ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THÚY HIỀN
THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1
HÀ NỘI - 2018
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THÚY HIỀN
THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. LÊ CẢM
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực khoa học,
đồng thời tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học
của luận văn này. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã
thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thúy Hiền
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
TTHS
XHCN
Bộ luật hình sự
Tố tụng hình sự
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi nhận: “Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân
dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [38; Điều 2]. Một nhà nước dân chủ tiến bộ là
một nhà nước tồn tại trên cơ sở hướng tới việc bảo đảm các lợi ích của con
người, hạnh phúc của con người là thước đo mọi giá trị của cuộc sống.
Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam thể hiện rõ bản chất Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Trong nhà nước pháp quyền, sự nghiêm minh
của pháp luật luôn được đề cao nhưng pháp luật lại vì con người, hướng đến
mục đích cao cả nhất là đem lại lợi ích và công lý cho con người chính vì thế
mà pháp luật luôn mang tính nhân đạo sâu sắc.
Đối với tội phạm, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta không
chỉ tuân theo nguyên tắc pháp chế mà còn thể hiện nguyên tắc nhân đạo sâu
sắc, đó là trừng trị kết hợp với giáo dục. Thông qua hình phạt, Nhà nước vừa
nhằm trừng trị, răn đe kết hợp giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở
thành người lương thiện, qua đó cũng giáo dục người khác có ý thức tuân thủ
pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Vì vậy, Nhà nước và
pháp luật không bắt buộc người phạm tội phải chấp hành toàn bộ bản án phạt
tù đã tuyên trong các cơ sở giam giữ khi mà người đó thực sự ăn năn hối cải,
mong muốn sớm làm lại cuộc đời, đóng góp cho gia đình, xã hội. Tha tù trước
thời hạn có điều kiện là một chế định cho phép người phạm tội được trả tự do,
chấp hành phần còn lại của bản án phạt tù tại cộng đồng dưới sự giám sát,
giáo dục của cơ quan có thẩm quyền khi thỏa mãn những điều kiện nhất định.
Thể chế hóa các chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 08/NQ-TW về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới ngày
02/01/2002; Nghị quyết số 48/NQ-TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
5
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 ngày
24/5/2005 và thực hiện các nhiệm vụ về cải cách tư pháp mà Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 đã đề ra, trong đó có nhiệm vụ: “Coi trọng việc hoàn thiện
chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và
tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng
áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại
tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với
một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối
đa quá cao trong một số loại tội phạm”.
Bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
năm 2013 về tăng cường bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền tự do.
Đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan
niệm về tội phạm và hình phạt, về chính sách xử lý đối với một số loại tội
phạm và loại chủ thể phạm tội, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm
lập pháp hình sự của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc
kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện tạm tha của một số nước trên thế giới.
Tạm tha là một biện pháp trong thi hành án phạt tù đã được nhiều nước trên
thế giới áp dụng, kể cả những nước phát triển (Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan,
Thụy Sỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…) hay ở những nước đang phát triển (Trung
Quốc, Thái Lan…) với nhiều hình thức và điều kiện cụ thể khác nhau của mỗi
nước. Đây là xu hướng tất yếu của công tác thi hành án phạt tù, coi trọng giáo
dục hơn giam giữ; phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế theo tinh thần của
Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Những người bị
tước tự do phải được đối xử nhân đạo… Việc đối xử với tù nhân trong hệ
thống trại giam nhằm mục đích chính yếu là cải tạo và đưa họ trở lại xã hội”
6
và “Phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tái hòa nhập xã hội của những người
nguyên là tù nhân theo những điều kiện tốt nhất có thể, với sự tham gia và
giúp đỡ của cộng đồng và các tổ chức xã hội” được nêu trong “Những nguyên
tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân” năm 1990 của Liên hợp quốc.
Cũng chính xuất phát từ thực tiễn công tác thi hành án phạt tù: Trong 10
năm thi hành Luật Đặc xá, Chủ tịch nước đã 07 lần ban hành quyết định về
đặc xá nhân các ngày lễ lớn, sự kiện trọng đại của đất nước. Cấp giấy xác
nhận kết quả thi hành án cho 86.828 trường hợp. Theo báo cáo của công an
các địa phương, trong tổng số 87.020 người được đặc xá, đa số đã về đúng địa
chỉ cư trú và đều được công an địa phương hướng dẫn, đăng ký hộ khẩu, cấp
giấy tờ tùy thân [27, tr.86]. Trong đó phần lớn đã ổn định cuộc sống, không vi
phạm pháp luật và tái phạm tội, gần 50.000 người được đặc xá đã có việc làm
và thu nhập ổn định. Công tác đặc xá tha tù trước thời hạn phục vụ tốt yêu cầu
chính trị, pháp luật, nghiệp vụ. Tuy nhiên, do đối tượng đặc xá tha tù trước
thời hạn với số lượng lớn, diện đối tượng rộng chưa thể hiện đầy đủ ý nghĩa
đặc ân của Nhà nước ta đối với người phạm tội. Mặt khác, Luật đặc xá và các
văn bản pháp luật có liên quan bộc lộ một số hạn chế như: Về thời gian tổ
chức thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước: Qua 7 đợt thực hiện cho
thấy, việc tổ chức triển khai đều gấp rút trong khoảng thời gian ngắn nên chất
lượng tham mưu, thẩm định cũng như trong việc thực hiện chức năng kiểm
sát việc lập hồ sơ đề nghị đặc xá gặp khó khăn [24; tr. 33]. Người được đặc xá
tha tù trước thời hạn là người đã được pháp luật chấp nhận chấp hành xong
bản án, không còn điều kiện, quy định pháp lý nào ràng buộc nên một số đối
tượng không chịu tiếp tục phấn đấu, rèn luyện dẫn đến tái phạm. Trong tổng
số 87.020 người được đặc xá từ năm 2009 đến nay vẫn có 1.007 người có
hành vi vi phạm pháp luật, tái phạm tội, chiếm tỉ lệ 1,16% [27, tr. 87]. Dư
luận xã hội còn một bộ phận có ý kiến chưa đồng thuận cao với việc tha trước
7
thời hạn cho phạm nhân mà không có điều kiện, chế định pháp lý ràng buộc
nên tính nghiêm minh của pháp luật bị hạn chế. Chưa có nội dung quy định về
điều kiện, tiêu chuẩn đặc xá đối với trường hợp đặc biệt là người đang được
hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù [43].
Cùng với đó, trong những năm qua, tình hình tội phạm có diễn biến vô
cùng phức tạp, số lượng người bị kế án phạt tù tăng lên. Từ năm 2008 đến
năm 2015, bình quân hàng năm, số lượng người có án phạt tù tăng khoảng 10
– 12%. Trước khi đặc xá năm 2015, các trại giam quản lý, giam giữ 142.625
phạm nhân. Mặc dù tháng 9 năm 2015, Chủ tịch nước đã Quyết định đặc xá
tha tù trước thời hạn cho 18.298 người nhưng tính đến tháng 12 năm 2015,
các trại giam thuộc Bộ Công an vẫn đang quản lý, giam giữ 129.180 phạm
nhân (115.299 nam, 13.881 nữ); các trại tạm giam, nhà tạm giữ quản lý, giam
giữ 4.803 phạm nhân; số đối tượng bị kết án tù đang hoàn thiện thủ tục để thi
hành án là 16.359 người. Việc phạm nhân vào trại giam tăng đã gây áp lực lớn
về ngân sách xây dựng cơ sở vật chất, chi phí cho việc quản lý, giáo dục, thực
hiện chế độ, chính sách đối với phạm nhân và biên chế cán bộ. Hiện nay,
Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (TC8) – nay là Cục
Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (C10)
quản lý 53 trại giam, theo quy mô được Bộ Công an phê duyệt gồm 165 phân
trại, nhưng tính đến năm 2015 mới có 75/165 phân trại được đầu tư xây dựng,
cải tạo nâng cấp và 25 phân trại đang trong quá trình đầu tư cải tạo nâng cấp,
còn lại 59 phân trại chưa được đầu tư xây dựng, cải tạo bảo đảm giam giữ
theo quy mô, gồm: 17 phân trại phải xây dựng mới; 42 phân trại phải cải tạo
nâng cấp để bảo đảm giam giữ theo quy mô. Trong khi đó, để đầu tư xây dựng
mới 01 phân trại quy mô giam giữ 1.000 phạm nhân, cần kinh phí khoảng 100
tỷ đồng và biên chế khoảng 215 cán bộ, chiến sĩ để quản lý giam giữ và giáo
dục cải tạo phạm nhân. Ngoài ra, còn các chi phí về đầu tư cơ sở vật chất
8
phục vụ việc tổ chức học tập, hướng nghiệp, dạy nghề, sinh hoạt, khám chữa
bệnh… cho phạm nhân. Trong những năm qua, mặc dù đã được Nhà nước
quan tâm cùng với sự nỗ lực cố gắng của các đơn vị, nhưng đến nay vẫn gặp
rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách, pháp luật đối
với phạm nhân [43].
Nhằm thực hiện những yêu cầu, những đòi hỏi trên, BLHS năm 2015 đã
bổ sung thêm một quy định mới, một chính sách hình sự mới thể hiện rõ nét
sự nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam đó là Tha tù trước thời hạn có
điều kiện.
Trong suốt hơn 30 năm lịch sử kể từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực thì
tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII
(Quốc hội) đã thông qua BLHS số 100/2015/QH13, Bộ luật TTHS số
101/2015/QH13. Lần đầu tiên chế định Tha tù trước thời hạn có điều kiện
được quy định trong BLHS và Bộ luật TTHS Việt Nam (Điều 3, Điều 66,
Điều 106 BLHS số 100/2015/QH13 và Điều 368 Bộ luật TTHS số
101/2015/QH13). Ngày 29/6/2016, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLHS số 100/2015/QH13,
Bộ luật TTHS số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số
99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung
dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 vào
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016. Trong đó, khoản 2 Điều 1
Nghị quyết số 144/2016/QH13 quy định: “Lùi hiệu lực thi hành của BLHS số
100/2015/QH13, Bộ luật TTHS số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan
điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số
94/2015/QH13 từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, trừ quy định
tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều này”. Điểm a khoản 4 quy định: “Kể từ
9
ngày 01 tháng 7 năm 2016: Thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội
tại khoản 3 Điều 7 BLHS số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị
quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS; tiếp tục áp dụng khoản 2
Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số
109/2015/QH13”. Khoản 3 Điều 7 BLHS số 100/2015/QH13 quy định: “Điều
luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng…, loại trừ
trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có
điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì
được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có
hiệu lực thi hành”. Theo các quy định nêu trên thì tha tù trước thời hạn có
điều kiện được áp dụng kể từ ngày 01/7/2016 để bảo đảm quyền lợi đối với
người bị kết án phạt tù đang chấp hành án ở các cơ sở giam giữ [43].
Trước tình hình trên đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu, tìm hiểu
làm rõ để xây dựng những nội dung về tha tù trước thời hạn có điều kiện
cho phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “ Tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt Nam” là cần thiết trong
tình hình hiện nay.
Mặc dù trong pháp luật hình sự Việt Nam, ở các mức độ khác nhau
có đề cập đến chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện ở hai góc độ
gồm người từ đủ 18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi, tuy nhiên, do tính
chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của vấn đề nghiên cứu nên trong
khuôn khổ phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đề cập đến
những vấn đề chung đối với người phạm tội mà không có sự phân biệt
đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi, đồng thời
trong quá trình nghiên cứu về chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện
có liên quan đến phần thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc
phạm vi quy định của Bộ luật TTHS năm 2015.
10
2. Tình hình nghiên cứu
Là chế định thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự và nguyên
tắc nhân đạo của luật thi hành án hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện là
một chế định có sự quan hệ chặt chẽ mật thiết với chế định giảm thời hạn
chấp hành hình phạt tù, miễn chấp hành hình phạt và một số chế định khác
của luật hình sự và luật thi hành án hình sự, vì vậy, chế định này ở các mức độ
khác nhau đã được một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
pháp lý mà ở các mức độ khác nhau có liên quan tới nội dung tha tù
trước thời hạn có điều kiện như:
- GS.TSKH Lê Cảm, sách chuyên khảo: “Nhận thức khoa học về
Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba”,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2018.
- Lê Trung Kiên, “Tha tù trước thời hạn có điều kiện trong mối
quan hệ với đặc xá và một số kiến nghị” - Tạp chí nghiên cứu lý luận,
nghiệp vụ, khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân số 07(95) năm
2017.
- Lê Thị Vân Anh, “Tha tù trước thời hạn có điều kiện” - Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 8 năm 2014.
Tuy nhiên, khái quát tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác
giả cho thấy nội dung về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong các
công trình này mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên các tạp chí khoa
học pháp lý chuyên ngành hay việc giải quyết một phần nội dung tương
ứng mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu có hệ
thống, độc lập, có sự đánh giá, tổng kết thực tiễn chi tiết về tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong pháp luật Việt Nam.
11
Với tình hình nghiên cứu trên đây một lần nữa cho phép khẳng định việc
nghiên cứu đề tài “Tha tù trước thời hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt
Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa cả mặt lý luận lẫn thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tha
tù trước thời hạn có điều kiện dưới khía cạnh lập pháp hình sự và TTHS, đối
chiếu với việc áp dụng chế định này trong thực tiễn, từ đó luận văn tổng kết,
đúc rút kinh nghiệm để đưa ra những phương hướng nhằm hoàn thiện các quy
định về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong luật hình sự và luật TTHS
Việt Nam đồng thời đề xuất những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả áp
dụng chế định này trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử hình thành phát triển của
chế định về tha tù trước thời hạn có điều kiện của luật hình sự và luật TTHS
Việt Nam, phân tích khái niệm, bản chất và ý nghĩa của việc tha tù trước thời
hạn có điều kiện cũng như so sánh giữa tha tù trước thời hạn có điều kiện với
các chế định gần giống khác trong pháp luật Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp
luật về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thực tiễn ở nước ta, đồng thời,
phân tích những tồn tại xung quanh những quy định về tha tù trước thời hạn
có điều kiện và thực tiễn áp dụng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện
từ khi BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực pháp luật
nhằm đề xuất và luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về chế định này của pháp luật
về thi hành án hình sự Việt Nam.
12
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tha tù trước thời hạn có điều kiện dưới góc độ luật hình sự và luật TTHS cụ
thể là: khái niệm về tha tù trước thời hạn có điều kiện; bản chất và hậu quả
pháp lý của tha tù trước thời hạn có điều kiện; ý nghĩa của tha tù trước thời
hạn có điều kiện; các quy phạm thực định về tha tù trước thời hạn có điều
kiện; thực tiễn áp dụng các quy phạm về tha tù trước thời hạn có điều kiện từ
đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp về mặt lập pháp cũng như các biện pháp
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về tha tù trước thời
hạn có điều kiện trong pháp luật Việt Nam.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tha tù trước
thời hạn có điều kiện dưới góc độ luật hình sự Việt Nam, tuy nhiên có phần
thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện không tránh khỏi có liên quan tới
luật TTHS nhằm giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, do
tính chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của vấn đề nghiên cứu nên trong
khuôn khổ phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đề cập đến những vấn
đề chung đối với người phạm tội mà không có sự phân biệt đối với người từ
đủ 18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy phạm pháp
luật về tha tù trước thời hạn có điều kiện từ khi BLHS năm 2015 có hiệu
lực thi hành.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta
về phòng và đấu tranh chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật. Nội
dung của luận văn cũng quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của các Nghị
quyết Đại hội Đảng IX, X, XI, XII và các Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày
01/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải
13
cách tư pháp đến năm 2020 ngày 26/5/2005. Luận văn cũng kế thừa và vận
dụng những thành tựu của các bộ môn khoa học pháp lý chuyên ngành như:
lịch sử Nhà nước và pháp luật; lý luận về Nhà nước và pháp luật; luật hình sự;
luật TTHS; tội phạm học; triết học.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhằm tiếp cận và làm sáng tỏ về mặt
lý luận từng vấn đề tương ứng, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp;
phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy
nạp; phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia…
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật
học về chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện dưới góc độ pháp lý hình sự
và TTHS trong suốt hơn 30 năm qua (kể từ khi thông qua BLHS năm 1985).
Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp
phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển lý luận về tha tù trước thời hạn có
điều kiện giúp cho việc áp dụng chế định này được chính xác. Ngoài ra, luận
văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự nói riêng và
cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan Công an, Viện kiểm sát,
Tòa án.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung, Mục lục, Danh mục tài liệu tham
khảo và Danh mục các từ viết tắt, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung về tha tù trước thời hạn có điều kiện
Chương 2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số nước trên
thế giới về tha tù trước thời hạn có điều kiện và thực tiễn áp dụng tại nước ta
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
14
THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
1.1. Khái niệm tha tù trước thời hạn có điều kiện
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một giải pháp cho phép đưa người
phạm tội bị xử phạt tù quay trở về với cộng đồng sớm hơn để sửa chữa lỗi
lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội.
Đây là một biện pháp được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới dưới các tên
gọi như phóng thích có điều kiện hay trả tự do có điều kiện. Việc bổ sung chế
định này sẽ đáp ứng được mục tiêu về cải cách tư pháp về nâng cao hiệu quả
phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội, cho phép người
đang chấp hành hình phạt tù được sớm quay trở lại với cộng đồng, vừa đặt ra
các điều kiện chặt chẽ để thử thách người phạm tội, có tác dụng giúp đỡ
người đó sống có trách nhiệm, có kỷ luật, tăng quyết tâm sửa chữa lỗi lầm,
khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Do vậy, chế định tha tù trước
thời hạn có điều kiện sẽ có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa tái phạm,
khuyến khích gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng tham gia vào việc giáo
dục, phục hồi đối với người bị kết án, phù hợp với chủ trương xã hội hóa công
tác thi hành án của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời phù hợp với truyền thống
đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc ta. Như vậy, hàng năm sẽ có một lượng
lớn người đang chấp hành án phạt tù được trả tự do sau khi áp dụng quy định này,
đây là cơ hội để giảm tình trạng quá tải trong các cơ sở giam giữ hiện nay, đảm bảo
các điều kiện sinh hoạt tốt nhất cho người đang chấp hành án phạt tù, ngoài ra việc
áp dụng chế định này sẽ giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho nhà nước, đồng thời, sẽ
tạo ra nguồn cung lao động lớn cho xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất
nước, nâng cao hiệu quả của công tác phòng ngừa tái phạm đối với người kết án
được miễn chấp hành hình phạt.
Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện lần đầu tiên được quy định
trong BLHS Việt Nam và được đánh giá cao bởi nó thể hiện rõ rệt chính sách
15
hình sự của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội đang chấp hành hình
phạt tù. Khoan hồng và nhân đạo được thể hiện đầy đủ trong chế định này, là
một giải pháp cho phép đưa người phạm tội bị xử phạt tù về với cộng đồng
sớm hơn thời hạn đã định để phục thiện, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và
giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội.
Tha tù trước thời hạn có điều kiện (Conditional Early Release, Release
inmates from Prisons) là một biện pháp trong thi hành án phạt tù đã được
nhiều nước trên thế giới áp dụng, kể cả những nước phát triển. Thực chất, đây
là việc trả tự do sớm đối với người đang chấp hành hình phạt tù; sau khi được
trả tự do, người đó phải tuân thủ một số điều kiện nhất định do cơ quan có
thẩm quyền xác định trong một thời gian gọi là thời gian thử thách. Nếu trong
thời gian thử thách đó mà người phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì tùy
từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể thay đổi điều kiện thử
thách hoặc có thể buộc người đó phải chấp hành nốt thời hạn còn lại của hình
phạt tù tại các cơ sở giam giữ.
Như vậy, có thể hiểu rằng tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định
cho phép người đang chấp hành án phạt tù được trả tự do sớm nhưng vẫn chịu
sự kiểm soát thông qua việc bị buộc phải tuân thủ một số điều kiện thử thách
trong khoảng thời gian nhất định. Nếu trong thời gian thử thách mà người đó
vi phạm các điều kiện đặt ra thì họ bị buộc phải chấp hành thời hạn còn lại
của hình phạt tù. Còn nếu trong thời gian thử thách, người bị kết án không vi
phạm các quy định này thì họ được miễn việc chấp hành phần hình phạt tù
chưa được chấp hành.
Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện là một chế định đặc biệt, cho
đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm, quan điểm về tha tù trước thời
hạn có điều kiện.
16
Có quan điểm cho rằng tha tù trước thời hạn có điều kiện là một trong
các biện pháp tha miễn trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam [20, tr. 49].
Rằng tha tù trước thời hạn có điều kiện là một dạng của chế định miễn chấp
hành phần hình phạt tù còn lại.
Trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Đại học Luật Hà
Nội: “Tha tù trước thời hạn có điều kiện được hiểu là biện pháp miễn chấp
hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đã tuyên” [51, tr. 360].
Hay quan điểm của Vụ pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp thì:
“Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành phần hình
phạt tù còn lại có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp
hành hình phạt tù khi có đủ điều kiện theo quy định của BLHS, xét thấy
không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù” [59, tr. 4].
Còn quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì: “Tha tù trước
thời hạn có điều kiện không phải là biện pháp miễn chấp hành hình phạt mà là
biện pháp thay đổi việc chấp hành hình phạt từ chấp hành hình phạt trong trại
giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ sang chấp hành hình phạt tại nơi cư trú, nơi
làm việc, công tác” [55, tr. 2].
Tại Điều 1 của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 24/4/2018 về việc hướng dẫn áp dụng
Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện có quy
định: “Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng
đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy
định của BLHS, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt
tù tại cơ sở giam giữ”.
Vậy tại sao lại có quan điểm cho rằng tha tù trước thời hạn có điều kiện
là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt hay không phải là một biện pháp
miễn chấp hành hình phạt ? Vậy miễn chấp hành hình phạt là gì?
17
Miễn chấp hành hình phạt được hiểu là việc Tòa án không buộc người đã
bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt đã tuyên.
Căn cứ của việc miễn chấp hành hình phạt là tính không hợp lý, không cần
thiết hoặc không có khả năng chấp hành hình phạt do người bị kết án đã hết
nguy hiểm cho xã hội hoặc do tính chất nguy hiểm không lớn cho xã hội của
nhân thân người phạm tội, do trạng thái sức khỏe của người phạm tội hoặc do
các tình tiết khác [44, tr. 6].
Theo quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay của GS.TSKH Lê
Cảm về miễn chấp hành hình phạt trong luật hình sự, đó là “Tòa án vẫn quyết
định hình phạt nhất định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với
người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, nhưng không buộc người
này phải chấp hành toàn bộ hình phạt ấy khi có đầy đủ căn cứ và những điều
kiện do Pháp luật hình sự quy định” [19, tr. 790]. Như vậy, chế định miễn
chấp hành hình phạt có thể hiểu là chính sách nhân đạo đối với người bị kết
án có hoàn cảnh đặc biệt và khuyến khích người bị kết án cố gắng cải tạo để
được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, người bị kết án có thể được miễn
chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc là miễn chấp hành phần còn lại của hình
phạt đã tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật khi có đủ các căn cứ
pháp lý và điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định.
Theo cá nhân tôi, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn
chấp hành hình phạt tù thì sẽ đảm bảo được các tiêu chí cơ bản tối thiểu và bắt
buộc chung về kỹ thuật lập pháp đối với một văn bản pháp luật hình sự tốt
trong Nhà nước pháp quyền. Theo GS.TSKH Lê Cảm các tiêu chí đó là: Một
– Phải chặt chẽ về mặt cấu trúc; Hai – Phải nhất quán về mặt logic pháp lý;
Ba – phải chính xác về mặt khoa học; Bốn – phải khả thi về mặt thực tiễn; và
năm – phải trong sáng (minh bạch) và rõ ràng, đơn giản và dễ hiểu về mặt
thuật ngữ (ngôn ngữ) pháp lý [20, tr. 82]. Bản chất của chế định tha tù trước
18
thời hạn có điều kiện, đó là biện pháp thay đổi việc chấp hành hình phạt từ
chấp hành hình phạt trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ sang chấp
hành hình phạt tại nơi cư trú, nơi làm việc, công tác, tuy nhiên người bị kết án
sẽ không phải chấp hành phần còn lại của hình phạt đã tuyên nếu họ không vi
phạm các quy định trong thời gian thử thách, không phạm tội mới, mà không
phải chấp hành phần còn lại của hình phạt đã tuyên chính là đặc điểm của
miễn chấp hành hình phạt tù.
Từ các quan điểm trên, tôi có thể đưa ra khái niệm về tha tù trước thời
hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt Nam như sau: Tha tù trước thời hạn
có điều kiện là việc Tòa án căn cứ vào các quy định của BLHS để miễn việc
tiếp tục chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại các cơ sở giam giữ và ấn
định thời gian thử thách bằng phần hình phạt tù còn lại đó cho người được
hưởng chế định nhân đạo này.
1.2. Nội hàm của tha tù trước thời hạn có điều kiện
Từ những lý luận trên, có thể chỉ ra nội hàm của chế định tha tù trước
thời hạn có điều kiện trong luật hình sự Việt Nam với các đặc điểm cơ bản
như sau:
Thứ nhất, tha tù trước thời hạn có điều kiện là sự tha miễn, khoan hồng
của Nhà nước, có ý nghĩa chính trị - xã hội – pháp lý hết sức đặc biệt, thể hiện
nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam.
Thứ hai, tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống
hình phạt đối với người phạm tội bao gồm bảy hình phạt chính và bảy hình
phạt bổ sung (được quy định từ Điều 34 đến Điều 45 BLHS năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017)) trong đó có hình phạt tù có thời hạn. Người đang
chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thể được hưởng tha tù trước thời hạn có
điều kiện. Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp miễn chấp hành
19
hình phạt tù có điều kiện. Điều đó có nghĩa là người được hưởng tha tù trước
thời hạn có điều kiện là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn nhưng
được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại tại trại giam nếu họ thỏa
mãn các điều kiện luật định và không vi phạm các nghĩa vụ trong thời
gian thử thách. Việc cho người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn
được hưởng tha tù trước thời hạn có điều kiện là họ được “tha tù trước
thời hạn” chấp hành án phạt tù mà Bản án, Quyết định của Tòa án đã
tuyên phạt đối với họ. Những phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại
các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ được tha tù trước thời hạn có
điều kiện, họ sẽ được ra tù trước thời hạn mà không phải tới Trại giam,
Trại tạm giam, Nhà tạm giữ tiếp tục chấp hành phần hình phạt còn lại
nếu họ không vi phạm các nghĩa vụ trong thời gian thử thách.
Thứ ba, tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc thẩm quyền quyết
định của Tòa án – cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
“theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án ”,
quy định tại khoản 3 Điều 66 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
Thứ tư, văn bản tha tù trước thời hạn có điều kiện là văn bản được
thể hiện dưới dạng Quyết định về tha tù trước thời hạn có điều kiện của
Tòa án.
Thứ năm, người được hưởng tha tù trước thời hạn có điều kiện phải
thỏa mãn đầy đủ những điều kiện mà luật hình sự đã quy định.
1.3. So sánh chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với chế định
đặc xá, án treo
20
Trong các văn bản luật, văn bản hướng dẫn luật, trong các ấn phẩm báo
chí hiện nay cũng như trước đây có các thuật ngữ như: “đặc xá”, “án treo”…
có khái niệm khá tương đồng, dễ gây nhầm lẫn với chế định tha tù trước thời
hạn có điều kiện.
1.3.1. So sánh chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với chế định
đặc xá
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm đặc xá như sau:
“Đặc xá là thể thức miễn tội, giảm hình phạt, miễn hình phạt hoặc xóa án đối
với một người hoặc một số người có biến cải đặc biệt và theo đơn xin của
người phạm tội, của gia đình họ, của cơ quan và tổ chức hữu quan hoặc căn
cứ vào chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước khi xét thấy cần thiết.
Người bị kết án tử hình nếu được đặc xá thì được tha tội chết, giảm thành tù
chung thân” [52, tr. 747].
Trong cuốn Từ điển Nghiệp vụ phổ thông dùng trong Công an nhân dân
(xuất bản năm 1977) đưa ra khái niệm: “Đặc xá là xét tha trước hạn tù cho
những phạm nhân cải tạo tiến bộ đạt các tiêu chuẩn quy định nhân dịp Quốc
khánh 02/9 hoặc khi có những sự kiện chính trị đặc biệt ” [57, tr. 179].
Còn trong Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì lại định
nghĩa như sau: “Đặc xá là việc xét tha trước thời hạn cho những phạm nhân
có quá trình cải tạo, đạt những tiêu chuẩn quy định nhân dịp những sự kiện
chính trị đặc biệt của quốc gia. Người bị kết án tử hình nếu được đặc xá thì
được tha tội chết, giảm thành tù chung thân” [56; tr. 218].
Tuy nhiên, các khái niệm trên đây vẫn chưa tiếp cận được chính xác một
số đặc trưng của đặc xá. Các nghiên cứu về lịch sử đặc xá ở nước ta cho thấy,
chỉ có 2 lần Nhà nước quy định đặc xá bao gồm cả việc ân giảm án tử hình,
đó là quy định trong Sắc lệnh số 04/SL ngày 28/12/1946 và Sắc lệnh số
21
136/SL ngày 15/02/1948. Vấn đề ân giảm cho người bị kết án tử hình hiện
nay không thuộc phạm vi của đặc xá.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, trước khi Luật đặc xá năm 2007
được ban hành thì giữa các nhà nghiên cứu, những người thực thi pháp luật
còn có nhiều quan điểm khác nhau về chế định đặc xá như sau:
Theo GS.TSKH Lê Cảm thì:
Đặc xá là sự khoan hồng mang tính chất tổng hợp về mặt pháp lý hình sự
được thực hiện theo trình tự ngoài Tòa án bằng việc áp dụng đối với riêng một
(những) người bị kết án cụ thể nhất định một trong các biện pháp tha miễn
của pháp luật hình sự nếu người đó đáp ứng đầy đủ những điều kiện mà văn
bản đặc xá quy định [19, tr. 843].
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh thì:
Đặc xá là việc Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho phạm
nhân hoặc miễn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án phạt tù đang được
hoãn chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt và có quá
trình cải tạo tốt hoặc xét thấy có những lý do khác đáng được hưởng sự khoan
hồng, giảm nhẹ đặc biệt [58, tr. 8].
Ngày 21/11/2007, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam khóa XII đã thông qua Luật Đặc xá năm 2007. Luật có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/3/2008. Sau khi Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước đã Công bố
Lệnh thông qua Luật này.
Khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007 quy định: “Đặc xá là sự khoan
hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời
hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng
đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt”. Khái niệm về
Đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá năm 2007 đã làm rõ về thẩm quyền
quyết định đặc xá, đối tượng được hưởng đặc xá, thời điểm đặc xá.
22
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết
định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung
thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp
đặc biệt. Người được đặc xá tha tù trước thời hạn về cơ bản được coi như đã
chấp hành xong hình phạt, không phải chịu sự ràng buộc pháp lý nào trừ án
tích và thực hiện hình phạt bổ sung (nếu có). Đối tượng, điều kiện cụ thể và
thời điểm xét, thẩm quyền quyết định đặc xá do Chủ tịch nước quyết định.
Giữa đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiều điểm giống
nhau. Mặc dù đều có những quy định chặt chẽ về điều kiện nhưng có thể thấy
rõ ràng rằng, đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện là những chế định
mang tính nhân đạo, có sự khoan hồng hơn nhiều so với các biện pháp thi
hành hình phạt tù khác. Người phạm tội không phải chấp hành phần còn lại
của hình phạt tù trong các cơ sở giam giữ mà được quay về cộng đồng, hòa
nhập vào xã hội với sự giám sát, quản lý của cơ quan có thẩm quyền nếu thỏa
mãn những điều kiện nhất định. Đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện
đều là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù.
Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn là chủ thể có thể được xét
đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Cả đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện đều để lại hậu quả pháp
lý là án tích cho người chấp hành hình phạt tù trong thời gian nhất định, tùy
theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do người
đó thực hiện. Cả đặc xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện thì người chấp
hành hình phạt tù vẫn phải thực hiện hình phạt bổ sung (nếu có), cả hai biện
pháp này đều quy định rõ đối tượng, điều kiện cụ thể và thời điểm xét, thẩm
quyền quyết định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Thẩm
quyền quyết định của đặc xá là Chủ tịch nước, còn thẩm quyền ra quyết định
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là Tòa án.
23
So sánh điều kiện giữa tha tù trước thời hạn có điều kiện với điều kiện
được đề nghị đặc xá thấy rằng: Đặc xá là ân huệ đặc biệt của Chủ tịch nước
đối với người phạm tội bị kết án phạt tù, nhưng điều kiện được đề nghị đặc xá
lại rộng hơn điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện (ví dụ như đã chấp
hành được ít nhất 1/3 thời hạn tù thì có thể được đề nghị đặc xá, còn tha tù
trước thời hạn có điều kiện là 1/2 thời hạn chấp hành án phạt tù). Ngoài ra,
theo quy định tại Điều 66 BLHS năm 2015, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Nếu trong
thời gian thử thách họ vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên hoặc bị xử phạt vi
phạm hành chính hai lần trở lên thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần
hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Trường hợp phạm tội mới trong thời gian
thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và
tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước. Quy định
như vậy vừa thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp, vừa có tính răn đe đối
với người phạm tội. Tuy nhiên, đối với người được đặc xá thì lại không phải
chịu thời gian thử thách như người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Chính điều này đã làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật và phần nào tạo
nên sự không đồng thuận của một bộ phận quần chúng nhân dân. [24; tr. 35]
Bên cạnh đó, đặc xá cũng khác với tha tù trước thời hạn có điều kiện đó
là không phải năm nào cũng có đặc xá mà phải “nhân sự kiện trọng đại, ngày
lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt” (Từ năm 2010 đến nay:
Đặc xá năm 2010: Theo Quyết định số 697/2010/QĐ-CTN ngày 26/5/2010;
Đặc xá năm 2011: Theo Quyết định số 1123/2011/QĐ-CTN ngày 19/7/2011
của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2011; Đặc xá năm 2013: Theo Quyết định
số 1251/2013/QĐ-CTN ngày 20/7/2013 của Chủ tịch nước về đặc xá năm
2013; Đặc xá năm 2015: Theo Quyết định số 1366/2015/QĐ-CTN ngày
24
10/7/2015 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2015 [11; tr. 73]), còn đối với tha
tù trước thời hạn có điều kiện thì khi người chấp hành án phạt tù có đủ điều
kiện mà luật đã quy định thì họ sẽ được xem xét.
Có thể thấy đặc xá với ý nghĩa là sự khoan hồng đặc biệt, thực tiễn thời
gian qua chỉ ra rằng đối tượng đặc xá tha tù trước thời hạn với số lượng lớn,
diện đối tượng rộng chưa thể hiện đầy đủ ý nghĩa đặc ân của Nhà nước ta đối
với người phạm tội. Mặt khác, Luật Đặc xá và các văn bản pháp luật liên quan
bộc lộ một số hạn chế như: Người được đặc xá tha tù trước thời hạn là người
đã được pháp luật chấp nhận chấp hành xong bản án, không còn điều kiện,
quy định pháp lý nào ràng buộc nên một số đối tượng không chịu tiếp tục
phấn đấu, rèn luyện dẫn đến tái phạm tội. Việc ghi nhận và quy định tha tù
trước thời hạn có điều kiện thực sự lầ cần thiết mang tính nhân văn và hiệu
quả, tăng tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội, đồng thời có tác dụng
“khuyến khích gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng tham gia vào việc
giáo dục, phục hồi đối với người bị kết án, do vậy rất phù hợp với chủ trương
xã hội hóa công tác thi hành án của Đảng và Nhà nước, đồng thời phù hợp với
truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc ta” [22, tr. 5].
1.3.2. So sánh chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với chế định
án treo
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Án treo là án tù không phải thi hành
ngay, nhưng sẽ thi hành nếu trong thời gian quy định người bị kết án lại phạm
tội và bị xử án lần nữa” [30, tr. 12]. Quan điểm này chưa nêu rõ được bản chất
pháp lý của án treo.
Từ điển Bách khoa toàn thư Mở (Wikipedia) định nghĩa: Án treo là chế
định pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt. Án treo được
hiểu là việc tạm thời miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, hình phạt đối
với người vi phạm luật ở mức độ ít nghiêm trọng, khi bị xử phạt tù không quá
25