phận xảy ra, các tổ chức hay cá nhân
khác co thể giúp đỡ bằng những khoản đong gop vào các qũy trợ giúp nhằm chia sẻ
bớt những rủi ro nhưng khi rủi ro số đông xảy ra thì việc chia sẻ rủi ro bằng cách
trên là không co tác dụng. Việc phân loại rủi ro theo cách này chưa được rõ ràng vì
rủi ro co thể chuyển từ dạng này sang dạng khác tuỳ theo sự thay đổi của khoa học
kỹ thuật và khung cảnh xã hội.
c. Theo nguồn gốc phát sinh các rủi ro, có các loại rủi ro sau:
- Rủi ro do các hiện tượng tự nhiên: đây là nguồn rủi ro cơ bản để lại những
hậu quả rất nghiêm trọng đối với con người. Nước lũ, nắng nong, hoạt động của núi
lửa,... Việc nhận biết các nguồn rủi ro này tương đối đơn giản nhưng việc đánh giá
khả năng xảy ra cũng như mức độ xảy ra của các rủi ro xuất phát từ nguồn này lại
hết sức phức tạp bởi vì chúng phụ thuộc tương đối ít vào con người, mặt khác khả
năng biểu biết và kiểm soát các hiện tượng tự nhiên của con người còn hạn chế.

12


- Rủi ro do môi trường vật chất: các rủi ro xuất phát từ nguồn này là tương
đồi nhiều, chẳng hạn như hoả hoạn do bất cẩn, cháy nổ....
- Rủi ro do các môi trường phi vật chất khác: Nguồn rủi ro rất quan trọng và
làm phát sinh rất nhiều rủi ro trong cuộc sống chính là môi trường phi vật chất hay
noi cụ thể đo là các môi trường kinh tê, xã hội, chính trị, pháp luật hoặc môi trường
hoạt động của các tổ chức, quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp, quyết định người
quản trị dự án... Quá trình hoạt động của các tổ chức co thể làm phát sinh nhiều rủi
ro và bất định. Việc thay đổi tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất tín dụng, quan hệ cung cầu trên thị trường, giá cả thị trường diễn biến bất ổn,... đều co thể đem lại rủi ro
cho các tổ chức SXKD.
Nhận xét: Các tổn thất phát sinh từ các nguồn rủi ro là rất nhiều và rất đa dạng.
Một số tổn thất co thể phát sinh từ cả hai nguồn rủi ro khác nhau, chẳng hạn rủi ro cháy
một ngôi nhà co thể do bất cẩn khi đun bếp nhưng cũng co thể do cố tình đốt phá.

d. Theo khả năng khống chế của con người chia ra rủi ro có thể khống chế và
rủi ro không thể khống chế.
Một số loại rủi ro khi xảy ra, con người không thể chống đỡ nổi. Thuộc loại
này co các rủi ro do thiên tai, địch hoạ,...Tuy nhiên, đa số các rủi ro con người co
thể chống đỡ hoặc co những biện pháp nhằm hạn chế được thiệt hại nếu co những
nghiên cứu, dự đoán được khả năng và mức độ xây ra
e. Theo phạm vi xuất hiện rủi ro có thể chia ra rủi ro chung và rủi ro cụ thể
- Rủi ro chung là các rủi ro gắn chặt với môi trường chính trị, kinh tế và pháp
luật. Các rủi ro chính trị gồm co rủi ro về hệ thống chính trị, rủi ro chính sách thuế;
rủi ro do cơ chế quản lý cấp vĩ mô; rủi ro về chế độ độc quyền; rủi ro do chính trị
sách hạn chế nhập khẩu; rủi ro do không đạt được hoặc không gia hạn hợp đồng;…
Các rủi ro thương mại quốc gia gồm co rủi ro do lạm phát; rủi ro do tỷ lệ lãi suất
thay đổi; rủi ro do sản phẩm hàng hoá mất giá; rủi ro do chính sách ngoại hối và đặc
biệt ở Việt Nam còn co thể co rủi ro do không chuyển đổi được ngoại tệ… Các rủi
ro gắn với môi trường pháp luật quốc gia gồm co rủi ro do thay đổi chính sách pháp

13


luật và qui định; rủi ro về việc thi hành pháp luật; rủi ro do trì hoãn trong việc bồi
thường;….
- Rủi ro cụ thể là các rủi ro gắn liền với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
(SXKD) cụ thể hoặc lĩnh vực hoạt động khác.
Đối với một dự án của công trình xây dựng co thể co các rủi ro theo các giai
đoạn của quá trình đầu tư xây dựng, các rủi ro đối với việc thực hiện và hoàn thành
kế hoạch, các rủi ro trong quá trình vận hành. Theo các giai đoạn của quá trình đầu
tư và xây dựng, một tổ chức SXKD co thể gặp rủi ro vì đấu thầu; rủi ro về cấp phát
vốn đầu tư; rủi ro do sự phối hợp giữa tổ chức thiết kế, giám sát, cung cấp trang
thiết bị với đơn vị thi công, không theo đúng kế hoạch tiến độ đã định; rủi ro trong
thi công XD; rủi ro trong quá trình thanh quyết toán; Đối với việc thực hiện và hoàn

thành kế hoạch, tổ chức XD co thể gặp rủi ro do sự chậm trễ trong thi công và cung
ứng các yếu tố sản xuất; rủi ro do phải phá đi làm lại; rủi ro do các nguyên nhân bất
khả kháng… Trong quá trình vận hành khai thác co thể co các rủi ro về trang bị cơ
sở hạ tầng; rủi ro về kỹ thuật và công nghệ thi công; rủi ro về quản lý; rủi ro do tăng
chi phí lưu thông; rủi ro do trình độ cán bộ công nhân vận hành khai thác; rủi ru do
các nguyên nhân bất khả kháng; rủi ro trách nhiệm;…
Vậy cả tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân co khả năng chấp nhận rủi ro khác
nhau. Một số người co khả năng chấp nhận rủi ro cao và họ không tiến hành một
biện pháp phòng ngừa nào cả vì họ tin rằng co ít rủi ro xảy ra với họ và họ co thể
chấp nhận được. Một số người khác lại ít co khả năng chấp nhận rủi ro hơn và do họ
cố gắng tiến hành mọi biện pháp phòng ngừa co thể như mua các loại bảo hiểm
hoặc thực hiện mọi cách phòng ngừa rủi ro trong cuộc sống. Một số dự án được
nhận thức tốt về rủi ro sẽ dự phòng sớm, nhưng để tiết kiệm chi phí đầu tư vô số các
doanh nghiệp lựa chọn không đề phòng rủi ro cho các dự án. Tuy nhiên, dù khả
năng chấp nhận rủi ro của mỗi người khác nhau nhưng noi chung mọi người đều sợ
rủi ro. Vì thế, việc chúng ta cố gắng nhận biết được mọi rủi ro co thể xảy ra và đánh
giá được mức độ trầm trọng của rủi ro là việc làm hết sức quan trọng, rất cần thiết
và không dễ triển khai.

14


1.2.4. Các nhân tố để nhận diện và phân tích rủi ro
1.2.4.1. Độ tin cậy
Nghiên cứu về rủi ro nhằm hạn chế các tác hại của rủi ro và nâng cao độ tin
cậy của đối tượng của quản lý. Đảm bảo độ tin cậy của hệ thống sản xuất, thiết bị,
máy moc hay một hệ thống quản lý vận hành dự án là một vấn đề quan trọng. Giải
quyết vấn đề này sẽ cho phép giảm tổn thất do ngừng thi công triển khai xây dựng,
hoặc sản xuất, hoặc giảm chi phí thay thế, chi phí tài chính phục vụ cho việc duy trì
hoạt động, chi phí sửa chữa, giảm ngừng việc trong thời gian sử dụng khai thác.

Thiết bị công nghệ co độ tin cậy thấp sẽ đe doạ sự an toàn lao động và đôi khi cả
mạng sống con người, đưa đến những hậu quả không lường hết được về mặt kinh tế.
Chú ý đến độ tin cậy là thể hiện trình độ quản lý ở mức phát triển cao. Để tăng độ
tin cậy cần:
- Hợp tác chặt chẽ giữa người sử dụng, khai thác và người thiết kế, sản
xuất các thiết bị hay hệ thống quản lý.
- Phân tích các nguyên nhân chủ yếu, các dạng hư hỏng, các rủi ro tổn thất co
thể xảy ra và hậu quả của chúng.
- Phổ biến phương pháp thiết kế tin cậy đối với hệ thống quản lý máy và hệ
thống sản xuất.
Cải thiện độ tin cậy sẽ đi liền với việc tăng chi phí thiết kế, chi phí sản xuất
đồng thời giảm chi phí sử dụng, khai thác.
1.2.4.2. Vấn đề an toàn
Theo Từ điển Tiếng Việt - Ngôn ngữ học Việt Nam của nhà xuất bản Từ điển
bách khoa, an toàn là "bình yên không bị tai nạn, thiệt hại”; Theo từ điển Từ và ngữ
Việt Nam của nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh an toàn là “yên ổn, không còn
sợ tai hoạ"; Theo từ điền Tiếng Việt 2004 của Viện Ngôn ngữ học, an toàn là "yên
ổn hẳn, tránh được tai nạn, tránh được thiệt hại". Trong SXKD, co thể hiểu an toàn
là khả năng đảm bảo xảy ra rủi ro, tổn thất ở mức chấp nhận được và đảm bảo thực
hiện các mục tiêu đã đề ra với xác suất đã cho. An toàn được biểu hiện thông qua
các chỉ tiêu: xác suất an toàn và độ an toàn.

15


Độ an toàn là khái niệm để chỉ mức độ đảm bảo an toàn, không xảy ra rủi ro,
tổn thất trong SXKD hoặc trong các công tác khác. Trong công tác quản lý co các
khái niệm độ an toàn và kỹ thuật, độ an toàn về tài chính, độ an toàn chất lượng, độ
an toàn vô giá thành, độ an toàn và thời gian thực hiện, độ an toàn co liên quan đến
môi trường,...

Để đo mức độ an toàn, co thể sử dụng chỉ số độ an toàn (A), co thể biểu thị
bằng một phổ các con số chỉ mức độ an toàn trong SXKD hoặc bằng khái niệm chỉ
mức độ an toàn từ thấp đến cao cho các lĩnh vực như giao thông, y tế hoặc bằng các
ký hiệu, màu sắc khác nhau (vàng, da cam, đỏ) để chỉ mức độ an toàn về quân sự,
an ninh, hoả hoạn. Chỉ số độ an toàn càng lớn thì mức độ an toàn càng cao và do đo
khả năng xảy ra rủi ro càng thấp.
1.2.4.3. Phân biệt rủi ro nguy cơ và rủi ro bất thường
Với mỗi hoạt động của các dự án thường các rủi ro sẽ xảy ra một trong ba
tình huống sau:
- Tình huống xác định chắc chắn: kết quả chắc chắn đạt được trong tương lai
được xác định chi tiết, chính xác và cụ thể.
- Tình huống rủi ro: không chắc chắn về kết quả sẽ đạt được trong tương lai
nhưng co thể ước tính được xác suất xảy ra của các biến cố sẽ đạt được trong tương
lai hoặc các viễn cảnh mà chúng ta mong muốn (nếu chúng ta tiến hành nghiên cứu
một cách đầy đủ và khoa học).
- Tình huống bất thường: không chắc chắn về kết quả sẽ đạt được trong
lương lai đồng thời không thể ước tính được xác suất xảy ra của các biến cố trong
tương lai.
Rủi ro và bất thường đều được hình thành do tình trạng thiếu các thông tin
hoặc thiếu những hiểu biết về các vấn đề liên quan đến các hoạt động trong tương
lai một cách chính xác (chắc chắn) như thiếu các hiểu biết và điều kiện kinh doanh,
sự phát triển kỹ thuật, khả năng cung cấp vốn đầu tư,...
Nhìn chung, sự bất thường co thể hiện diện hai mức độ khác nhau được minh
họa trong bảng 1.1

16


×