ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ LAN HƯƠNG
ĐỊNH TỘI DANH
ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO
DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ LAN HƯƠNG
ĐỊNH TỘI DANH
ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO
DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG VĂN HÙNG
Hà Nội – 2019
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ................ 3
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ........................................ 5
5. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn ................................. 5
6. Bố cục luận văn ......................................................................................... 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI
VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM
LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ
CHỨC, CÔNG DÂN ................................................................................... 8
1.1. Khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân ........................... 8
1.1.1. Khái niệm tự do, dân chủ và quyền tự do, dân chủ ..................................... 8
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân............... 14
1.2. Khái niệm định tội danh đối với tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm
phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân .. 18
1.2.1. Khái niệm định tội danh trong luật hình sự Việt Nam .............................. 18
iii
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do
dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân ................................................................................................................... 21
1.3. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về định tội danh đối với
tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân ........................................... 25
1.3.1. Giai đoạn từ thời kỳ nhà nước phong kiến đến năm 1945........................ 25
1.3.2. Quá trình từ năm 1945 đến nay ................................................................... 27
Kết luận Chương 1 ...................................................................................... 33
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỊNH TỘI
DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ
XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP
PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN..................................................... 34
2.1. Cơ sở khoa học của định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do
dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân............................................................................................. 34
2.1.1. Khách thể của tội phạm ..................................................................... 34
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm ........................................................... 37
2.1.3. Mặt chủ quan của tội phạm ............................................................... 42
2.1.4. Chủ thể của tội phạm.................................................................................... 44
2.2. Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do
dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân............................................................................................. 46
2.2.1. Cơ sở pháp lý về nội dung ......................................................................... 47
2.2.2. Cơ sở pháp lý về hình thức .......................................................................... 50
iv
2.3. Chính sách hình sự đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
..................................................................................................................... 52
Kết luận Chương 2 ...................................................................................... 56
Chương 3: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG
CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ
NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN . 58
3.1. Tình hình định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân ...................................................................................................... 58
3.1.1. Kết quả đạt được ............................................................................... 58
3.1.2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân............................................ 67
3.2. Giải pháp bảo đảm đúng định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền
tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, công dân ........................................................................................ 70
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật .................................................................... 71
3.2.2. Một số giải pháp bảo đảm đúng định tội danh........................................... 74
Kết luận Chương 3 ...................................................................................... 78
KẾT LUẬN ................................................................................................ 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 82
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật Hình sự
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
UBND
: Ủy ban nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
CTTP
: Cấu thành tội phạm
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên bảng, biểu đồ
Trang
Biểu đồ 3.1.
Tổng số vụ án/bị can bị đưa ra xét xử sơ thẩm
từ năm 2012 đến năm 2016 theo số liệu thống
kê của Tòa án nhân dân tối cao
60
Bảng 3.2.
Tổng hợp hình phạt áp dụng trong các bản án
đã xét xử tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân từ năm 2012
đến năm 2016
63
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của luật hình sự. Nội dung
của khái niệm tội phạm đã “thể hiện một cách rõ nét bản chất giai cấp, các đặc
điểm chính trị xã hội cũng như những đặc điểm pháp lí của luật hình sự”.
Đồng thời nó còn “được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để
giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và
những trách nhiệm pháp lí khác…”.
BLHS năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
thông qua ngày 21-12-1999. Tuy nhiên các điều, khoản của Bộ luật này dựa
trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản pháp luật hình sự từ trước đến thời điểm
đó, trong đó có BLHS năm 1985. Điều này cũng có nghĩa, BLHS năm 1999
đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn trong tình hình mới, đặc biệt là trong bối
cảnh cuộc “chiến tranh lạnh” đã kết thúc, các thế lực thù địch đẩy tới chiến
lược “Diễn biến hòa bình” đối với các nước đi theo con đường XHCN, trong
đó có nước ta.
Trong những năm qua, các tổ chức chính trị thù địch đã tăng cường các
thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, tạo dựng dư luận quốc tế cô lập Việt Nam.
Tương tự như “kẻ tung, người hứng”, ở trong nước người ta thúc đẩy các lực
lượng chống đối, các trang mạng tự xưng là “chiến sỹ” đấu tranh cho “dân
chủ” và “nhân quyền”, phá hoại sự ổn định chính trị ở Việt Nam. Về hình
thức, tuy các lực lượng chống phá có khác nhau, song về nội dung chủ yếu
vẫn là cường điệu hóa những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta
trong quá khứ, những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, tình trạng quan
liêu, tham nhũng, sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Những năm gần đây người ta còn trắng trợn đòi Nhà nước ta phải hủy
bỏ nhiều điều luật quan trọng liên quan đến các tội phạm an ninh quốc gia, trật
1
tự công cộng trong BLHS. Trong những đòi hỏi đó có Điều 88 (về tội Tuyên
truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Điều 79 (tội
Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 258 (tội Lợi dụng các
quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, công dân).
Mặc dù tỷ lệ các vụ án lợi dụng quyền khiếu nại tố cáo, quyền tự do
báo chí xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân trên tổng số các vụ án hình sự được đưa xét xử hăng năm rất thấp
song do tính chất nhạy cảm nên được dư luận trong và ngoài nước đặc biệt
quan tâm. Các thế lực thù địch và một số phần tử chống đối cũng lợi dụng vấn
đề này để vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền.
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như yêu cầu cấp thiết của xã hội
về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài “Định tội danh đối với tội lợi dụng các
quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc định tội danh đối với
tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân đã được một số nhà khoa
học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành, công bố trong nhiều công
trình khoa học. Có một luận văn thạc sỹ và một số giáo trình giảng dạy,
sách bình luận BLHS đã nghiên cứu về những vấn đề này. Cụ thể như sau:
Về tài liệu nghiên cứu là sách giáo trình, sách chuyên khảo, gồm có:
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập II), do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa
chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010; Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm), của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2003; Giáo trình Luật hình sự
2
Việt Nam, (Phần các tội phạm) của TS Cao Thị Oanh (chủ biên), Nxb Giáo
dục, năm 2010; Bình luận các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm
1999, do TS. Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003; Bình luận các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999, tập
VIII, của tác giả Đinh Văn Quế, Nxb Đại học quốc gia Thành phố HồChí
Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010; TS. Cao Đức Thái, Điều 258 BLHS
năm 1999 và chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN ViệtNam,
Tạp chí Nội chính, số 5/2014; v.v..
Tài liệu nghiên cứu dưới góc độ là luận văn, luận án, gồm có "Tội
lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong luật hình sự Việt Nam" của
tác giả Bùi Xuân Hạ, năm 2015.
Tuy nhiên, các công trình đã nêu trên chỉ nghiên cứu riêng rẽ qua
việc tranh luận tội danh để áp dụng giữa tội phạmnày với tội phạm khác
hay chỉ đề cập phân tích chung trong các chương giáo trình, sách tham
khảo, khóa luận tốt nghiệp... mà chưa có một công trình khoa học nào ở cấp
độ một luận văn thạc sĩ giải quyết riêng rẽ và độc lập việc định tội danh đối
với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân để qua đó đưa ra những giải
pháp định tội danh, cũng như để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các qui định trong việc phòng, chống tội phạm này trong thực tiễn.
Tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học thực tiễn của luận văn hoàn toàn có tính
thời sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình các loại tội phạm nói
chung diễn biến phức tạp, hành vi thực hiện tội phạm ngày càng tinh vi.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài: Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở
sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc định tội danh đối với tội
3
lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc
trong quá trình áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định BLHS Việt Nam đối với tội
phạm này.
Để đạt được mục tiêu trên, một số nhiệm vụ mà tác giả đặt ra trong
luận văn bao gồm:
Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển
của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong sự phát triển chung
của pháp luật hình sự, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội phạm
này, qua đó xây dựng mô hình lý luận và rút ra ý nghĩa của việc ghi nhận
tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong luật hình sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn
xét xử về việc định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công
dân, luận văn đề xuất hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng quy định BLHS về tội phạm này.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó: Định
tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn nghiên cứu vấn đề định tội
danh đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
4
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện trên cơ sở luận điểm của Triết học Mác – Lê Nin
về chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Mac–xit, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải
cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X
và các Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49 –
NQ/TW ngày 26/05/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của
Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của Khoa học luật hình sự như: sử dụng
phương pháp nghiên cứu phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
so sánh và phương pháp lịch sử.
5. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
ngừa tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân và áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử trên địa bàn cả nước.
Những giải pháp đề cập trong đề tài luận văn giúp các cơ quan có
thẩm quyền xem xét, nghiên cứu áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả công
tác đấu tranh phòng ngừa tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học
nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống về định tội danh đối với tội lợi
dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
trên địa bàn cả nước.
5
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa
học của luận văn:
- Làm rõ được những vấn đề cơ bản của hoạt động định tội danh
đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong pháp luật
hình sự hiện hành.
- Phân tích, đánh giá đúng thực tiễn việc định tội danh đối với tội lợi
dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân; phân tích, làm rõ những hạn chế, tồn
tại về khía cạnh này trong thực tiễn xét xử tội lợi dụng các quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng quy định của bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về định tội danh
đối với tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm
công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học
luật hình sự, tội phạm học nói riêng và các cán bộ thực tiễn đang công tác
tại các cơ quan bảo vệ pháp luật.
6. Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương được triển khai theo hướng sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội lợi dụng
các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân.
6
Chương 2: Cơ sở pháp luật hình sự về định tội danh đối với tội lợi
dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Chương 3: Thực tiễn định tội danh đối với tội lợi dụng các quyền tự
do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân.
7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH
ĐỐI VỚI TỘI LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ
XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH
HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÔNG DÂN
1.1. Khái niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
1.1.1. Khái niệm tự do, dân chủ và quyền tự do, dân chủ
Từ xưa đến nay, tự do luôn là một khái niệm bí ẩn và trừu tượng đối
với con người. Đúng như tên gọi, tự do không chịu khuôn mình vào bất kỳ
chiếc khung nào, ngay cả trong những nỗ lực của các nhà triết học, các nhà
khoa học ở mọi thời đại nhằm mô tả và lý giải khái niệm tự do.
Tự do, theo cách hiểu thông thường của nhiều người, đó là quyền
(của một cá nhân) được làm điều mình muốn mà không phải chịu một sự
cưỡng ép hay bị ràng buộc bởi một mệnh lệnh nào. Tự do là một giá trị mà
con người luôn hằng kiếm tìm, chinh phục.
Tự do gần như xuất hiện trong ngôn ngữ của tất cả dân tộc trên thế giới.
Ví dụ, tự do được viết là ελευθερία trong tiếng Hy Lạp hay trong tiếng Anh tự
do được viết là liberty. Từ điển tiếng Việt thì từ "tự do" có thể được sử dụng
theo hai cách: tự do với ý nghĩa là một danh từ và tự do với ý nghĩa là một tính
từ. Ở dạng từ loại danh từ, tự do được hiểu theo ba nghĩa: 1. Là trạng thái một
dân tộc, một xã hội và các thành viên không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong
các hoạt động chính trị - xã hội; 2. Là trạng thái không bị giam cầm hoặc không
bị làm nô lệ; 3. Là trạng thái không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong việc làm
nào đó. Ở dạng từ loại tính từ, tự do được hiểu theo bốn nghĩa: 1. Có các quyền
tự do về xã hội – chính trị; 2. Không bị lực lượng ngoại xâm chiếm đóng; 3.
Không bị cấm đoán, hạn chế vô lí trong hoạt động cụ thể nào đó; 4. Không có
những sự ràng buộc, hạn chế về những mặt nào đó, đối lập với những trường
hợp thông thường khác [21, tr. 876].
8
Còn trong Triết học, một trong những cách hiểu được thừa nhận rộng
rãi nhất về tự do là khái niệm của Locke: “Tự do là khả năng con người có
thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở
nào” [35, tr.18]. Theo đó, tự do là quyền, là khả năng của con người được
biểu hiện bởi sự làm chủ trong suy nghĩ, hành động của mình mà không bị
trói buộc, kìm hãm. Như vậy, tự do thể hiện, hành động theo mong muốn
của bản thân mình nhưng phải trên cơ sở nhận thức và tôn trọng cái tất yếu
- các quy luật tự nhiên, xã hội. Do đó, tự do là khả năng của con người biểu
hiện ý chí và hành động theo ý muốn của mình mà không ngăn cấm, cản
trở, ràng buộc.
Từ định nghĩa của từ điển Tiếng Việt có thể khái quát nên một khái
niệm về tự do như sau: Tự do là một trạng thái tồn tại của con người mà
không bị sự ép buộc, cấm đoán, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo
đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình. [36, tr. 15]
Thường xuyên được nhắc tới cùng với tự do là khái niệm dân chủ.
Trong Từđiển tiếng Việt, dân chủ được giải thích là "chế độ dân chủ
hoặc quyền dân chủ" [21, tr.180]. Xét trong mối quan hệ với tự do và pháp
luật, muốn có dân chủ thực sự, thì dân chủ phải đặt trong mối quan hệ với
tự do và pháp luật. Theo đó, pháp luật là đại lượng, động lực thúc đẩy và
phát triển và là phương tiện của dân chủ. Pháp luật còn là điều kiện, là bảo
đảm của dân chủ. Đến lượt mình, dân chủ lại làm cho pháp luật phát triển
và trở nên công bằng hơn, hoàn thiện hơn cũng như bảo vệ vững chắc các
quyền và tự do của con người hơn. Dân chủ nếu được xem xét với tư cách
là quyền dân chủ, tự do được xem với tư cách là quyền tự do lúc này các
quyền tự do dân chủ chính là các quyền con người và là sự cụ thể hóa
quyền con người trong pháp luật.
Ở Việt Nam, tư tưởng này được thể hiện ngay tại Điều 2 Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:
9
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân.
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân
làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức. [15]
Theo tác giả Trịnh Tiến Việt trong sách Các tội xâm phạm quyền tự
do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam thì:
Ngày nay, dân chủ không chỉ là mục tiêu phấn đấu của con
người, là một vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng quan tâm, mà còn coi đó là một trong những
giá trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói
chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng [34, tr.58].
Dân chủ không chỉ đơn thuần là một loạt thể chế quản lý cụ thể. Dân
chủ dựa trên nhóm giá trị, quan điểm và thực tiễn đã được nhận thức rõ. Tất
cả các giá trị, quan điểm và thực tiễn đó được thể hiện dưới những hình
thức khác nhau tùy theo nền văn hóa và các xã hội trên thế giới.
Những đặc điểm dân chủ cơ bản như sau:
• Dân chủ là hình thức chính phủ trong đó quyền lực và trách nhiệm
công dân do công dân trưởng thành trực tiếp thực hiện hoặc thông qua các
đại diện của họ được bầu lên một cách tự do.
• Dân chủ dựa trên các nguyên tắc đa số cai trị và các quyền cá nhân.
Các nền dân chủ chống lại các chính phủ trung ương tập quyền và phi tập
trung hóa chính quyền ở cấp khu vực và địa phương, với nhận thức rằng tất
cả các cấp độ chính quyền đều phải được tiếp cận và phải đáp ứng người
dân khi có thể.
10
• Các nền dân chủ nhận thức rằng một trong những chức năng chính
của họ là bảo vệ các quyền con người cơ bản như tự do ngôn luận và tự do
tôn giáo; quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng và cơ hội được tổ chức và
tham gia đầy đủ vào đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa của xã hội.
• Các nền dân chủ thường xuyên tổ chức các cuộc bầu cử tự do và
công bằng cho công dân ở độ tuổi bầu cử tham gia.
• Công dân ở một nền dân chủ không chỉ có các quyền, mà còn có
trách nhiệm tham gia hệ thống chính trị. Đổi lại, hệ thống chính trị đó bảo
vệ các quyền lợi và sự tự do của họ.
• Các xã hội dân chủ cam kết với các giá trị khoan dung, hợp tác và
thỏa hiệp. Theo lời của Mahatma Gandhi: “Không khoan dung là biểu hiện
của tình trạng bạo lực và cản trở phát triển tinh thần dân chủ thực sự”.
Có hai loại hình dân chủ cơ bản, đó là dân chủ trực tiếp và dân chủ
đại diện. Trong nền dân chủ trực tiếp, công dân có thể tham gia quyết định
công việc chung mà không có sự can thiệp của các quan chức được bầu lên
hoặc được bổ nhiệm. Hình thức thứ hai của dân chủ là dân chủ đại diện.
Trái ngược với hình thức dân chủ trực tiếp, ở nền dân chủ đại diện, công
dân bầu lên các quan chức để đưa ra các quyết định chính trị, xây dựng luật
và điều hành các chương trình vì lợi ích chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng dân chủ tiên tiến
và đã áp dụng thành công ở Việt Nam. Người khẳng định: "Nước ta là nước
dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ". [37, tr.515]. Và: "Bao nhiêu
quyền lực là của nhân dân"; "Chúng ta hiểu rằng, các cơ quan của Chính
phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để
gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ
dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật". [38, tr.56].
11
Điều này đã được thể hiện cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 tại Điều
3 như sau:
"Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện".
Và tại Ðiều 6 ghi nhận "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội,
Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước".
Từ những luận điểm nói trên có thể khái quát thành khái niệm dân
chủ như sau: “Dân chủ là một chế độ xã hội mà dân làm chủ, dân là gốc
của quyền lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất
phát từ ý chí, ý nguyện của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.”
Tự do và dân chủ thường được dùng thay thế cho nhau. Thực ra hai
khái niệm này không đồng nghĩa. Dân chủ không chỉ là một loạt ý tưởng và
các nguyên tắc về tự do, mà còn bao hàm cả những thực tiễn và các tiến
trình đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử vốn phức tạp. Dân chủ
là sự thể chế hóa tự do.
Quyền tự do, dân chủ là một bộ phận của quyền con người được ghi
nhận trong Hiến pháp và trong các luật liên quan. Quyền tự do, dân chủ cần
phải được quy định trong Hiến pháp - văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý
cao nhất, vì đây là các quyền liên quan đến con người và để bảo đảm sự
thống nhất trong việc áp dụng. Đây đồng thời là chế định pháp lý cơ bản,
xác định địa vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xã
hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi
cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, từ khi thành lập cho đến nay, Nhà nước luôn luôn tôn
trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân và coi đó là một trong những
12
nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nhà nước. Việc đề cao các quyền tự do
cơ bản của công dân xuất phát từ mục đích hoạt động của Nhà nước ta luôn
vì con người, đề cao nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát
triển Nhà nước và xã hội. Đặc biệt, hiện nay, nước ta đang trong quá trình
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà một trong những nội
dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn quyền
lực nhà nước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân.
Hiến pháp nước ta dành một chương riêng (Chương II) quy định các
quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền liên quan đến tự
do dân chủ của công dân. Các quyền này trực tiếp chỉ ra đối tượng tự do
dân chủ của công dân. Công dân có quyền bầu cử, ứng cử (Điều 54), quyền
tham gia trưng cầu ý dân của (Điều 53); quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí, quyền được thông tin (Điều 69), quyền lập hội của công dân (Điều 69),
quyền hội họp, biểu tình (Điều 69); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến
nghị với cơ quan Nhà nước (Điều 53), quyền khiếu nại, quyền tố cáo của
công dân (Điều 74). Các quyền trên của công dân không biệt lập mà gắn
liền với việc việc ghi nhận đồng thời các quyền khác của công dân có tính
chất bổ trợ hoặc chỉ rõ tính chất của quyền như: “Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật” (Điều 52), “Công dân nữ và nam có quyền ngang
nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. (Điều 3),
“Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước
ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật” (Điều 68)…
Từ sự phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về tự do, dân chủ
và quyền tự do, dân chủ như sau:
Tự do là một trạng thái tồn tại của con người mà không bị sự ép
buộc, cấm đoán, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí
nguyện vọng của chính mình.
13
Dân chủ là một chế độ xã hội mà dân làm chủ, dân là gốc của quyền
lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát từ ý chí,
ý nguyện của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Quyền tự do dân chủ của công dân là quyền làm chủ của người dân
đối với Nhà nước, xã hội; quyền làm chủ suy nghĩ, hành động của bản thân
mình trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung và trật tự của cộng đồng, của xã
hội. Là các quyền con người nên quyền tự do dân chủ chỉ thực sự có ý
nghĩa trên thực tế khi nó được thừa nhận và bảo hộ bởi Nhà nước.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của tội lợi dụng các quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng khái
niệm tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Phần các tội phạm của Khoa Luật
trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra khái niệm về tội lợi dụng các
quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân như sau:
Theo Điều 258 Bộ luật hình sự, tội phạm này được hiểu là
hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do
tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do
dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, công dân [19, tr.630].
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập II của Trường Đại học Luật
Hà Nội đưa ra khái niệm tương tự:
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là hành
14
vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội và
các quyền tự do dân chủ khác để xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân [26, tr.262].
Từ đây có thể thấy, cả 2 quan điểm nêu trên đều dựa vào điều 258
của BLHS nên chỉ nêu ra hành vi phạm tội và khách thể của tội phạm,
nhưng thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm, dấu hiệu đủ tuổi chịu TNHS và
có năng lực TNHS.
Trong BLHS năm 1999 không quy định cụ thể khái niệm tội lợi dụng
các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân mà chỉ quy định khái niệm tội phạm nói
chung.
Tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 quy định khái niệm tội phạm
như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính
trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an
toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền,
lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [13].
Căn cứ vào quy định của BLHS về khái niệm tội phạm nói chung,
cũng như căn cứ vào các khái niệm được nêu ra kể trên, có thể rút ra một số
đặc điểm của tội tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân như sau:
15
Thứ nhất, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy
định tại chương XX BLHS 1999 là một trong những tội phạm thuộc nhóm
các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính, do đó tội này mang một số đặc
điểm cơ bản của các tội phạm thuộc nhóm này. Cụ thể:
- Về khách thể của tội phạm: Khách thể của nhóm tội xâm phạm trật tự
quản lí hành chính nói chung và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nói
riêng chính là quan hệ xã hội được hình thành thông qua trật tự quản lí, điều
hành của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính xâm phạm trật tự quản lí, điều hành
xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, công dân.
- Về mặt khách quan của tội phạm: Phần lớn các tội xâm phạm quản lí
hành chính có cấu thành tội phạm hình thức. Điều này có nghĩa rằng mặt
khách quan của nhóm tội phạm này nói chung và tội lợi dụng các quyền tự do
dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân nói riêng chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm. Hành vi
khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lí hành chính rất đa dạng.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: Các tội xâm phạm trật tự quản lí
hành chính nói chung và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nói
riêng được thực hiện chủ yếu với lỗi cố ý. Khi thực hiện tội phạm, người
phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật của
hành vi của mình nhưng vì những động cơ cá nhân khác nhau (như vụ lợi,
thù tức…) người phạm tội vẫn thực hiện tội phạm. Lỗi cũng là dấu hiệu bắt
buộc duy nhất trong mặt chủ quan của nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự
quản lí hành chính.
16
- Về chủ thể của tội phạm: Phần lớn các tội phạm xâm phạm trật tự
quản lí hành chính, cấu thành tội phạm chỉ đòi hỏi chủ thể của tội phạm là
người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
- Về hình phạt: Các hình phạt chính của các tội phạm xâm phạm trật
tự quản lí hành chính bao gồm: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền
và tù có thời hạn. Các tội phạm trong Chương này thường có 2 khung hình
phạt chính với mức phạt tù cao nhất là 5 hoặc 7 năm. Ngoài hình phạt
chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ
sung sau: phạt tiền, cấm cư trú, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ 1 đến 5 năm.
Thứ hai, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân còn có một số đặc
điểm riêng để phân biệt nó với các tội phạm khác trong nhóm các tội xâm
phạm trật tự quản lí hành chính nói chung cũng như các tội phạm khác nói
riêng như sau:
- Hành vi khách quan của tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
là lợi dụng các quyền tự do, dân chủ mà Hiến pháp và pháp luật quy định
như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các
quyền tự do khác để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân. Tuy đều là những dạng hành vi xâm phạm trật
tự quản lí hành chính nhưng người phạm tội này chỉ mang tính chất xâm
hại các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân một cách đơn
thuần vì mục đích cá nhân. Người phạm tội có ý thức sử dụng các quyền tự
do, dân chủ được pháp luật quy định như phương tiện phạm tội.
- Về đối tượng xâm hại, người phạm tội lợi dụng quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân thường hướng đến đối tượng là những thiệt hại về vật chất hoặc
tinh thần của Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân.
17
Từ sự phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm tội lợi dụng các
quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân như sau:
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là hành vi lợi dụng
các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do
hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác được quy định trong Điều
258 BLHS Việt Nam năm 1999 do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu
TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm hại lợi ích của Nhà nước, các quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, cũng như trật tự chung của xã hội.
1.2. Khái niệm định tội danh đối với tội lợi dụng quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân
1.2.1. Khái niệm định tội danh trong luật hình sự Việt Nam
Định tội danh được thực hiện ở tất cả các giai đoạn tố tụng và các cơ
quan tiến hành tố tụng. Tội danh là sự thể hiện có tính nền tảng và quan
trọng về trách nhiệm hình sự của người thực hiện tội phạm. Trên cơ sở tội
danh đã xác định, các cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành định khung và
quyết định hình phạt. Tội danh được xác định đúng là tiền đề cho việc phân
hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt ở các bước tiếp theo (định
khung hình phạt và quyết định hình phạt), nhờ đó vụ án được giải quyết
chính xác, công bằng cũng như đạt được mục đích của hình phạt. Hiện nay
về định tội danh còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và chưa có những
nghiên cứu chuyên sâu đảm bảo đúng cho việc định tội.
Các học giả nước ngoài đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau về định
tội danh, có thể chỉ ra hai học giả tiêu biểu đó là Viện sĩ Kuđriavtxev VN
(Liên Xô cũ) và Học giả Sliapôtrnhikôv A.C. Trong khi Viện sĩ
18