Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường cao xanh, thành phố hạ long tỉnh Quảng ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 97 trang )

Ọ QUỐ
TRƢỜN



O

N


V N

NV N

==================

NGUYỄN THỊ HIỀN

ÔN


ÌN

T

ÁN
P ƢỜN

N VỚ P Ụ NỮ BỊ B O LỰ
O
N ,T N P Ố



LON , TỈN

LUẬN V N T

QUẢN

SĨ ÔN

NN



Chuyên ngành: Công tác xã hội

HÀ N I – 2018

I


Ọ QUỐ
TRƢỜN



O

N



V N

NV N

==================

NGUYỄN THỊ HIỀN

ÔN


ÌN

T

ÁN
P ƢỜN

N VỚ P Ụ NỮ BỊ B O LỰ
O
N ,T N P Ố

LON , TỈN

QUẢN

NN

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số


LUẬN V N T

: 60.90.01.01

SĨ ÔN



I

Ngƣời hƣớng dẫn khoa hoc: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa

HÀ N I – 2018


LỜ

M O N

Tôi xin cam đoan:
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, đƣợc thực hiện
dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa. Các nội dung
và số liệu nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2018
Học viên

Nguyễn Thị Hiền



LỜ

ẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó Giáo
sƣ -Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa là ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi nhiệt
tình trong suốt quá trình thực hiện. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các thầy, cô trong
Khoa Xã hội học, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội đã truyền tải kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi đƣợc học
tập và thực hiện luận văn.
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh, UBND
thành phố Hạ Long, UBND phƣờng Cao Xanh, Hội LHPN thành phố Hạ Long,
Hội LHPN phƣờng Cao Xanh cùng tất cả những ngƣời tôi đã gặp trong quá trình
tìm kiếm thông tin để hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng, song với kinh nghiệm công tác xã hội trực tiếp của
bản thân còn hạn chế sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy,
cô giáo, các đồng nghiệp và các bạn tham gia góp ý, tôi xin nghiêm túc tiếp thu,
điều chỉnh để Đề tài nghiên cứu này đóng góp hiệu quả cao trong thực tiễn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!


MỤ LỤ
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................. 1
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................... 7
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài can thiệp ............................................................................... 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp ........................................................................ 4
3. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi can thiệp .......................................................... 4

4. Câu hỏi và giả thuyết can thiệp ......................................................................... 5
5. Phƣơng pháp can thiệp ...................................................................................... 6
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu ..................................................................... 10
PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................. 19
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ............................... 19
1.1. Các khái niệm công cụ ................................................................................. 19
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ............................................................ 22
1.3. Tình hình bạo lực gia đình.............................................................................. 26
1.3.1. Tình hình bạo lực gia đình tại Việt Nam ...................................................... 26
1.3.2. Tình hình bạo lực gia đình tại Quảng Ninh .................................................. 29
1.3.3. Tình hình phụ nữ bị bạo lực gia đình ở phƣờng Cao Xanh ...................... 37
1.3.4. Các biện pháp can thiệp của địa phƣơng.................................................. 38
1.4. Khái quát về địa bàn nghiên cứu: ................................................................. 44
Tiểu kết chƣơng 1:............................................................................................... 47
CHƢƠNG 2: ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC
TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO HÀNH GIA ĐÌNH ............................................ 48
2.1. Mô tả thân chủ .............................................................................................. 48
2.2. Tiến trình thực hành công tác xã hội cá nhân .............................................. 49
2.2.1. Tiếp cận thân chủ: ..................................................................................... 49
2.2.2. Nhận diện vấn đề: ...................................................................................... 49
2.2.3. Thu thập thông tin ..................................................................................... 50


2.2.4. Chuẩn đoán ................................................................................................ 54
2.2.5. Lập kế hoạch để giải quyết vấn đề của thân chủ....................................... 57
2.2.6. Triển khai các hoạt động ........................................................................... 61
2.2.7. Lƣợng giá và kết thúc ................................................................................ 65
2.3. Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp và biện pháp khắc 66
2.4. Bài học kinh nghiệm .................................................................................... 67

Tiểu kết chƣơng 2................................................................................................ 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 72
ết luận .............................................................................................................. 72
Khuyết nghị ......................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 77
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BBĐG: Bất bình đẳng giới
BĐG: Bình đẳng giới
BL: Bạo lực
BLGĐ: Bạo lực gia đình
CLB: Câu lạc bộ
CTXH: Công tác xã hội
GĐ: Gia đình
LHQ: Liên Hợp Quốc
NC: Nghiên cứu
NVCTXH: Nhân viên công tác xã hội
NVXH: Nhân viên xã hội
PCBLGĐ: Phòng chống bạo lực gia đình
PN: Phụ nữ
TC: Thân chủ


MỞ ẦU
1. LÝ DO

ỌN Ề T


NT

ỆP

Gia đình là đơn vị thu nhỏ của một xã hội, là cái nôi đầu tiên nuôi dƣỡng
nhân cách và tâm hồn của mỗi con ngƣời. Nơi đó, các thành viên trong gia đình
đƣợc gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng và hoặc quan hệ giáo dục [4].
Họ đón nhận đƣợc sự chăm sóc, yêu thƣơng và an toàn khi họ có một mái
ấm gia đình hạnh phúc. Gia đình hạnh phúc là một trong những nhân tố quan
trọng nhất của một quốc gia. Nó không những là một “tế bào khỏe mạnh” liên
kết với các tế bào khỏe mạnh khác làm nên yếu tố cơ bản của một quốc gia mà
còn làm cho xã hội của đất nƣớc đó phát triển bền vững và miên viễn.
Để duy trì đƣợc sức mạnh của một quốc gia, các tế bào khỏe mạnh kia
luôn luôn phải đƣợc phát triển và lây lan. Đây quả thực là một vấn đề thách thức
vì ở đâu đó trong bất cứ xã hội nào và đặc biệt là xã hội Việt Nam hiện đai, vẫn
có các cuộc bạo hành trong gia đình đang diễn ra. Có thể nói cuộc sống của một
số thành viên trong các gia đình có cƣờng độ bạo lực cao đƣợc coi là “địa ngục
trần gian” - tràn đầy đau khổ và bất hạnh. Chúng ta, hầu nhƣ, ai cũng biết rằng,
bạo lực trong gia đình không những làm tổn thƣơng tới thể lý và tâm lý cho con
ngƣời mà còn làm ảnh hƣởng sâu xa đến cuộc sống cũng nhƣ kéo theo các hệ
lụy khác cho tất cả những ngƣời xung quanh. Nó chắc chắn cũng sẽ gây ra nhiều
hậu quả phức tạp khác cho xã hội.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực trong gia đình đối với ngƣời
phụ nữ. Song theo những nghiên cứu của Lê Thị Quý, một trong những chuyên
gia nghiên cứu về giới tính và gia đình, qua bài viết có tựa đề "Bạo lực gia đình
ở Việt Nam", đăng trong Tạp chí Khoa học và Phụ nữ năm 1994, đã xác định
đƣợc năm nguyên nhân chính của nạn bạo lực trong gia đình là: vấn đề kinh tế,
sự nhận thức, tập quán văn hóa - xã hội, sức khỏe và khía cạnh phụ nữ . Tuy
nhiên theo tác giả thì nguyên nhân lớn nhất, sâu xa nhất chính là sự bất bình

đẳng trong quan hệ giới [2].
1


Đứng trên bình diện quốc gia, ở Việt Nam vấn đề bạo lực gia đình
(BLGĐ) đang là vấn đề thách thức của cá nhân cũng nhƣ của xã hội. Nó nhận
đƣợc sự quan tâm nhiều hơn, từ cộng đồng, khi càng ngày càng có nhiều vụ
BLGĐ đƣợc phát hiện. Theo báo cáo của một nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối
với phụ nữ ở Việt Nam đƣợc Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố
năm 2010: cứ ba phụ nữ (PN) có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một
ngƣời (34%) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục.
Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai hình thức
bạo hành này chiếm 9%. Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong
đời sống vợ chồng - thể xác, tình dục và tinh thần - thì có hơn một nửa (58%)
phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực
gia đình kể trên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị
chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị ngƣời khác
lạm dụng. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình một năm trên
cả nƣớc có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân do bạo lực gia đình. Cũng theo
số liệu thống kê của bệnh viện, các trung tâm, phòng cấp cứu lớn của cả nƣớc,
có hơn 27% phụ nữ bị ngƣợc đãi nhập viện, hơn 10% điều trị y khoa nghiêm
trọng hằng năm do nguyên nhân bạo lực gia đình [35]
Ở góc độ của một tỉnh, theo báo cáo của Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch
Quảng Ninh, từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2018 trên toàn tỉnh đã xảy ra là
1.769 vụ BLGĐ, trong đó có 112 vụ đƣa ra tòa án xét xử, 31 trƣờng hợp bị áp
dụng biện pháp cấm tiếp xúc, 29 trƣờng hợp bị xử phạt hành chính và 5 trƣờng
hợp bị xử lý hình sự. Những năm gần đây, trung bình một năm có từ 250 đến
350 vụ BLGĐ trong đó hình thức bạo lực tinh thần là 47%; bạo lực thân thể
chiếm 41%; bạo lực tình dục chiếm 3%, bạo lực kinh tế chiếm 9%. Đối tƣợng
gây bạo lực đa số là đàn ông, nạn nhân thƣờng là phụ nữ và trẻ em [36].

Từ những con số trên của các bản nghiên cứu và báo cáo, nó cho thấy, bạo
lực gia đình cho dù diễn ra dƣới bất cứ hình thức nào, thì hậu quả của nó cũng
hết sức nghiêm trọng. Nó không chỉ ảnh hƣởng đến thể chất, sức khoẻ, tinh
2


thần… của ngƣời PN mà còn ảnh hƣởng đến hạnh phúc gia đình và tạo nên các
hành vi lệch chuẩn của trẻ em trong tƣơng lai, là nguyên nhân, có thể, đẩy nhiều
gia đình đến bờ vực thẳm của đổ vỡ và tù đày. Nạn nhân của bạo lực gia đình
phải chịu đựng nhiều hình thức bạo hành từ bị nhục mạ, bị khủng hoảng về tâm
lý kéo dài, tổn thƣơng tinh thần, ảnh hƣởng đến sức khoẻ, thậm chí thiệt hại đến
tính mạng, tài sản. Những gia đình có bạo hành thƣờng để lại di chứng nặng nề
cho con cái của họ. Trẻ em gái thƣờng rất mặc cảm trƣớc mọi ngƣời, không
thích giao tiếp, không tự tin trong cuộc sống, luôn có tƣ tƣởng bỏ học, không
dám kết thân với ngƣời khác, nếu tình trạng bạo lực gia đình kéo dài sẽ khiến
các em dần rơi vào trạng thái lãnh cảm. Trẻ em trai thì trở nên ƣơng bƣớng, khó
bảo, thích gây gổ với ngƣời khác, học hành kém và rất nhiều trong số đó đã trở
nên hƣ hỏng. Ngoài ra, BLGĐ đối với PN còn ảnh hƣởng đến xã hội nhƣ gây
mất trật tự an ninh công cộng, làm gia tăng tội phạm và các tệ nạn xã hội..
Trƣớc những vấn đề thách thức vừa mới đề cập bên trên, hiện nay đã có
nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội học, tâm lý học, giới tính học nói về
nguyên nhân cũng nhƣ sự ảnh hƣởng của bạo hành trong gia đình. Nhƣng có rất
ít công trình nghiên cứu về nó trên lĩnh vực công tác xã hội bao gồm; (1) trách
nhiệm: Trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm gia đình, trách nhiệm xã hội, trách
nhiệm của chính quyền. (2) phát hiện sớm biểu hiện bạo hành: Chƣơng trình cho
phụ nữ và các thành viên trong cộng đồng nhận thức đƣợc các biểu hiện của bạo
hành (3) can thiệp: Nhân viên công tác xã hội, đối tƣợng bạo hành và đối tƣợng
bị bạo hành (4) tƣ vấn và giáo dục dành cho các nạn nhân của BLGD. Chính vì
vậy tác giả của bài luận văn này đã chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác xã hội cá
nhân với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Cao Xanh, thành phố Hạ

Long, tỉnh Quảng Ninh”. Địa điểm phƣờng Cao Xanh đƣợc lựa chọn cho đề tài
nghiên cứu này vì theo số liệu thống kê thì phƣờng Cao Xanh có số vụ BLGD
xảy ra cao nhất trong thành phố Hạ Long. (Báo cáo số 21-BC/HLHPNTP ngày
30/1/2017 của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Hạ Long). Năm 2017, thành phố
có 18 vụ BLGĐ thì có đến 6 vụ xảy ra ở phƣờng Cao Xanh. Dân trí trong
3


phƣờng phong phú từ công nhân thợ thuyền, thƣơng gia cho đến cán bộ trí thức
nhà nƣớc [Theo Nguồn phân bổ dân trí phường Cao Xanh tại Cổng Thông tin
điện tử thành phố Hạ Long ] đƣợc đặt vào trong ống kính của đề tài nhƣ là một
mô hình thích hợp để thâu thập dữ liệu, phân tích, chứng minh các sự kiện của
BLGD, đặc biệt đối với các nạn nhân là phụ nữ, trong các thành phần xã hội.
Sau đó, tác giả sẽ đƣa ra một số giải pháp nhƣ những nhịp cầu hƣớng dẫn nhằm
giúp phụ nữ thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần, chữa
trị sức khỏe và phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ. Ngoài ra nó
còn đóng góp vào việc giáo dục nhằm giúp họ nhận thức đƣợc giá trị tự thân, sự
bình quyền trong gia đình, và tính chính đáng khi cần tìm tới các cơ quan công
quyền và hội đoàn.
2. MỤ T ÊU V N

ỆM VỤ

NT

ỆP

2.1. Mục tiêu can thiệp
Trên cơ sở thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình, lựa chọn trƣờng hợp phụ
nữ bị bạo lực để trợ giúp công tác xã hội cá nhân, trên cơ sở đó đƣa ra giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
2.2. Nhiệm vụ can thiệp
- Tìm hiểu thực trạng, các hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ và
phân tích những nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Tìm hiểu và phân tích những hậu quả của bạo lực gia đình đối với phụ
nữ.
- Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
3. Ố TƢỢN ,

Á

T ỂV P

MV

NT

ỆP

3.1. Đối tƣợng can thiệp: Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo
lực gia đình
3.2. Khách thể can thiệp
- 01 phụ nữ bị BLGĐ sống tại phƣờng Cao Xanh-TP Hạ Long (Chị
Nguyễn Thị H, 42 tuổi, trú tại tổ 2A, khu 1, phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ
Long);
4


- 03 ngƣời là lãnh đạo, cán bộ chính quyền, đoàn thể ở địa phƣơng gồm:
Cán bộ Văn hoá xã hội, cán bộ Hội phụ nữ phƣờng, cán bộ phụ nữ khu phố.

- Ngƣời gây ra BLGĐ (chồng của thân chủ), thành viên gia đình (bố, mẹ,
con) và 01 hàng xóm của phụ nữ bị bạo lực.
3.3. Phạm vi can thiệp:
Nghiên cứu vấn đề bạo lực gia đình tại phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ
Long, Quảng Ninh, trong đó cụ thể về tình trạng bạo lực trong gia đình đối với
chị Nguyễn Thị H (trú tại tổ 2A, khu 1, phƣờng Cao Xanh).
- Phạm vi thời gian: 6 tháng, thời gian chủ yếu từ tháng 8/2017 đến tháng
02/2018
- Phạm vi không gian: Phƣờng Cao Xanh, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nội dung: Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã kết hôn, từ 18 đến
55 tuổi tại phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
4.

U

Ỏ V

Ả T UYẾT

NT

ỆP

4.1. Câu hỏi can thiệp
Thực trạng bạo lực gia đình tại phƣờng Cao Xanh, thành phố Hạ
Long đang diễn ra nhƣ thế nào?
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ gây ra những hậu quả gi?
Phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân có thể giúp gì cho phụ nữ bị
bạo lực trong gia đình? Những thuận lợi, khó khăn trong việc áp dụng công tác
xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình?

4.2. Giả thuyết can thiệp:
Các hình thức bạo lực đối với ngƣời phụ nữ trong gia đình rất đa
dạng. Phụ nữ bị bạo lực gia đình xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau
nhƣ văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, kinh tế, lạm dụng rƣợu bia, trình độ
học vấn…
Phụ nữ bị bạo lực gia đình để lại những hậu quả nặng nề nhƣng
ngƣời phụ nữ chƣa nhận thức đƣợc mức độ nghiêm trọng trong tình trạng bị
bạo lực của mình.
5


Phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân có thể giúp phụ nữ bị bạo lực
trong gia đình thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần,
chữa trị, phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ; giúp họ tự nhận
thức vấn đề định kiến giới, bất bình đẳng giới mà bản thân đang gánh chịu và
giải quyết các vấn đề xã hội bằng khả năng của chính mình.
5. P ƢƠN

P ÁP

NT

ỆP

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã dùng các phƣơng pháp nghiên
cứu: phƣơng pháp nghiên cứu phân tích tài liệu, phƣơng pháp phỏng vấn sâu,
phƣơng pháp quan sát, phuơng pháp công tác xã hội cá nhân.
5.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Các công trình nghiên cứu, tạp chí, kỷ yếu, hội thảo của một số tổ chức
làm việc về vấn đề bạo lực trong gia đình.

Các bài viết, số liệu, công trình nghiên cứu đƣợc đăng trên tạp chí
Khoa học về Phụ nữ, tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, báo gia đình, xã
hội.
Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đới với phụ nữ ở
Việt Nam, khung theo dõi và đánh giá việc thực hiện Luật phòng chống bạo
lực gia đình tại Việt Nam.
Tài liệu tập huấn công tác quản lý nhà nƣớc về gia đình và phòng,
chống bạo lực gia đình, tài liệu về công tác bình đẳng giới vì sự tiến bộ của
phụ nữ, sổ tay công tác quản lý nhà nƣớc về gia đình…
Cáo báo cáo liên quan của các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể đến
phƣòng Cao Xanh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
5.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Đề tài tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu. Trong đó 8 cuộc phỏng vấn
đối với nạn nhân, 4 cuộc phỏng vấn đối với ngƣời gây ra bạo lực, 3 cuộc
phỏng vấn đối với nhân viên CTXH, cán bộ chính quyền địa phƣơng, công
an, cán bộ Hội LHPN, ban, ngành, đoàn thể. Mục tiêu chung của phỏng vấn
sâu không phải để hiểu một cách đại diện, khái quát về tổng thể mà giúp
6


nhân viên CTXH hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ
và hiệu quả của CTXH cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình. Ngƣời
phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, đặt trình tự
các câu hỏi và cách thức đặt câu hỏi nhằm thu thập thông tin mong muốn.
Trong quá trình phỏng vấn nhân viên công tác xã hội tập trung phỏng vấn sâu
các cá nhân để thu thập thông tin. Việc chọn ngƣời để phỏng vấn có chủ
định, đó là những ngƣời có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
5.3. Phƣơng pháp quan sát
Phƣơng pháp quan sát đƣợc áp dụng trong suốt quá trình trợ giúp để
nắm bắt đƣợc một số thông tin sơ bộ tại địa bàn thực hiện.

Thông qua quá trình quan sát trực tiếp để thu thập thông tin cần thiết
liên quan đến đề tài, những hành động, biểu hiện bên ngoài của ngƣời phụ nữ
bị bạo lực, những biểu hiện và nhu cầu đƣợc trợ giúp khỏi nạn bạo lực trong
gia đình, nắm bắt đƣợc thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử
giữa ngƣời gây ra bạo lực và nạn nhân bị bạo lực, giữa ngƣời phụ nữ bị bạo
lực với nhan viên công tác xã hội. Qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình.
5.4. Phƣơng pháp công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân và công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị
bạo lực gia đình
ông tác xã hội cá nhân
Là hệ thống giá trị và phƣơng pháp đƣợc các nhân viên xã hội chuyên
nghiệp sử dụng. Trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống
đƣợc chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những
vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế- xã hội và môi trƣờng
thông qua mối quan hệ một - một. [4, tr 16]
Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Là phƣơng pháp can thiệp để giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình thoát khỏi
những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần, chữa trị, phục hồi sự vận
7


hành các chức năng xã hội của họ; giúp họ tự nhận thức và giải quyết các vấn đề
xã hội bằng khả năng của chính mình. [24, tr 18]
Quá trình thực hiện nghiên cứu và can thiệp trong đề tài này là quá trình
vận dụng tổng hợp các kiến thức, phƣơng pháp, kỹ năng, giá trị của ngành
CTXH. Trong đó, Phƣơng pháp CTXH cá nhân là phƣơng pháp chủ yếu.
- Mục đích: Sử dụng các phƣơng pháp này nhằm thu thập các thông tin về
TC, can thiệp, giúp đỡ cá nhân tự tăng cƣờng, thay đổi, phát triển chức năng xã
hội, giải quyết vấn đề, đảm bảo cho TC thoát khỏi tình huống khó khăn thông

qua quan hệ một - một (quan hệ NVCTXH - TC).
- Các bƣớc tiến hành:
1. Tiếp cận thân chủ
7. Đánh giá

2. Xác định vấn đề

6. Trị liệu

5 . Kế hoạch trị liệu

3. Thu thập dữ kiện
4.Chẩn đoán

- Các kỹ năng: Giao tiếp, quan sát, lắng nghe, vấn đàm, vãng gia, tham
vấn...
- Quá trình sử dụng phƣơng pháp này không chỉ là tƣơng tác giữa
NVCTXH với TC mà còn sử dụng trong tƣơng tác với ngƣời chồng, với ngƣời
thân, hàng xóm, cán bộ địa phƣơng nơi ở... của TC
Việc xác định chuẩn xác, đúng về con ngƣời thân chủ là một yếu tố quan trọng
giúp cho quá trình thực hiện can thiệp, hỗ trợ thân chủ đúng hƣớng, đạt kết quả
tối ƣu. Do vậy, nhân viên CTXH đề ra nhiệm vụ, mục tiêu và xây dựng phƣơng
pháp thực hiện nhƣ sau:
8


Phƣơng pháp, kỹ nãng, công
TT
1


Nhiệm vụ
Tiếp cận TC

Mục tiêu

cụ

Xây dựng đƣợc mối quan hệ - Giao tiếp, lắng nghe, đặt câu
với TC, TC cởi mở khi gặp hỏi; quan sát, thiết lập mối
gỡ, tiếp xúc; TC chấp nhận quan hệ
- Nêu rõ mục đích, nguyên tắc

mình.

của quá trình can thiệp
2

Thu thập thông - Thông tin nhân khẩu

- Trò chuyện, đặt câu hỏi, quan

tin, phân tích và - Trạng thái sức khỏe, tinh sát, lắng nghe, vãng gia, ghi
xử lý thông tin thần, tâm lý, sở thích, thói nhật ký...
quen, công việc... của TC

- Làm việc trực tiếp với TC

- Thông tin về gia đình

- Khai thác qua ngƣời thân,


- Các quan hệ xã hội của TC hàng xóm, đồng nghiệp, bạn
- Thông tin về vấn đề gây bè...
tổn thƣơng TC

- Tiếp cận với ngƣời chồng
- Kết hợp cung cấp thông tin
về BLGĐ (vừa giúp TC hiểu
thêm về vấn đề, vừa xác định
quan điểm, thái độ... của TC
trƣớc vấn đề)

3

Tổng hợp thông - Đánh giá nhiều chiều vấn - Phân tích, xử lý thông tin
tin, phân tích,

đề của TC

đánh giá

- Xác định nhu cầu của TC

- Thống nhất với TC

(sắp xếp theo thứ tự, bắt đầu
từ nhu cầu cấp thiết nhất)
- Xác định điểm mạnh, điểm
yếu của TC
4


Xác định vấn - Gồm những vấn đề gì?
9

- Làm việc trực tiếp với TC,


đề/bệnh lý của - Vấn đề cấp bách cần giải gia đình, hàng xóm, tổ dân
TC (chẩn đoán) quyết (thống nhất giữa TC phố, tổ chức công đoàn cơ sở...
và NVXH, TC tự khẳng - Liệt kê, phân tích
định vấn đề)?

- Cung cấp kiến thức

- Trong quá khứ, TC đã làm - Thống nhất vấn đề với TC
gì để giải quyết vấn đề đó?
- Những yếu tố nào ảnh
hƣởng đến vấn đề của TC và
mức độ ảnh hƣởng
5

Xây dựng bản Có bản mô tả chi tiết về TC - Phân tích, xử lý thông tin
mô tả chi tiết về với những thông tin đã thu - Viết báo cáo
TC
6. TỔN

thập đƣợc
QU N TÌN

ÌN


N

ÊN ỨU

NT

ỆP

Bạo hành trong gia đình là một dạng bạo lực trong xã hội. Nó hiển nhiên
không phải là vấn đề mới có trong xã hội hiện đại của chúng ta. Trên thực tế, nó
xảy ra trong mọi thời đại, ở nhiều dân tộc và giữa các giai tầng xã hội của loài
ngƣời. Mức độ bạo hành của nó tùy thuộc vào văn hóa, luật pháp và sự nhận
thức con ngƣời trong xã hội đó.
6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Báo cáo “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” của Nguyên Tổng thƣ
ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) Kofi Annan đƣợc trình bày tại Kỳ họp lần thứ 61 của
Đại hội đồng LHQ thể hiện rõ tình hình BL với PN đang diễn ra ở 71 quốc gia
thuộc phạm vi nghiên cứu. Trong báo cáo, Tổng thƣ ký làm rõ các yếu tố và
nguy cơ gây ra BL với PN. Trong bản báo cáo đó, ông Anna đã viết rõ rằng việc
sử dụng BL là để giải quyết xung đột trong gia đình. Bản báo cáo cũng nêu ra
nhiều tiêu cực nhƣ sự thờ ơ của nhà nƣớc, thiếu vắng trách nhiệm trong cấp độ
của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Bản báo cáo cũng nêu đƣợc ra ít nhiều
những hoạt động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này nhƣ dựa vào luật
10


pháp và các cấp dịch vụ vào phòng ngừa bạo lực. Tuy nhiên, thách thức đặt ra
cho nhân loại không ít; ngân quỹ thiếu hụt, nguồn lực về nhân lực không đồng
đều dẫn đến tình trạng quần chúng không đƣợc tiếp cận toàn diện và thiếu sự xử

phạt nghiêm minh. Cộng thêm vào đó là sự vắng bóng của việc đánh giá.
Năm 1992, tác giả Margaret Schuler (chủ biên) và các cộng sự trong tác
phẩm “Freedom from Violence - Women’s Strategies from Around the World”
(Tự do khỏi bạo lực - Chiến lƣợc toàn cầu của phụ nữ) đã phản ánh tình trạng
BL chống PN tồn tại từ các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ đến các nƣớc đang phát
triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa,
nguyên nhân, các hình thức BL...mà tác giả đề cập đã nói lên tính phổ biến của
các dạng BL chống PN trong đó có BLGĐ. Tác phẩm đã cung cấp một cái nhìn
toàn cảnh về vấn đề và chiến lƣợc liên quan đặc biệt đến BL giới - đó là mở
rộng chƣơng trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách luật pháp và hành
động chống BL đối với PN.
Năm 1994, với tác phẩm “Loving to Survive - Sexual Terror Men’s
Violence and Women’s Live” (Yêu Để Tồn Tại - Sự Bạo Hành Của Đàn Ông
Khủng Bố Tình Dục và Đời Sống Của Ngƣời PN), các tác giả Dee.L.R. Graham,
Edna.I. Rawligs và Roberta.K. Rigsby đã nêu rõ các ảnh hƣởng do BL của nam
giới đối với PN và tâm lý của họ. Tình trạng hiện tại của nhiều PN là ở dạng nô
lệ, bị giam cầm và việc liên tục bị đánh sẽ làm mất khả năng xây dựng năng lực
và sự tự tin cho họ. Đây không phải là vấn đề mang tính “tự nhiên” mà là một
vấn đề của xã hội. Trong tác phẩm này, các tác giả cho rằng chỉ có Thuyết nữ
quyền cấp tiến là thừa nhận BL của nam giới đã ảnh hƣởng tới cuộc sống của
ngƣời PN.
Năm 1995, cuốn sách “Violence, Silence and Anger - Women’s Writing
as Transgression” (Bạo lực, Im lặng và Tức giận –Các Bài Viết Đóng Góp Của
PN Nói Về Sự Tội Lỗi) do Deirdre Lashgari chủ biên tạo cơ sở cho các nhà nữ
quyền trình bày tƣ tƣởng về sự im lặng, sự tức giận và nhu cầu nói lên tiếng nói
chống lại BL. Nhiều hình thức BL đã đƣợc đề cập đến trong tác phẩm này nhƣ
11


áp bức tình dục, áp bức của chủ nghĩa thực dân, mâu thuẫn giữa mẹ và con gái.

Ngoài ra nó cũng có các chủ về đề chống chiến tranh và hậu quả của nó đối với
PN và trẻ em cũng nhƣ các vấn đề khác nhƣ vấn đề giới, chủng tộc, giai cấp, văn
hóa và BL...
Tại Hội nghị y khoa do Viện Nhân Đạo Pháp tổ chức năm 2001, Hội nghị
đã báo cáo nghiên cứu “Phụ Nữ, Nạn Nhân Của BLGĐ và Vai Trò Của Giới Y
Khoa” của giáo sƣ Roger Herrion. Giáo sƣ Roger Herrion và nhóm nghiên cứu
đã điều tra 700 phụ nữ trong độ tuổi từ 25 - 49 và đƣa ra kết luận rằng “Có 60%
ngƣời thƣờng xuyên chịu những cú đấm, đá, chửi bới, cƣỡng dâm. Ngoài những
chấn thƣơng về thể xác, các nạn nhân còn bị tổn thƣơng về tinh thần. Đặc biệt,
phụ nữ mang thai sẽ ảnh hƣởng đến đứa con sau khi ra đời”. Nghiên cứu cũng
chỉ ra rằng “phần lớn những kẻ bạo hành là ngƣời có quyền lực trong xã hội và
hầu nhƣ tất cả đều có ảnh hƣởng của rƣợu, bia. Điều đáng quan tâm là khi bị
BL, PN rất ngại tố cáo với cảnh sát vì họ lo sợ hoặc xấu hổ”.
Năm 2001, các tác giả Charlotte Watts, Lori Heise, Mary Ellsberg và
Claudia Garcia Moreno của Tổ Chức YTế Thế Giới – World Health
Organisation (WHO)- viết tác phẩm “Putting Women First: Ethical and Safety
Recommendations for Research on Domestic Violence Against Women” (Đặt
PN Lên Hàng Đầu: Các Khuyến Nghị về an toàn và đạo đức cho nghiên cứu về
BLGĐ đối với PN) trong đó nêu rõ các khuyến nghị cần thiết khi nghiên cứu về
BLGĐ đối với PN, đó là:
- Sự an toàn của ngƣời trả lời và của nhóm nghiên cứu là sự quan trọng tối
cao và sẽ định hƣớng cho toàn bộ các quyết định trong dự án.
- Các cuộc điều tra rộng rãi cần phải có một phƣơng pháp luận đúng đắn
và phải đƣợc xây dựng trên những kinh nghiệm nghiên cứu hiện hành về vấn đề
này.
- Tính bảo mật là điều cần thiết để đảm bảo cho cả sự an toàn của các PN
tham gia điều tra và cả chất lƣợng của số liệu
12



- Tất cả các thành viên của nhóm nghiên cứu cần đƣợc lựa chọn cẩn thận
và đƣợc tập huấn chuyên môn cũng nhƣ đƣợc hỗ trợ thƣờng xuyên
- Thiết kế NC phải bao gồm cả các hành động nhằm mục đích giảm tất cả
những nỗi đau khổ mà NC có thể gây ra cho ngƣời tham gia điều tra
- Điều tra viên cần đƣợc tập huấn để chỉ dẫn cho những ngƣời PN yêu cầu
đƣợc trợ giúp đến các dịch vụ hỗ trợ hoặc các nguồn hỗ trợ của địa phƣơng - nơi
mà có ít nguồn lực, dự án nghiên cứu có thể cần tạo ra những cơ chế hỗ trợ ngắn
hạn.
- Các cán bộ nghiên cứu và nhà tài trợ có quy định về đạo đức để giúp
đảm bảo rằng những kết quả nghiên cứu của họ có thể đƣợc hiểu và đƣợc dùng
một cách đúng đắn nhằm nâng cao sự phát triển của chính sách và các biện pháp
can thiệp.
Chỉ nên đƣa các câu hỏi về BL vào các cuộc điều tra đƣợc thiết kế cho
mục đích khác khi đạt đƣợc các yêu cầu về phƣơng pháp luận và về đạo đức.
Ngày 14/5/2014, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố bản báo cáo với tựa
đề "Tiếng Nói và Năng lực" cho biết; “hơn 700 triệu phụ nữ trên toàn thế giới
là nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình, phần lớn trong số họ hầu như
không có khả năng bảo vệ”. Báo cáo mới nhất mang tính bao quát của WB cho
biết tình hình nghiêm trọng nhất xảy ra tại khu vực Nam Á và châu Phi, nơi có
hơn 40% phụ nữ từng là nạn nhân của hành động bạo lực gia đình. Tình trạng bị
bạo hành cùng với những thua thiệt mang tính hệ thống mà phụ nữ phải chịu
đựng đang là những nhân tố quan trọng cản trở sự tiến bộ và khiến hàng trăm
triệu phụ nữ rơi vào cảnh đói nghèo.
Báo cáo cũng cho rằng trao quyền hợp pháp cho phụ nữ, song song với
việc dỡ bỏ những rào cản về luật pháp và xã hội đối cho sự phát triển của họ sẽ
đem lại nhiều lợi ích hơn cho các nhóm trong xã hội. Báo cáo cũng miêu tả
nhiều cách mà theo đó phụ nữ trên toàn thế giới bị phủ nhận "năng lực" - khả
năng vƣợt lên hoàn cảnh của họ bằng chính nỗ lực của bản thân. Ngoài tình
trạng bị bạo hành trong gia đình, phụ nữ còn bị ít có cơ hội sở hữu đất đai. Nó
13



cũng cho biết rằng một vài quốc gia phụ nữ còn không thể ra khỏi nhà nếu
không đƣợc phép.
Báo cáo cũng cho biết ảnh hƣởng của việc mang thai ở độ tuổi vị thành
niên - cũng là một hình thức gây ra sự hạn chế năng lực của PN - đang ngày
càng nghiêm trọng. Khoảng 20% số trẻ em gái tại các nƣớc đang phát triển
mang thai trƣớc năm 18 tuổi và nếu đánh giá trên cơ sở tài chính thì vấn đề này
khiến GDP của Trung Quốc giảm 1%, còn GDP của Uganda giảm 30%.
Báo cáo chỉ ra rằng những thành quả đạt đƣợc trong giáo dục đã chứng
minh đƣợc rằng các quy phạm xã hội có thể thay đổi bởi sức ép và sự khuyến
khích [của các nhà giáo dục và các thành viên trong cộng đồng]. Giáo dục sẽ
giúp đẩy mạnh việc phát triển năng lực từ đó ccó thể giúp cải thiện cuộc sống
của phụ nữ.
Một xã hội đƣợc coi là văn minh khi và chỉ khi quyền con ngƣời đƣợc đề
cao, quyền bình đẳng nam nữ phải đƣợc đƣa vào pháp luật và phải thực thi nó ở
mọi giai tầng của xã hội. Hơn nữa phải có quy định đƣa nó vào trong giáo dục
để mỗi con ngƣời nhận thức đƣợc giá tự thân của họ theo hiến pháp và luật định
thì vấn đề bạo lực gia đình mới có khả năng suy giảm đối với phụ nữ.
6.2.Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các nghiên cứu chuyên sâu về bạo lực gia
đình ở Việt Nam đã bắt đầu đựơc quan tâm và triển khai thực hiện. Lê Thị Quý,
Vũ Mạnh Lợi, Nguyễn Hữu Minh, Hoàng Bá Thịnh, Trần Thị Vân Anh, Vũ Tuấn
Huy, Lê Ngọc Văn… là những nhà khoa học có rất nhiều công trình, bài viết
nghiên cứu về vấn đề này.
Bài viết “Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị
Quý đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ số 4/2000 dựa trên cơ sở thu thập phân
tích một số tài liệu kết hợp với việc điều tra xã hội học năm 1998 tại xã C.N (Từ
Liêm, Hà Nội) và các mối quan hệ trong gia đình của nhóm nghiên cứu Giới
(khoa Xã hội học, phân viện báo chí tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ

14


Chí Minh). Bài viết cung cấp một số thông tin phân tích về phía khía cạnh bạo lực
gia đình, một biểu hiện bất bình đẳng giới
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam đƣa ra con số đáng lo
ngại: Tỷ lệ của phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình dƣới nhiều hình thức khác
nhau chiếm từ 40 đến 80% số ngƣời đƣợc phỏng vấn. Những thiệt hại về thể chất
và tinh thần do bạo lực gia đình gây ra đối với nạn nhân là vô cùng nghiêm trọng.
Nghiên cứu của Vũ Tuấn Huy (2003) “ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc
bộ cho thấy trong vòng 12 tháng trước thời điểm điều tra”, có 79% hộ gia đình
xảy ra ít nhất một lần về một loại hành vi bạo lực giữa vợ và chồng trong gia đình.
Các hộ gia đình đƣợc điều tra, hình thức bạo lực về tình cảm nhƣ thờ ơ lãnh đạm
“chiến tranh lạnh là khá phổ biến: 54,4% ở các mức độ khác nhau. Tiếp theo là
bạo lực về lời nói nhƣ lăng mạ hoặc chửi bới xảy ra ở 20% hộ gia đình. Tỷ lệ hộ
gia đinh có các hình thức bạo lực khác nhau nhƣ đe doạ, đánh đập hoặc ném đồ
vật là 4,3%, đập phá đồ đạc 2,1%, đuổi ra khỏi nhà 1,6%. những hành vi bạo lực
mang tính ngƣợc đãi về thân thể nhƣ đánh, tát xô ngã ở 5,5% số hộ gia đình.
Một nghiên cứu khác ở một xã nông thôn ở đồng bằng Bắc bộ cho thấy có
87% số ngƣời đƣợc hỏi nói rằng ở xóm, thôn, nơi họ sinh sống có hiện tƣợng bạo
lực gia đình. Về bạo lực tinh thần có 94,4% ngƣời chồng chửi mắng vợ. Ngƣợc lại,
cứ có 3 ngƣời vợ thì có có 1 ngƣời chửi mắng chồng. Về bạo lực thể chất: 54,4%
số ngƣời đƣợc hỏi cho rằng hiện tƣợng chồng đánh vợ và 8,9% số ngƣời đƣợc hỏi
cho biết có hiện tƣợng vợ đánh chồng (Hoàng Bá Thịnh, 2002).
Nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của Vũ Mạnh Lợi và đồng nghiệp,
1999) cho thấy hiện tƣợng ngƣợc đãi về lời nói xảy ra trong khoảng 20% gia đình
và bạo lực thân thể xảy ra trong khoảng 10% gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh.
Ở Miền trung, khoảng 50% ngƣời chồng có hành vi ngƣợc đãi về lời nói đối với
vợ, tỷ lệ này ở thành phố Hà Nội là 10%. Có tới 75% ngƣời chồng trong tổng số
mẫu nghiên cứu có hành vi ngƣợc đãi về tình cảm đối với ngƣời vợ và trung bình

có tới 30% phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng, cƣỡng bức theo nhiều hình thức, phần
lớn là do những ngƣời quen biết, chồng và những ngƣời thân trong gia đình. Trong
15


đó, có 15% phụ nữ bị chồng đánh, gần 80% bị chồng mắng chửi, hơn 70% bị
chồng bỏ mặc, gần 10% bị chồng cấm đoán quan hệ và gần 20% bị chồng cƣỡng
ép quan hệ tình dục.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng trong những năm gần đây mặc dù chất
lƣợng cuộc sống ngày càng đƣợc cải thiện, các quyền cơ bản của con nguời đƣợc
tôn trọng hơn nhƣng bạo lực gia đình có xu hƣớng gia tăng (Vũ Mạnh Lợi và đồng
nghiệp, 1999; Lê Thị Quý, 2000). Điều đáng quan tâm là bạo lực gia đình đã trở
thành một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng tan vỡ của gia đình.
Lê Thị Quý, Đặng vũ Cảnh Linh (2007) trong nghiên cứu “Bạo lực gia
đình - một sự sai lệch giá trị” đã trình bày những lý luận và phƣơng pháp luận về
bạo lực trong gia đình nêu lên những bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong
công tác phòng chống bạo lực gia đình.
Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009) trong nghiên cứu “Bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân” đã nêu
những vấn đề nhận diện bạo lực gia đình và cơ sở pháp lí phòng chống bạo lực
gia đình, mức độ phổ biến phổ biến của bạo lực gia đình và các yếu tố ảnh hƣởng,
phân tích thực trạng bạo lực gia đình, hậu quả và môi trƣờng nảy sinh bạo lực gia
đình, các yếu tố thúc đẩy và hạn chế các hành vi bạo lực.
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ
và trẻ em”, Bùi Thị Xuân Mai (2009) cùng các cộng sự đã nghiên cứu, đề xuất các
giải pháp khả thi để hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em hiện nay ở Việt
nam.
Từ năm 2006 hết năm 2011, “kết quả nghiên cứu của Bộ Văn hoá - Thể
thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện gia đình và giới” thì có 21,2 % các cặp
vợ chồng có trải qua hình thức bạo lực từ chửi mắng, nhục mạ, buộc quan hệ tình

dục khi không có nhu cầu. Cứ 05 cặp vợ chồng thì có 01 cặp từng xảy ra bạo lực
dƣới mọi hình thức. Tình trạng Bạo lực gia đình những năm gần đây đang diễn ra
với tính chất ngày càng nghiêm trọng, đối tƣợng vi phạm cùng với số nạn nhân
gia tăng ở khắp các vùng miền trong cả nƣớc.
16


Nhƣ vậy, các nghiên cứu đi trƣớc đã cung cấp những góc nhìn đa dạng, sâu
sắc về vấn đề bạo lực gia đình; nhiều nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu, phân tích các
hình thức bạo lực, thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình. Bạo
lực gia đình tồn tại trong nhiều gia đình, ở cả nông thôn lẫn thành thị. Bạo lực gia
đình chƣa đƣợc nhận thức đúng mức vì đa số ngƣời dân đều cho rằng đó là vấn đề
riêng của mỗi gia đình, của từng cá nhân, ngƣời ngoài không có tƣ cách can thiệp.
Tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ, sự ngộ nhận về vai trò của phụ nữ và nam giới
trong các lĩnh vực đời sống cũng là mảnh đất màu mỡ nuôi dƣỡng bạo lực gia
đình. Những nguyên nhân khác có thể kể ra là nghèo khổ, thu nhập thấp, việc làm
không ổn định, buôn bán thua lỗ, phá sản, thất nghiệp, gia đình đông con, vv…
bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục… tất cả đều để lại những vết
thƣơng tích nặng nề cho đời sống của ngƣời phụ nữ.
Hiện nay, ngành Công tác xã hội đang tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên
truyền phổ biến pháp luật và xây dựng các mô hình hoạt động phòng chống bạo
lực gia đình có hiệu quả tại các địa phƣơng nhƣ là các hoạt động tƣơng trợ nhóm
phụ nữ là nạn nhân của bạo lực; bênh vực quyền lợi cho chị em và hƣớng tới sự
bình đẳng. Qua đó, nâng cao nhận thức của ngƣời dân về phạm vi của vấn đề, để
từ đó xã hội có những hành động cấp bách để ngăn ngừa và đối phó với vấn đề
bạo lực đối với phụ nữ.
Nguyễn Thị Kim Hoa (2013), “Giáo trình cao đẳng nghề CTXH trong lĩnh
vực phòng, chống BLGĐ”, bao gồm 9 nội dung: (1) Những kiến thức về công tác
xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; (2) Những khái niệm cơ bản
và các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến phòng, chống bạo lực gia

đình; (3) Một số yêu cầu và lý thuyết cơ bản ứng dụng trong lĩnh vực phòng,
chống bạo lực gia đình; (4) Các phương pháp công tác xã hội trong lĩnh vực
phòng, chống bạo lực gia đình; (5) Kỹ năng và quy trình hỗ trợ công tác xã hội
trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình ; (6) Quy trình can thiệp và hỗ trợ
người gây bạo lực; (7) Phòng ngừa bạo lực gia đình; (8) Một số kỹ thuật công tác
xã hội ứng dụng trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình ; (9) Các mô hình
17


can thiệp và tư vấn trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Đây là giáo
trình đƣợc sử dụng để đào tạo cho SV các trƣờng cao đẳng nghề và là tài liệu
tham khảo tốt cho những ngƣời nghiên cứu liên quan đến chủ đề này.
Mặc dù đã có không ít cảnh báo của nhiều nhà nghiên cứu về những hậu
quả trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài của bạo lực đối với đời sống tinh thần và thể chất
của ngƣời phụ nữ, nhƣng công tác phòng chống nạn bạo lực trong gia đình vẫn
thiếu tính đồng bộ và triệt để.
Trong bối cảnh chung đó, kế thừa các giá trị của những công trình nghiên
cứu khoa học về trợ giúp nạn nhân bị bạo lực, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội cá
nhân với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh.

18


×