ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THẾ ANH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THẾ ANH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HIỀN PHƢƠNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Vũ Thế Anh
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn này, tôi đã nhận đƣợc
sự hƣớng dẫn tận tình, quý báu của PGS.TS Nguyễn Hiền Phƣơng, sự giúp đỡ
của các thầy, cô giáo giảng viên Khoa Luật Trƣờng Đại học quốc gia Hà Nội,
Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh Lai Châu và các cán bộ Sở Y tế tỉnh Lai Châu.
Trƣớc hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Hiền Phƣơng,
ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ và hƣớng dẫn tôi
hoàn thành luận văn với đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế trên địa
bàn tỉnh Lai Châu”. Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và cán bộ Bảo
hiểm xã hội tỉnh Lai Châu và Sở y tế tỉnh Lai Châu đã tạo điều kiện thuận lợi,
cung cấp thông tin, số liệu cũng nhƣ trao đổi những kinh nghiệm thực tiễn
công tác giúp tôi nguyên cứu đề tài, hoàn thành luận văn này. Xin cảm ơn các
thầy cô, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề
tài, hoàn thành luận văn.
Mặc dù bản thân tôi đã rất nỗ lực song luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và quý
độc giả.
Trân trọng./.
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thế Anh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ......................7
1.1.
Một số vấn đề về bảo hiểm y tế .................................................................7
1.1.1. Định nghĩa bảo hiểm y tế..............................................................................7
1.1.2. Các đặc điểm của bảo hiểm y tế .................................................................11
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế ............................................................................13
1.2.
Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm y tế............................16
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm y tế ............................................................16
1.2.2. Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm y tế ...........................................................16
1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm y tế ..............................................................18
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .......................................................................................22
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO
HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU ..............................23
2.1.
Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế ................23
2.1.1. Đối tƣợng tham gia bảo hiểm y tế..............................................................23
2.1.2. Chế độ hƣởng bảo hiểm y tế ......................................................................29
2.1.3. Quỹ bảo hiểm y tế .......................................................................................40
2.1.4. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp bảo hiểm y tế.............44
2.2.
Khái quát về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Lai Châu
và cơ quan quản lý, thực hiện bảo hiểm y tế ở tỉnh Lai Châu ...........46
2.2.1. Khái quát về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Lai Châu ................46
2.2.2. Cơ quan quản lý, thực hiện bảo hiểm y tế ở Lai Châu .............................48
2.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế .................52
2.3.
Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế ở tỉnh Lai Châu ..........55
2.3.1. Về đối tƣợng tham gia bảo hiểm y tế.........................................................55
2.3.2. Về thực hiện chế độ hƣởng bảo hiểm y tế .................................................57
2.3.3. Công tác thu, chi và quản lý quỹ bảo hiểm y tế ........................................61
2.3.4. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp bảo hiểm y tế.............64
2.3.5. Những kết quả và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật bảo hiểm y
tế ở tỉnh Lai Châu ........................................................................................65
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .......................................................................................73
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO
HIỂM Y TẾ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU ..................................................................74
3.1.
Một số định hƣớng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế ................74
3.1.1. Từng bƣớc mở rộng chính sách hỗ trợ của nhà nƣớc đối với ngƣời
yếu thế, lao động trong khu vực phi chính thức.................................. 74
3.1.2. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực bảo hiểm y tế ....................................................... 75
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế ....................77
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ hƣởng bảo hiểm y tế.......... 77
3.2.2. Điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế nhằm nâng cao quyền lợi
hƣởng và đảm bảo phát triển quỹ bảo hiểm y tế an toàn, bền vững ... 79
3.3.
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo
hiểm y tế ở tỉnh Lai Châu ........................................................................80
3.3.1. Tăng cƣờng giáo dục, tuyên truyền pháp luật bảo hiểm y tế ...................80
3.3.2. Mở rộng hệ thống đại lý thu bảo hiểm y tế, qua đó phát triển đối
tƣợng tham gia và tăng cƣờng công tác thu bảo hiểm y tế .......................82
3.3.3. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
quản lý đối tƣợng bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế ......................82
3.3.4. Nâng cao năng lực khám chữa bệnh của hệ thống y tế cơ sở ..................83
3.3.5. Tăng cƣờng công tác kiểm tra, xử phạt vi phạm pháp luật bảo
hiểm y tế ......................................................................................................84
3.3.6. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.......................84
3.3.7. Thực hiện tốt công tác thống kê tình hình dân cƣ, doanh nghiệp để
tạo thuận lợi cho thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế .................................85
KẾT LUẬN .............................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................89
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
KCB
Khám, chữa bệnh
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên bảng, biểu đồ
Trang
Bảng 2.1.
Tình hình thu quỹ BHYT giai đoạn 2013-2017 tại
tỉnh Lai Châu
62
Tình hình kiểm tra, thanh tra BHYT giai đoạn 20132017 tại tỉnh Lai Châu
64
Biểu đồ 2.1. Số lƣợng ngƣời tham gia BHYT giai đoạn 2013-2017
tại tỉnh Lai Châu
55
Biểu đồ 2.2. Số lƣợt ngƣời KCB BHYT và số tiền thanh toán
BHYT giai đoạn 2013 - 2017 tại tỉnh Lai Châu
58
Biểu đồ 2.3. Tình hình cấp thẻ BHYT giai đoạn 2013-2017 tại tỉnh
Lai Châu
59
Biểu đồ 2.4. Tình hình thu, chi quỹ KCB BHYT giai đoạn 20132017 tại tỉnh Lai Châu
63
Bảng 2.2.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con ngƣời là vốn quý nhất và là nguồn lực không thể thay thế trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội. Một xã hội phát triển, trƣớc hết phải có những
con ngƣời khoẻ mạnh. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày con ngƣời luôn
luôn có nguy cơ gặp phải những rủi ro, trong đó phải kể đến rủi ro về sức khoẻ
nhƣ: ốm đau, bệnh tật. Rủi ro về sức khỏe không chỉ làm ảnh hƣởng đến khả
năng lao động mà còn khiến ngƣời lao động phải mất thời gian, tiền bạc để
điều trị, khắc phục, thậm chí còn ảnh hƣởng đến cuộc sống của những ngƣời
thân, ngƣời phụ thuộc họ. Đặc biệt là đối với những ngƣời có điều kiện kinh tế
khó khăn, hoàn cảnh éo le, khi rơi vào hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật, họ cần sự
tƣơng trợ của cộng đồng để khắc phục khó khăn, vƣợt qua rủi ro về sức khỏe.
Đƣợc ra đời vào cuối thế kỷ XIX, bảo hiểm y tế ngày càng phát triển và cho
đến nay đã trở thành chính sách an sinh xã hội quan trọng ở các quốc gia, giúp
đỡ và tạo ra sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời dân.
Tại Việt Nam, bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã
hội quan trọng, thể hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và chính sách, pháp
luật của Nhà nƣớc về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân với mục tiêu vì
con ngƣời, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, ổn định và nâng cao chất
lƣợng cuộc sống của nhân dân. Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 07/09/2009 của
Ban Bí thƣ Trung ƣơng về Đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới
nhấn mạnh: “BHYT là một chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân
đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, được Đảng và Nhà nước ta hết sức
coi trọng và luôn luôn đề cao trong hệ thống chính sách an sinh xã hội” [30].
Pháp luật về bảo hiểm y tế nƣớc ta đã đƣợc xây dựng và nhiều lần đƣợc sửa
đổi, bổ sung theo hƣớng ngày càng hoàn thiện hơn. Ngày 29/03/2013, Thủ
1
tƣớng Chính phủ ký Quyết định số 538/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện lộ
trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020. Mục tiêu của đề
án là mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT tiến tới BHYT toàn dân nhằm
chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hƣớng công bằng, hiệu quả, chất lƣợng và
phát triển bền vững. Đây đƣợc xem là sự cam kết chính trị mạnh mẽ trong
chính sách “bảo đảm an sinh xã hội” và là một trong những nhiệm vụ chiến
lƣợc quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Lai Châu là một tỉnh ở khu vực miền núi phía Bắc nƣớc ta, nơi điều
kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn thì bảo hiểm y tế lại càng là chính sách
an sinh xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngƣời dân và sự phát
triển kinh tế xã hội nơi đây. Với những đặc thù về dân cƣ, điều kiện tự nhiên và
kinh tế xã hội của Lai Châu, sự nỗ lực của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức
chính trị xã hội, việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế gặp nhiều khó khăn và
có những tồn tại, hạn chế nhất định từ nhiều phía, ảnh hƣởng đến kết quả thực
hiện chính sách bảo hiểm y tế tại tỉnh. Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên
cứu, đánh giá một cách hệ thống, chuyên sâu về thực hiện pháp luật về bảo hiểm
y tế tại tỉnh Lai Châu, chỉ ra những hạn chế, vƣớng mắc trong thực tế thực hiện
và nguyên nhân, từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về bảo hiểm y tế tại tỉnh Lai Châu nói riêng và cả nƣớc nói chung. Vì lý do đó,
tác giả chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh
Lai Châu” làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đến đề tài
Bảo hiểm y tế là một chính sách an sinh xã hội quan trọng, có ý nghĩa
lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, chăm sóc sức khỏe ngƣời dân. Ở nƣớc
ta, đề tài về bảo hiểm y tế đã nhận đƣợc nhiều sự quan tâm, nghiên cứu, qua
khảo cứu của tác giả cho thấy các công trình nghiên cứu sau:
Các công trình nghiên cứu là các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
2
nhƣ “Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam” đăng trên Tạp
chí Luật học số 10/2006 và “Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật
bảo hiểm y tế ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 4/2008 của
PGS.TS. Nguyễn Hiền Phƣơng; “Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế ở
Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí luật học số 1/2008 của tác giả Đỗ Ngân
Bình; bài viết “Nhìn lại một số quy định mới sau khi Luật bảo hiểm y tế đi
vào cuộc sống” của tác giả Phạm Văn Chung, đăng trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số 12/2009; bài viết “Tiến tới bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân”
đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 5A và 5B năm 2010 của PGS.TS Đào
Văn Dũng, Ban Tuyên giáo Trung ƣơng; bài viết “Tăng cường quản lý nhà
nước hướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân” của tác giả Nguyễn Huy
Quang trên Tạp chí Quản lí nhà nƣớc số 182 (2011); loạt bài: “Chính sách
bảo hiểm y tế - thắp sáng những niềm tin” của Thái Dƣơng, “Bảo hiểm y tế
tạo ra nguồn lực phát triển y tế cơ sở” của Lê Công Minh Đức, “Thực hiện
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế qua lăng kính giám
sát” của Nguyễn Đức Thụ, “Bảo hiểm y tế Việt Nam – Mô hình có nhiều kinh
nghiệm tốt trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế” của tác giả Hải Hồng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm 2015; bài viết:
“Chuyển biến tích cực trên lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân” của tác giả Lê
Thị Thu Hạnh, “Bảo hiểm y tế toàn dân – Giải pháp giúp người dân tránh
“bẫy nghèo”” của tác giả Thái Dƣơng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm
2016 và nhiều bài viết khác nữa.
Các luận án: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật bảo hiểm
y tế ở Việt Nam” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hƣơng, luận án
“Nghiên cứu phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
theo nhóm chẩn đoán với nhóm bệnh tăng huyết áp” năm 2012 của tác giả
Lƣu Viết Tĩnh… Ngoài ra còn rất nhiều luận văn nghiên cứu về bảo hiểm y tế
3
có thể kể đến những luận văn gần đây: “Pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam
hiện nay” năm 2014 của tác giả Phạm Thị Vy Linh; luận văn “Thực trạng thi
hành pháp luật Bảo hiểm y tế bắt buộc ở Việt Nam” năm 2015 của tác giả Bùi
Thị Phƣơng Dung; luận văn “Thực trạng thi hành bảo hiểm y tế tự nguyện ở
Việt Nam” năm 2014 của tác giả Doanh Thị Ngọc Tú; luận văn “Pháp luật về
bảo hiểm y tế Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La” năm 2016 của
tác giả Lƣơng Thị Nhƣ Hoa, luận văn “Pháp luật về bảo hiểm y tế từ thực tiễn
tỉnh Hà Nam” năm 2017 của tác giả Vũ Kiều Hƣng và nhiều công trình
nghiên cứu khác nữa.
Nhìn chung, chủ yếu là các công trình nghiên cứu về bảo hiểm y tế nói
chung, các công trình này đã hệ thống tổng quan lý luận chung về bảo hiểm y
tế và pháp luật bảo hiểm y tế; đƣa ra những nhận xét, đánh giá về ƣu, nhƣợc
điểm của quy định pháp luật bảo hiểm y tế. Tuy nhiên các công trình nghiên
cứu về đề tài thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế thì còn rất ít. Đề tài
nghiên cứu về thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại tỉnh Lai Châu là một đề
tài mới và có ý nghĩa thiết thực.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận văn là đƣa ra các giải pháp
hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật bảo hiểm y tế tại tỉnh Lai Châu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm y tế, pháp luật bảo
hiểm y tế thông qua giải quyết những vấn đề cụ thể là làm rõ khái niệm, đặc
điểm và vai trò của bảo hiểm y tế, khái niệm và các nguyên tắc, nội dung của
pháp luật bảo hiểm y tế, các yếu tố cơ bản ảnh hƣởng đến thực hiện pháp luật
bảo hiểm y tế.
4
- Nghiên cứu về quy định pháp luật bảo hiểm hiện hành của nƣớc ta. Đánh
giá thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Lai Châu,
chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế tại
tỉnh Lai Châu
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại tỉnh Lai Châu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về bảo hiểm y tế, chủ yếu là quy định tại Luật Bảo hiểm y tế năm 2008,
đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2014 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành. Nghiên
cứu về việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế tại
tỉnh Lai Châu từ năm 2013 đến nay, trong trƣờng hợp cần thiết, một số vấn đề
đƣợc đặt trong tƣơng quan so sánh với một số địa phƣơng khác và cả nƣớc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về
bảo hiểm y tế. Trong quá trình thực hiện luận văn, có sự kết hợp sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các phƣơng
pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê.
Sử dụng phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của lý luận chủ nghĩa
Mác - Lênin, các vấn đề về bảo hiểm y tế đƣợc đặt trong mối quan hệ không tách
rời với các yếu tố kinh tế, xã hội nƣớc ta và đặc điểm của địa bàn nghiên cứu.
Các vấn đề đƣợc nghiên cứu trong quá trình thay đổi chính sách, quy định pháp
luật về bảo hiểm y tế để làm rõ đƣợc cái mới, điểm tiến bộ, hạn chế.
Phƣơng pháp phân tích, so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật
bảo hiểm y tế hiện hành và pháp luật bảo hiểm y tế trƣớc đây, nhận diện
những điểm mới và có luận giải nguyên nhân, cơ sở của những thay đổi, đánh
5
giá sự tiến bộ, phù hợp với thực tế. Phân tích việc thực hiện và kết quả thực
hiện pháp luật về bảo hiểm y tế gắn với những đặc điểm của địa bàn nghiên
cứu, quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lai Châu để có những nhận
định, đánh giá phù hợp.
Phƣơng pháp lịch sử, lôgic để luận giải cho những thay đổi về việc mở
rộng phạm vi, đối tƣợng điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm y tế khi áp
dụng trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu làm rõ và có hệ thống những vấn đề
lý luận về bảo hiểm y tế, pháp luật bảo hiểm y tế; nghiên cứu các quy định
pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế và việc thực hiện tại tỉnh Lai
Châu. Những đề xuất, kiến nghị đƣợc trình bày trong luận văn đƣợc đƣa ra
trên cơ sở sự nghiên cứu đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn có giá trị tham khảo
cho các cơ quan hữu quan trong quá trình thực hiện pháp luật về bảo hiểm y
tế tại Việt Nam đồng thời các đề xuất, kiến nghị đƣợc đƣa ra có thể giúp nâng
cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế tại địa bàn
tỉnh Lai Châu. Luận văn còn có thể là tài liệu hữu ích cho các cán bộ, nhân
viên các cơ quan hữu quan về bảo hiểm y tế, hoạt động y tế.
7. Kết cấu của luận văn
Về kết cấu, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
danh mục từ viết tắt, luận văn gồm có 3 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề về bảo hiểm y tế và quy định của pháp luật
Việt Nam về bảo hiểm y tế
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế trên địa bàn
tỉnh Lai Châu
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế và nâng
cao hiệu quả thực hiện trên địa bàn tỉnh Lai Châu
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Một số vấn đề về bảo hiểm y tế
1.1.1. Định nghĩa bảo hiểm y tế
Con ngƣời ai cũng muốn có cuộc sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc
nhƣng trong đời ngƣời, những rủi ro về sức khỏe do ốm đau, tai nạn lại luôn có
thể xảy ra. Khi rơi vào hoàn cảnh ốm đau, phải KCB thì các chi phí KCB dù
nhiều hay ít đều gây ảnh hƣởng, khó khăn đến tài chính của cá nhân ngƣời bị rủi
ro, gia đình họ, đặc biệt là những ngƣời có thu nhập thấp. Không những thế, việc
KCB còn có thể khiến ngƣời lao động phải gián đoạn, không tham gia quan hệ
lao động, làm cho khó khăn nặng nề hơn. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã
hội, đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao, con ngƣời ngày càng
nhận thức đƣợc đầy đủ hơn về vai trò của sức khỏe và sự dự phòng cho bản thân
và gia đình khi rơi vào hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật. Do đó, không chỉ khi bệnh
đã có biểu hiện nặng, rõ ràng con ngƣời mới đi KCB mà ngay khi có những dấu
hiệu không bình thƣờng của sức khỏe thì con ngƣời đã có nhu cầu đƣợc thăm
khám chẩn đoán về sức khỏe của mình. Nhằm giúp mỗi cá nhân vƣợt qua khó
khăn để tồn tại và đảm bảo sự phát triển của toàn xã hội, con ngƣời đã tìm ra
nhiều cách giải quyết khác nhau, trong đó có việc tham gia BHYT là một loại
bảo hiểm trong lĩnh vực y tế nhằm bảo vệ và phục hồi sức khỏe. Có thể nói,
BHYT đã ra đời nhƣ một tất yếu khách quan và đƣợc coi là một trong những loại
hình hoạt động có bản chất nhân đạo nhằm đối phó những rủi ro về sức khoẻ,
đảm bảo chi phí y tế khi cá nhân nào đó cần sử dụng các dịch vụ y tế.
Định nghĩa chung nhất về bảo hiểm “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện
người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) trong từng trường
7
hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia bảo hiểm
nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba” [15, tr.15]. Mỗi quốc
gia có chính sách về BHYT, theo tính chất và phạm vi mà BHYT ở mỗi quốc
gia có thể có tên gọi khác nhau là “bảo hiểm sức khỏe” (có thể gồm cả phòng
bệnh và chữa bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng hoặc cả ba nội dung này)
hay “bảo hiểm y tế” (thƣờng chỉ gồm hoạt động chữa bệnh). Tuy nhiên dù tên
gọi nhƣ thế nào thì đều có ý nghĩa là nếu ngƣời đƣợc bảo hiểm gặp rủi ro về sức
khỏe thì sẽ đƣợc cơ quan BHYT chi trả bồi thƣờng. Trên thực tế, có một bộ phận
BHYT mang tính chất của bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội quốc gia và một bộ
phận cũng liên quan đến chăm sóc sức khỏe con ngƣời nhƣng mang tính chất
kinh doanh. BHYT mang tính chất của bảo hiểm xã hội đƣợc quản lý, thực hiện
bởi các cơ quan BHYT do Nhà nƣớc thành lập, quản lý, có tính chất nhân đạo,
an sinh xã hội với mức phí do Nhà nƣớc quy định, phƣơng thức thanh toán bồi
thƣờng chủ yếu là chuyển thẳng cho cơ quan y tế theo mức quy định. BHYT
kinh doanh thì do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện, các công ty này tự hạch
toán thu chi để có lợi nhuận và thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nƣớc, mức phí
bảo hiểm do các bên thỏa thuận và ngƣời mua bảo hiểm tự trả phí hoàn toàn,
phƣơng thức thanh toán bồi thƣờng là trả cho cơ sở y tế KCB hoặc trực tiếp cho
ngƣời đƣợc bảo hiểm với mức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Theo quan niệm của Tổ chức y tế thế giới (WHO), trong Tuyên bố
Alma-Ata (1978) "Sức khoẻ cho mọi ngƣời", BHYT đƣợc hiểu "là loại hình
bảo hiểm không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận
chủ yếu dưới góc độ quyền con người". Cách tiếp cận này hiện nay đƣợc hầu
hết các quốc gia thống nhất lựa chọn là giải pháp thực hiện sứ mệnh bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe cộng đồng và tuỳ thuộc vào từng quốc gia mà cách tổ
chức thực hiện ở mỗi nơi có thể khác nhau. Theo quan điểm của Tổ chức Phát
triển và hợp tác kinh tế (Organzation for Economic Development anh
8
Cooperation – OECD) thì BHYT đƣợc định nghĩa nhƣ một cách để phân phối
các rủi ro tài chính liên quan tới sự thay đổi chi phí chăm sóc sức khoẻ cá
nhân bằng cách tổng hợp chi phí theo thời gian thông qua thanh toán trƣớc
(OECD, 2004). OECD còn phân loại mô hình BHYT theo bốn tiêu chí lớn là
nguồn tài chính; mức độ bắt buộc tham gia của chƣơng trình; BHYT theo
nhóm hoặc các chƣơng trình cá nhân và phƣơng pháp tính phí bảo hiểm sức
khoẻ (mức độ đóng có thể thay đổi theo nguy cơ, tình trạng sức khoẻ…).
Ở nƣớc ta, BHYT đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau với
những phạm vi rộng hẹp theo từng giai đoạn phát triển. Khái niệm BHYT
đƣợc tiếp cận ở những góc độ khác nhau đƣợc hiểu nhƣ sau:
Dưới góc độ xã hội, BHYT là một hình thức tƣơng trợ cộng đồng nhằm
mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong hoạt động BHYT thì tính cộng
đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe; nó điều tiết mạnh mẽ giữa ngƣời khoẻ mạnh với ngƣời
ốm yếu, giữa thanh niên với ngƣời già cả và giữa ngƣời có thu nhập cao với
những ngƣời có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tƣơng trợ lẫn nhau trong BHYT là
sự đảm bảo cho từng ngƣời dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện,
của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Các
thành viên trong xã hội đóng góp một phần thu nhập để tạo ra quỹ chung,
không vì mục đích lợi nhuận nhằm chăm sóc về y tế cho chính mình và các
thành viên khác trong xã hội. Thực chất đó là quá trình phân phối lại tổng sản
phẩm trong nƣớc giữa những ngƣời tham gia BHYT khi bị rủi ro về sức khỏe.
Tính xã hội của BHYT cũng đƣợc thể hiện ở đối tƣợng tham gia BHYT và
vai trò của nhà nƣớc trong việc thực hiện chính sách BHYT. Đối tƣợng tham
gia BHYT bao gồm tất cả thành viên trong xã hội không phân biệt tuổi tác,
giới tính, tôn giáo, trình độ, thu nhập… Nhà nƣớc không chỉ giữ vai trò là
ngƣời tổ chức, quản lý mà còn giữ vai trò bảo trợ thực hiện BHYT.
9
Dưới góc độ kinh tế, BHYT là một phƣơng pháp lập quỹ dự trữ bằng
tiền đóng góp những cùng ngƣời có khả năng gặp rủi ro về sức khỏe và sự tài
trợ của nhà nƣớc. BHYT là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động sự
đóng góp của những ngƣời tham gia BHYT, hợp nhất các nguồn lực để hình
thành quỹ chung nhằm đối phó với rủi ro sức khỏe của ngƣời tham gia và
cộng đồng. Quá trình thực hiện BHYT cũng là quá trình tổ chức và sử dụng
quỹ chung này, dƣới góc độ kinh tế, có thể thấy BHYT là sự bảo đảm về vật
chất phục vụ nhu cầu y tế cho ngƣời tham gia và gia đình họ khi có nguy cơ
mất an toàn về kinh tế do bị rủi ro về sức khỏe thông qua sử dụng nguồn quỹ
huy động từ ngƣời tham gia và tài trợ của Nhà nƣớc.
Dưới góc độ pháp lý, BHYT đƣợc coi là quyền quan trọng của con
ngƣời trong việc bảo vệ sức khoẻ của bản thân và cộng đồng. Quyền đƣợc
chăm sóc sức khỏe là quyền thiêng liêng của con ngƣời đƣợc các tuyên ngôn
nhân quyền khẳng định và đƣợc pháp luật của các quốc gia thừa nhận. Việc
tham gia BHYT vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã
hội vì mỗi ngƣời khi tham gia BHYT nhằm có đƣợc sự bảo đảm tài chính khi
gặp rủi ro về sức khỏe cho mình nhƣng đây cũng là sự chia sẻ với cộng đồng,
vì lợi ích của cộng đồng. Tại Điều 34 Hiến pháp nƣớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Công dân có quyền được đảm bảo an
sinh xã hội”. Đây là cơ sở quan trọng cho quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật
BHYT sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014: “Bảo hiểm y
tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo
quy định của Luật này để chăm sóc sức khoẻ, không vì mục đích lợi nhuận do
Nhà nước tổ chức thực hiện”.
Có thể thấy, dù đƣợc nghiên cứu, xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau
nhƣng nhìn chung bản chất của BHYT vẫn là sự tƣơng trợ cộng đồng trên cơ
sở chia sẻ rủi ro, không vì lợi nhuận; nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho
10
các đối tƣợng trong xã hội khi ốm đau, bệnh tật; do Nhà nƣớc bảo đảm thực
hiện nhằm chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong xã hội.
1.1.2. Các đặc điểm của bảo hiểm y tế
Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm là có mục đích góp phần ổn
định tài chính cho ngƣời tham gia khi gặp rủi ro, phân phối không mang tính
bồi hoàn, BHYT có những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, BHYT là một nội dung của hệ thống an sinh xã hội: An sinh
xã hội đƣợc hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình
thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về
kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm
bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình đông con [56]. Xét về cấu trúc, một
trong ba trụ cột chính của an sinh xã hội là sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ cho ngƣời lao động và các thành viên gia đình họ nhằm bảo đảm cho họ
tái tạo đƣợc sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời
phát triển mọi mặt cuộc sống của con ngƣời, kể cả phát triển bản thân con
ngƣời. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe này đƣợc thiết lập, thực hiện bằng chế độ
BHYT và cùng với bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội là
những chính sách không thể thiếu trong hệ thống an sinh xã hội của một quốc
gia. Những chính sách này hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau góp phần thực hiện
bảo đảm xã hội, an sinh xã hội.
Thứ hai, BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi: Xuất phát từ việc rủi ro
về sức khỏe có thể xảy ra với bất kỳ ai, do đó BHYT đƣợc áp dụng đối với mọi
thành viên trong xã hội mà không phân biệt giới tính, độ tuổi, tôn giáo, địa vị xã
hội, quan hệ lao động… Con ngƣời dù ở lứa tuổi nào và có đặc điểm về giới
tính, địa vị xã hội nhƣ thế nào thì nguy cơ bị ốm đau, tai nạn vẫn có thể xảy ra.
Cũng chính vì thế BHYT toàn dân luôn là mục tiêu hƣớng tới của mọi quốc gia.
11
Đây là đặc điểm cơ bản phân biệt BHYT với các chế độ bảo hiểm xã hội và trợ
giúp xã hội, cứu trợ xã hội. Bảo hiểm xã hội có đối tƣợng áp dụng là ngƣời lao
động và gia đình của họ còn trợ giúp xã hội có đối tƣợng áp dụng là các thành
viên trong xã hội khi lâm vào tình trạng thực sự khó khăn túng quẫn cần có sự
giúp đỡ về vật chất mới có thể vƣợt qua, ƣu đãi xã hội có đối tƣợng áp dụng là
những ngƣời có công với cách mạng và thân nhân của họ.
Thứ ba, mục đích của bảo hiểm y tế là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
cho người dân khi bị ốm đau, bệnh tật thông qua các chi phí y tế: Mặc dù
cùng trong hệ thống an sinh xã hội nhƣng trong khi BHXH bảo đảm về thu
nhập cho ngƣời lao động khi họ bị gián đoạn hoặc ngừng tham gia quan hệ
lao động vì những lý do khác nhau thông qua khoản trợ cấp bằng tiền thì
BHYT nhằm chăm sóc sức khỏe cho ngƣời tham gia bảo hiểm khi bị ốm đau,
bệnh tật thông qua các chi phí y tế phục vụ cho việc khám, chữa bệnh của
ngƣời tham gia. Khi ngƣời tham gia bảo hiểm bị ốm đau, cơ quan BHYT sẽ
đảm bảo chi phí KCB bao gồm các dịch vụ y tế nhƣ chẩn đoán, chữa bệnh,
thuốc và giƣờng nằm tại bệnh viện. Quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT
đƣợc hƣởng là dịch vụ y tế, phụ thuộc vào mức độ ốm đau, bệnh tật gắn với
quá trình khám và điều trị bệnh của họ.
Thứ tư, mức hưởng BHYT không phụ thuộc vào thời gian và số tiền mà
người tham gia bảo hiểm đã đóng mà phụ thuộc vào rủi ro bệnh tật và khả
năng cung ứng dịch vụ y tế. Đối với BHXH, các khoản trợ cấp dài hạn nhƣ
lƣơng hƣu và ngắn hạn nhƣ trợ cấp ốm đau, thai sản…có thể xác định đƣợc
một cách tƣơng đối thông qua mức tiền lƣơng của ngƣời lao động. Còn đối
với BHYT, chi phí y tế không thể xác định trƣớc. Ngƣời tham gia BHYT gặp
rủi ro về sức khỏe, phải khám bệnh và điều trị thì đƣợc BHYT cho trả các chi
phí khám, chữa bệnh cho đến khi hồi phục sức khỏe mà không phụ thuộc vào
số tiền tham gia BHYT hay mức lƣơng, thời gian làm việc của họ. Cơ quan
12
BHYT sẽ thanh toán các chi phí y tế tùy thuộc vào từng loại bệnh tật, khả
năng hồi phục của từng ngƣời. Mặc dù đƣợc BHYT hỗ trợ cho đến khi ngƣời
bệnh phục hồi sức khỏe nhƣng mức độ đƣợc chăm sóc, bảo đảm về y tế còn
phụ thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ y tế của cơ sở y tế (trình độ khoa
học kỹ thuật, trình độ chuyên môn của y bác sỹ, trang thiết bị y tế...).
Thứ năm, quan hệ BHYT là mối quan hệ diễn ra giữa ba bên, bên thực
hiện BHYT, bên tham gia BHYT và cơ sở khám, chữa bệnh.
Có thể thấy, quan hệ BHYT vừa là một loại hình dịch vụ bảo hiểm, vừa
là một loại hình dịch vụ y tế. Dƣới góc độ là một loại hình dịch vụ BHYT,
ngƣời tham gia BHYT đóng góp vào quỹ BHYT và khi phát sinh nhu cầu
KCB, ngƣời tham gia BHYT thực hiện khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế và các
chi phí KCB sẽ do cơ quan BHYT chi trả một phần hoặc toàn bộ theo quy
định của pháp luật. Dƣới góc độ kinh tế, thị trƣờng các dịch vụ y tế là một thị
trƣờng đặc biệt, chính ngƣời cung cấp dịch vụ quyết định việc mua bán chứ
không phải do ngƣời mua quyết định nhƣ ở các thị trƣờng khác.Việc đáp ứng
các nhu cầu KCB phụ thuộc nhiều vào khả năng của cơ quan y tế. Vì vậy, dù
BHYT đƣợc tổ chức thực hiện ở các quốc gia có thể khác nhau nhƣng luôn có
ba bên tham gia, trong đó cơ sở KCB có vai trò quan trọng. Không phải ai
cũng có thể thực hiện việc KCB, công tác này đòi hỏi phải đƣợc thực hiện bởi
những ngƣời có chuyên môn và thực hiện tại các cơ sở y tế đảm bảo điều
kiện, tiêu chuẩn. Để BHYT có chất lƣợng, hiệu quả, đáp ứng đƣợc nhu cầu
của ngƣời tham gia BHYT thì cần sự phối hợp tốt của cơ quan BHYT và cơ
sở y tế, đặc biệt là năng lực và thái độ hợp tác của cơ sở y tế.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế đƣợc coi là một trong những trụ cột chính của hệ thống an
sinh xã hội ở các quốc gia, có ý nghĩa quan trọng ảnh hƣởng đến sự phát triển
kinh tế xã hội. Vai trò của BHYT đƣợc xem xét ở góc độ vi mô, đối với ngƣời
tham gia BHYT và ở góc độ vĩ mô, đối với nhà nƣớc và cộng đồng nhƣ sau:
13
* Đối với người tham gia bảo hiểm y tế
Việc tham gia BHYT mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho ngƣời
dân, nhất là các gia đình có mức thu nhập thấp khi chẳng may đau ốm. Khi rơi
vào hoàn cảnh ốm đau, phải khám bệnh, điều trị, nhờ có BHYT, đƣợc BHYT
chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí y tế cần thiết mà ngƣời bệnh đã đỡ đi
phần nào gánh nặng về kinh tế cho việc KCB. Mà thông thƣờng, khi rơi vào
hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật, khả năng lao động bị ảnh hƣởng, thậm chí có
những ngƣời không thể làm việc, bị gián đoạn công việc do đó thu nhập bị
ảnh hƣởng, khó khăn lại khêm khó khăn thì các khoản chi phí y tế do BHYT
chi trả càng có ý nghĩa quan trọng. Khi bị bệnh tật, tai nạn, nhất là khi không
may bị bệnh nặng, chi phí vƣợt ngoài khả năng chi trả,nếu tham gia BHYT,
họ đƣợc hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí là rất cần thiết, giúp họ chống
lại nghèo đói và bệnh tật [15, tr.81].
Khi tham gia BHYT, ngƣời tham gia BHYT còn có thể giảm bớt nỗi lo
bảo vệ sức khỏe, chi phí KCB những khi ốm đau, do đó yên tâm làm việc, học
tập. Rủi ro sức khỏe không loại trừ một ai, bất cứ ai trong xã hội đều có thể bị
ốm đau, tai nạn và với tâm lý thông thƣờng, con ngƣời luôn có sự lo lắng nếu
rủi ro về sức khỏe xảy ra với mình. Khi con ngƣời gặp rủi ro về sức khỏe, họ
phải lo chi phí KCB, thậm chí có những ngƣời vừa khám bệnh, vừa điều trị
vừa lo kiếm tiền để trang trải cho những chi phí ấy do khoản dự phòng không
đủ hoặc không có. Tham gia BHYT giúp ngƣời lao động giảm bớt đƣợc nỗi lo
ấy, yên tâm hơn trong quá trình làm việc và cả khi phải KCB.
* Đối với nhà nước và cộng đồng
Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc, chăm sóc sức khỏe cho ngƣời
dân, các nƣớc trên thế giới thƣờng phải dành một khoản chi ngân sách cho hệ
thống y tế, công tác chăm sóc sức khỏe ngƣời dân. Tuy nhiên mỗi quốc gia có
khả năng chi trả khác nhau, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển thƣờng là
14
khoản chi ngân sách chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu y tế, nhu cầu phát triển của
ngành y. Do cần cân đối chi ngân sách cho những nhiệm vụ khác nữa, phần
lớn các nƣớc chỉ đầu tƣ khoảng 60% ngân sách y tế [14, tr.16]. Phần còn lại là
huy động sự tham gia, đóng góp của cộng đồng thông qua nhiều hình thức
khác nhau. Quỹ BHYT có hạch toán thu chi độc lập với NSNN sẽ làm giảm
đƣợc gánh nặng rất lớn cho ngân sách trong việc đảm bảo hoạt động chăm
sóc, bảo vệ sức khỏe của ngƣời dân. BHYT là một nguồn tài chính rất quan
trọng dành cho chăm sóc sức khỏe ngƣời dân, nhất là khi tình hình ngân sách
của nhà nƣớc không đủ để bao cấp hoàn toàn cho chăm sóc sức khỏe.
Bản chất của BHYT là sự phân phối lại giữa những ngƣời tham gia
nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cho việc KCB cho những ngƣời tham gia bị
rủi ro về sức khỏe. Khi tham gia BHYT, ngƣời tham gia bảo hiểm đều đƣợc
KCB tại các cơ sở y tế mà không có sự phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội do
đó đảm bảo đƣợc bình đẳng, công bằng xã hội. Thực hiện BHYT có ý nghĩa
thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân.
Mức hƣởng BHYT không phụ thuộc vào thời gian và số tiền phí bảo hiểm đã
đóng, do đó nhờ có BHYT ngƣời nghèo có cơ hội đƣợc chăm sóc y tế tốt
hơn.Việc đóng góp vào quỹ BHYT sẽ hỗ trợ cho ngân sách y tế, tạo điều kiện
cải thiện, nâng cao năng lực KCB của ngành y. Nhờ đó, ngƣời dân đƣợc chăm
sóc sức khỏe tốt hơn, chất lƣợng sống đƣợc nâng cao hơn.
Bên cạnh đó, BHYT còn góp phần nâng cao tính cộng đồng và gắn bó
các thành viên trong xã hội. Sự đóng góp và hƣởng BHYT khi gặp phải rủi ro
về sức khỏe của những ngƣời tham gia BHYT đã thể hiện nguyên tắc “số
đông bù số ít”, tính tƣơng trợ, tính xã hội, nhân văn sâu sắc của cộng đồng
trƣớc rủi ro của mỗi thành viên tham gia. Chính vì thế, BHYT còn có ý nghĩa
tạo sự gắn bó, liên kết các thành viên trong xã hội vì lợi ích chung của cộng
đồng, sự phồn vinh của đất nƣớc. Do đó BHYT còn có ý nghĩa bảo đảm cho
sự phát triển bền vững của cộng đồng [15, tr.82].
15
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm y tế
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm y tế
Để BHYT đƣợc thực hiện thống nhất, lâu dài, dung hòa đƣợc nghĩa vụ
và quyền lợi của các thành viên tham gia, nhà nƣớc phải có chính sách về
BHYT, tổ chức thực hiện BHYT trên cơ sở các quy định của pháp luật. Có
thể hiểu “pháp luật BHYT là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nƣớc
ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội phát
sinh trong quá trình tham gia BHYT nhằm đảm bảo an sinh xã hội”. Trên cơ
sở các quy định của pháp luật, các bên trong quan hệ BHYT phải tuân thủ
những nguyên tắc, quy định để đảm bảo tính thống nhất, tuân thủ theo chính
sách chung, đảm bảo đúng bản chất, mục đích của BHYT. Pháp luật về
BHYT điều chỉnh các mối quan hệ xã hội đan xen lẫn nhau giữa ngƣời tham
gia BHYT với Nhà nƣớc về nghĩa vụ tham gia BHYT, quan hệ giữa cơ quan
BHYT và cơ sở khám, chữa bệnh và quan hệ giữa ngƣời tham gia BHYT với
cơ sở KCB về việc cung cấp dịch vụ KCB cho ngƣời tham gia BHYT trong
quá trình tham gia, thụ hƣởng BHYT. Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh
vực BHYT là các mối quan hệ kinh tế - xã hội phát sinh trong quá trình tham
gia, thụ hƣởng BHYT.
1.2.2. Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm y tế
Nguyên tắc pháp luật bảo hiểm y tế là các tƣ tƣởng chỉ đạo, yêu cầu đối với
toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về BHYT. Ngoải các nguyên
tắc chung của pháp luật, pháp luật về BHYT còn có các nguyên tắc riêng:
Một là, bảo đảm mọi người đều có quyền tham gia và hưởng BHYT:
Quyền đƣợc chăm sóc y tế là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời,
đƣợc các tuyên ngôn nhân quyền khẳng định và đƣợc pháp luật các quốc gia
ghi nhận. BHYT chính là chìa khóa để quyền con ngƣời trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe đƣợc đảm bảo và phát huy. Công dân có quyền đƣợc hƣởng chế
16