I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ C QUANG
Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ
thu nộp ngân sách Nhà n-ớc theo Luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2019
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ C QUANG
Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ
thu nộp ngân sách Nhà n-ớc theo Luật hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 8380101.03
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. TRN THU HNH
H NI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
LÊ ĐỨC QUANG
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI IN, PHÁT HÀNH,
MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ...... 7
1.1.
Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc ........... 7
1.1.1. Khái niệm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng
từ thu nộp ngân sách Nhà nước ............................................................ 7
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa
đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước ......................................... 9
1.2.
Các tình tiết định khung tăng nặng của tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc ....... 14
1.2.1. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 203 BLHS ....................... 14
1.2.2. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 204 BLHS ....................... 16
1.3.
Các hình phạt đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép
hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc .......................... 18
1.3.1. Hình phạt đối với cá nhân phạm tội in, phát hành, mua bán trái
phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ........................ 19
1.3.2. Hình phạt đối với PNTM phạm tội in, phát hành, mua bán trái
phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ........................ 22
1.4.
Phân biệt tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc với một số tội phạm
kinh tế khác ....................................................................................... 26
1.4.1. Phân biệt tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ
thu nộp ngân sách Nhà nước (Điều 203 BLHS 2015) và tội trốn
thuế (Điều 200 BLHS) ....................................................................... 26
1.4.2. Phân biệt tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ
thu nộp ngân sách Nhà nước (Điều 203 BLHS 2015) và tội vi
phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp
ngân sách nhà nước (Điều 204 BLHS) .............................................. 27
1.5.
Khái quát lịch sử phát triển tội in, phát hành, mua bán trái
phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc trong
pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2015 ............. 28
1.5.1. Từ năm 1945 đến năm 1985 ............................................................... 28
1.5.2. Từ năm 1985 đến năm 1999 ............................................................... 31
1.5.3. Từ năm 1999 đến năm 2015 ............................................................... 32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI
PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU, NỘP NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, XỬ LÝ VỀ
TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG ......35
2.1.
Đặc điểm thành phố Hải Phòng ...................................................... 35
2.2.
Tình hình tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc và thực trạng công
tác điều tra, xử lý trên địa bàn Hải Phòng ..................................... 40
2.3.
Những hạn chế của công tác điều tra, xử lý trên địa bàn
thành phố Hải Phòng........................................................................ 57
2.4.
Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót, vƣớng mắc ............... 58
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
ĐIỀU TRA, XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN
TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU, NỘP NGÂN SÁCH
NHÀ NƢỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG ................ 65
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về
tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu,
nộp ngân sách Nhà nƣớc .................................................................. 65
3.2.
Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật
hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc .......................................... 69
3.3.
Kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý đối với
tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu,
nộp ngân sách Nhà nƣớc .................................................................. 74
3.3.1. Về Các giải pháp, kiến nghị pháp lý .................................................. 74
3.3.2. Các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ,
đạo đức nghề nghiệp .......................................................................... 78
3.3.3. Những giải pháp khác ........................................................................ 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 88
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
CAND:
Công an nhân dân
CTTP:
Cấu thành tội phạm
DN:
Doanh nghiệp
GTGT:
Giá trị gia tăng
PNTM:
Pháp nhân thương mại
TNHH:
Trách nhiệm hữu hạn
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Kết quả xử lý hình sự về tội in, phát hành, mua bán
trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà
nước (Thời gian từ năm 2012 đến 2017)
41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Hải Phòng đang có bước chuyển mình
mạnh mẽ trong hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, trở thành điểm sáng về
tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư của cả nước. Từ chủ trương cải thiện mạnh
mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh và phát
triển ổn định kết hợp đẩy mạnh đầu tư, xây dựng, phát triển hạ tầng giao
thông, đô thị đồng bộ tạo động lực phát triển kinh tế thành phố. Thực hiện
thắng lợi mục tiêu giai đoạn 2016 -2017 là: “Cải thiện mạnh mẽ môi trường
đầu tư - sản xuất - kinh doanh, tăng cường kỷ cương thu, chi ngân sách”.
Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường thường kéo theo sự xuất
hiện và phát triển của các loại tội phạm với diễn biến phức tạp trên tất cả các
lĩnh vực, trong đó các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có xu hướng gia
tăng mà tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân
sách Nhà nước là một điển hình. Thực trạng mua bán trái phép hóa đơn giá trị
gia tăng (GTGT) tại Hải Phòng để trốn thuế có chiều hướng gia tăng nhằm
mục đích hợp thức hóa hàng giả, hàng lậu, nâng khống chi phí để trốn thuế....
Hoạt động mua bán hóa đơn trái phép được thực hiện với nhiều phương thức
và thủ đoạn tinh vi, gây thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng xấu
đến uy tín của nhà nước trong việc quản lý các loại hoá đơn chứng từ do Nhà
nước thống nhất phát hành. Trong đó, có các vụ án gây thất thoát hàng tỷ
đồng tiền thuế. Để ngăn chặn hoạt động này đòi hỏi các ngành cần có sự phối
hợp chặt chẽ trong công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh
chống gian lận, thất thu thuế; xử lý nghiêm minh các hành vi in, phát hành,
mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Hải Phòng là thành phố trực thuộc trung ương, một trong những trung
1
tâm kinh tế lớn của cả nước, do đó bên cạnh những quy luật chung còn có
những đặc điểm riêng trong việc đấu tranh, xử lý phòng ngừa tội in, phát
hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước. Sự
khác biệt này, đòi hỏi có sự nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm để đưa ra các
biện pháp đấu tranh, xử lý, phòng ngừa loại tội phạm này phù hợp, đạt hiệu
quả góp phần phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Tội in, phát hành,
mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước theo Luật
hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải
Phòng)” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội
in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà
nước nói riêng đã được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) và được một
số nhà nghiên cứu đề cập một cách khái quát trong các tài liệu là sách như:
Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2011; Giáo trình luật hình
sự Việt Nam, tập II, của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân
dân; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm), của TS.
Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS.ThS. Phạm Thanh Bình, TS.
Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, 2001. Ngoài ra còn có các bài viết như: “Mua bán, sử dụng
trái phép hoá đơn GTGT - Nguyên nhân làm gia tăng tội phạm lừa đảo” của
tác giả Nguyễn Tiến Lực đăng trên tạp chí CAND số 7 năm 2003; hay bài viết
của TS Bùi Minh Thanh “Bài học rút ra qua điều tra vụ án lừa đảo chiếm
đoạt tài sản ở chi nhánh công ty xuất nhập khẩu du lịch Hà Nam tại Hà Nội”
đăng trên tạp chí CAND số 7 năm 2004, Bài viết của tác giả Hà Xuân Thạch
2
“Chứng từ, hóa đơn và việc gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT”, Kỷ
yếu Hội thảo khoa học Gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế và hướng hoàn
thiện thuế GTGT trong tiến trình hội nhập AFTA (CEPT) năm 2013. Các
công trình này mới dừng lại ở việc tiếp cận tội in, phát hành, mua bán trái
phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước trong mối liên hệ khái
quát với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chưa đề cập đến loại tội
phạm này một cách trực tiếp, cụ thể.
Qua các đề tài, luận văn cũng như các bài viết trên cho thấy, đến thời
điểm hiện nay, việc nghiên cứu về vi phạm trong lĩnh vực thuế GTGT nói
chung và tội phạm mua bán trái phép hóa đơn GTGT nói riêng còn hạn chế.
Các tác giả mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh như: lừa đảo, trốn thuế trong
lĩnh vực thuế GTGT, hay trong hoạt động phát hiện, điều tra. Ngoài ra, hiện
nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về tội in, phát
hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước trên
cơ sở nghiên cứu số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hải Phòng và trong bối
cảnh Bộ luật hình sự 2015 đã được thông qua. Để những kết quả nghiên cứu
có giá trị thực tiễn, luận văn soi rọi những quy định của luật hình sự về tội in,
phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước
với thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử loại tội này tại thành phố Hải Phòng. Vì
vậy, luận văn này hướng tới nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về
tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà
nước có hệ thống, toàn diện từ góc độ lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề ra
phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội in, phát
hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
3
và thực tiễn của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu,
nộp ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố Hải Phòng; qua đó đề xuất,
xây dựng hệ thống các giải pháp, những định hướng và kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật hình sự tội phạm in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, phân tích, khái quát khái niệm tội in, phát hành, mua bán
trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Phân tích, làm rõ các quy định của Bộ luật hình sự về in, phát hành,
mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối
với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách
Nhà nước trên địa bàn thành phố Hải Phòng; làm rõ những hạn chế, tồn tại,
vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy
định của Bộ luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ
luật hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp
ngân sách Nhà nước đang gia tăng như hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm: Các quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước; thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật
trong điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Phạm vi:
- Tập trung nghiên cứu tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước trong Bộ luật hình sự năm 2015 và có
kết hợp lược khảo các quy định về tội phạm này trong pháp luật hình sự Việt
Nam từ 1945 đến 2015.
4
- Đồng thời, luận văn cũng đi sâu nghiên cứu hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử tội phạm này trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay trên địa bàn
thành phố Hải Phòng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng; Chính sách, pháp luật
của Nhà nước làm cơ sở lý luận để nghiên cứu. Đồng thời sử dụng các
phương pháp: lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp; cụ thể: phương pháp luật
học so sánh, phương pháp thống kê, phân tích, phương pháp điều tra, gắn lý
luận với thực tiễn, để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nhiệm thực
tiễn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ luận văn đề ra.
- Trong quá trình nghiên cứu có tham khảo, kế thừa có chọn lọc các công
trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến lĩnh vực đề tài luận văn đề cập.
6. Những đóng góp khoa học của đề tài
- Luận văn góp phần bổ sung, làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận đối với
việc nghiên cứu tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu,
nộp ngân sách Nhà nước.
- Qua nghiên cứu và phân tích, đánh giá tình hình tội phạm đối với tội
in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà
nước, tác giả đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập và nâng cao hiệu quả áp
dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này; kết quả nghiên
cứu và đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc
phát triển khoa học luật hình sự nói chung, hoàn thiện về tội in, phát hành,
mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước nói riêng.
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể gợi ý cho các cơ quan
lập pháp, hành pháp và tư pháp có thể tham khảo các kết quả và đề xuất của
đề tài nhằm hoàn thiện các chính sách hình sự, các quy định của pháp luật và
biện pháp đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội phạm này.
5
- Luận văn cũng có những đóng góp về mặt khoa học luật hình sự nên
có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo trong giảng dạy và học tập
tại các trường đào tạo luật tại Việt Nam.
7. Kết cấu của đề tài
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về tội in, phát hành, mua bán
trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Chương 2: Thực trạng tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội
phạm này trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hình
sự và nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý đối với tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu, nộp ngân sách Nhà nước trên địa bàn
thành phố Hải Phòng.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN
TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc
1.1.1. Khái niệm tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước
Tội phạm là một phạm trù phổ biến và quan trọng trong khoa học
pháp lý hình sự. Các nhà khoa học luật hình sự đều đã đưa ra định nghĩa
riêng của mình về tội phạm, tuy nhiên trong những định nghĩa riêng của
mỗi nhà khoa học và cả của nhà làm luật Việt Nam, thì tội phạm đều được
hiểu một cách phổ quát rằng: đó là "hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp
luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)" [19, tr.119]. Tuy
nhiên, trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 thì các nhà làm luật Việt
Nam lại quy định rằng:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc PNTM thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này
phải bị xử lý hình sự [44].
7
Quy định này làm nảy sinh một vấn đề mới – chủ thể của tội phạm
không phải chỉ là cá nhân mà còn có thể là pháp nhân, vậy liệu rằng định
nghĩa khoa học về tội phạm vốn được hiểu theo cách phổ quát và mang tính
truyền thống trên có cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với quy định của
BLHS năm 2015 về tội phạm? Trên các diễn đàn khoa học, việc pháp nhân
thương mại là chủ thể của tội phạm hay chỉ là chủ thể của trách nhiệm hình sự
vẫn còn nhiều tranh luận. Tuy nhiên vấn đề này không thuộc phạm vi nghiên
cứu của luận văn này, vì vậy học viên lựa chọn cách tiếp cận khái niệm tội phạm
trên cơ sở quan điểm coi pháp nhân cũng là chủ thể của tội phạm. Với cách tiếp
cận này, tội phạm có thể được định nghĩa như sau: Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội, do người Bộ luật hình sự quy định, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi.
Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân
sách nhà nước, BLHS năm 2015 quy định:
Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng
từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100
số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số
hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000
đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng,
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng
đến 03 năm [44, Điều 203, Khoản 1].
Trên cơ sở định nghĩa khoa học mà tác giả đã đưa ra về tội phạm và
dựa trên những quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS năm 2015, tội in, phát
hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước có thể
được định nghĩa như sau:
Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân
sách Nhà nước là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách
8
nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi thông qua
việc in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách
Nhà nước nhằm thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên, xâm phạm đến trật
tự quản lý kinh tế được quy định trong Bộ Luật Hình sự.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa
đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước
1.1.2.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ bị tội phạm xâm hại [19]. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước xâm hại đến nhóm quan hệ xã hội về
trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về tài chính tiền tệ bao gồm chế độ quản lý hoá đơn, chứng
từ của Nhà nước và hoạt động quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước.
Những quan hệ xã hội này bị tội phạm xâm hại thông qua việc tác động
trực tiếp vào đối tượng tác động của tội phạm – một bộ phận cấu thành của
quan hệ xã hội đó [19].
Đối tượng tác động của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,
chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước chính là hóa đơn, chứng từ thu nộp
ngân sách nhà nước do Nhà nước phát hành. Đối tượng tác động của tội phạm
này được xác định dựa trên cơ sở quy định của Thông tư liên tịch số
10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26/6/2013 của
Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và Bộ Tài Chính Hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội
phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán. Tại của Thông
tư liên tịch này có quy định:
Hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Hóa đơn xuất khẩu dùng trong hoạt động kinh doanh xuất
9
khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu phi thuế
quan; hóa đơn giá trị gia tăng; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội
địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng; các hóa
đơn khác gồm: tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm,... và phiếu thu
tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải
quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng;
+ Lệnh thu nộp ngân sách nhà nước, giấy nộp tiền vào ngân sách
nhà nước, bảng kê nộp thuế, biên lại thu ngân sách nhà nước và chứng
từ phục hồi trong quản lý thu ngân sách nhà nước [11, Điều 2].
1.1.2.2. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm là những dấu hiệu bên ngoài của tội
phạm như hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, và một số
dấu hiệu khác như: thời gian phạm tội, địa điểm phạm tội, hoàn cảnh phạm
tội, công cụ phạm tội, phương tiện phạm tội [19].
Cũng giống như các tội phạm kinh tế khác, tội in, phát hành, mua bán
trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước là hành vi nguy
hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích
của Nhà nước và xã hội thông qua việc in, phát hành, mua bán trái phép hóa
đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước. Như vậy, các dấu hiệu biểu hiện
ra bên ngoài của Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu
nộp ngân sách Nhà nước bao gồm:
Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân
sách Nhà nước biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới dạng hành
động phạm tội bao gồm: hành vi in trái phép, hành vi phát hành trái phép và
hành vi mua bán trái phép, theo đó, các hành vi này qui định tại Điều 203
BLHS năm 2015 được hiểu như sau:
10
Thứ nhất, in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là
hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện
hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In
hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả;
Thứ hai, phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi
hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định;
Thứ ba, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nước được thể hiện ở các hành vi như mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung
hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; mua, bán
hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; mua,
bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử
dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa,
dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; mua,
bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các
liên của hoá đơn.
Theo quy định tại Điều 203 BLHS năm 2015 thì hành vi in, phát hành,
mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước chỉ cấu
thành tội phạm khi chủ thể thực hiện tội phạm với số lượng hoá đơn, chứng từ
ở dạng phôi (chưa ghi giá trị) từ 50 số trở lên hoặc thu lợi bất chính từ
30.000.000đ trở lên.
1.1.2.3. Chủ thể
Chủ thể của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu
nộp ngân sách Nhà nước có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.
Nếu chủ thể là cá nhân thì người đó phải thoả mãn điều kiện là có năng
lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
Năng lực TNHS được hiểu là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm
11
cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy.
Luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định như thế nào là có năng lực
TNHS mà chỉ quy định độ tuổi chịu TNHS và quy định thế nào là tình trạng
không có năng lực TNHS. Với quy định đó luật hình sự Việt Nam mặc nhiên thừa
nhận những người đã đạt độ tuổi chịu TNHS nói chung là có năng lực TNHS.
Trong đó BLHS 2015 quy định về độ tuổi chịu TNHS như sau:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về
tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định
tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,
169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 252, 265, 266, 286, 287,
289, 290, 299, 303 và 304 của bộ luật này [44, Điều 12].
Đây cũng là một điểm tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của BLHS 2015
so với BLHS 1999. Trong khi Điều 12 BLHS 1999 chỉ quy định:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải
chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng.
Thì tại khoản 1, BLHS 2015 đã bổ sung thêm trường hợp loại trừ
TNHS đối với những người đủ 16 tuổi trở lên khi đáp ứng được các quy định
khác của bộ luật. Còn tại khoản 2, các nhà lập pháp đã bổ sung, quy định cụ
thể các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng mà người từ đủ 14 tuổi trở
lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS, tạo điều kiện cho việc áp dụng
pháp luật được thống nhất.
Như vậy, đối chiếu quy định tại điều 203 BLHS 2015 thì cá nhân phạm
12
tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà
nước chỉ phải chịu TNHS khi thỏa mãn những điều kiện sau:
- Đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên (do tội in, phát hành, mua bán trái
phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước không được liệt kê tại
khoản 2 điều 12 BLHS 2015 nên cá nhân từ đủ 14 đến dưới 16 không phải là
chủ thể của tội phạm này);
Ngoài dấu hiệu là người có đủ điều kiện chung của chủ thể (năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên). Theo khoản 2 Điều 2 Thông tư liên
tịch số 10/2013/TTLT - BTP - BCA - TANDTC - VKSNDTC - BTC ngày
26/6/2013 của Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật
hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng
khoán thì chủ thể phạm tội này bao gồm: Cá nhân bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
Người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đơn; Cá nhân hoặc người của tổ
chức mua hàng hóa, dịch vụ.
Nếu chủ thể là pháp nhân thương mại thì pháp nhân thương mại đó phải
thoả mãn quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về pháp nhân thương mại.
Bên cạnh đó, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2017 còn quy định pháp nhân
thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; Hành vi
phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; Hành vi phạm
tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân
thương mại; Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1.2.1.4. Mặt chủ quan
Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Mặt
khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là
13
hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Mặt chủ quan của tội phạm
bao gồm các dấu hiệu: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội, trong đó lỗi là dấu
hiệu bắt buộc trong tất cả các CTTP.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội (hoặc pháp nhân) nhận
thức rõ hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp
ngân sách nhà nước để hưởng lợi bất chính là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt
hại cho tài sản của Nhà nước, nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn cho
hậu quả tác hại xảy ra để nhằm thoả mãn mục đích vụ lợi của mình. Cho nên,
tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nước được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành
vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nước của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, biết rõ hành vi của
mình làm thất thu ngân sách Nhà nước nhưng vì lợi nhuận mà họ vẫn thực
hiện hành vi phạm tội.
Động cơ của người phạm tội (hoặc pháp nhân) khi thực hiện hành vi là
vụ lợi. Tuy nhiên động cơ, mục đích của người phạm tội không là dấu hiệu
bắt buộc trong CTTP của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng
từ thu nộp ngân sách nhà nước.
1.2. Các tình tiết định khung tăng nặng của tội in, phát hành, mua
bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nƣớc
1.2.1. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 203 BLHS
BLHS quy định CTTP tăng nặng đối với cá nhân phạm tội in, phát
hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước tại
khoản 2 điều 203 BLHS.
BLHS 2015 quy định:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01
năm đến 05 năm:
14
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa
đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;
e) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;
f) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng
trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm [44, Điều 203, Khoản 2].
Như vậy, có 07 tình tiết định khung tăng nặng tại khoản này:
Phạm tội có tổ chức
Đây là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người
cùng thực hiện tội phạm. Theo đó có ít nhất hai chủ thể trở lên cùng cố ý thực
hiện hành vi phạm tội. Trong đó: Người đồng phạm bao gồm người tổ chức,
người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Người thực hành là người
trực tiếp thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ
huy việc thực hiện tội phạm. Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc
đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh
thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Tuy nhiên người đồng phạm
không phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của người thực hành.
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Theo khoản 5.1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số
quy định của BLHS, sẽ được coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi
đáp ứng hai điều kiện:
a. Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm
không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy
15
cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích.
b. Người phạm tội đều lấy các phạm tội làm nghề sinh sống
và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
Đây là trường hợp người phạm tội đã sử dụng chức vụ quyền hạn của
mình để dễ dàng thực hiện phạm tội. Theo đó chủ thể phạm tội in, phát hành,
mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trong
trường hợp này là chủ thể đặc biệt.
Hóa đơn chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng
từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên
Đây là hậu quả thiệt hại căn cứ vào số lượng phôi, hóa đơn, chứng từ
(chưa ghi nội dụng và đã ghi nội dung). Đối với dạng phôi chưa ghi nội dung là
từ 100 số trở lên, còn đối với hóa đơn chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên.
Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên và Gây thiệt hại cho ngân
sách Nhà nước 100.000.000 đồng trở lên
Đây là yếu tố định lượng mà theo đó số tiền thu lợi bất chính và số tiền
gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước đều từ 100 triệu đồng trở lên.
Tái phạm nguy hiểm
Theo quy định tại khoản 2 điều 53 BLHS những trường hợp sau đây
được coi là tái phạm nguy hiểm. Trường hợp thứ nhất là: Đã bị kết án về tội
phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được
xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng,
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Trường hợp hai là: Đã tái phạm, chưa
được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
1.2.2. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 204 BLHS
BLHS quy định CTTP tăng nặng đối với cá nhân phạm tội vi phạm quy
16
định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước tại
khoản 2 điều 204 BLHS.
Khoản 2 điều 204 BLHS 2015 quy định:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06
tháng đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.
Như vậy, có 02 tình tiết định khung tăng nặng tại khoản này:
Phạm tội 02 lần trở lên
Đây là một điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999. BLHS 1999
quy định tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần”. Còn đến BLHS 2015 thì
quy định “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” có thể được hiểu là đã
thực hiện hành vi vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ
thu nộp ngân sách nhà nước nhưng chưa bị phát hiện, đủ yếu tố CTTP tội
phạm theo Điều 204, chưa bị truy cứu TNHS và còn trong thời hiệu truy cứu
TNHS nay lại tiếp tục thực hiện hành vi này lần hai. Hành vi vi phạm quy
định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước lần
hai này cũng đủ yếu tố CTTP. Khi đó đưa ra xét xử thì người thực hiện hành
vi phạm tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp
ngân sách nhà nước hai lần trở lên được coi là tình tiết tăng nặng định khung
theo khoản 2 Điều 204.
Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên
Đây là yêu tố định lượng theo đó hành vi vi phạm quy định về bảo
quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây thiệt hại
500.000.000 đồng trở lên thì là tình tiết định khung tăng nặng theo khoản này.
17