TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN LAN PHƯƠNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12
Ở TRƯỜNG THPT DƯƠNG XÁ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Giáo dục Công dân
ở trường trung học phổ thông
HÀ NỘI, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN LAN PHƯƠNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12
Ở TRƯỜNG THPT DƯƠNG XÁ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Giáo dục Công dân
ở trường trung học phổ thông
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Quang Thuận
HÀ NỘI, 2019
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận, bên cạnh sự cố gắng của bản thân em đã nhận được
sự giúp đỡ của thầy Nguyễn Quang Thuận, thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên,
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Tác giả
Nguyễn Lan Phương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, chưa từng có công bố trong bất kì
một công trình nào.
Tác giả
Nguyễn Lan Phương
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SỐ
THỨ TỰ
TỪ VIẾT TẮT
DIỄN GIẢI
1
BT
Bài tập
2
DH
Dạy học
3
ĐG
Đánh giá
4
GDCD
Giáo dục công dân
5
GQVĐ
Giải quyết vấn đề
6
GV
Giáo viên
7
HĐNGLL
Hoạt động ngoài giờ lên lớp
8
HS
Học sinh
9
KT
Kiểm tra
10
NL
Năng lực
11
PPDH
Phương pháp dạy học
12
THPT
Trung học phổ thông
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
DƯƠNG XÁ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................................................................8
1.1. Cơ sở lí luận của việc phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua DH môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội ................................8
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua DH môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT..............................................................................15
1.3. Sự cần thiết của việc phát triển NL GQVĐ cho HS lớp 12 thông qua dạy
học môn GDCD ở trường THPT Dương Xá hiện nay ..........................................19
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................20
CHƯƠNG 2. NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
DƯƠNG XÁ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ....................................................................21
2.1. Những nguyên tắc để phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua dạy học
môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá hiện nay......................................21
2.2. Biện pháp sư phạm nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua dạy học
môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá ....................................................24
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................29
CHƯƠNG 3 ............................................................................................................30
3.1 Kế hoạch thực nghiệm....................................................................................30
3.2. Nội dung thực nghiệm...................................................................................31
3.3. Kết quả thực nghiệm .....................................................................................48
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................52
KẾT LUẬN.............................................................................................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................55
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG:
Bảng 3.1: Điểm kiểm tra 45 phút trước thực nghiệm (Đơn vị: %) ..........................31
Bảng 3.2 Kết quả của HS lớp 12A1 và 12A2 (Đơn vị: %) ......................................50
Bảng 3.3 Kết quả đánh giá của HS lớp 12A1 và 12A2 (Đơn vị: %)........................50
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Điểm kiểm tra 45 phút trước thực nghiệm (đơn vị: %) .......................49
Biểu đồ 3.2: Điểm kiểm tra 45 phút sau thực nghiệm (đơn vị: %) ..........................51
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ 21, con người đang đứng trước nhiều thách thức cần phải
giải quyết, một trong số đó là sự bùng nổ tri thức. Dạy học truyền thống không đáp
ứng tốt cho việc giải quyết những thách thức đó. Tổ chức UNESCO đã hoạch định
ra những chiến lược quan trọng cho giáo dục thế kỉ 21, trong đó sự thay đổi đầu tiên
về mục tiêu giáo dục từ: kiến thức – kĩ năng – năng lực – thái độ sang: năng lực –
thái độ - kiến thức; đặc biệt, nhấn mạnh đến việc phát triển NL GQVĐ cho HS.
Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
do Quốc hội ban hành ngày 04/11/2013 nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động sáng tạo và vận
dụng kiến thức kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ,
máy móc” [7,tr.5-6]. Như vậy, có thể nói giáo dục phổ thông nước ta đang thực
hiện bước chuyển mình mạnh mẽ từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang
tiếp cận NL người học, phát triển NL người học, trong đó NL GQVĐ là NL cần
trang bị cho người học, giúp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống.
Thực tế, giáo dục phổ thông hiện nay còn theo hướng tiếp cận nội dung, chú
trọng trang bị kiến thức các môn học phục vụ cho thi cử, chưa chú trọng phát triển
NL cần thiết trong xã hội hiện đại , đặc biệt là NL GQVĐ trong quá trình dạy học
các môn học.
Trong nhà trường THPT, môn GDCD gắn liền với thực tế đời sống, có vai trò
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Dạy học GDCD cần làm cho HS
có ý thức và biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, hình thành
các kĩ năng hoạt động thực tiễn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống. Do vậy, DH
GDCD cần chú ý tới NL GQVĐ.
Trong chương trình môn GDCD lớp 12 ở trường THPT, nội dung của chương
trình dạy học có liên quan đến lĩnh vực pháp luật. Để HS hiểu rõ về bài học hơn GV
nên đưa ra những tình huống về PL gắn liền với thực tiễn, cuộc sống; tạo hứng thú,
lôi cuốn HS vào giải quyết các vấn đề đặt ra. Từ đó, GV phát triển được NL GQVĐ,
NL điều chỉnh hành vi pháp luật cho HS.
1
Ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội hiện nay thì nhà trường và GV
đã nhận ra được tầm quan trọng của việc phát triển NL GQVĐ trong dạy học môn
GDCD lớp 12. Tuy nhiên, nhà trường và GV chủ yếu chú trọng vào nội dung kiến
thức chứ chưa thực sự chú ý vào việc phát triển NL cho HS.
Từ những lý do trên, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn
GDCD ở trường THPT, tôi quyết định chọn đề tàì: “Phát triển năng lực giải quyết
vấn đề cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở trường
trung học phổ thông Dương Xá, thành phố Hà Nội hiện nay.”
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Phát triển NL GQVĐ cho học sinh ở trường THPT trong dạy học môn GDCD
hiện nay là một vấn đề chưa được nhiều người đề cập đến trong nghiên cứu giảng
dạy môn GDCD. Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề phát triển
NLGQVĐ của HS như:
2.1. Ở nước ngoài
Thuật ngữ “Dạy học nêu vấn đề” xuất phát từ thuật ngữ “Orixtic” hay còn gọi
là phương pháp phát triển, tìm tòi. Điều này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
như A. Ja Ghecđơ, B.E Raicôp,… vào những năm 70 của thế kỉ XIX. Các nhà khoa
học này đã nêu lên phương án tìm tòi, phát kiến trong dạy học nhằm hình thành
năng lực nhận thức của học sinh bằng cách đưa học sinh vào hoạt động tìm kiếm ra
tri thức, học sinh là chủ thể của hoạt động học, là người sáng tạo ra hoạt động học.
Đây có thể là một trong những cơ sở lí luận của phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề.
Vào những năm 50 của thế kỉ XX, xã hội bắt đầu phát triển mạnh, đôi lúc
xuất hiện mâu thuẫn trong giáo dục đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục ngày
càng cao, khả năng sáng tạo của học sinh ngày càng tăng với tổ chức dạy học còn
lạc hậu.
Phương pháp dạy học GQVĐ ra đời. Phương pháp này được chú trọng ở Ba
Lan. V.Ôkôn, nhà giáo dục nổi tiếng ông đã đúc kết ra những kết quả tích cực của
công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học phát huy tính tích cực. Ông đã
nêu tính quy luật chung của dạy học nêu vấn đề, cách áp dụng phương pháp vào
2
một số ngành khoa học và điều đó được thể hiện cụ thể của cuốn sách “Những cơ sở
của việc dạy học nêu vấn đề”. Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ dừng ở việc ghi
lại những thực nghiệm thu được từ việc sử dụng phương pháp này chứ chưa đưa ra
cơ sở lí luận đầy đủ cho phương pháp này.
Những năm 70 của thế kỉ XX, M.I.Makumutov (nhà lý luận học người Nga)
đã đưa ra đầy đủ cơ sở lý luận của phương pháp dạy học GQVĐ. Ở nước ngoài
cũng có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu phương pháp này như
Xcatlin, Machiuskin, Lecne,…
Lecne (1977), Sách, Dạy học nêu vấn đề, Phạm Tất Đắc dịch, Nxb Giáo dục,
đã làm rõ của bản chất dạy học nêu vấn đề. Ông coi đây là một phương pháp hiệu
quả để kích thích hoạt động sáng tạo, phát huy tính tích cực nhận thức HS, nâng cao
hiệu quả bài học.
Thomas Amstrong, Lê Quang Long dịch (2011), Sách Đa trí tuệ trong lớp
học, Nxb Giáo dục Việt Nam. Tác giả đã đưa ra tám loại trí tuệ ẩn trong con người
nên trong quá trình DH GV cần phải sáng tạo để phát huy các tiềm năng đa dạng
của HS, khơi gợi sự sáng tạo phát triển các NL chủ chốt như: Nl hợp tác, NL
GQVĐ…
Như vậy, vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm phát triển
NL người học đã được các nhà lý luận và PPDH quan tâm. Các tác giả đều khẳng
định tầm quan trọng của việc phát triển NL của HS, trong đó có NL GQVĐ.
2.2. Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, DH phát triển NL GQVĐ trở thành định hướng
của giáo dục hiện đại của nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam.
* Nghiên cứu về NL GQVĐ: Ở Việt Nam, nghiên cứu về phát triển NL
GQVĐ được tác giả Việt Nam nghiên cứu khá sớm, tiêu biểu là các luận án, luận
văn, tạp chí:
- Vũ Thị Anh (2017), “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
trong dạy học lịch sử ở trường THPT”, Tạp chí Giáo dục, Bộ Giáo dục và đào tạo.
Tạp chí đã nêu rõ: “Phát triển NL GQVĐ cho HS là nhiệm vụ quan trọng trong DH
nói chung, dạy học LS nói riêng. Trong mỗi bài học, tiết dạy nếu GV tổ chức theo
3
hướng phát triển NL sẽ góp phần làm cho bài tập hấp dẫn, sinh động, tạo hứng thú
học tập cho HS” [1-tr.188]. Tạp chí nghiên cứu về một số biện pháp phát triển năng
lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy ở trường THPT.
- Nguyễn Lâm Đức(2016 ), Vận dụng phương pháp dạy học tích cực bồi
dưỡng NL GQVĐ cho HS trong DH chương “Từ trường” Vật lý 11 THPT, Đại học
Vinh, Nghệ An. Luận án nghiên cứu về việc bồi dưỡng NL GQVĐ trong DH
chương “Từ trường” Vật lý 11 THPT. Luận án đã đề xuất logic phát triển nội dung
chương “Từ trường” phù hợp với các quan điểm DH và chuẩn bị các điều kiện DH
chương “Từ trường” nhằm bồi dưỡng NL GQVĐ trong dạy học cho HS.
- Lê Trung Hiệp (2004), Bồi dưỡng NL phát hiện và GQVĐ cho HS thông qua
dạy học giải phương trình vô tỷ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận văn đã khái
quát khái niệm NL, NL GQVĐ đồng thời nhấn mạnh đây là NL quan trọng không
thể không hình thành và bồi dưỡng cho HS trong quá trình DH ở trường THPT.
- Nguyễn Thị Hồng Luyến(2016), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho
học sinh thông qua dạy học các chủ đề tích hợp chương nhóm Nitơ – Hóa học 11
nâng cao, Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội. Luận văn đã đưa ra biện pháp: sử
dụng phương pháp DH theo góc để DH chủ đề 1 và sử dụng phương pháp DH dự án
để DH chủ đề 2 và chủ đề 3 để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
thông qua dạy học các chủ đề tích hợp chương nhóm Nitơ – Hóa học 11 nâng cao.
- Vũ Văn Tảo (1998), Dạy – học giải quyết vấn đề: một hướng cần đổi mới
trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện, trường Cán bộ quản lí giáo dục và
đào tạo Hà Nội.
* Trong môn GDCD, việc phát triển NL GQVĐ ngày càng được nhiều
người nghiên cứu ở những mảng khác nhau như:
- Nguyễn Diệu Linh(2017), “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học
sinh trường THPT trong dạy học môn GDCD, phần “Công dân với pháp luật” ở
trường THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội”, Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận văn đã
đưa một số biện pháp: biện pháp chuẩn bị, biện pháp tổ chức dạy học trên lớp, biện
pháp trải nghiệm ngoài giờ lên lớp, biện pháp kiểm tra và đánh giá trong DH để
phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh,
Hà Nội.
4
- Lưu Thị Thùy Minh(2012), “Rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho học
sinh trường trung học phổ thông trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” môn
Giáo dục công dân lớp 11”, Đại học Vinh. Luận văn đã làm sáng tỏ vấn đề: cần
phải rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trường trung học phổ thông
trong dạy học học phần”Công dân với kinh tế” môn Giáo dục công dân lớp 11. Tác
giả đã đưa ra một số biện pháp tích cực: biện pháp sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm, sử dụng phương pháp nêu vấn đề để rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề cho
học sinh trường trung học phổ thông trong dạy học học.
Từ các nghiên cứu trên, cho thấy các tác giả đều nhận thức được sự cần thiết
của việc phát triển NL GQVĐ cho HS ở trường THPT. Các tác đều đưa ra được một
số biện pháp để phát triển NL GQVĐ. Nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể trực tiếp
nào đưa ra được quy trình, biện pháp của việc phát triển NL GQVĐ cho HS lớp 12
trong dạy học môn GDCD.
Phương pháp GQVĐ thật sự là một phương pháp tích cực trong công cuộc đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay. Tuy nhiên vấn đề phát triển NLGQVĐ cho HS
thông qua DH môn GDCD ở trường trung học phổ thông hiện nay vẫn chưa được
đề cập đến nhiều. Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển năng lực giải quyết
vấn đề cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học
phổ thông hiện nay.”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Khóa luận được nghiên cứu với mục đích:
Phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường
THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NL GQVĐ
cho HS thông qua DH môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà
Nội hiện nay.
- Xác định các nguyên tắc, biện pháp nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS
thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà
Nội hiện nay.
5
- Tiến hành thực nghiệm phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua DH môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp DH GQVĐ và các nguyên tắc, biện
pháp nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua DH môn GDCD lớp 12 ở
trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đối tượng khảo sát: GV, HS lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố
Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: tháng 2/ 2019 đến tháng 4/2019.
- Địa điểm: trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: giới hạn trong chương trình DH môn GDCD
lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, đề tài sử dụng chủ yếu một số phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phương pháp phân tích - tổng hợp: dùng để phân tích các tài liệu liên quan đến
khóa luận rồi tổng hợp chúng để đưa ra bài khóa luận tốt nhất.
Phương pháp so sánh: dùng để so sánh loại năng lực phát triển cho HS để thấy
được sự cần thiết của đề tài.
Phương pháp duy vật biện chứng: giúp nhìn nhận các tài liệu một cách đúng
đắn để tham khảo.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát, thu thập tài liệu: dùng để thu thập các thông tin về tình
hình của HS, GV, trường THPT Dương Xá.
Phương pháp thực nghiệm: dùng để thấy được tính thực tiễn, tính vừa sức của
đề tài.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: sử dụng phiếu hỏi để kiểm tra mức độ
nhận thức, thái độ của HS trước và sau khi thực nghiệm.
6
Phương pháp thống kê toán học: dùng để tính tổng, tính phần trăm các số liệu
để đưa ra kết luận chính xác nhất trong quá trình nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Góp phần xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc phát triển NL GQVĐ
cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12.
- Phân tích thực trạng và điều kiện thực hiện quy trình phát triển NL GQVĐ
cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT
Dương Xá, thành phố Hà Nội.
- Tiến hành thực nghiệm phát triển NL GQVĐ cho học sinh thông qua dạy học
môn Giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Có thể sử dụng khóa luận làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
môn GDCD lớp 12.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội
dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG DƯƠNG XÁ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Cơ sở lí luận của việc phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua DH môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm năng lực
Năng lực là một vấn đề trừu tượng của tâm lý học, cho đến nay khái niệm này
vẫn có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
- Theo Từ điển Tiếng Việt, NL là “(1) khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự
nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; (2) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo
cho con nguời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
[15-tr.35]
- Trong khoa học về xây dựng và phát triển Chương trình giáo dục: “Năng lực
có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên
nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất
cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; thái độ và sự
hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài…”
(CTGD Québec của Canada) [13-tr.78].
- Theo Lý luận dạy học hiện đại, NL được quan niệm là “điểm hội tụ của
nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sang hành động và
trách nhiệm đạo đức” [13-tr.13].
- Từ góc độ xã hội học, theo Winch và Foreman- Peck, “NL làm việc là một
hỗn hợp bao gồm các hành động, kiến thức, giá trị và mục đích thay đổi bối cảnh”
[13-tr.114].
- Howard Gardner (1999): “NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có
kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạt được” [13-tr.11].
- F.E. Weinert (2001) cho rằng: “NL là những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc
sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sẵn sàng về
8
động cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách trách nhiệm và
hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [13-tr.12].
Như vậy, có thể thấy dù ý kiến của các tác giả về khái niệm NL khác nhau,
nhưng nội hàm của các định nghĩa đều khẳng định:
NL là sự tổng h a các kiến thức và k năng cần vận dụng để thực hiện một
nhiệm vụ trong một
i cảnh cụ thể
ản thân kiến thức, kĩ năng và thái độ chưa
phải là năng lực Ch khi người học được tạo điều kiện s dụng kiến thức, kĩ năng
và thái độ học tập để giải quyết các vấn đề trong các tình hu ng cụ thể thì khi ấy
giáo dục mới góp phần ây dựng và phát triển năng lực của người học.
NL được phân loại thành nhiều dạng khác nhau. Nhưng trong Chương
trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể ban hành ngày 26/12/ 2018 đã đưa
ra những năng lực cốt lõi để hình thành và phát triển cho học sinh, đó là những năng
lực cốt lõi sau:
- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn
học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
- Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán,
năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng
lực thể chất.
Ví dụ: Những NL được hình thành, phát triển ở HS:
+ Trong môn Ngữ văn: NL chung và NL riêng biệt: NL ngôn ngữ, NL văn
học, NL thẩm mĩ.
+ Trong môn Toán học: NL chung và NL riêng biệt: năng lực tính toán.
- Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo
dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh.
Theo chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể ban hành ngày
26/12/ 2018 quy định: những yêu cầu cần đạt về năng lực chung trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT hiện nay [4-tr. 43-50]
NL tự học và tự chủ: tự lực, tự khẳng đinh và bảo vệ quyền và nhu cầu
chính đáng, tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình, thích ứng với cuộc
sống, định hướng nghề nghiệp, tự học, tự hoàn thiện bản thân.
9
NL giao tiếp và hợp tác: ác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ
giao tiếp, thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hòa giải các mâu
thuẫn, xác định mục tiêu, mục đích và phương thức hợp tác, xác định trách nhiệm
và hoạt động của bản thân, xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác, tổ chức
và thuyết phục người khác, đánh giá hoạt động hợp tác, hội nhập quốc tế.
NL giải quyết vấn đề và sáng tạo: phát hiện và làm rõ vấn đề, hình thành và
triển khai ý tưởng mới.
1.1.1.2. Khái niệm NL GQVĐ:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về NL GQVĐ:
- Trong Định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012: NLGQVĐ là khả năng của một
cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải quyết chưa rõ ràng. Nó
bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống có vấn đề - thể hiện tiềm
năng là công dân tích cực và xây dựng.
- Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy cùng đồng tác giả: “NL GQVĐ thể
hiện khả năng của cá nhân (khi làm việc một mình hoặc làm việc trong một nhóm)
khi tư duy, suy nghĩ về tình huống có vấn đề và tìm kiếm, thực hiện giải pháp cho
vấn đề đó” [17-tr 91-101].
Từ các quan điểm trên, có thể thấy điểm tương đồng của các tác giả đều chỉ ra:
NL GQVĐ là khả năng của HS nhận ra vấn đề trong tình hu ng học tập hoặc trong
cuộc s ng và tìm ra được cách để giải quyết vấn đề khó khăn trở ngại. Từ đó tiếp
thu được kiến thức, k năng mới hoặc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
NL GQVĐ là sự tổng hòa của các năng lực sau: NL nhận thức, NL tư duy sáng
tạo, NL hợp tác, NL tự học, NL vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
1.1.2. Phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua chương trình môn GDCD lớp 12
ở trường THPT hiện nay
1.1.2.1. Chương trình dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT hiện nay
Theo Chương trình dạy học môn GDCD lớp12 ở trường THPT năm 2018 2019: chương trình môn GDCD lớp 12 có 70 tiết/ năm/ lớp.
Chương trình dạy học môn GDCD gồm:
Những phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là:
yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
10
Về năng lực, chương trình hướng đến những năng lực cốt lõi gồm:
+ Những NL chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần
hình thành, phát triển: NL lực tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải
quyết vấn đề và sáng tạo.
+ Những NL chuyên môn được hình thành, phát triển thông qua môn học,
hoạt động giáo dục nhất định: NL phát triển bản thân, NL điều chỉnh hành vi đạo
đức, NL điều chỉnh hành vi PL, NL GQVĐ về đạo đức.
Mục tiêu của môn học GDCD lớp 12:
- Môn học giúp học sinh có được tình cảm, nhận thức, niềm tin và bản lĩnh
phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật dựa trên những kiến thức
cơ bản, cốt lõi, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề nghiệp sau trung học
phổ thông về kinh tế và pháp luật.
- Môn học giúp học sinh có được năng lực thực hiện các quyền, nghĩa vụ,
trách nhiệm công dân chủ yếu từ góc độ kinh tế, pháp luật; có kĩ năng sống và bản
lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc tế.
Các NL đặc thù được hình thành, phát triển cho học sinh trong môn GDCD:
* Năng lực điều chỉnh hành vi đạo đức:
Nhận thức chuẩn mực hành vi:
+ Hiểu được trách nhiệm của công dân trong bảo vệ, xây dựng, hoàn thiện hệ
thống chính trị; chấp hành Hiến pháp, pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
+ Hiểu được trách nhiệm của công dân trong thực hiện đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các hoạt động kinh tế; các chuẩn
mực đạo đức trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
+ Có hiểu biết cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế.
Đánh giá hành vi của ản thân và người khác:
+ Phân tích, đánh giá được thái độ, hành vi, việc làm của bản thân và người
khác trong chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước.
11
+ Đồng tình, ủng hộ những thái độ, hành vi, việc làm phù hợp với chuẩn mực
đạo đức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; phê phán, đấu tranh với những thái độ, hành vi, việc làm vi phạm chuẩn
mực đạo đức, pháp luật trong các lĩnh vực đời sống xã hội.
Điều ch nh hành vi:
+ Tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ người khác điều chỉnh được cảm xúc,
thái độ, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật trong thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về kinh tế - xã hội.
+ Kiểm soát được tài chính cá nhân.
* Năng lực phát triển bản thân:
Tự nhận thức ản thân: tự đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu, vai trò, giá
trị, khả năng, điều kiện và các quan hệ xã hội của bản thân.
Lập kế hoạch phát triển ản thân:
+ Tự đặt ra được mục tiêu, kế hoạch, biện pháp học tập, rèn luyện và kế
hoạch tài chính phù hợp của bản thân.
+ Bước đầu biết tạo lập, xây dựng ý tưởng cho một hoạt động kinh doanh nhỏ;
lựa chọn được mô hình hoạt động kinh tế thích hợp trong tương lai đối với bản thân.
+ Xác định được hướng phát triển phù hợp của bản thân sau trung học phổ
thông.
Thực hiện kế hoạch phát triển ản thân:
+ Thực hiện được và vận động, giúp đỡ người khác thực hiện các công việc,
nhiệm vụ học tập, rèn luyện của bản thân để đạt mục tiêu, kế hoạch đã đề ra và
hướng tới các giá trị xã hội.
+ Điều chỉnh được mục tiêu, kế hoạch, phương pháp học tập, rèn luyện phù
hợp với cuộc sống thay đổi; khắc phục được sai sót, hạn chế của bản thân trong quá
trình thực hiện mục tiêu, kế hoạch đã đề ra; lực chọn được các môn học phù hợp với
định hướng nghề nghiệp của bản thân.
* NL tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội:
Tìm hiểu các hiện tượng kinh tế - ã hội:
+ Hiểu được các kiến thức khoa học và một số vấn đề cơ bản về đường lối
của Đảng, chính sách của Nhà nước về kinh tế thị trường định hướng xá hội chủ
12
nghĩa; Hiến pháp, pháp luật, hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; quyền và nghĩa vụ công dân; trách nhiệm của thanh niên với tư cách
công dân.
+ Giải thích được một cách đơn giản một số hiện tượng, vấn đề kinh tế, pháp
luật và đạo đức đang diễn ra ở Việt Nam và thế giới.
Tham gia hoạt động kinh tế - ã hội:
+ Vận dụng được các kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, xử lí các hiện
tượng, vấn đề, tình huống trong thực tiễn cuộc sống; có khả năng tham gia thảo
luận, tranh luận về một số vấn đề trong đòi sống xã hội đương đại liên quan đến đạo
đức, pháp luật và kinh tế.
+ Có khả năng tham gia một số hoạt động phù hợp với lứa tuổi để thực hiện
quyền, nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong các hoạt
động kinh tế.
+ Bước đầu đưa ra quyết định hợp lí và tham gia giải quyết được một số vấn
đề của cá nhân, gia đình và cộng đồng các hành vi, việc làm phù hợp với chuẩn mực
đạo đức, pháp luật và lứa tuổi.
+ Tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội,
các hoạt động phục vụ công đồng, các hoạt động tuyên truyền và thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với lứa tuổi
do nhà trường, địa phương tổ chức.
Đó là những năng lực chuyên môn biểu hiện năng lực chung và năng lực tìm
hiểu khoa học ở cấp THPT đã được quy định trong Chương trình giáo dục phổ
thông tổng thể và chương trình môn GDCD ban hành ngày 26/12/2018.
Nội dung của môn GDCD chủ yếu là kiến thức phổ thông, cơ bản về kinh tế,
pháp luật mang tính ứng dụng, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề
nghiệp sau THPT của HS, gắn với nội dung giáo dục đạo đức và kĩ năng sống, giúp
HS có nhận thức đúng và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân.
Các mạch nội dung của các môn học này liên quan đến các mối quan hệ của
con người với bản thân, với người khác, với nhân loại, với công việc và với môi
trường tự nhiên; được xây dựng trên cơ sở kết hợp các giá trị truyền thống và hiện
đại, dân tộc và toàn cầu, mở rộng và nâng cao.
13
Môn Giáo dục Công dân là môn học lựa chọn, dành cho những HS định
hướng theo học các ngành nghề Giáo dục Chính trị, Giáo dục Công dân, Kinh tế,
Hành chính và Pháp luật,... hoặc có sự quan tâm hứng thú đối với môn học.
1.1.2.2. Chương trình định hướng Nl GQVĐ cho HS THPT
Về mục tiêu giáo dục:
- HS có được NL thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân chủ
yếu từ góc độ pháp luật.
- HS có kĩ năng sống, bản lĩnh, NL GQVĐ để học tập, làm việc và sẵn sàng
thực hiện trách nhiệm công dân trog sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam và hội nhập quốc tế.
Về nội dung giáo dục:
- Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với
các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không
quy định chi tiết.
- Lồng ghép các tình huống pháp luật thực tiễn vào trong bài giảng trong quá
trình DH rồi yêu cầu HS đưa ra các cách giải quyết tình huống để giúp HS hiểu rõ
bài và thấy được tính thiết thực của nội dung bài học.
- Nội dung bài học tăng cường tính thực tiễn, tính mục đích, tính hoạt động;
gắn hơn nữa với đời sống hiện thực, hỗ trợ việc phát huy thế mạnh của HS.
Về phương pháp dạy học:
- GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.
Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp….Chú trọng
sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương
pháp dạy học thí nghiệm, thực hành.
- GV tăng cường hoạt động nhóm thúc đẩy việc học tập tích cực, chủ động của
HS. Tạo môi trường hỗ trợ học tập (gắn với bối cảnh thực).
- GV khuyến khích HS phản ánh tư tưởng và hành động, khuyến khích gaio
tiếp; tăng cường trách nhiệm học tập để tạo điều kiện thuận lợi cho HS học tập, chia
sẻ, trao đổi, tranh luận… kết nối học tập đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng
công tác nhằm phát triển NL cá nhân, NL xã hội….
14
- GV cung cấp đầy đủ cơ hội để HS tìm tòi, khám phá, tự giải quyết vấn đề,
sáng tạo, GV giảng dạy như quá trình.
Về hình thức dạy học: Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
Về đánh giá kết quả học tập của HS:
- Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá
trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn.
- Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết vấn đề
thực tiễn của cuộc sống.
- Đánh giá khả năng vận dụng sáng tạo của HS trong những tình huống ứng
dụng khác nhau.
- Đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ HS trong quá trình thực hiện NL
GQVĐ.
Để học tốt và áp dụng tốt môn GDCD vào thực tiễn cuộc sống, HS cần phải
phát triển năng lực GQVĐ cho bản thân (NL GQVĐ về đạo đức, pháp luật, kinh
tế…).
Ý nghĩa của việc phát triển NL GQVĐ cho HS:
- Phát triển NL GQVĐ giúp HS hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài
học. HS có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức xã hội của mình.
- Phát triển NL GQVĐ giúp HS biết vận dụng những tri thức xã hội vào trong
thực tiễn cuộc sống.
- Phát triển NL GQVĐ giúp HS hình thành kĩ năng giao tiếp, tổ chức, khả
năng tư duy, tinh thần hợp tác, hòa nhập cộng đồng.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc phát triển NL GQVĐ cho HS thông qua DH môn
GDCD lớp 12 ở trường THPT
1.2.1. Khái quát về trường THPT Dương Xá, thành phố Hà Nội
Trường THPT Dương Xá nằm trên địa phận xã Dương Xá - huyện Gia Lâm –
Thành phố Hà Nội- mảnh đất có truyền thống hiếu học. Trường đạt danh hiệu
Trường chuẩn Quốc gia và ngày càng có vị thế vững chắc trong khối các trường
15
THPT của Thành phố Hà Nội. Đội ngũ cán bộ- giáo viên của trường 100% đạt
chuẩn trở lên, có 27,6% trên chuẩn trong tổng số cán bộ - giáo viên biên chế được
giao trong đó hiện có 84 người. Tổng số học sinh toàn trường có: 1552 HS, tăng so
với cùng kỳ năm trước là 86 học sinh. Học sinh của trường bình quân: khối 10 là
45.53 HS/lớp, khối 11 là 39,75 HS/lớp, khối 12 là 40,25 HS/lớp. Bình quân toàn
trường là 40.75 HS/lớp. Học sinh nhà trường nhìn chung thuần, có kỷ cương, có nề
nếp. Đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ Đoàn nhiệt tình, có trách nhiệm. Một bộ phận học
sinh khá, giỏi có ý thức vươn lên, có động cơ và mục đích học tập rõ ràng. Năm
2017- 2018, trường thi Olympic các môn văn hóa lớp 10 và lớp 11 (cụm Long BiênGia Lâm) đạt 57 giải trong đó: 6 giải Nhất, 18 giải Nhì, 14 giải Ba, 19 giải Khuyến
khích. Số học sinh giỏi chiếm 15.76 %, Học sinh khá: 69,58 %, học sinh Yếu: 0,2%.
Tỷ lệ học sinh giỏi cao hơn so với các năm học trước. Tỷ lệ học sinh giỏi đạt kế
hoạch nhưng còn thấp. Học sinh giỏi K12: 10 giải trong đó: 01 giải Nhất, 02 giải
Nhì; 02 giải ba, 5 giải khuyến khích.
Bên cạnh đó, lực lượng giáo viên trẻ nhiều, có tâm huyết, có nhiệt tình nhưng
kinh nghiệm còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ – giáo viên chưa ổn định, còn có biến
động, số nữ giáo viên đông, nhiều đồng chí đang ở thời kì sinh đẻ và nuôi con nhỏ
nên ảnh hưởng phần nào đến công việc giảng dạy, công tác. Học sinh nhà trường
nhìn chung còn có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, điều kiện vật chất cho học tập còn
thiếu thốn cho nên phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Trước tình
hình đó, nhà trường đã tích cực triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên, chăm
lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về năng lực
chuyên môn, kỹ năng phát triển chương trình nhà trường, phương pháp dạy học, kiểm
tra đánh giá, công tác chủ nhiệm lớp. Trong đó việc dạy học môn GDCD ngày càng
được nhà trường chú trọng hơn. Tuy nhiên, việc học tập tốt môn GDCD để giúp HS
nhìn nhận vấn đề thực tiễn một cách đúng đắn và tốt đẹp thì đang là vấn đề khó
khăn chung của giáo dục hiện nay và của Nhà trường. Vấn đề đặt ra ở đây là cần
phải phát triển NL GQVĐ như thế nào để HS nhìn nhận được vấn đề thực tiễn một
cách chính xác trong mỗi bài học trong môn GDCD.
16
1.2.2. Thực trạng phát triển NLGQVĐ trong DH môn GDCD 12 cho HS lớp 12 ở
trường THPT Dương Xá, Hà Nội
1.2.1.1. Kết quả đạt được
Để phát triển NL GQVĐ cho HS trong DH môn GDCD, nhà trường đã:
- Sử dụng phương pháp nêu vấn đề bằng cách GV là người đưa ra câu hỏi, HS
là người trả lời câu hỏi; giúp HS làm quen với việc nhìn nhận, xử lí, đánh giá vấn đề
một cách hợp lí.
- Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để các bạn trong nhóm cùng nhau tìm
ra vấn đề trong tình huống và cùng nhau xử lí các tình huống đó.
+ HS được trực tiếp làm việc với đối tượng học tập, tự mình nghiên cứu nội
dung học tập thông qua các tình huống pháp luật, kinh tế.
+ Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng
vận dụng kinh nghiệm của mình và của người khác vào việc giải quyết các vấn đề
trong học tập, cuộc sống liên quan đến pháp luật và kinh tế.
- HS phát huy được kĩ năng làm việc nhóm, năng lực giao tiếp, hợp tác khi
cùng các bạn tham gia giải quyết vấn đề học tập, kinh tế, pháp luật.
Ví dụ: Qua quan sát, phỏng vấn GV trường trong thời gian đi thực tập, tôi thấy
GV ở trường đã bước đầu sử dụng phương pháp để phát triển NL GQVĐ cho HS.
Khi dạy tiết 1, bài 8 (Pháp luật với sự phát triển của công dân), GV đã đưa ra ví dụ
về việc những người cao tuổi, quá tuổi đi học Đại học, Cao đẳng thì còn được đi
học không? Vì sao? Giúp HS hiểu được nội dung: Công dân có quyền học tập
thường xuyên và suốt đời của công dân.
* Nguyên nhân của những kết quả đạt được:
- Nhà trường , GV quan tâm đến việc phát triển NL GQVĐ cho HS.
- GV là người có chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề.
- Việc GV đưa ra các tình huống, vấn đề yêu cầu HS tận dụng hết những kiến
thức, kĩ năng, năng lực mình có và đang ẩn trong mình để giải quyết tình huống,
vấn đề.
- Trong tình huống GV đưa ra hoặc HS tự lấy các tình huống để minh họa nội
dung mình học thì chủ thể hành động (GV, HS) trong đó chủ thể hành động có nhu
17