I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PH TH NH
THựC HIệN PHáP LUậT Về TIếP CÔNG DÂN QUA THựC TIễN HUYệN HOàI ĐứC, THàNH PHố
Hà NộI
LUN VN THC S LUT HC
HÀ NỘI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PH TH NH
THựC HIệN PHáP LUậT Về TIếP CÔNG DÂN QUA THựC TIễN HUYệN HOàI ĐứC, THàNH PHố
Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 8380101.02
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. TRN THI DNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi, có tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu có liên
quan của tác giả khác và có dẫn nguồn cụ thể; các số liệu trích dẫn
trong Luận văn hoàn toàn chính xác, trung thực và có chỉ rõ nguồn.
Luận văn là công trình do tôi tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng
hợp và hoàn thiện, không sao chép. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn
chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phí Thị Ánh
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến thầy, cô giảng viên Khoa Luật, Đại
học Quốc Gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo Bộ môn Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu
chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Tiến sĩ
Giảng viên chính Trần Thái Dương, Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tâm,
nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên,
quan tâm, cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phí Thị Ánh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP
CÔNG DÂN..............................................................................................12
1.1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật
về tiếp công dân.................................................................................12
1.1.1.
Khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân........................................12
1.1.2.
Đặc điểm của thực hiện pháp luật về tiếp công dân...................................20
1.1.3.
Vai trò của thực hiện pháp luật về tiếp công dân........................................32
1.2.
Nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về tiếp công dân...................34
1.2.1.
Nội dung thực hiện pháp luật về tiếp công dân..........................................34
1.2.2.
Hình thức thực hiện pháp luật về tiếp công dân.........................................40
1.3.
Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân....................44
1.3.1.
Yếu tố chính trị- pháp luật.........................................................................44
1.3.2.
Yếu tố kinh tế, văn hóa, ý thức pháp luật của người dân...........................45
1.3.3.
Yếu tố trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ
cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân...........................................47
1.3.4.
Yếu tố cơ sở vật chất- kĩ thuật đảm bảo thực hiện pháp luật về tiếp
công dân.....................................................................................................48
Tiểu kết chương 1..................................................................................................50
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIẾP CÔNG
DÂN Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.........................51
2.1.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội và sự ảnh hưởng đến thực hiện
pháp luật về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức.......................................51
2.1.1.
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở huyện Hoài Đức...............................51
2.1.2.
Sự ảnh hưởng của đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội đến thực hiện
pháp luật về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức...........................................52
2.2.
Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về tiếp công
dân ở huyện Hoài Đức và nguyên nhân.................................................55
2.2.1. Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện
Hoài Đức....................................................................................................55
2.2.2. Nguyên nhân của những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật
về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức...........................................................68
2.3.
Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở
huyện Hoài Đức và nguyên nhân............................................................70
2.3.1. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện
Hoài Đức....................................................................................................70
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật về tiếp
công dân ở huyện Hoài Đức.......................................................................74
Tiểu kết chương 2..................................................................................................79
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ TIẾP CÔNG DÂN Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI...........................................................................................80
3.1.
Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội....................................................................80
3.1.1. Quan điểm thứ nhất: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân đáp ứng
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền....................................................80
3.1.2. Quan điểm thứ hai: Xây dựng đồng bộ các điều điện bảo đảm thực
hiện pháp luật về tiếp công dân..................................................................81
3.1.3. Quan điểm thứ ba: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân nhằm bảo
đảm các quyền và lợi ích của công dân......................................................83
3.1.4. Quan điểm thứ tư: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân gắn liền với
cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật về tiếp công dân trên thực tế................84
3.1.5. Quan điểm thứ năm: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân để góp
phần giảm các yếu tố gây mất trật tự an toàn xã hội, giảm tệ nạn
tham nhũng, lãng phí.................................................................................84
3.1.6. Quan điểm thứ sáu: Thực hiện pháp luật về tiếp công dân nhằm góp
3.2.
phần xây dựng sự đồng thuận giữa người dân và cơ quan nhà nước
................................................................................................................... 85
Nhóm giải pháp chung bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân
................................................................................................................... 86
3.2.1.
Đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí của nhà nước đối
với việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân............................................86
3.2.2.
Tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của HĐND đối với việc
thực hiện pháp luật về tiếp công dân..........................................................87
3.2.3.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
của người dân.............................................................................................90
3.2.4.
Xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về tiếp công dân
................................................................................................................... 91
3.2.5.
Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm trong
hoạt động tiếp công dân bằng việc quy định các chế tài đủ độ răn đe............95
3.2.6.
Hoàn thiện các quy định về giao tiếp, ứng xử trong công tác tiếp công dân
................................................................................................................... 97
3.3.
Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội...................................................................97
3.3.1.
Đổi mới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong tiếp công dân..................................99
3.3.2.
Đổi mới hoạt động giám sát của cơ quan dân cử- HĐND huyện.............100
3.3.3.
Trau dồi, nâng cao kỹ năng giao tiếp của cán bộ, lãnh đạo trong thực
hiện pháp luật về tiếp công dân tại huyện Hoài Đức................................103
3.3.4.
Bảo đảm hiệu quả hoạt động tiếp nhận đơn thư giải quyết khiếu nại,
tố cáo, phản ánh, kiến nghị đối với các phòng, ban chuyên môn ở
huyện, UBND các xã, thị trấn..................................................................104
3.3.5.
Phát huy vai trò của BTCD huyện...........................................................106
3.3.6.
Vai trò của dư luận xã hội với việc thực hiện pháp luật về tiếp công
dân tại huyện Hoài Đức...........................................................................107
3.3.7.
BTCD huyện cần phối hợp có hiệu quả với các cơ quan liên quan
trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân..............................................108
Tiểu kết chương 3................................................................................................113
KẾT LUẬN..........................................................................................................114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................116
PHỤ LỤC.............................................................................................................120
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BCH
Ban chấp hành
BTCD
Ban tiếp công dân
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐND
Hội đồng nhân dân
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
Phòng TN&MT
Phòng Tài nguyên& Môi trường
TTPTQĐ
Trung tâm phát triển quỹ đất
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Tên sơ đồ
Trang
Sơ đồ 1.1:
Quy trình tiếp người khiếu nại
25
Sơ đồ 1.2:
Quy trình tiếp người tố cáo
26
Sơ đồ 1.3:
Quy trình tiếp người kiến nghị, phản ánh
27
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong một nhà nước dân chủ nói chung, tiếp dân là việc làm không thể thiếu.
Ở Việt Nam, tiếp công dân cũng là một trong những yêu cầu, là nguyên tắc bắt buộc
đối với hoạt động quản lí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và
hoạt động quản lí hành chính nhà nước nói riêng. Nhờ hoạt động này mà chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước được thực hiện
hiệu quả, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh được nhanh chóng, hiệu quả, góp phần xây dựng và tổ
chức chính quyền vững mạnh. Để tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân thì hoạt động tiếp công dân
phải trở thành một hoạt động thường xuyên, thiết thực và trên thực tế hoạt động này
đã và đang có ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng.
Nhà nước Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ra đời đến nay, Đảng, nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm
đến việc thể chế hóa, hiện thực hóa các quyền tự do và đề cao vai trò của nhân
dân; nhà nước luôn phải lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến, nguyện vọng của
nhân dân và đương nhiên có trách nhiệm tiếp công dân nhằm tạo điều kiện cho
mọi người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình.
Thông qua việc tiếp nhận, xử lí, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của công dân, pháp chế và kỷ luật trong quản lí hành chính được bảo đảm.
Để giải quyết tốt những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân,
các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phải
thực hiện tốt nhiều nội dung. Trong đó, phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm các quyền con người, quyền công dân là yếu tố vô cùng quan trọng.
Tiếp công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan hành
chính nhà nước, là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, tổ chức chính
trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập... Hoạt động tiếp dân đồng thời cũng là lĩnh
1
vực hết sức quan trọng trong điều hành xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước
và công dân. Công tác tiếp công dân là thể hiện quan điểm “lấy dân làm gốc”, thực
sự tôn trọng nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đây chính là hoạt
động thiết thực để củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và nhà nước. Hoạt động
tiếp công dân có tác động kép, thông qua công tác tiếp công dân, một mặt làm cho
mối quan hệ máu thịt giữa dân với Đảng, nhà nước càng gắn bó hơn, cơ quan nhà
nước sẽ lắng nghe, ghi nhận được những thông tin cần thiết để hiểu được tâm tư
nguyện vọng của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước đề kịp thời chấn chỉnh, bổ sung, sửa đổi hoặc hủy bỏ các nội dung không còn
phù hợp. Đồng thời, Đảng và nhà nước nắm được tình hình thực hiện chính sách,
pháp luật của nhà nước ở các địa phương, bao quát được phẩm chất, năng lực của
cán bộ, công chức; qua đó, nâng cao được công tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành,
quản lí trong tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước; tạo dựng cho nhân dân thực hiện
quyền dân chủ thực sự, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực.
Với mục đích, ý nghĩa sâu sắc như vậy, nên Đảng và nhà nước ta rất coi
trọng và quan tâm đến công tác tiếp dân. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản để
bảo đảm việc công dân có thể thực thi quyền hiến định này. Ngay trong những ngày
đầu xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam
dân chủ cộng hoà đã nhận được khá nhiều ý kiến từ các tầng lớp nhân dân phản ảnh
bằng thư từ, đơn kiện hoặc gặp gỡ trực tiếp bày tỏ nguyện vọng cần sớm chấm dứt
các hiện tượng, việc làm sai trái của một số nhân viên trong bộ máy chính quyền
các cấp, nhất là ở các địa phương.
Hiến pháp năm 1992 ghi nhận khiếu nại, tố cáo là một trong các quyền cơ
bản của công dân, quyền này được sử dụng không hạn chế ở bất cứ lĩnh vực nào.
Nghị định số 89/1997/NĐ-CP ngày 07/8/1997 của Chính phủ quy định về công tác
tiếp công dân. Tháng 12/1998, lần đầu tiên Quốc hội thông qua Luật Khiếu nại, tố
cáo năm 1998. Luật đã cụ thể hoá quyền khiếu nại, tố cáo là những quyền hiến định
của công dân thành các chế định pháp lí để bảo đảm thực thi trên thực tế. Sau đó,
Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005;
2
sau đó được thành hại đạo luật là Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, đều được Quốc
hội thông qua ngày 11/11/2011.
Trước khi có Luật Tiếp công dân năm 2013, các văn bản pháp luật của nước
ta chưa có văn bản nào quy định thế nào là “tiếp công dân”. Trên cơ sở đường lối,
chủ trương của Đảng, cụ thể tại các văn bản: (i) Thông báo số 164-TB/TW ngày
23/9/1989 của Ban Bí thư, BCH TW Đảng về việc tiếp công dân và bảo vệ Trụ sở
Tiếp công dân của TW Đảng và Nhà nước; (ii) Chỉ thị số 09-CT/TW ngày
06/3/2002 của Ban Bí thư, BCH TW Đảng về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện
trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay; (iii) Thông báo số 307-TB/TW về
Đề án đổi mới công tác tiếp công dân ngày 10/02/2010 v.v., các cơ quan nhà nước
đã ban hành các văn bản về tiếp công dân :
Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18-TTG ngày 15/01/1993 về công tác
tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Văn bản đầu tiên của Nhà
nước quy định các vấn đề cụ thể liên quan đến hoạt động tiếp công dân được ban
hành là Nghị định số 89-CP ngày 07/8/1997 của Chính phủ ban hành quy chế tiếp
công dân. Trên cơ sở Nghị định số 89/CP, Tổng Thanh tra Nhà nước ban hành
Thông tư số 1178/TT-TTNN ngày 25/9/1997 hướng dẫn thực hiện Nghị định số
89/CP ngày 7/8/1997; Quyết định số 1204/QĐ-TTNN ngày 01/10/1997 ban hành
Bản quy định về việc phối hợp tiếp công dân.
Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 858/QĐ-TTg ngày
14/6/2010 về việc phê duyệt đề án đổi mới công tác tiếp công dân, quy định cụ thể
về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của trụ sở tiếp công dân, mối
quan hệ giữa trụ sở tiếp công dân với cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó khi Quốc hội
ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004&2005, tiếp công dân cũng đã được quy định trong
luật (chương V từ điều 74 đến điều 79). Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
30/2004/QH11 ngày 16/6/2004 về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh
vực quản lý hành chính nhà nước. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số
53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006
3
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, trong đó quy định chi
tiết và hướng dẫn việc tiếp công dân, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo. Luật Khiếu nại năm 2011 tiếp tục đề cập
đến các khái niệm về trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân, trách nhiệm của
cán bộ tiếp công dân... được quy định tại Chương 5 (từ Điều 59 đến Điều 62); tại
Chương 5 (từ Điều 21 đến Điều 31) Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Thông tư số
07/2011/TT-TTCP ngày 28/7/2011 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn quy trình
tiếp công dân. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg
ngày 18/5/2012 về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Nghị định số 75/2012/NĐ-CP và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày
03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo cũng quy
định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong trường hợp nhiều người
cùng khiếu nại, tố cáo.
Đặc biệt, năm 2013 Luật tiếp công dân năm 2013 ra đời đã quy định rõ
những vấn đề cơ bản của hoạt động tiếp công dân. Tiếp theo đó, ngày 26/6/2014,
Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật tiếp công dân năm 2013. Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số
06/2014/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2014 quy định về quy trình tiếp công dân.
Trong hoạt động thực tiễn, mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, tổ chức
xã hội, giữa công dân với công dân, khi phát hiện có quyết định hành chính, hành vi
hành chính trái pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà
nước, quyền lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân thì công dân có quyền khiếu nại
hoặc tố cáo, kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước, với người có thẩm quyền để
được xem xét và yêu cầu giải quyết. Theo đó, những vấn đề tồn tại trong hoạt động
tiếp công dân được phản ánh khá nhiều trong dư luận xã hội. Công tác tiếp dân
được xem như bước đầu tiên trong việc giải quyết những thắc mắc liên quan đến
quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.
4
Huyện Hoài Đức là huyện ngoại thành phía Tây thành phố Hà Nội, chính
thức được sáp nhập vào thủ đô Hà Nội kể từ ngày 01/8/2008. Với vị trí là cửa ngõ
phía Tây của thủ đô, từ những năm 2000 trở lại đây, các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội
của huyện Hoài Đức có nhiều sự chuyển dịch vô cùng mạnh mẽ, nhất là từ nền kinh
tế sản xuất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Huyện
Hoài Đức đã tổ chức di dời, giải toả đền bù nhiều hộ dân để thực hiện các dự án,
việc làm này đã có ảnh hưởng nhất định đến đời sống của một bộ phận nhân dân,
bên cạnh những thuận lợi, cũng đã dẫn tới khá nhiều vấn đề bất cập, đây là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh phần lớn đơn khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh.
Với những văn bản đã được ban hành, pháp luật về tiếp công dân là cơ sở
pháp lí quan trọng trong việc giải quyết và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
nhân dân. Tuy nhiên, thời gian qua, tình hình khiếu nại tố cáo, kiến nghị, phản ánh
vẫn diễn ra phức tạp, mặc dù chính quyền địa phương đã hết sức cố gắng giải quyết
những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân nhưng số lượng các vụ
khiếu nại, tố cáo vẫn chưa giảm nhiều. Tính chất phức tạp của những vụ việc khiếu
kiện được thể hiện qua số người tham gia khiếu kiện đông, cách thức khiếu nại, tố
cáo không theo đúng trình tự, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định. Khiếu nại, tố
cáo tập trung nhiều vào các lĩnh vực như: đất đai, thu hồi đất, bồi thường giải phóng
mặt bằng, đòi lại đất cũ v.v.. Đặc biệt, có nhiều vụ việc người dân tiếp tục khiếu
kiện sau khi các cơ quan chức năng giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Tiếp công dân là một nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm mối liên hệ gắn
bó máu thịt giữa nhà nước với nhân dân, thể hiện trách nhiệm lắng nghe, thấu hiểu,
nắm chắc được tâm tư nguyện vọng ý kiến của nhân dân, đặc biệt là để nâng cao
hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đồng thời
đây cũng là một hoạt động có nội dung hết sức phong phú, rộng lớn, liên quan đến
nhiều lĩnh vực hoạt động của cả bộ máy nhà nước, các thiết chế trong hệ thống
chính trị, các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập... Qua tiếp thu những nội dung kiến
thức về luật hiện pháp và luật hành chính mà các giảng viên Khoa Luật- ĐHQGHN
5
đã truyền đạt cùng với những kinh nghiệm của bản thân là một người trực tiếp làm
công tác tiếp công dân tại Ban tiếp công dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội,
học viên mạnh dạn chọn vấn đề: “Thực hiện pháp luật về tiếp công dân - qua thực
tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học,
chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Tác giả mong được góp phần
làm rõ thêm cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân trong hoạt động
quản lí nhà nước, đánh giá đúng đắn thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân
của địa phương, cụ thể tại trụ sở Ban tiếp công dân UBND huyện, các xã, thị trấn
trên địa bàn huyện và đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật
về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, trong thời gian qua, vấn đề tiếp công
dân và thực hiện pháp luật về tiếp công dân đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu.
Những vấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật đã được đề cập trong một số
công trình khoa học, sách chuyên khảo như:
- Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), "Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về thực
hiện pháp luật", Nxb. Chính trị-Hành chính, Hà Nội, 2006. Nội dung cuốn sách
gồm 2 phần: Phần thứ nhất, một số vấn đề lí luận về thực hiện pháp luật, các tác giả
đã nêu những điểm hạn chế trong lí luận về thực hiện pháp luật mà các giáo trình
hiện đang sử dụng trong các trường học, trên cơ sở đó đã nêu những điểm cần bổ
sung và phát triển một số vấn đề lí luận để phù hợp với điều kiện toàn cầu hóa, hội
nhập quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, các tác giả cũng đã chỉ ra các yếu tố đảm
bảo thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
- Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một
số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2009. Nội dung cuốn sách
nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật- hình thức thực hiện pháp luật cơ bản, chủ
yếu và quan trọng nhất trong một số lĩnh vực cụ thể vừa góp phần làm sáng tỏ và
hoàn thiện lý luận, vừa có thể chỉ ra được những điểm bất cập trong các quy định của
6
pháp luật, những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định đó, từ đó góp
phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của thực hiện pháp luật trên thực tế.
- Nguyễn Minh Đoan, “Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam”, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010. Cuốn sách chuyên khảo về thực hiện pháp luật
gồm 5 chương, trong đó, chương 1 bàn về các vấn đề lí luận thực hiện pháp luật
gồm: khái niệm, mục đích, ý nghĩa của thực hiện pháp luật… Thực hiện pháp luật
được thể hiện thông qua bốn hình thức gồm: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật,
sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Chương 2 bàn sâu về áp dụng pháp luật,
các trường hợp áp dụng pháp luật, đặc điểm, nguyên tắc áp dụng pháp luật. Chương
3 đề cập quy trình thực hiện pháp luật. Trong chương 4, tác giả đưa ra và phân tích
các yếu tố bảo đảm pháp luật ở Việt Nam. Chương 5 bàn về hiệu quả thực hiện pháp
luật; tiêu chí đánh giá hiệu quả của thực hiện pháp luật; thực trạng và một số giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Tác giả coi đây là tài liệu chuyên khảo
có giá trị khoa học sâu sắc để vận dụng trong luận văn về thực hiện pháp luật theo
lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.
- Đào Trí Úc (2012), "Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở
Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (3), tr.5. Bài viết này bàn về các vấn đề:
bản chất, vị trí và vai trò của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp luật; các hình
thức thực hiện pháp luật; cơ chế thực hiện và những điều kiện bảo đảm hiệu quả
thực hiện pháp luật. Bài viết có giá trị lớn,để vận dụng trong luận văn.
- Chu Hồng Thanh (2016), “Thực hiện pháp luật có thể là rào cản đối với
đổi mới tư duy pháp lí”, chuyên đề trong tập sách chuyên khảo: “Tư duy pháp lí – lí
luận và thực tiễn”; Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, tr.51. Tác giả nhấn mạnh thực
hiện pháp luật trong quan niệm mới không nên chỉ coi là công việc chủ yếu của Nhà
nước, do Nhà nước, vì Nhà nước mà cần phải đề cao, phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của các chủ thể pháp luật, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân. Yêu cầu pháp chế XHCN đặt ra nguyên tắc pháp luật đã
ban hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh, điều đó là đúng nhưng chưa đủ. Thực
hiện pháp luật một cách máy móc, thụ động, bị ép buộc sẽ triệt tiêu tính năng động,
7
sáng tạo trong hoạt động thực tiễn và tư duy, sẽ là rào cản trong đổi mới tư duy
pháp lí hiện nay.
Những vấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật về tiếp công dân đã được đề
cập trong một số công trình khoa học, sách chuyên khảo như:
- Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, “Quy trình tiếp công dân và xử lí
đơn thư”, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2013. Cuốn sách đề cập những vấn đề chung
của tiếp công dân và quy định của pháp luật hiện hành về công tác này.
- Trong cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải
quyết khiếu nại, tố cáo” của TS. Bùi Mạnh Cường và TS. Nguyễn Thị Tố Uyên,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, các tác giả đã sưu tầm và tổng hợp các bài
viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tiếp công dân và giải
quyết khiếu nại, tố cáo.
- Cuốn sách “Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay”,
xuất bản năm 2017 của GS.TS. Phạm Hồng Thái, PGS.TS. Vũ Công Giao, PGS.TS.
Đặng Minh Tuấn và TS. Nguyễn Minh Tuấn đồng chủ biên. Cuốn sách được biên
soạn dựa trên cơ sở tuyển chọn các bài viết của các tác giả đang công tác tại Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Thanh
tra Chính phủ v.v.. Nội dung các bài viết giới thiệu các quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo; thực trạng hoạt động khiếu nại, tố cáo và áo dụng pháp luật về
khiếu nại, tố cáo; đồng thời đóng góp những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp
luật về khiếu nại, tố cáo, pháp luật về tiếp công dân ở nước ta hiện nay.
Cũng từ góc độ lí thuyết, có nhiều đề tài khoa học đã đi sâu tìm hiểu tương
đối toàn diện những khía cạnh cơ bản liên quan tới công tác tiếp công dân như:
- Văn phòng UBND tỉnh Lào Cai (2017), Đề tài khoa học “Nâng cao hiệu quả
hoạt động công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thông qua công nghệ
thông tin tại Ban tiếp công dân tỉnh và Ban tiếp công dân các huyện, thành phố”;
- Tham luận “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong tình hình hiện nay”, Tham luận tại Hội thảo Thanh tra 7 tỉnh
miền Bắc năm 2014 đã tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
8
Một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ có đề cập những khía cạnh chuyên
biệt về tiếp công dân như: (i) Bùi Mạnh Cường (2007), Ứng dụng công nghệ thông
tin vào hoạt động tiếp công dân, Đề tài khoa học cấp bộ Thanh tra Chính phủ; (ii)
Nguyễn Mai Hạnh (2009), Thực hiện pháp luật của đại biểu Quốc hội trong việc
tiếp nhận, xử lí, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và khiếu nại của
công dân, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- ĐHQGHN, Hà Nội; (iii) Trần Thị
Thúy Mai (2010), Đổi mới công tác tiếp công dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật ĐHQGHN, Hà Nội; (iv) Lê Thị Sáu (2014),
Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà
Nội – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật ĐHQGHN, Hà
Nội; (v) Đỗ Thị Kim Cường (2014), Cải cách thủ tục hành chính trong công tác
tiếp công dân nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Quản lí
kinh tế, Đại học Kinh tế- ĐHQGHN; (vi) Nguyễn Thị Huệ (2016), Thực hiện pháp
luật về tiếp công dân từ thực tiễn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Luận văn thạc sĩ
luật học, Học viện KHXH, Hà Nội; (vii) Nguyễn Hữu Tiến (2017), Tổ chức thực
hiện pháp luật về tiếp công dân và xử lí đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên từ các góc độ và ở các mức độ khác nhau đều
nghiên cứu rất sâu sắc về thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về các lĩnh
vực cụ thể hoặc thực hiện pháp luật về tiếp công dân trên cả hai khía cạnh lí luận và
thực tiễn. Tuy nhiên, đối với thực hiện pháp luật về tiếp công dân, các công trình
nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập những vấn đề có tính khái quát hoặc riêng rẽ, chưa
có tính hệ thống đối với thực hiện pháp luật về tiếp công dân, nhất là thực hiện pháp
luật về tiếp công dân trong quản lí hành chính nhà nước. Nói cách khác, thực hiện pháp
luật về tiếp công dân, cho đến nay, vẫn là đề tài chưa được quan tâm tương xứng với ý
nghĩa, tầm quan trọng của nó trước yêu cầu của thực tiễn và cả về nhận thức lí luận.
Đây cũng là một lí do nữa để học viên chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về
tiếp công dân - qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình.
9
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở khoa học (lí luận và thực tiễn) thực hiện pháp luật về tiếp công
dân, luận văn đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật
về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân;
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấp
trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội;
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về
khắc phục hạn chế, bảo đảo thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND các cấp
trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân của UBND huyện
Hoài Đức và UBND của 20 xã, thị trấn thuộc huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Mô hình tổ chức tiếp công dân cấp huyện ở nước ta do rất nhiều chủ thể tiến
hành, được ghi nhận tại điều 4 Luật tiếp công dân năm 2013, như: Ủy ban nhân dân
cấp huyện; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện; Hội đồng nhân dân
cấp huyện; Tòa án nhân dân cấp huyện; Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, v.v.
Tuy nhiên, đối với thời lượng của luận văn ngắn trong khi vấn đề nghiên cứu
rộng, học viên chọn lọc nghiên cứu thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại UBND
huyện Hoài Đức, UBND các xã và thị trấn thuộc huyện Hoài Đức gắn với chức năng
quản lí nhà nước của các cấp chính quyền địa phương ở đây trong khoảng thời gian từ
năm 2014 đến giữa năm 2017 bởi lý do, đây là các chủ thể có trách nhiệm và có nhiều
hoạt động quan trọng nhất trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại địa phương.
Về phạm vi vấn đề nghiên cứu, việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân
được nghiên cứu trong luận văn diễn ra trên lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước,
đồng thời liên quan đến việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
của công dân tới UBND huyện và các UBND xã, thị trấn trên địa bàn.
10
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong chương 1: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp luận giải, phân
tích, tổng hợp để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật
về tiếp công dân, xác định nội dung, hình thức, các yêu cầu, yếu tố bảo đảm thực
hiện pháp luật về tiếp công dân.
Tại chương 2: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, chứng minh,
thống kê, so sánh để nghiên cứu, đánh giá thực trạng, làm rõ những kết quả đạt
được, những hạn chế và nguyên Nhân của kết quả, hạn chế trong thực hiện pháp
luật về tiếp công dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, luận giải để đề xuất
quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công dân trong chương 3.
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về thực hiện pháp luật về tiếp công
dân qua thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Luận văn có thể được tham khảo
trong nhận thức lí luận và chỉ đạo thực tiễn trong thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và ở các địa phương khác trên cả nước.
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy,
học tập, nghiên cứu chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính ở các cơ sở
đào tạo luật của nước ta.
7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1- Cơ sở lí luận của thực hiện pháp luật về tiếp công dân
Chương 2- Thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân ở huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội.
Chương 3- Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về tiếp công
dân ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TIẾP CÔNG DÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật
về tiếp công dân
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật về tiếp công dân
Có nhiều hình thức hoạt động khác nhau để các cơ quan nhà nước, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu, kiến nghị, khiếu tố từ nhân dân như: (i)
tiếp xúc cử tri (là việc đại biểu dân cử gặp gỡ, trao đổi với cử tri nhằm mục đích
nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các cử tri) của đại biểu Quốc hội, đại
biểu HĐND; (ii) tiếp cận thông tin (là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép,
chụp thông tin), phản ánh qua các trang thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức,
đơn vị; (iii) tiếp nhận thông tin, phản ánh từ các phương tiện thông tin đại chúng
và (iv) tiếp công dân.
Tiếp nói chung được hiểu là hoạt động giao tiếp, đón tiếp các đối tượng nhất
định; tiếp nhận những thứ từ chủ thể khác, nơi khác chuyển đến, ví dụ như: tiếp đón
đoàn đại biểu nước ngoài, tiếp khách đến thăm cơ quan đơn vị, tiếp nhận hồ sơ, tiếp
nhận hàng hoá, tiếp nhận đơn thư v.v.. Trong đó, việc tiếp nhận đơn thư khiếu nại,
tố cáo, hoặc ý kiến kiến nghị, phản ánh của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
các chủ thể khác có trách nhiệm thường gắn liền với hoạt động tiếp công dân.
Trong chế độ dân chủ, địa vị cao nhất là dân, nhân dân là người chủ. Nhân
dân có quyền chủ động đến cơ quan nhà nước gặp gỡ, tiếp xúc với cán bộ, công
chức để giao tiếp, thể hiện tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, thái độ hay để đưa ra các
yêu cầu, kiến nghị, phản ánh về bất cứ vấn đề gì liên quan đến lợi ích của nhân dân,
công việc của nhà nước và tinh thần, trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán
bộ, công chức mà nhân dân quan tâm. Do vậy, tiếp công dân là yêu cầu bắt buộc, là
trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước. Tiếp công dân một mặt thể
12
hiện ý thức tôn trọng nhân dân, quyền của nhân dân từ phía bộ máy công quyền,
một mặt cũng là thể hiện quyền của nhân dân-cội nguồn, gốc rễ của quyền lực nhà
nước. Hay nói cách khác, tiếp công dân là biểu hiện của dân chủ, là hình thức biểu
hiện trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước, qua đó thể hiện sự quan
tâm của Đảng và nhà nước đối với nhân dân cũng như thể hiện gián tiếp việc thực
hiện quyền giám sát của nhân dân đối với nhà nước. Bên cạnh đó, tiếp công dân là
công cụ bảo vệ và khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan,
tổ chức; nhờ đó mà nhà nước nắm rõ được ý chí, nguyện vọng của công dân, cơ
quan, tổ chức; kịp thời đề ra các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, cơ quan, tổ chức. Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nên việc này luôn được Đảng và nhà
nước ta hết sức đề cao và coi trọng [7, tr.23].
Khái niệm “tiếp công dân” có thể được hiểu là việc mặt đối mặt một cách
trực tiếp giữa bên tiếp (cán bộ tiếp công dân) và bên được tiếp (công dân đến trụ sở
tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh) gặp gỡ để lắng nghe hoặc tiếp
nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị;
khác với việc tiếp nhận đơn thư gửi qua bưu điện khi mà mọi sự việc khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh đều được trình bày bằng chữ viết hay những ý kiến phản
ánh được trình bày gián tiếp bằng lời nói qua điện thoại; hoặc thông tin trên các
trang mạng trực tuyến, mạng xã hội. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của tiếp công
dân, cũng từ đây đặt ra các yêu cầu về tinh thần, thái độ làm việc, ý thức trách
nhiệm của cả bên tiếp công dân và bên được tiếp trong hoạt động tiếp công dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn cho dân yêu, muốn
được lòng dân, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân
phải hết sức tránh” [7, tr.32]. Thực vậy, quyền lực nhà nước được thực hiện thông
qua các quyền lập pháp, hành pháp và quyền tư pháp. Mặc dù các quyền này được
đặt trong cơ chế kiểm tra, giám sát nhưng quá trình thực thi quyền khó tránh khỏi sự
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Trong đó, quyền hành pháp
được thực hiện thông qua hoạt động chấp hành, điều hành, hoạch định và tổ chức
13
thực hiện các chính sách quốc gia. Trong mối quan hệ giữa các chủ thể được giao
thẩm quyền quản lí hành chính (gồm hệ thống cơ quan hành chính và nhiều cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác, trải rộng từ trung ương đến địa phương thông qua cơ
chế phân cấp quản lí của nhà nước cho các đơn vị hành chính lãnh thổ tương ứng:
tỉnh, huyện, xã và các đơn vị hành chính tương đương) và đối tượng chịu sự quản lí,
các chủ thể được giao thẩm quyền quản lí có thể xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân thông qua việc ban hành các quyết định hoặc thực hiện hành
vi bất hợp pháp, bất hợp lí. Bên cạnh đó, tại nhiều cơ quan nhà nước, nhiều ý kiến,
tâm tư, nguyện vọng của nhân dân chưa được tiếp nhận, xem xét thấu đáo; công tác
quản lí hành chính nhà nước chưa thực sự được coi trọng đúng mức. Vì vậy, trong
việc thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, khả năng xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong việc thực thi quyền hành pháp là phổ
biến hơn cả. Sự phản ứng của người dân đối với vi phạm trong thực thi quyền hành
pháp cũng thường xuyên xảy ra hơn. Người dân thường ở vị trí yếu thế, cần được
bảo vệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng viết: “Cán bộ ta nhiều người ‘cúc cung
tận tụy’ hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ với quốc dân, nhưng cũng
có những người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng hoặc là độc hành, độc đoán,
hoặc dĩ công dinh tư” [7, tr.23], khi nắm được quyền hành trong tay hay lạm dụng.
Trong chế độ dân chủ đòi hỏi người dân phải được chống lại, phản ứng lại với sự
xâm phạm đó, cụ thể là phản ứng đối với các quyết định, hành vi trái pháp luật được
thực hiện trong quá trình thực thi quyền của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Các yếu tố dân chủ trong xã hội ngày càng phát triển, gắn liền với với đó là
việc mở rộng và bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; chế
độ dân chủ phải ghi nhận một quyền riêng cho người dân để phản ứng lại sự vi
phạm này- đó là quyền khiếu nại, tố cáo hành chính, kiến nghị, phản ánh. Hay nói
một cách khác, bản chất của quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh là quyền
tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền
và lợi ích của xã hội. Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơn
thế nữa, đó là quyền để bảo vệ quyền. Hoạt động tiếp công dân là hoạt động quan
trọng, là khâu đầu tiên trong chu trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
14