ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỊ NHÀNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC (TỈNH HẢI DƯƠNG)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN THỊ NHÀNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC (TỈNH HẢI DƯƠNG)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Lê
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Đảng bộ huyện huyện Gia Lộc
(tỉnh Hải Dương) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến
năm 2015” là công trình nghiên cứu của tôi. Trong công trình nghiên cứu này,
tôi có tham khảo nội dung của nhiều công trình nghiên cứu khác và đã có chú
thích theo quy định.
Công trình này chưa từng được công bố trên bất cứ phương tiện nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về nội dung
nghiên cứu của đề tài này.
Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2019
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Nhàng
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc
thu thập và nghiên cứu tài liệu, song tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện từ phía cơ quan Sở nông nghiệp và phát
triển nông thôn tỉnh Hải Dương; Phòng nông nghiệp huyện Gia Lộc và các
thầy cô giáo Khoa Lịch sử- Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
(Đại học Quốc gia Hà Nội), đặc biệt là người hướng dẫn khoa học - PGS.TS.
Nguyễn Đình Lê. Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự quan
tâm, giúp đỡ quý báu đó.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng với vốn kiến thức còn hạn chế,
luận văn chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự
đóng góp của quý Thầy cô giáo, các cơ quan và bạn đọc để luận văn của tôi
được hoàn thiện hơn và có cơ sở để phát triển hướng nghiên cứu tiếp theo.
Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2019
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Nhàng
MỤC LỤ
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................7
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu...............................8
6. Đóng góp của luận văn................................................................................10
7. Kết cấu của luận văn...................................................................................10
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN
GIA LỘC (TỈNH HẢI DƯƠNG) VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾTỪ NĂM
2005 ĐẾN NĂM 2010....................................................................................11
1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ
huyện Gia Lộc.................................................................................................11
1.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ
huyện Gia Lộc.................................................................................................11
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Gia Lộc (2005-2010).........................32
1.2. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc (2005-2010)...................39
1.2.1. Về nguồn lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp..................................39
1.2.2. Về trồng trọt..........................................................................................41
1.2.3. Về chăn nuôi..........................................................................................44
Tiểu kết Chương 1...........................................................................................47
Chương 2. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC (TỈNH HẢI
DƯƠNG) VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2010 ĐẾN
NĂM 2015.......................................................................................................48
2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng bộ huyện huyện Gia Lộc (20102015)................................................................................................................48
2.1.1. Bối cảnh và yêu cầu mới đặt ra.............................................................48
2.1.2. Chủ trương mới của Đảng bộ huyện.....................................................54
2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc phát triển kinh tế nông nghiệp
(2010-2015).....................................................................................................60
2.2.1. Về nguồn lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp..................................60
2.2.2. Về trồng trọt..........................................................................................60
2.2.3. Về chăn nuôi..........................................................................................64
Tiểu kết Chương 2...........................................................................................67
Chương 3. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.............................................68
3.1. Nhận xét...................................................................................................68
3.1.1. Về ưu điểm.............................................................................................68
3.1.2. Về hạn chế.............................................................................................73
3.1.3. So sánh đặc điểm phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Gia Lộc với
những huyện khác trong tỉnh Hải Dương........................................................74
3.2. Một số kinh nghiệm..................................................................................76
3.1.1. Một số kinh nghiệm về nhận thức..........................................................76
3.1.2. Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo thực tiễn..........................................77
Tiểu kết Chương 3...........................................................................................79
KẾT LUẬN....................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................82
PHỤ LỤC.......................................................................................................98
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1- BCH: Ban Chấp hành
2- CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
3- HTXDVNN: Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
4- GTSX: Giá trị sản xuất
5 - KT - XH : Kinh tế - Xã hội.
6- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng nông nghiệp......44
qua các năm 2005 - 2010.................................................................................44
Bảng 1.2 Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm....................................45
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa qua các năm 2011 - 2015.........62
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô qua các năm 2011 - 2015.......62
Bảng 2.3. Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 2011 - 2015...............65
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế nông nghiệp là một trong những bộ phận quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Để đảm bảo vững chắc lương thực quốc gia, cung cấp
nguồn nguyên liệu cho công nghiệp và tạo việc làm cho người dân thì tất yếu
nước ta cần phải phát triển nền kinh tế nông nghiệp. Trong công cuộc đổi
mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã chủ
trương: "Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực
hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu. Các chương trình đó là sự cụ thể hóa nội dung chính
của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu"[23, tr. 459,460]. Đại hội
VI đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội (CNXH).
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung, phát triển từng bước hoàn thiện
đường lối đổi mới, lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) nhằm xây dựng nền kinh
tế của CNXH. Trong đó, CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn lại là một bộ
phận quan trọng của nước ta, đưa đất nước phát triển không ngừng.
Chính vì vậy, trong tiến trình đổi mới, nông nghiệp luôn luôn là ngành
kinh tế được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng, góp phần lớn vào thực
hiện ba chương trình kinh tế do Đại hội VI đề ra và sự ổn định của đất nước.
Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), nông nghiệp Việt Nam có
bước phát triển nhảy vọt. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương
khóa VII (06 - 1993) chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn. Hội nghị nêu lên ba mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn
đến năm 2000: " Một là, giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực và thực
phẩm cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp, bảo vệ
1
tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái. Hai là, tăng thu nhập, cải thiện một
bước đời sống vật chất văn hóa của nhân dân, tăng thêm diện giàu, đủ ăn, xóa
đói giảm nghèo, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Ba là, xây dựng nông thôn
mới về mọi mặt. Hội nghị xác định những quan điểm chỉ đạo cụ thể như phát
triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trong
quá trình CNH - HĐH, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách kinh tế nhiều
thành phần trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo định hướng XHCN;
gắn với sản xuất thị trường, mở rộng sản xuất đi đôi với mở rộng thị trường
tiêu thụ nông sản…"[16, tr. 60,61].
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII) đã nhanh chóng nhận được sự
hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân và góp phần quan trọng vào quá trình thúc
đẩy công cuộc đổi mới và chủ trương trên là một trong những vấn đề then
chốt trong nền kinh tế của nước ta.
Tuy nhiên, nền kinh tế nông nghiệp của nước ta hiện nay vẫn còn nghèo
nàn, lạc hậu, và còn gặp nhiều thách thức to lớn như: sự cạnh tranh quyết liệt
của hàng nông sản, các hàng rào phi thuế quan, sự bất đồng về giá cả không
có nguồn tiêu thụ. Đặc biệt, do không có nguồn tiêu thụ nên nhiều người nông
dân đã phải đổ bỏ đi rất nhiều loại rau, củ, quả…
Tại Hải Dương vào đầu năm 2018 su hào bị rớt giá, người nông dân phải
tự tay phá bỏ cả đồng rau. Trong khi đó, trong thị trường Việt Nam vẫn tồn tại
những loại rau, củ, quả của Trung Quốc kém chất lượng. Tất cả những điều đó
đã tạo khó khăn rất lớn đến nền kinh tế nông nghiệp của nước ta ngày càng
nghiêm trọng hơn…
Trong điều kiện khó khăn đó, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã vận dụng chủ
trương của Trung ương để chỉ đạo sát sao xây dựng kinh tế - xã hội các huyện
thị phát triển, trong đó có Gia Lộc, nơi có khá nhiều thành tích trong công
cuộc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, nhất là trong lĩnh vực
nông nghiệp.
2
Gia Lộc là một huyện nằm ở phía tây nam của tỉnh Hải Dương với tổng
diện tích tự nhiên toàn huyện 122,15 km² và dân số 152.989 người (năm
2006). Địa hình huyện Gia Lộc là đồng bằng, đất nông nghiệp chiếm tới 67%
diện tích. Đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp.
Gia Lộc là một trong những huyện có truyền thống hiếu học và là mảnh đất
địa linh nhân kiệt, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như: Đền Đươi
thờ Nguyên phi Thái hậu Ỷ Lan là một ngôi đền cổ được xây dựng từ thời nhà
Lý vào thế kỷ thứ XI và được mệnh danh là một trong những " danh lam Cổ
Tự", là khu di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia xếp hạng năm 1991; ngoài ra,
có Đền Quát thờ Yết Kiêu, một gia thần của Trần Hưng Đạo và ông đã có
công lớn trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước, có biệt tài thủy chiến.
Huyện Gia Lộc có vị trí giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế, có
đường 17 chạy qua địa phận huyện và đường thủy trên sông Thái Bình, thuận
lợi cho trao đổi buôn bán được dễ dàng. Đặc biệt, nguồn tiêu thụ sản phẩm
được trao đổi buôn bán với huyện, tỉnh khác lân cận được thuận lợi. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc thì ngành nông nghiệp đã sản xuất ra
nhiều loại hàng hóa, đáp ứng yêu cầu thị trường đạt giá trị sản xuất ngày càng
cao. Các công trình xây dựng phục vụ cho sản xuất và dân sinh đã được đưa
vào sử dụng ngày càng nhiều. Gia Lộc không chỉ giàu truyền thống lịch sử,
văn hóa mà đã từng bước phát triển kinh tế, thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu
tư trong và ngoài nước. Do vậy, đã động viên được mọi tầng lớp nhân dân
tham gia thi đua lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm
và xây dựng nông thôn mới.
Đảng bộ huyện Gia Lộc đã vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Hải Dương với tinh thần thi đua lao động sản
xuất và sự cố gắng phấn đấu sản xuất trong những năm qua, mà huyện Gia
Lộc đã đạt được những thành tựu đáng kể trong những năm 2005 - 2015. Tuy
nhiên, những thành tựu đạt được chưa thực sự tương xứng với tiềm năng vốn
3
có của huyện. Vì vậy, Đảng bộ huyện Gia Lộc cần phải tổng kết, rút ra những
bài học kinh nghiệm để có những chủ trương, lãnh đạo phù hợp với tình hình
mới nhằm để phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Gia Lộc được giàu
mạnh, trở thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Từ những lý luận khoa học và thực tiễn trên, học viên đã chọn đề tài:
"Đảng bộ huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015"làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một trong những ngành kinh tế được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
nhất và hết sức thu hút từ thời xa xưa cho tới nay, đó là kinh tế nông nghiệp. Cho
tới hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp. Tuy
nhiên, mỗi nhà nghiên cứu sẽ có những kết quả khác nhau với nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau. Có thể phân chia thành hai nhóm nghiên cứu sau:
Nhóm 1. Các công trình nghiên cứu, bài viết về kinh tế nông nghiệp,
nông nghiệp, có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau đây:
- PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ
đổi mới ( 1986 - 2002), Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003. Tác giả của cuốn sách
khẳng định sau 15 năm đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt
Nam đã đạt nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh, những thành tựu,
nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam cũng đã xuất hiện những vấn
đề nổi cộm, những khó khăn và những thách thức mới như vấn đề ruộng đất ở
nông thôn, vấn đề lao động, việc làm của nông dân, vấn đề thu nhập và đời
sống của nông dân, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị gia
tăng, vấn đề phương thức sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ nông sản hàng hóa
cho nông dân…. Những vấn đề đó cần được nghiên cứu và đưa ra giải pháp
phù hợp với tình hình hiện tại.
4
- Nguyễn Kế Tuấn, CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con
đường và bước đi, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006. Theo tác giả thì
sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam có sự chuyển biến vượt bậc,
đời sống xã hội ở nông thôn đã có những chuyển biến quan trọng trên con
đường hình thành và phát triển. Để tiếp tục quá trình đổi mới, bước đi của
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam phải từng bước giải quyết
những hệ lụy, nảy sinh trong quá trình CNH - HĐH như chất lượng, hiệu quả
tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thấp, năng lực cạnh tranh quốc tế….
- PGS. TS Trương Thị Tiến, Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp ở Việt
Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999. Cuốn sách bàn về quá trình đổi
mới cơ chế quản lý nông nghiệp, chuyển đổi mô hình quản lý HTX sang quản
lý hộ và HTX.
Nhóm 2. Các công trình nghiên cứu, bài viết về sự lãnh đạo của Đảng,
Đảng bộ các địa phương về kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp có thể kể đến:
- Lịch sử Đảng bộ huyện Gia Lộc (1930 - 2000).
- Vũ Thị Lương, Đảng bộ huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương lãnh đạo
kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010. Luận văn Thạc sĩ, Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2014. Luận văn
tập trung nghiên cứu về sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Cẩm
Giàng. Qua đó đưa ra nhận xét, đánh giá cả ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên
nhân đúc rút kinh nghiệm trong sự phát triển kinh tế nông nghiệp ở những
giai đoạn tiếp theo.
- Hoàng Thị Ánh Nga, Quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2005. Luận
văn Thạc sĩ, Đại học Quốc Gia. Hà Nội, 2006. Luận văn tập trung nghiên cứu
sự lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH nông
nghiệp, nông thôn nói chung; vấn đề phát triển nền kinh tế nông nghiệp chưa
được đề cập.
5
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Nguyễn Văn Vinh (2010), Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm
2005, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Những công trình trên đã nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau và đều
khẳng định được những vai trò to lớn của kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong
nền kinh tế quốc dân. Và từ các nghiên cứu trên đã phản ánh được đường lối,
chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp, sự lãnh đạo của Đảng
bộ địa phương, trong đó có Đảng bộ Hải Dương. Các công trình cũng đã nêu
lên những thành tựu, hạn chế của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về Đảng bộ
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
2005 đến năm 2015. Vì vậy, với đề tài: Đảng bộ huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015,
nhằm vẽ lên bức tranh hoàn mỹ hơn về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp
huyện, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Từ
đó, rút ra những bài học kinh nghiệp lịch sử nhằm phát huy những thành tựu và
khắc phục những hạn chế cho hiện tại và tương lai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc về phát
triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015; từ đó rút ra những kinh
nghiệm lịch sử góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia
Lộc, nhằm vận dụng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong hiện tại
và tương lai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận văn cần phải giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Tập hợp và hệ thống lại các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
6
- Làm rõ những nhân tố, điều kiện tác động, chi phối sự lãnh đạo Đảng
bộ huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương) trên lĩnh vực phát triển kinh tế nông
nghiệp từ 2005 - 2015.
- Làm rõ vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển của đất nước nói
chung và huyện Gia Lộc nói riêng.
- Trình bày một cách khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về chính
sách kinh tế nông nghiệp ở ba cấp độ: Đảng và Nhà nước; UBND tỉnh Hải
Dương và Đảng bộ huyện Gia Lộc về phát triển kinh tế nông nghiệp.
- Làm rõ những chủ trương, chính sách và quá trình lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Gia Lộc từ năm 2005 - 2015.
- Đúc rút những kinh nghiệm lịch sử của Đảng bộ huyện Gia Lộc lãnh
đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015, có thể vận
dụng trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc về phát triển kinh tế
nông nghiệp và hiệu quả của sự lãnh đạo đó từ năm 2005 - 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Gia Lộc trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
Luận văn đã lấy mốc thời gian khởi đầu là 2005 vì đây là một trong
những năm khởi đầu cho tiến hành Đại hội Đảng bộ huyện Gia Lộc lần thứ
XXIII (2005 - 2010), với đề án số 01/ĐA- HU về "Quy hoạch vùng sản xuất
chuyên canh rau quả cho giá trị kinh tế cao". Ngoài ra, trong những năm đó
Đảng bộ huyện Gia Lộc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp bằng cách đổi
mới phát triển chăn nuôi một cách toàn diện. Và năm 2015 cũng là năm cuối
của nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện Gia Lộc lần thứ XXIV (2010 - 2015)
của Đảng bộ huyện Gia Lộc, với đề án số 01/ ĐA - HU về "Mở rộng và nâng
7
cao hiệu quả vùng chuyên canh rau quả tập trung, vùng lúa chất lượng giai đoạn
2011- 2015".
- Nội dung:
+ Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp, ngư
nghiệp, chăn nuôi…..
+ Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật
chất mà con người dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng vật nuôi tạo ra sản
phẩm như lương thực, thực phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Luận văn tiếp
cận theo nghĩa hẹp và chỉ tập trung vào hai lĩnh vực là trồng trọt, chăn nuôi.
+ Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia
Lộc về phát triển kinh tế nông nghiệp mà chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi.
Ngoài ra, để thấy được rõ hơn về quá trình phát triển nông nghiệp của huyện Gia
Lộc từ năm 2005 đến 2015, đề tài có đề cập ở một mức độ nhất định đến thời
gian trước năm 2005 trong phạm vi huyện Tứ Lộc.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp;
chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy Hải Dương, UBND tỉnh Hải Dương về phát
triển kinh tế nông nghiệp.
5.2. Nguồn tài liệu
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin và Hồ chí Minh về
xây dựng kinh tế nông nghiệp.
- Các văn kiện, nghị quyết,chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát
triển kinh tế nông nghiệp từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) và các Hội nghị trung ương khóa
X,XI và các Nghị quyết Đại hội X, XI.
- Các tạp chí có liên quan có cơ sở nghiên cứu khoa học.
8
- Nguồn tư liệu chính của luận văn là các Nghị quyết Đại hội, Hội nghị
của tỉnh Hải Dương, huyện ủy Gia Lộc, các báo cáo tổng kết hàng năm của
UBND huyện Gia Lộc, Phòng Nông nghiệp huyện, Niên giám thống kê các
năm của huyện Gia Lộc từ năm 2005 đến năm 2015; các đề án huyện ủy Gia
Lộc về phát triển kinh tế nông nghiệp; các chỉ thị của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương về phát triển kinh tế nông nghiệp. Số liệu điều tra, khảo sát thực tế ở
một số địa phương trong huyện Gia Lộc.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu dựa trên các cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin, quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và
kinh tế nông nghiệp. Đề tài áp dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp
logic và kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như: điền dã; phân tích;
tổng hợp; diễn giải; so sánh; thống kê….., để làm rõ quá trình Đảng bộ huyện
Gia Lộc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến 2015.
Phương pháp lịch sử: được sử dụng để mô tả quá trình lãnh đạo của
Đảng bộ huyện Gia Lộc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ 2005 đến
năm 2015.
Phương pháp logic: được sử dụng để phân tích, đánh giá nêu ra những
kinh nghiệm cần thiết của Đảng bộ huyện Gia Lộc lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
Phương pháp điền dã: để thâm nhập thực tế ở một số địa phương trên địa
bàn, nhằm khảo sát, sưu tầm, đối chiếu, tổng hợp tư liệu quá trình Đảng bộ
huyện Gia Lộc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến
2015; nhằm giúp cho việc phân tích được chính xác hơn.
Phương pháp so sánh: để so sánh với các xã khác trong vùng nhằm đánh
giá được các kết quả thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp khi có Đảng bộ
huyện lãnh đạo.
Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê các số liệu và hiệu quả
thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến 2015.
9
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Giá trị về mặt lý luận
- Hệ thống hóa những chủ trương, chính sách về nông nghiệp của Đảng;
Đảng bộ tỉnh Hải Dương và áp dụng vào địa phương một cách phù hợp với
tình hình thực tế.
- Luận văn đã nêu lên những ưu điểm và hạn chế của huyện Gia Lộc, tỉnh
Hải Dương trong chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến 2015.
6.2. Giá trị về mặt thực tiễn
Luận văn là nguồn tài liệu để các cấp địa phương có thể tham khảo, qua
đó phát huy tốt hơn nữa vai trò của mình trong quá trình thực hiện lãnh đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn có thể góp phần vào việc tuyên truyền phổ biến để nhân dân
thấy được đường lối đúng đắn của Đảng bộ huyện Gia Lộc trong lĩnh vực
phát triển kinh tế nông nghiệp.
Từ những kinh nghiệm thực tiễn mà Đảng bộ huyện Gia Lộc, chỉ đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp đạt được những thành tựu sẽ để lại những kinh
nghiệm quý báu cho quá trình phát triển nền nông nghiệp địa phương ở những
giai đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn được bố cục làm 3 chương:
Chương 1:Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc (tỉnh
Hải Dương) về phát triển kinh tế nông nghiệptừ năm 2005 đến năm 2010
Chương 2: Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương)
về phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2010 đến năm 2015
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
10
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LỘC
(TỈNH HẢI DƯƠNG) VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Những yếu tố tác động và chủ trương phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ huyện Gia Lộc.
1.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ huyện Gia Lộc
*Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Gia Lộc.
- Điều kiện tự nhiên.
+ Vị trí địa lý: Huyện Gia Lộc nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hải
Dương.. Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Hải Dương 10km; phía Bắc giáp
thành phố Hải Dương, phía Đông giáp huyện Tứ Kỳ, phía Nam giáp huyện
Ninh Giang, Thanh Miện, phía Tây giáp huyện Bình Giang, Thanh Miện.
Chiều dài của huyện là 15km, chiều ngang ở phía Bắc rộng 10km. Diện tích
tự nhiên toàn huyện là 122,15km2, dân số tính đến tháng 4 năm 2006 có
152.989 người.
+ Địa hình và đất đai:Địa hình đồng bằng, đất nông nghiệp chiếm67%
diện tích.
Đất đai Gia Lộc có gốc tích sa bồi, do sông Hồng và sông Thái Bình bồi
tụ tạo nên. Cốt đất cao, đất đai chủ yếu là đất thịt nhẹ, đất cát pha rất thuận lợi
cho việc cấy lúa, gieo trồng rau màu và chăn nuôi. Do đất đai, khí hậu thuận
lợi nên tổ tiên của người dân Gia Lộc về đây khai phá biến vùng đất hoang sơ
thành ruộng đồng xây dựng nên xóm làng.
+ Khí hậu: Gia Lộc nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, khí hậu
mang tính chất nhiệt đới, gió mùa, có 2 mùa tương đối rõ rệt: mùa nóng và
mùa lạnh: mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh bắt đầu từ
tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C; lượng mưa
trung bình năm từ 1.400-1.600mm. Trước đây, do điều kiện thuỷ lợi chưa phát
11
triển, phần lớn diện tích đất chỉ cấy lúa được một vụ, những năm thời tiết mưa
thuận gió hoà, có một số nơi cấy được hai vụ, nhưng rất vất vả phải tát nước
2-3 bậc.
Mùa xuân nhiều mưa, mùa hè nhiều nắng, mùa thu lộng gió đông nam,
mùa đông rét nhiều, mức thủy triều cũng như các huyện, mỗi tháng 2 kỳ.
+ Sông ngòi:Gia Lộc có nhiều sông chảy qua. Phía Bắc huyện có sông
Kẻ Sặt là đường phân định địa giới tự nhiên giữa Gia Lộc và thành phố Hải
Dương… phía Tây và Tây Nam có sông Đĩnh Đào bắt nguồn từ cống Bá
Thuỷ chạy từ Tây Bắc xuống Tây Nam và Nam rồi đổ ra sông Thaí Bình dài
37km, đoạn chảy qua Gia Lộc dài khoảng 27km. Sông Đồng Tràng bắt nguồn
từ sông Cống Câu chảy ra Cống Cầu Xe (Tứ Kỳ).
Các con sông nói trên, tàu thuyền hàng trăm tấn có thể đi lại dễ dàng.
Bên cạnh những con sông lớn, Gia Lộc còn có nhiều sông ngòi, mương lạch
nhỏ thuận tiện cho việc tưới, tiêu, canh tác và sinh hoạt của nhân dân.
Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên của các dòng sông, trước đây về mùa
mưa lũ, thường có lụt lội làm thiệt hại nhiều tài sản, hoa màu, ảnh hưởng đến
sản xuất và đời sống của nhân dân.
Trong huyện không có núi, có dòng sông từ Kênh Lỗ huyện Cẩm Giàng
chảy qua Tỉnh lỵ đến xã Cao Dương dài 24 dặm. Trong đó:
+ Đoạn sông từ Tỉnh lỵ đến Kênh Lỗ dài 15 dặm, rộng trên dưới 17
trượng, triều lên sâu 1 trượng 5 thước, triều xuống sâu 1 trượng.
+ Đoạn từ Tỉnh lỵ đến xã Cao Dương dài 9 dặm, rộng trên dưới 9 trượng,
triều lên sâu 1 trượng, triều xuống sâu 5 thước.
Có dòng sông từ Bá Thuỷ qua xã An Thư đến xã Đồng Tái dài 28 dặm.
Trong đó:
+ Đoạn từ Bá Thuỷ về đến xã An Thư dài 25 dặm, rộng trên dưới 13
trượng, triều lên sâu 1 trượng 5 thước, triều xuống sâu 1 trượng.
12
+ Đoạn từ xã An Thư đến xã Đồng Tái dài 3 dặm rộng trên dưới 16
trượng, triều lên sâu 1 trượng 8 thước, triều xuống sâu 1 trượng 3 thước.
c- Điều kiện kinh tế, xã hội.
+ Quá trình hình thành:Trong tiến trình lịch sử, Gia Lộc là huyện có
nhiều lần thay đổi địa danh và địa giới. Quốc sử ghi rằng, Gia Lộc từ thời Lý
Trần có tên là huyện Trường Tân, thuộc lộ Hồng. Theo Đại Nam nhất thống
chí, đến thời Quang Thuận năm thứ 10 (1469), khi định lại bản đồ, đổi
Trường Tân thành Gia Phúc, thuộc phủ Hạ Hồng, nhưng cũng cần lưu ý rằng,
đời Lê Nhân Tông, niên hiệu Diên Ninh (1454-1459) đã có sự thay đổi địa
danh, nên một số di vật đương thời đã ghi tên huyện Gia Phúc. Đến thời
vua Quang Trung (1788-1792) vì tránh húy của cha ông (là Hồ Phi Phúc) mà
đổi thành Gia Lộc, địa danh này tồn tại cho đến nay.
"Năm 1800 toàn huyện có 9 tổng, 85 xã. Năm 1900 toàn huyện có 9
tổng, 78 xã, theo tài liệu kiểm kê dân số năm đó có 55.850 khẩu. Năm 1979,
hợp nhất với huyện Tứ Kỳ, thành huyện Tứ Lộc thuộc tỉnh Hải Hưng.
Ngày 28 tháng 6 năm 1994, chuyển xã Nghĩa Hưng thành thị trấn Gia Lộc.
Từ ngày 27 tháng 1 năm 1996, hai huyện lại được tách ra và huyện Gia
Lộc được tái lập với chiều dài của huyện là 15km, chiều ngang ở phía Bắc
rộng 10km. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 122,15km 2, dân số tính đến tháng
4 năm 2006 có 152.989 người. Ngày 19 tháng 3 năm 2006, các xã Tân
Hưng, Thạch Khôi được sáp nhập vào thành phố Hải Dương. Năm 2018, các
xã Liên Hồng và Gia Xuyên sẽ được sáp nhập vào thành phố Hải Dương" [32,
tr 6].
+ Đơn vị hành chính: Huyện có 1 thị trấn Gia Lộc và gồm 22 xã: Đoàn
Thượng, Đồng Quang, Đức Xương, Gia Hòa, Gia Khánh, Gia Lương, Gia
Tân, Gia Xuyên, Hoàng Diệu, Hồng Hưng, Lê Lợi, Liên Hồng, Nhật Tân,
Phạm Trấn, Phương Hưng, Quang Minh, Tân Tiến, Thống Kênh, Thống Nhất,
Toàn Thắng, Trùng Khánh, Yết Kiêu.
13
+ Hệ thống giao thông:"Gia Lộc có nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ
chạy qua. Đường 17A chạy từ Lục Ngạn (Bắc Giang) qua huyện Chí Linh,
Nam Sách, thành phố Hải Dương, huyện Gia Lộc về tới thị trấn Ninh Giang.
Đoạn qua huyện Gia Lộc dài khoảng 14km (chạy qua các xã Thạch Khôi, Gia
Xuyên, Gia Tân, Thị trấn Gia Lộc, xã Hoàng Diêu, Hồng Hưng). Đường 38
(trong kháng chiến chống Pháp là đường 192) được bắt đầu từ ngã 3 thị trấn
Gia Lộc đi qua thị trấn Thanh Miện sang tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình.
Đoạn qua Gia Lộc dài 11km (chạy qua thị trấn Gia Lộc, các xã Phương Hưng,
Toàn Thắng, Đoàn Thượng, Đồng Quang, Đức Xương, Quang Minh). Đường
20 đi từ Kẻ Sặt huyện Bình Giang, qua Thanh Miện tới Ninh Giang, đoạn qua
3 xã Nhật Tân, Quang Minh, Đức Xương dài 8km. Đường 62 m nối quốc lộ
5A đến ngã ba Gia Lộc. Ngoài ba con đường chính nói trên, Gia Lộc còn một
số con đường khác như 39C, 39D, 191D" [32 tr 8].
Giao thông ở Gia Lộc là các tuyến đường liên xã được bê tông hoá và rải
nhựa. Rất thuận lợi cho việc giao thương và di chuyển. Có nhiều tuyến đường
quan trọng chạy qua như đường 5B mới nối Hải Phòng và Hà Nội (là đường
cao tốc chỉ dành cho xe Ô to). Đường Quốc lộ 38B nối Hải Dương với Ninh
Bình đi qua các xã Quang Minh, Đồng Quang, Đoàn Thượng, Toàn Thắng và
thị trấn Gia Lộc. Đường Quốc lộ 37 chạy từ cảng Diêm Điền (Thái Thụy, Thái
Bình) nối huyện Gia Lộc với khu đô thị phí tây Thành phố Hải Dương và nối
liền hai đường 5A (cũ) và 5B (mới) Hà Nội - Hải Phòng [32].
+ Nguồn lao động:Tính đến năm 2006 huyện Gia Lộc có 152.989 người.
Cung cấp nguồn lao động dồi dào nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông
nghiệp. Hơn nữa người dân Gia Lộc còn là những con người có đức tính cần
cù, chịu khó, sáng tạo trong sản xuất. Do vậy, không những phát triển về số
lượng mà còn đạt về chất lượng lao động [32].
+Bưu chính viễn thông: ngày càng được phát triển hiện đại, dịch vụ
chuyển phát nhanh đưa đến tận nơi người nhận và nhanh.
14
+ Điện năng: hệ thống mạng lưới điện huyện Gia Lộc tính đến nay đã
được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của
người dân.
+ Truyền thống lịch sử văn hóa: Cộng đồng người Gia Lộc, chủ yếu là
người Kinh. Trước năm 1945, Phật giáo, Thiên chúa giáo là những tôn giáo
chính thâm nhập vào đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Phật giáo
thâm nhập vào Gia Lộc từ rất sớm, cách đây hàng nghìn năm, sau đó là Thiên
chúa giáo. Phần lớn nhân dân có tục thờ cúng tổ tiên và theo đạo Phật. Số
người theo Đạo Thiên chúa không nhiều, sống tập trung ở ba xứ là Ba Đông
(Đồng Quang), Phú Tảo (Thạch Khôi), Côi Hạ (Phạm Trấn) và các họ lẻ ở
Trần Nội, Trại Phú Thọ (Thạch Khôi), Hưng Long (Trùng Khánh), Thuỵ
Lương (Hoàng Diệu), Ty (Thống Nhất).
Trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, người dân Gia
Lộc luôn luôn đoàn kết, gắn bó bên nhau chống giặc ngoại xâm, chinh phục
thiên nhiên, vượt qua mọi khó khăn thử thách xây dựng quê hương.
Đời sống văn hoá tinh thần của người dân Gia Lộc khá phong phú. Các
gia đình sống đầm ấm trong cộng đồng làng xã.
Gia Lộc là nơi có nhiều đình, chùa, đến, miếu, nhà thờ có cảnh quan đẹp,
nhiều công trình kiến trúc độc đáo, to đẹp là nơi để nhân dân thờ cúng, đình
đám, hội hè. Cho đến nay, Gia Lộc đã có 22 công trình được Bộ Văn hoá Thông tin và UBND Tỉnh xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá và lịch sử cách
mạng là: Đến Quát (Yết Kiêu), khu di tích Nguyễn Chế Nghĩa, đình Phương
Điếm (thị trấn Gia Lộc), đình Đồng Bào, đền Vàng (Gia Xuyên), đình An
Tân, đình Lãng Xuyên, đình Phúc Tân (Gia Tân), chùa Dâu (Nhật Tân), đình
Liễu Tràng (Tân Hưng), đình Đồng Tái, đình Đồng Đội (Thống Kênh), đình
Quán Đào (Tân Tiến), đình Vo, Đền Đươi (Thống Nhất), đình Trình Xá (Gia
Lương), miếu Thượng Cốc, đình Cao Dương (Gia Khánh), chùa Hậu Bổng ,
đình Hậu Bổng (Quang Minh), đình Bùi Hạ (Lê Lợi), miếu Lai Cầu (Hoàng
15
Diệu), đình Phú Thọ (Thạch Khôi)… Đây là niềm vinh dự và tự hào của
người dân Gia Lộc [32, tr 10].
Các di tích lịch sử văn hoá của huyện, mặc dù đã trải qua hàng trăm
năm, bị thiên tai, giặc giã tàn phá, bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp,
hoặc do những nhận thức chưa đầy đủ trong việc giữ gìn, tôn tạo đã làm mất
đi nhiều di tích quý hiếm, nhưng những dấu ấn tốt đẹp vẫn được đọng lại, lưu
truyền trong ký ức của người dân nơi đây.
Đời sống văn hoá tinh thần của người dân Gia Lộc rất phong phú, đa
dạng như: Bơi chải (Yết Kiêu), múa rối nước (Lê Lợi), vật, đánh pháo đất
(Đức Xương), đánh thó (Phương Hưng, Thị trấn Gia Lộc), hát tuồng (Gia
Lương), hát đúm, hát ả đào, ca trù, hát chèo, các ca khúc cách mạng, nhiều
câu lạc bộ thơ của người cao tuổi… Các địa phương hàng năm đều tổ chức lễ
hội thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. ươc, sáng tạo, hiếu học,
Gia Lộc còn có truyền thống chống giặc ngoại xâm, có nhiều danh tướng tài
giỏi, tiêu biểu như danh tướng Yết Kiêu, Nguyễn Chế Nghĩa đã có công giúp
nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông, Đỗ Quang trong những ngày đầu
chống thực dân Pháp…góp phần quan trọng cùng nhân dân cả nước đánh
thắng kẻ thù xâm lược.
Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, phong trào yêu nước của những
người cộng sản đã lan tới Gia Lộc, nhiều đồng chí xuất thân từ quê hương Gia
Lộc đã tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm như đồng chí Nguyễn Hới,
đồng chí Lê Thanh Nghị. Năm 1929, đồng chí Nguyễn Hới đã về tuyên
truyền, vận động và thành lập chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đầu
tiên ở Thượng Cốc (Gia Khánh). Đồng chí Nguyễn Hới và đồng chí Lê Thanh
Nghị đều trở thành những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước, các đồng
chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng,
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.
Đầu những năm 40, phong trào cách mạng phát triển khá mạnh, nhiều thanh
16
niên có trình độ văn hoá đã tiếp thu, giác ngộ đi theo Việt Minh, theo Đảng
vận động quần chúng đấu tranh giành chính quyền vào Tháng Tám năm 1945.
Tháng 12- 1945 chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập, tiếp đó đến
tháng 6- 1946 phát triển thành Đảng bộ, đã lãnh đạo nhân dân tiếp tục tham
gia xây dựng củng cố chính quyền và sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê
hương, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc và xây
dựng chủ nghĩa xã hội [32, tr11].
Trong sự nghiệp cách mạng to lớn của dân tộc, Đảng bộ và nhân dân Gia
Lộc đã có những đóng góp xứng đáng công sức và xương máu của mình.
Toàn huyện có 3.695 liệt sĩ (trong đó chống Pháp có 1.113, chống Mỹ có
2.285, bảo vệ Tổ quốc có 297 người); 1.841 thương binh (trong đó chống
Pháp có 397 người, chống Mỹ có 1.246 người, bảo vệ Tổ quốc có 198 người).
Toàn huyện đã được Nhà nước phong tặng, truy tặng 143 bà mẹ Việt Nam anh
hùng, tiêu biểu như mẹ Việt Nam anh hùng Trịnh Thị Nhài (Thạch Khôi) có 3
con và 1 cháu nội là liệt sĩ, 4 bà mẹ có 3 con là liệt sĩ, 1 bà mẹ có chồng và 2
con là liệt sĩ và có 10 bà mẹ có 2 con đều là liệt sĩ. Gia Lộc có 4 anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân (liệt sĩ Đặng Bá Hát xã Thống Kênh, đồng chí Phạm
Văn Cờ xã Thống Nhất, liệt sĩ Phạm Thanh Bình xã Trùng Khánh, liệt sĩ Lê
Gia Đỉnh xã Hoàng Diệu) và 3 anh hùng lao động (đồng chí Phạm Văn Tươi,
Đặng Quang Thuần, Vũ Văn Đính). Xã Toàn Thắng, xã Nhật Tân, xã Tân
Tiến, thị trấn Gia Lộc được phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân. Xã Thạch Khôi được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ
đổi mới. Nhân dân và Đảng bộ huyện Gia Lộc được Nhà nước phong tặng
danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Đó là
niềm vinh dự và tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong huyện
[32, tr 11].
Những đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Gia Lộc đã được Đảng
và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như huân chương, huy
17