Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Chính sách, pháp luật về Biển đảo của Indonesia và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 108 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

THẠCH THỊ QUỲNH LOAN

CHÝNH S¸CH, PH¸P LUËT VÒ BIÓN §¶O CñA INDONESIA
Vµ MéT Sè BµI HäC KINH NGHIÖM CHO VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

THẠCH THỊ QUỲNH LOAN

CHÝNH S¸CH, PH¸P LUËT VÒ BIÓN §¶O CñA INDONESIA
Vµ MéT Sè BµI HäC KINH NGHIÖM CHO VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 8380101.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

THẠCH THỊ QUỲNH LOAN


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bản đồ
Danh mục các hình ảnh
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VỀ BIỂN ĐẢO CỦA INDONESIA .................................... 6
1.1.
Thông tin sơ lƣợc về đất nƣớc Indonesia ................................................... 6
1.1.1.
1.1.2.


Khái quát về địa lý đất nước Indonesia .......................................................... 6
Khái quát về thể chế chính trị đất nước Indonesia ......................................... 7

1.2.

Tổng quan Bộ máy quản lý nhà nƣớc về biển, đảo của nƣớc Cộng
hòa Indonesia ................................................................................................ 9

1.3.

Tổng quan một số quy định trong luật biển, đảo của Indonesia qua
các thời kỳ và lƣợc sử ra đời của chính sách “Trục biển toàn cầu” ......... 11
Tổng quan hệ thống pháp luật về biển đảo của Indonesia ........................... 11
Chính sách “Trục biển toàn cầu” - Lược sử ra đời ...................................... 18

1.3.1.
1.3.2.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.

Lợi ích và vai trò của chính sách, pháp luật biển đảo đối với Indonesia .... 20
Lợi ích của chính sách, pháp luật biển đảo đối với Indonesia ..................... 20
Vai trò của chính sách, pháp luật biển đảo đối với Indonesia và đóng
góp của Indonesia đối với Biển Đông .......................................................... 21

Chƣơng 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

2.1.
2.1.1.

2.1.2.
2.1.3.

INDONESIA VỀ BIỂN, ĐẢO VÀ THỰC TRẠNG TRANH CHẤP
BIỂN ĐẢO CỦA INDONESIA VỚI CÁC NƢỚC.................................. 26
Hệ thống chính sách, pháp luật của Indonesia về biển, đảo .................. 26
“Indonesia - Trục biển toàn cầu” là định hướng xây dựng chính sách,
pháp luật của Indonesia trong thời kỳ hiện đại ............................................ 26
Chính sách, pháp luật về xác lập, thực hiện và bảo vệ chủ quyền,
quyền chủ quyền, quyền tài phán trên các vùng biển, đảo .......................... 30
Chính sách, pháp luật về khai thác, bảo tồn tài nguyên cá .......................... 40


2.1.4.

Chính sách pháp luật về giao thông vận tải biển ......................................... 43

2.1.5.

Chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Indonesia ................ 45

2.1.6.

Chính sách, pháp luật về nghiên cứu khoa học biển của Indonesia ............. 47

2.1.7.
2.2.
2.2.1.

Chính sách pháp luật về an ninh an toàn biển .............................................. 51

Thực trạng giải quyết tranh chấp biển đảo của Indonesia với các nƣớc ........ 54
Các hiệp định phân định biển, đảo của Indonesia với các nước .................. 54

2.2.2.

Các khu vực tranh chấp còn tồn tại của Indonesia....................................... 62

Chƣơng 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP PHÂN ĐỊNH
BIỂN GIỮA INDONESIA – VIỆT NAM ................................................ 71
3.1.

Thực trạng chính sách pháp luật Việt Nam về Biển đảo ....................... 71

3.2.

Bài học kinh nghiệm và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách
pháp luật về Biển đảo cho Việt Nam ........................................................ 79
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam qua nghiên cứu về chính sách,
pháp luật biển đảo của Indonesia ................................................................. 79
Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về biển đảo Việt
Nam từ công tác quản lý biển của Indonesia ............................................... 85

3.2.1.
3.2.2.
3.3.

Giải pháp phân định biển giữa Việt Nam và Indonesia ......................... 88

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 97



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt
EEZ

Tiếng Việt
Vùng đặc quyền kinh tế

Tiếng Anh
Exclusive Economic Zone

UNCLOS

Công ước Liên Hiệp Quốc United Nations Convention on the
về Luật biển
Law of the Sea

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Association of Southeast Asian Nations
Nam Á

GMF

Trục biển toàn cầu

MPR


Hội đồng tư vấn nhân dân - People's Consultative Assembly
tên gọi viết tắt của một trong (Viết tắt theo tiếng Indonesia là

Global Maritime Fulcrum

số cơ quan lập pháp Indonesia Majelis Permusyawaratan Rakyat)
DDRG

Chương trình trợ cấp nghiên The research grant program as required
cứu theo nhu cầu

P2O

P2LD
TZMKO

ICJ

Trung tâm Nghiên cứu Hải The research grant program as required
(Viết tắt theo tiếng Indonesia: Pusat
dương học
Penelitian Oseanografi)
Trung tâm Nghiên cứu Biển Sea Research Center
Pháp lệnh hàng hải và môi Territoriale EEZ in
trường hàng hải
Kringen Ordonantie
Toà án Công lý Quốc tế

Maritieme


International Court of Justice

DOC

Tuyên bố về ứng xử của các Declaration on the Conduct of
bên ở Biển Đông
Parties in the South China Sea

COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển The Code of Conduct for the South
Đông
China Sea


DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ

Số hiệu

Tên bản đồ

Trang

Bản đồ 1.1

Bản đồ thể hiện tổng quan các cơ quan thực thi pháp luật
tại các vùng biển, đảo của Indonesia

10


Bản đồ 1.2

Bản đồ Sự phân chia lãnh hải của Indonesia năm 1939

13

Bản đồ 1.3

Biển đảo thuộc Indonesia

20

Bản đồ 1.4

Bản đồ Biển đông

22

Bản đồ 2.1

Những thay đổi đối với Khu kinh tế độc quyền của
Indonesia ở eo biển Malacca

38

Bản đồ 2.2

Ranh giới của Indonesia và các nước

54


Bản đồ 2.3

Ranh giới lãnh thổ phía Bắc Indonesia

55

Bản đồ 2.4

Ranh giới phía tây Indonesia

55

Bản đồ 2.5

Ranh giới lãnh thổ của Indonesia ở phía nam

56

Bản đồ 2.6

Ranh giới phía đông của Indonesia ở Papua

56

Bản đồ 2.7

Phân định biển tại eo biển Malacca của Indonesia Malaysia

57


Đường phân định ranh giới thềm lục địa của Việt Nam và
Indonesia

59

Bản đồ 2.9

Bản đồ Vùng biển Celebes và biển Mindanao

61

Bản đồ 2.10

Bản đồ thể hiện Hình ảnh Đảo Natuna

62

Bản đồ 2.11

Bản đồ thể hiện vùng Biển Bắc Natuna của Indonesia

65

Bản đồ 2.12

Bản đồ thể hiện Hình ảnh Đảo Ligitan

68


Bản đồ 2.13

Bản đồ thể hiện Hình ảnh đảo Sipadan

68

Bản đồ 2.8


DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Số hiệu

Tên hình ảnh

Hình ảnh

Xác định các hòn đảo lớn hơn 12 hải lý cùng tỉnh của

2.1.A–B

Indonesia

Hình ảnh 2.2

Tàu nghiên cứu Baruna Jaya của Viện khoa hoạc Indonesia

Hình ảnh 2.3

Giám sát các hoạt động của các rạn san hô ở vùng biển


Trang

33 - 34
49

phía bắc Bali, được tiến hành trong khuôn khổ kỷ niệm
Ngày Kiểm tra Rạn san hô
Hình ảnh 2.4

50

Tàu hải quan thuộc sở hữu của Hải quân Indonesia đang
diễn tập tại vùng Biển đảo Natuna

53

Hình ảnh 2.5

Tàu quân sự Trung Quốc hiện diện trên vùng Biển đảo Natura

64

Hình ảnh 2.6

Tàu tuần tra tăng cường an ninh của Indonesia

64


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Biển Đảo có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế,
quốc phòng, an ninh. Tiềm năng của biển về giao thông vận tải, về du lịch và về tài
nguyên thiên nhiên đem lại những lợi ích kinh tế rất lớn và tầm quan trọng đặc biệt
của biển trong lĩnh vực an ninh quốc phòng là động lực thúc đẩy các quốc gia mở
rộng chủ quyền của mình ra biển. Nhận thức được rõ về tầm quan trọng của biển,
các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng chiến lược tiến ra biển, làm chủ biển
một cách bài bản, khoa học và toàn diện. Tuy nhiên, việc rất nhiều quốc gia trên thế
giới đều muốn mở rộng chủ quyền của mình ra biển sẽ dễ dẫn đến mâu thuẫn về
mặt lợi ích giữa các quốc gia. Hơn nữa, việc các quốc gia đều cố gắng mở rộng yêu
sách chủ quyền, quyền chủ quyền, đẩy mạnh khả năng và phạm vi khai thác tài
nguyên của quốc gia mình ra biển càng làm cho các mâu thuẫn, tranh chấp trở nên
gay gắt. Tình hình tranh chấp trên biển giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay diễn
biến ngày càng căng thẳng và phức tạp. Chính vì lẽ đó, Indonesia với quốc gia nổi
tiếng là “xứ sở vạn đảo” là nước có đường biên giới biển với nhiều quốc gia trong
khu vực vực Đông Nam Á và Trung Quốc. Indonesia cũng có nhiều kinh nghiệm
trong việc giải quyết vấn đề biển đảo, hiện nay đang là một trong số những quốc gia
hàng đầu trong khu vực và dần khẳng định vị thế lớn mạnh của mình đã không nằm
ngoài các hoạt động trên. Những nhà lãnh đạo nhà nước Indonesia đã có những
chính sách, pháp luật về biển đảo để nhằm bảo vệ quyền lợi, chủ quyền biển đảo
của nước mình phục vụ cho kinh tế, văn hóa, chính trị, quốc phòng an ninh của họ.
Chính vì thế, tác giả chọn đề tài: “Chính sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia
và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” nhằm nghiên cứu những chính sách,
pháp luật về biển đảo mà Indonesia ban hành phục vụ cho lợi ích đất nước và bảo
vệ chủ quyền biển đảo của mình, từ đó Việt Nam có thể học hỏi từ Indonesia về các
chính sách pháp luật về biển đảo để rút ra kinh nghiệm cho riêng mình.

1



2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu chính sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia nhằm có những tri
thức cần thiết trong quá trình hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác cũng như nhà
nước Indonesia, đồng thời góp phần hoàn thiện pháp luật và cải thiện chính sách pháp
luật Việt Nam về biển đảo, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam được
chặt chẽ, đảm bảo các cơ sở pháp lý về chủ quyền, biển đảo của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Nghiên cứu chính sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia
góp phần rút ra một số bài học kinh nghiệm từ việc giải quyết các tranh chấp trên
Biển đảo với các quốc gia có chung đường biên giới Biển của Indonesia để áp dụng
linh hoạt vào tình hình thực tế của Việt Nam để có những quyết sách, xây dựng
chiến lược phù hợp với tình hình an ninh quốc phòng của Việt nam cũng như trong
toàn khu vực Đông Nam Á.
2.2 Nhiệm vụ chính
Để đạt được mục tiêu này, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tìm hiểu các chính sách, pháp luật của Indonesia về biển đảo, việc giải
quyết tranh chấp biển đảo với các nước láng giềng;
- Đối sách với các nước có chung ranh giới biển của Indonesia từ việc
Indonesia đã ban hành nhiều chính sách để bảo vệ quyền lợi của mình trên vùng
biển thuộc chủ quyền của mình từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Hoàn thiện việc hoạch định ranh giới trên biển giữa Việt Nam với Indonesia
về vùng chồng lấn. Tìm hiểu chính sách pháp luật về biển đảo của Indonesia, qua việc
giải quyết tranh chấp biển đảo giữa Indonesia và Philippines và một số quốc gia, đặc
biệt là Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Từ đó có thể học hỏi kinh nghiệm góp phần
hoàn thiện chính sách, pháp luật về biển đảo của Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia.
- Phạm vi nghiên cứu: Chính sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia


2


cũng như việc giải quyết tranh chấp, ký kết các điều ước quốc tế đa phương, song
phương của Indonesia với các nước liên quan.
 Về phạm vi nội dung:
- Tổng quan hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành về Biển đảo của Indonesia;
- Các VBQPPL của Indonesia về chính sách và pháp luật của Indonesia
(Indonesia là nước không ban hành chung một luật về biển đảo mà ban hành riêng các
đạo luật ở các lĩnh vực khác nhau), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS)
1982; điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Indonesia tham gia ký kết…;
- Thực tiễn các tranh chấp biển đảo của Indonesia với một số nước có cùng
đường biên giới biển như Philippines, Singapore, Malaysia, Trung Quốc…;
- Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về chính sách, pháp luật trong
việc giải quyết tranh chấp về Biển đảo và giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật
của Việt Nam qua nghiên cứu đánh giá pháp luật Indonesia.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Thứ nhất, đề tài này mang tính thời sự khi mà Indonesia đang có nhiều tranh
chấp biển đảo với các quốc gia khác như Philippines, Malaysia, Singapore…từ đó
có những bài học cho Việt Nam trong việc có những chính sách, pháp luật để giải
quyết tranh chấp biển đảo với các nước.
Thứ hai, đã có nhiều bài viết, nghiên cứu liên quan đến vấn đề đường cơ sở
hay ranh giới của Indonesia với các nước như việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về
biển đảo trong quá trình hội nhập quốc tế; hay nghiên cứu lý luận về đường cơ sở của
các quốc gia có biển…. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách tổng
quát, cụ thể về chính sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia và đề tài: “Chính
sách, pháp luật về biển đảo của Indonesia và một số bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam” là không trùng với bất cứ công trình khoa học nào cấp độ thạc sỹ đã công bố.
Thứ ba, Qua nghiên cứu chính sách pháp luật được ban hành của Indonesia
và cách giải quyết tranh chấp của Indonesia với các nước như Philippines,

Singapore, Trung Quốc… chúng ta có thể học hỏi được bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam về việc hoàn thiện chính sách pháp luật về biển đảo đồng thời vận dụng

3


vào việc tiến tới thỏa thuận giải quyết vấn đề tranh chấp biển đảo giữa Indonesia
với Việt Nam.
5. Tổng quan tài liệu
Vấn đề Biển đảo Việt Nam đang là một vấn đề nóng và nhận được sự quan
tâm của cộng đồng, chính vì thế mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan
đến vấn đề này gần đây nhất. Năm 2015 có công trình nghiên cứu của học viên cao
học Luật, Mai Hạnh Trang, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội về đề tài: “Kinh
nghiệm của các nước Asean trong việc giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên
biển đông thông qua cơ chế tài phán”, người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn
Bá Diến. Tuy nhiên đề tài này chỉ tập trung về vấn đề giải quyết tranh chấp biên
giới, lãnh thổ trên biển đông thông qua cơ chế tài phán của một số nước ASEAN;
hay năm 2012 có công trình nghiên cứu của Đỗ Tuyết Hạnh - học viên cao học
Luật, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội về đề tài: “Pháp luật Việt Nam về bảo vệ
chủ quyền biển đảo trong tiến trình hội nhập quốc tế” do TS Nguyễn Lan Nguyên
hướng dẫn khoa học...
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể
về chính sách, pháp luật của một nước “vạn đảo” như Indonesia để từ đó ta thấy
rằng việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển đảo của Việt Nam rất
đang là cấp bách giữa thời điểm mà Việt Nam đang phải đối mặt với một số tranh
chấp với các nước rất nóng hổi và gay gắt và việc nghiên cứu đề tài của tác giả
không trùng với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã công bố.
6. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài:
Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác
– Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và

những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng Xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới.
Luận văn còn dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu từ cái chung
đến cái riêng, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp loogic và lịch sử,
phân tích và so sánh, đặc biệt là phương pháp so sánh luật học.

4


Luận văn cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình
nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm: phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương
pháp so sánh đối chiếu… để giải quyết vấn đề khoa học của luận văn và kiến nghị
nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn
đề biển đảo Việt Nam.
Trong Luận văn thạc sĩ tác giả sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm sáng tỏ các quy định về chính sách, pháp luật về Biển
đảo của Indonesia, các cuộc trach chấp và một số bài học kinh nghiệm được rút ra
từ chính sách pháp luật về biển đảo của Indonesia với Việt Nam.
- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao chính
sách, pháp luật của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ biển đảo và các xử lý các tình
huống xung đột với các quốc gia gây hấn như Trung Quốc.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo luận văn được kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1. Tổng quan hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành về biển đảo
của Indonesia.
Chương 2. Nội dung cơ bản của chính sách, pháp luật Indonesia về biển, đảo

và thực trạng tranh chấp biển đảo của Indonesia với các nước.
Chương 3. Bài học kinh nghiệm và giải pháp phân định biển đảo giữa indonesia
- Việt Nam.

5


Chƣơng 1
TỔNG QUAN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ BIỂN ĐẢO CỦA INDONESIA
1.1. Thông tin sơ lƣợc về đất nƣớc Indonesia
1.1.1. Khái quát về địa lý đất nước Indonesia
Indonesia là một quốc gia nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương gồm
13.487 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có người ở. Các hòn đảo nằm rải
rác ở cả hai phía đường xích đạo. Năm hòn đảo lớn nhất là Java, Sumatra,
Kalimantan (phần Borneo thuộc Indonesia), New Guinea (cùng chung với Papua
New Guinea), và Sulawesi. Indonesia có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn
đảo Borneo và Sebatik, Papua New Guinea trên đảo New Guinea, và Đông Timor
trên đảo Timor. Indonesia cũng có chung biên giới với Singapore, Malaysia, và
Philippines ở phía Bắc và Australia ở phía Nam bằng một dải nước hẹp [1]. Thủ đô,
Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phố lớn nhất nước, sau đó là Surabaya,
Bandung, Medan, và Semarang [1]. Với đặc điểm địa lý trên, Indonesia được mệnh
danh là "Xứ sở vạn đảo".
Với diện tích 1.919.440 km² (741.050 dặm vuông), Indonesia là nước đứng
thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền. Mật độ dân số trung bình là 134 người/
km² [3] (347 trên dặm vuông), đứng thứ 79[9] trên thế giới, dù Java, hòn đảo đông
dân nhất thế giới, có mật độ dân số khoảng 940 người trên km² (2.435 trên dặm
vuông)[2]. Các con sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm các sông
Mahakam và Barito; những con sông này là các đường giao thông quan trọng nối
giữa các khu định cư trên đảo[9].

Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á,
và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động
đất. Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động gồm cả Krakatoa và Tambora,
cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây phá hủy lớn trong thế kỷ XIX.
Vụ phun trào siêu núi lửa Toba khoảng 70.000 năm trước, là một trong những vụ

6


phun trào lớn nhất từng xảy ra, và là một thảm họa toàn cầu. Những thảm họa gần
đây liên quan tới hoạt động kiến tạo gồm vụ sóng thần năm 2004 đã giết hại tổng
cộng gần 230.000 người và khoảng 167.736 người tính riêng phía bắc Sumatra, và
trận động đất Yogyakarta năm 2006[1]
1.1.2. Khái quát về thể chế chính trị đất nước Indonesia
Thể chế chính trị đất nước Indonesia được khái quát như sau:
1.1.2.1. Chế độ chính trị
In-đô-nê-xi-a theo chế độ Cộng hòa, lấy Pancasila làm năm nguyên tắc làm
nề n tảng tư tưởng quốc gia (1- Tin vào một và chỉ một chúa trời; 2- Nhân đạo, công
bằng và văn minh; 3- Sự thống nhất In-đô-nê-xi-a; 4- Nền dân chủ được lãnh đạo
bởi sự sáng suốt trong sự nhất trí thông qua bàn bạc giữa những người đại diện và
5- Công bằng xã hội cho toàn thể nhân dân In-đô-nê-xi-a)[34].
1.1.2.2. Thể chế Nhà nước
Kể từ khi giành độc độc lập Indonesia đã 3 lần thay đổi hiến pháp. Hiến pháp
hiện nay là hiến pháp được thông qua năm 1945. Hiến pháp quy định Indonesia là
nước cộng hoà, quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, chế độ tổng thống là một thể
chế thiết yếu của chính thể. Hiến pháp trao cho Chính Phủ quyền sở hữu tài nguyên
và các lĩnh vực quan trọng khác; quy định thành lập một số cơ quan quan trọng của
nhà nước: Hội đồng tư vấn nhân dân; Tổng thống, Hạ Viện, Hội đồng cố vấn tối
cao. Tổng thống Indonesia là người có quyền lực rất lớn: thống lĩnh quân đội, tuyên
bố chiến tranh, hoà bình[34].

Năm 2002 Indonesia đã sửa đổi hiến pháp theo đó tổng thống sẽ do dân bầu
ra với nhiệm kì 5 năm.
 Cơ quan lập pháp: cơ quan lập pháp Indonesia có nét rất đặc thù, bao
gồm Hội đồng tư vấn nhân dân (MPR) và Hạ Viện (Quốc Hội). MPR là tổ chức
chính trị cao nhất có 1000 thành viên, trong đó có 500 hạ nghị sĩ, 100 đại biểu các
nhóm chức nghiệp, 100 đại biểu do Tổng thống chỉ định và đại diện cho các Đảng
phái. Nhiệm kì của MPR là 5 năm[34]. Từ năm 2000, MPR hàng năm họp để nghe

7


và thảo luận báo cáo việc thực hiện nghị quyết MPR của Tổng thống và các cơ quan
nhà nước khác. Hạ viện: gồm 500 thành viên, trong đó có 400 được dân bầu ra trực
tiếp còn 100 do Tổng thống lựa chọn và bổ nhiệm từ quân đội (năm 1997 số lượng
này rút xuống còn 75 người) nhiệm kì 5 năm. Hạ viện có 11 uỷ ban thường trực
đảm nhiệm công tác lập pháp, giám sát và ngân sách, 2 uỷ ban phụ trách công tác tổ
chức và hợp tác liên nghị viện. Theo Hiến pháp, Hạ viện có quyền đệ trình dự thảo
luật cho Tổng thống. Trên thực tế Tổng thống có thế có quyền tối đa trong Hạ viện
vì có sự ủng hộ từ phía quân đội.
 Cơ quan hành pháp: Ở Indonesia quyền hành pháp thuộc về chính phủ.
Tổng thống do dân bầu ra, là người có quyền hành pháp cao nhất. Tổng thống kiểm
soát các hoạt động của chính phủ và kiểm tra các lực lượng vũ trang; bổ nhiệm, bãi
chức các Bộ trưởng và những người trợ lí bộ trưởng[39]. Số thành viên trong chính
phủ không cố định, các bộ, các ngành được thành lập hay xoá bỏ tuỳ thuộc vào
hoàn cảnh cụ thể từng giai đoạn nhất định. Hiện nay Indonesia có khoảng 40 bộ,
ngoài ra còn có các Bộ trưởng điều phối (cơ quan ngang bộ) và Bộ trưởng nhà
nước. Các cơ quan nay có vai trò phụ trách một số ngành trong chính phủ. Ngoài ra
còn có hàng loạt các tổng cục, hoạt động trong nhiều lĩnh vực và chịu trách nhiệm
báo cáo trực tiếp với Tổng thống.
 Indonesia được chia thành 24 tỉnh, 2 vùng đặc biệt, và 1 thành phố thủ

đô[39]. Người đứng đầu một tỉnh là Thống đốc tỉnh. Thống đốc các tỉnh cũng do
Tổng thống bổ nhiệm sau khi có 2 hoặc 3 ứng cử viên được bầu ra và được cơ quan
lập pháp của tỉnh đệ trình Bộ trưởng Nội Vụ. Tất cả các viên chức nhà nước cao cấp
và các Thẩm phán đều chịu trách nhiệm trước Tổng thống. Các đảng phái chính trị:
Trước đây ngoài Golkar là đảng cầm quyền, các chính đảng của Indonesia được tập
hợp thành 2 đảng lớn (thực chất là liên minh nhiều đảng nhỏ) theo kế hoạch của
chính quyền để dễ kiểm soát.
 Hệ thống tƣ pháp: bao gồm Toà án (bao gồm cả Tòa án Hiến pháp),
công tố, kiểm sát theo mô hình Nhà nước Cộng hoà[34].

8


1.2. Tổng quan Bộ máy quản lý nhà nƣớc về biển, đảo của nƣớc Cộng
hòa Indonesia
Hiến pháp nước Cộng hòa Indonesia năm 1945 được phê chuẩn và có hiệu
lực vào ngày 18 tháng 8 năm 1945 có quy định về Bộ máy quản lý nhà nước
Indonesia về biển đảo bao gồm 13 cơ quan ban ngành có hoạt động chuyên môn
liên qua đến biển. Trong số đó có 07 cơ quan có lực lượng đặc nhiệm trong tuần tra
biển, đảo và 06 cơ qua khác không có lực lượng đặc nhiệm tuần tra trên các vùng
biển, đảo thuộc chủ quyền của Indonesia.
Các cơ quan thực thi pháp luật không có lực lượng đặc nhiệm tuần tra biển
là: Bộ Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Môi trường, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Năng lượng và Tài
nguyên Khoáng sản, Cơ quan Ma túy Quốc gia và Chính quyền địa phương.
Các cơ quan thực thi pháp luật có lực lượng đặc nhiệm tuần tra biển gồm:
Tổng cục Hải quân, Cảnh sát biển, Tổng cục Hải quan, Bộ giao thông vận tải
biển, Bộ Hàng hải và thủy sản, Cơ quan An ninh Hàng hải (Indonesia: Maritime
Security Agency of Republic Indonesia – BAKAMLA) và (Lực lượng đặc nhiệm
để loại bỏ đánh bắt bất hợp pháp). Bảy cơ quan thực thi pháp luật thực hiện các
cuộc tuần tra liên quan đến an ninh trên biển theo cách thức theo ngành phù hợp

với thẩm quyền.
Trong các cơ quan thực thi pháp luật có lực lượng đặc nhiệm tuần tra biển có
hai cơ quan chuyên trách nhất về biển đảo đó là Cơ quan An ninh Hàng hải Quốc
gia là một cơ quan tuần tra và cứu hộ hàng hải của Cộng hòa Indonesia và là một tổ
chức phi chính phủ báo cáo trực tiếp cho Tổng thống thông qua Bộ Điều phối Chính
trị, Pháp lý và An ninh và Lực lượng đặc nhiệm 115 (Lực lượng đặc nhiệm để loại
bỏ đánh bắt bất hợp pháp).
Nhiệm vụ chính của Cơ quan An ninh Hàng hải Quốc gia là tiến hành tuần tra
an ninh và an toàn ở các vùng biển của Indonesia và quyền tài phán của Indonesia.
Dưới đây là bản đồ thể hiện tổng quan các cơ quan thực thi pháp luật tại các
vùng biển, đảo của Indonesia:

9


Bản đồ 1.1. Bản đồ thể hiện tổng quan các cơ quan thực thi pháp luật tại các vùng
biển, đảo của Indonesia [36].
Ghi chú: NM: Ký hiệu đơn vị Hải lý
KRI

Ký hiệu tàu mang số hiệu Indonesia (Indonesian Republic Ship)

KKP

Bộ Hàng hải và thủy sản

DJBC

POLRIgiao
thông vận tải


Bộ giao thông vận tải biển

KN HUBLA

Tổng cục hải quan
Tổng cục hải quân

biển
BAKAMLA: Cơ quan An ninh Hàng hải

Dựa vào bản đồ phân bố lực lượng các cơ quan thực thi pháp luật tại các
vùng biển, đảo của Indonesia cho thấy các tàu mang số hiệu Indonesia (KRI Indonesian Republic Ship) được phép hoạt động từ Vùng nội thủy, sang lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và vùng biển quốc tế tuân thủ theo luật pháp quốc tế. Tàu
biển thuộc quản lý của Bộ hàng hải và thủy sản (KKP) được phép hoạt động trong
khu vực vùng nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Tàu thuyền thuộc quản
lý của Tổng cục hải quan được phép hoạt động trong Vùng nội thủy và lãnh hải. Cơ
quan An ninh Hàng hải là một cơ quan phi chính phủ nhưng được Nhà nước

10


Indonesia trao quyền hoạt động rộng khắp từ vùng nội thủy đến vùng biển quốc tế.
Khi thực hiện nhiệm vụ và chức năng của mình, Cơ quan An ninh Hàng hải được ủy
quyền: Có quyền tự quyết định đuổi ngay lập tức tàu thuyền nước ngoài đi vào vùng
biển đảo Indonesia; Miễn nhiệm, kiểm tra, bắt giữ, mang và giao tàu cho cơ quan có
thẩm quyền được uỷ quyền tiếp tục tố tụng; và tích hợp các hệ thống thông tin an
ninh và an toàn trong lãnh hải của Indonesia và quyền tài phán của Indonesia.
1.3. Tổng quan một số quy định trong luật biển, đảo của Indonesia qua
các thời kỳ và lƣợc sử ra đời của chính sách “Trục biển toàn cầu”

1.3.1. Tổng quan hệ thống pháp luật về biển đảo của Indonesia
1.3.1.1. Pháp lệnh khu đặc quyền kinh tế về hàng hải và môi trường hàng hải [15]
Pháp lệnh khu kinh tế đặc quyền về hàng hải và môi trường hàng hải là Quy
tắc cai trị Indonesia của thực dân Hà Lan có hiệu lực từ năm 1939 đến năm 1957.
Trong quy tắc này, có nêu lên nội dung về thành lập vùng lãnh hải của Đông Ấn Hà
Lan Indonesia cách đường cơ sở bằng đường cơ sở bình thường 4,8 km[33].
Trước năm 1957 trong việc xác định mức độ của vùng biển Indonesia dựa trên
khu kinh tế độc quyền hàng hải và môi trường hàng hải (Pháp lệnh 1939 Số
442). Trong điều khoản của a) Pháp lệnh khu kinh tế độc quyền hàng hải và môi
trường hàng hải vào năm 1939 nó chứa 4 nhóm về vùng biển của Indonesia bao gồm:
Lãnh hải của Indonesia; Vùng lãnh hải của Đông Ấn Hà Lan (Bao gồm phần biển
lãnh hải nằm bên bờ biển bờ biển, các khu vực hoang dã của vịnh, hốc biển, cửa sông
và con kênh; Tất cả các vùng biển nằm trên lãnh hải biển Indonesia (bao gồm sông,
kênh đào và hồ, và đầm lầy Indoneasia); Vùng biển nội địa của Indonesia.[33]
Sự phân chia lãnh hải của Indonesia dựa trên Pháp lệnh khu kinh tế độc
quyền hàng hải và môi trường hàng hải từ năm 1939 diễn ra cho đến năm 1957 và
sau đó đã trải qua một sự thay đổi cơ bản với Tuyên bố Chính phủ phổ biến ngày 13
tháng 12 năm 1957 là "Quy tắc Đông Ấn Hà Lan". Với quy tắc Đông Ấn Hà Lan
cho rằng “Đảo Bintan” được gọi là quần đảo, và sau đó chính quyền Indonesia ban
hành ra Luật số 4 năm 1960[16] về vùng biển của Indonesia. Kể từ đó, việc sắp xếp
các vùng biển của Indonesia không còn được hướng dẫn bởi các quy định pháp lý

11


của Pháp lệnh khu kinh tế độc quyền hàng hải và môi trường hàng hải năm 1939 mà
là một sản phẩm hợp pháp của di sản Hà Lan. Sự sắp xếp của vùng biển Indonesia ít
nhất đã được phát triển dựa trên quan niệm về lợi ích quốc gia của Indonesia. Về
điều này, Frans E.Likadja và Daniel F Bessie lập luận rằng tất cả các công thức này
(công thức mở -Pháp lệnh khu kinh tế độc quyền hàng hải và môi trường hàng hải),

đặc biệt là phần đầu tiên của công thức quy định về vùng đặc quyền kinh tế mở
hoàn toàn không tương thích với bản chất của cuộc đấu tranh quốc gia và những lý
tưởng của Tuyên ngôn của Nhà nước độc lập của nước Cộng hoà Indonesia[34].
Từ sự phát triển lịch sử của luật vùng biển Indonesia cho thấy hệ thống lãnh
hải của Indonesia đã trải qua những thay đổi phát triển và cơ bản ảnh hưởng đến sự
phát triển của luật biển quốc tế, từ đó đã mang lại những thay đổi cho hệ thống luật
biển quốc tế vào cuối thế kỷ XX.
Bản sửa đổi có liên quan đến việc ban hành “Quy tắc Đông Ấn Hà Lan[34]”
của Chính phủ ngày 13 tháng 12 năm 1957 liên quan đến quan niệm quần đảo, sau
này được đưa vào Luật số 4 của năm 1960 do chính phủ nước Cộng hòa Indonesia
ban hành ngày 20 tháng 01 năm 1960 Quy định của Chính phủ về Luật pháp liên
quan đến vùng biển của Indonesia[12]. Kể từ khi "Quy tắc Đông Ấn Hà Lan" hoặc
Quy định của Chính phủ về Luật pháp liên quan đến vùng biển của Indonesia ra đời,
sau đó; a) chiều rộng của lãnh hải Indonesia thay đổi thành 12 hải lý so với trước đó
3 hải lý; b) xác định chiều rộng lãnh hải được đo từ đường thẳng nối các điểm ngoài
cùng của các hòn đảo ngoài cùng của Indonesia, và trước đó được đo từ đường cơ
sở sử dụng dòng nước thấp (thủy triều) theo bờ biển của mỗi đảo Indonesia; (c) Tất
cả các vùng nước nằm ở phía bên trong của đường thẳng sẽ thay đổi trạng thái của
chúng từ lãnh hải hoặc biển cả vào vùng biển nội địa, nơi chủ quyền của tiểu bang
trên mặt nước thực tế giống như cedaultan của tiểu bang trên đất liền.
Mặc dù nó là một sản phẩm của chính phủ thuộc địa, tuy nhiên quy tắc Đông
Ấn Hà Lan khá bền trong việc quản lý khu vực biển rộng lớn của Indonesia, và
được chú ý hơn vào thời điểm đó.

12


Bản đồ 1.2. Bản đồ Sự phân chia lãnh hải của Indonesia năm 1939[38]
1.3.1.2. Đạo luật về vùng biển, đảo Indonesia[17]
Từ sau “Quy tắc Đông Ấn Hà Lan” được ban hành trước đó, chính phủ cảm

thấy rằng quy định Lãnh thổ biển và Pháp lệnh vòng tròn hàng hải đã làm Indonesia
như một quốc gia tách biệt. Để tăng cường Quy tắc này, chính phủ Indonesia đã ban
hành nó trong Luật số 4 về Vùng biển của Indonesia 1960 do chính phủ nước Cộng
hòa Indonesia ban hành ngày 20 tháng 01 năm 1960 Quy định của Chính phủ về Luật
pháp liên quan biển, đảo của Indonesia. Tuyên bố và Luật này gồm 4 điều, cụ thể là:
1. Indonesia là một quốc gia quần đảo bao gồm hàng ngàn hòn đảo, đại dương,
các bộ lạc, dân tộc, các nền văn hóa khác nhau và tất cả các tài nguyên thiên nhiên của
Indonesia phải được hợp nhất không thể phân chia.
2. Lãnh hải Indonesia là một đường biển rộng bằng mười hai hải lý có đường
viền được đo vuông góc với đường cơ sở hoặc điểm trên đường cơ sở gồm các
đường thẳng nối các điểm ngoài cùng của đường nước thấp thay vì các đảo hoặc
một phần của các hòn đảo ngoài cùng trên lãnh thổ Indonesia cho rằng nếu có một
eo biển có chiều rộng không vượt quá 24 hải lý và Nhà nước Indonesia không phải
là quốc gia ngoại vi duy nhất, thì ranh giới hàng hải của lãnh thổ Indonesia được vẽ
ở giữa eo biển.

13


3. Indonesia tôn trọng Quyền thương mại trên các tàu nước ngoài ở vùng
biển Indonesia.
4. Việc xác định ranh giới hàng hải lãnh thổ như đã nêu trong Pháp lệnh khu
kinh tế độc quyền hàng hải và môi trường hàng hải không còn phù hợp với tình hình
hiện tại. Indonesia thông qua việc thu hồi pháp lệnh Lãnh thổ biển và Pháp lệnh
vòng tròn hàng hải và tuyên bố không còn hợp lệ nữa.
Ngày 8 tháng 8 năm 1996, Luật số 6 năm 1996 do chính phủ nước Cộng hòa
Indonesia ra đời thay thế Luật số 4 về Vùng biển của Indonesia 1960 do chính phủ
nước Cộng hòa Indonesia ban hành ngày 20 tháng 01 năm 1960.
Luật này bao gồm 7 chương và 27 điều, về cơ bản tái khẳng định các quy tắc
được đưa ra trong Quy tắc Đông Ấn Hà Lan, Luật số 4 về Vùng biển Indonesia

1960, và Luật số 17 năm 1985[8]. Và trong điều 26 nó được xác nhận luật này thay
thế Luật số 4 về Vùng biển của Indonesia năm 1960[39]
Điều mới được quy định trong luật này bao gồm: Quyền quản lý, sử dụng (Điều
18- Điều 19);Quyền chuyển tiếp (Điều 20- Điều 21); Quyền tiếp cận truyền thông
(Điều 22); Quyền khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên trên biển của Indonesia
(Điều 23); Quyền thực thi chủ quyền của Indonesia trong vùng biển Indonesia (Điều
24); Thay thế Luật số 4 Vùng biển của Indonesia năm 1960 (Điều 26)”[40].
1.3.1.3. Đạo luật về quyền chủ quyền trong thềm lục địa của Indonesia[21]
Đạo luật về quyền chủ quyền trong thềm lục địa của Indonesiado chính phủ
nước cộng hòa Indonesia ban hành ngày 06 tháng 01 năm 1975, trước khi khởi đầu
UNCLOS 1982. Luật này bao gồm 8 chương và 14 điều, nêu rõ điều khoản mà
Indonesia có quyền chủ quyền và độc quyền trong thềm lục địa của Indonesia và
việc sử dụng nó phải tuân thủ các quy định của pháp luật Indonesia. Nội dung của
luật này chủ yếu về các điều khoản chính như là Định nghĩa của thềm lục địa
(chương 1); Chủ quyền hiện hành trên thềm lục địa (chương 2-3); quyền khai thác
và khám phá thềm lục địa (chương 4-5); Xây dựng các công trình lắp đặt và đảo
nhân tạo (chương 6-7); Ô nhiễm và bảo vệ tài sản biển (chương 8); Các điều khoản
hình sự khi có vi phạm (Điều 11-12).

14


1.3.1.4. Đạo luật về Khu kinh tế đặc quyền Indonesia (EEZ)[40]
Ngày 18 tháng 10 năm 1983 Chính phủ Cộng hòa Indonesia ban hành Luật
số 5 năm 1983 quy định về Khu kinh tế đặc quyền Indonesia. Luật này đã được
thông qua vào năm 1983, hai năm trước khi Indonesia phê chuẩn UNCLOS 1982.
Điều đó có nghĩa rằng Indonesia đã áp dụng một số quy định của luật biển mà sau
đó được quy định trong UNCLOS 1982.
Nội dung của Luật này, bao gồm 9 chương và 21 Điều, Bao gồm: Khái niệm
về Vùng đặc quyền kinh tế và các quyền gắn liền với nó (chương 2-4); Các hoạt

động có thể được thực hiện trong Vùng đặc quyền kinh tế (chương 5-8); Thi hành
luật dân sự (chương 9-12); Thi hành luật hình sự (chương 13-18).
1.3.1.5. Đạo luật về hợp pháp hoá UNCLOS 1982[23]
Đạo luật về hợp pháp hoá UNCLOS 1982 do chính phủ nước Cộng hòa
Indonesia ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1985 đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp
Quốc về Luật biển UNCLOS 1982. Luật này bao gồm hai điều khoản quy định rằng
chính phủ Indonesia chấp nhận và cho phép UNCLOS 1982 trở thành Luật áp dụng
ở Indonesia. Với việc UNCLOS 1982 có hiệu lực, điều đó có nghĩa là vùng biển
thuộc chủ quyền của Indonesia (không phải là vùng biển nội địa, lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa trước đó được thiết lập theo luật quốc gia), cộng
với Khu vực tiếp giáp. Ngoài ra, UNCLOS 1982 cũng quy định các quyền và nghĩa
vụ của các quốc gia trên biển không thuộc chủ quyền quốc gia, cụ thể là biển
cả (biển cả) và diện tích (Khu vực).
1.3.1.6. Đạo luật về quản lý nghề cá và các hoạt động liên quan đến Nghề cá [24]
Đạo luật về quản lý nghề cá và các hoạt động liên quan đến Nghề cá được
chính phủ nước Cộng hòa Indonesia ban hành ngày 29 tháng 10 năm 2009 sửa đổi
thay thế Luật số 31 năm 2004 hay còn gọi là Luật số 45 năm 2009. Cả hai luật này
đều điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đến quản lý nghề cá, bao gồm: Câu cá (số
lượng và loài cá); Nuôi cá; Dụng cụ câu cá (loại và kích cỡ dụng cụ); Khu vực đánh
cá; Công ty đánh cá; Bảo vệ một số loại nhất định; Tàu cá; Kiểm soát thủy sản; Tòa
án giải quyết những vụ việc vi phạm.

15


1.3.1.7. Đạo luật về hoạt động quản lý vùng ven biển và quần đảo nhỏ[12]
Luật số 1 năm 2014 do nước Cộng hòa Indonesia ban hành ngày 15 tháng 01
năm 2014 thay thế Luật số 27 năm 2007 quy định các quyền và quyền hạn của việc
sử dụng và quản lý các khu vực ven biển và các đảo nhỏ thuộc sở hữu của Nhà
nước, và trong việc thực thi nó được để lại cho các cá nhân và phù hiệu kinh

doanh. Một số điều trong Luật số 27 năm 2007 bị thu hồi và sửa đổi trong Đạo luật
số 1 năm 2014.[30]
Quá trình quản lý và sử dụng các khu vực ven biển và các đảo nhỏ theo hai
Luật này là: Chỉnh sửa lại (Điều 5) gồm: Kế hoạch chiến lược cho vùng ven biển và
quần đảo nhỏ; Kế hoạch phân vùng vùng ven biển và quần đảo nhỏ; Kế hoạch quản
lý vùng biển và quần đảo nhỏ; Kế hoạch hành động cho vùng ven biển và quần đảo
nhỏ và thay thế từ Điều 16- đến Điều 35, bao gồm: Quyền của vùng biển ven biển;
Quyền sử dụng của các đảo nhỏ và vùng lân cận; bảo tồn; phục hồi; khai thác và bổ
sung Giám sát và kiểm soát tại Điều 36 được thực hiện bởi một số công dân được
trao các quyền hạn đặc biệt như nhân viên cảnh sát[12].
1.3.1.8. Luật Bảo vệ và Quản lý Môi trường biển đảo[45]
Vào ngày 11 tháng 12 năm 1982, Công ước liên hợp quốc về Luật Biển
(UNCLOS 1982) ra đời là một thỏa thuận quốc tế như là kết quả của các cuộc đàm
phán giữa hơn một trăm quốc gia, cụ thể, UNCLOS 1982 quy định quyền và nghĩa
vụ, chủ quyền, quyền chủ quyền và thẩm quyền của các nước trong việc sử dụng và
quản lý biển.
Việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển được quy định trong Chương XII
của UNCLOS 1982 (tập trùng từ Điều 193-Điều 237).
Điều 192 quy định rằng mọi quốc gia đều có nghĩa vụ bảo vệ và bảo tồn môi
trường biển. Điều 193 vạch ra các nguyên tắc quan trọng trong việc sử dụng các
nguồn lực trong môi trường biển, nguyên tắc nêu rõ: mọi quốc gia đều có quyền chủ
quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên phù hợp với chính sách môi trường và các
nghĩa vụ bảo vệ và bảo tồn môi trường biển.

16


Công ước 1982 về Luật Biển yêu cầu mỗi Nhà nước nỗ lực ngăn chặn, giảm
thiểu và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ mọi nguồn ô nhiễm, chẳng hạn như ô
nhiễm từ việc xử lý chất thải nguy hại và độc hại có nguồn gốc từ nguồn đất liền

(nguồn đất), từ tàu, từ các công trình thăm dò và khai thác. Trong các nỗ lực khác
nhau để ngăn chặn, giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm môi trường, mỗi quốc gia phải
hợp tác cả khu vực và toàn cầu theo quy định tại Điều 197-Điều 201 của Công ước
Luật Biển 1982.
Trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ và bảo tồn môi trường biển, mỗi nước
phải hợp tác cả khu vực và trên toàn cầu. Yêu cầu hợp tác khu vực và toàn cầu (hợp
tác toàn cầu và khu vực) được quy định tại Điều 197- Điều 201 của Công ước về
Luật biển 1982. Điều 197 của Công ước ghi: "Các nước phải hợp tác toàn cầu và
khu vực trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức quốc tế xây dựng và giải thích các quy
định và tiêu chuẩn quốc tế cũng như các thủ tục và thực tiễn được khuyến nghị phù
hợp với Công ước bảo vệ và bảo tồn môi trường biển bằng cách tính đến các điều
kiện khu vực này.
Hợp tác khu vực và toàn cầu có thể dưới hình thức hợp tác trong thông báo ô
nhiễm biển, giảm thiểu nguy cơ xảy ra ô nhiễm biển, thiết lập ứng phó khẩn cấp (kế
hoạch chống ô nhiễm), nghiên cứu, trao đổi thông tin và dữ liệu và đưa ra các tiêu
chí khoa học (tiêu chí khoa học) để điều chỉnh các thủ tục và thực hành phòng ngừa,
giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển theo Điều 198-201 của Công ước
Luật Biển 1982. Ngoài ra, Điều 207-212 của Công ước 1982 về Luật Biển yêu cầu
mọi Nhà nước phải thực hiện luật và quy định phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm
biển từ các nguồn ô nhiễm khác nhau, như các nguồn ô nhiễm trên đất liền, ô nhiễm
từ các hoạt động đáy biển trong phạm vi quyền lực quốc gia, ô nhiễm từ các hoạt
động trong khu vực (ô nhiễm từ hoạt động trong khu vực), ô nhiễm từ tàu và ô
nhiễm không khí (ô nhiễm từ hoặc qua khí quyển).
Ngày 31 tháng 12 năm 1985 Indonesia đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp
Quốc về Luật biển UNCLOS 1982 công nhận và áp dụng các điều khoản đã quy
định lại công ước này về bảo vệ môi trường và quản lý môi trường biển đảo.

17



×