TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LỚP BỒI DƯỠNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN THCS HẠNG II
BÀI THU HOẠCH CUỐI KHÓA
TÊN ĐỀ TÀI: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh ở trường THCS”
Đánh giá kết quả thu hoạch
Điểm bằng số: …………………
Điểm bằng chữ: ……………….
Họ và tên: Nguyễn Bình Minh
Cán bộ chấm 1:………………..
Ngày sinh: 12/06/1980
…………………………………
Đơn vị công tác: THCS Nguyễn Công Trứ
Cán bộ chấm 2:………………..
Điện thoại: 0982255254
…………………………………
Châu Đức, ngày 20 tháng 08 năm 2019
1. Đặt vấn đề.
Căn cứ hướng dẫn về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2018-2019 của Phòng
Giáo dục và Đào tạo.
Căn cứ về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2018-2019 của trường, tổ
chuyên môn.
Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực để đáp
ứng những yêu cầu phát trển đó càng trở nên quan trọng và cần thiết, nó trở thành
một trong những vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và trong hệ thống
giáo dục nước nhà nói riêng. Trong định hướng đổi mới chương trình và sách giáo
khoa giáo dục phổ thông sau năm 2018 đã nêu rõ: một trong những quan điểm nổi
bật là phát triển chương trình theo định hướng năng lực.
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến
thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả
một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự
vận dụng kết hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện
thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.
Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải
có đó là các năng lực chung cốt lõi. Năng lực cốt lõi bao gồm những năng lực cơ
bản: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác,
năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, năng lực sử dụng
công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
2. Nội dung.
2.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản.
a. Khái niệm năng lực người học:
Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
Năng lực là sự thành thạo là khả năng thực hiện một công việc.
Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của các yếu tố
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và tinh thần trách
nhiệm.
Năng lực gắn liền với khả năng hành động cho nên phát triển năng lực
chính là phát triển năng lực hành động.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm
năng lực được sử dụng như sau:
1. Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: Mục tiêu dạy
học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành.
2. Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được
liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực.
3. Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn.
4. Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá
mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy
học về mặt phương pháp.
5. Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các
tình
huống...
6. Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên biệt tạo thành nền
tảng chung cho công việc giáo dục và dạy
7. Mức độ phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn
nghề; Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể phải đạt được những gì?
8. Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ
chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm
đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao
động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân
nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.
9. Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng,
thái độ... và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công
nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc
sống.
b. Phân biệt dạy học theo định hướng phát triển năng lực với dạy học theo
tiếp cận trang bị kiến thức.
Dạy học định hướng phát triển năng lực, hay còn gọi là dạy học định
hướng kế quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và
ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.
Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra
của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân
cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn
nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống
và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách
chủ thể của quá trình nhận thức. Khác với chương trình định hướng nội dung,
chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả
chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học.
Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều
khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của người học.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu
trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các
thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động
được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn,
năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Cấu trúc khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng
lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức,
kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội
và năng lực cá thể. Những năng lực này không thể tách rời nhau mà có mối quan
hệ chặt chẽ. Năng lực hành động dược hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các
năng lực này.
c. Nội dung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực:
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn
trong tri thức và kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát
triển các lĩnh vực năng lực.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải
quyết vần đề gắn với tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn
hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập
trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý
nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những
tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học, cần bổ sung các chủ đề học tập
phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không
lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh
giá. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức
trong những tình huống ứng dụng khác nhau.
Tư tưởng cốt lõi của chương trình mới là hướng đến quá trình giáo dục
hình thành năng lực chưng, năng lực chuyên biệt để con người phát triển, thích
nghi với môi trường sống, học tập, làm việc luôn biến đổi trong cả cuộc đời.
Dạy học theo tiếp cận trang bị kiến thức và dạy học theo định hướng phát
triển năng lực: Năng lực trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông. Các
năng lực chung: Năng lực tự chủ; Năng lực hợp tác; Năng lực sáng tạo. Các
năng lực đặc thù: Năng lực giao tiếp; Năng lực tính toán; Năng lực Tin học;
Năng lực thẩm mỹ; Năng lực thể chất.
d. Vai trò của người giáo viên, nhà quảm lí trong hoạt động dạy học theo
định hướng phát triển năng lực.
Trong hoạt động dạy học theo dịnh hướng phát triển năng lực, giáo viên là
yếu tố quyết định hàng đầu. Sự nhận thức đúng đắn, tinh thần trách nhiệm và sự
quyết tâm cao, kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học và tổ chức hướng dẫn học sinh
học tap5 tốt là những phẩm chất cần thiết của người giáo viên trong nhà trường.
Tri thức của giáo viên là điểm quan trọng trong công tác giáo dục. Giáo
viên ở bất cứ lớp học nào đều phải hội đủ các điều kiện về kiến thức, khả năng
giảng dạy, lòng nhiệt thành và thân thiện. Bên cạnh đó, giáo viên phải có kĩ năng
tổ chức, hướng dẫn học sinh trong lớp học, có kĩ năng sử dụng đồ dùng dạy học,
có năng lực tự thu thập thông tin để phục vụ yêu cầu dạy học.
Giáo viên phải nắm vững yêu cầu nội dung giáo dục, nắm vững kiến thức
và kĩ năng cần truyền đạt đến học sinh để thiết kế dẫn dắt học sinh đi từ dễ đến
khó, từ ít đến nhiều. Tài nghệ của giáo viên trong công tác giảng dạy cũng cần
thiết không kém bất cứ một lĩnh vực nào khác, thậm chí công tác này có thể trở
thành một hình thức sáng tạo nhất. Nếu người giáo viên khéo léo phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh thì học sinh – đối tượng đang chiệu tác động của
giáo dục sẽ trở thành chủ thể của giáo dục. Quá trình học quan trọng hơn môn
học, quá trình học tạo thói quen trí tuệ, kĩ năng phân tích vấn đề, khả năng tiếp
thu, diễn đạt, tổ chức sử lí thông tinh. Thói quen học tập là quan trong trong giáo
dục trung cấp, đại học. Thực tế kiến thức rất đa dạng và thay đổi theo thời gian,
vì vậy giảng dạy là khai thác và tận dụng nội lực của học sinhđể các em năng
lực tự học suốt đời.
Giáo viên hiện nay không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người
hướng dẫn hỗ trợ học sinh tìm chọn và sử lí thông tin. Giúp người học sẵn sàng
tiếp thu khái niệm mới, tích cực thể hiện tương tác trải nghiệm,... tăng cường
hứng thú, tự tin, kích thích tư duy sáng tạo của người học.
Điều này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có hiểu biết cơ bản về nội dung
chuyên trình của lớp học, cấp học, mạnh dạng đổi mới cách thiết kế và tổ chức
lớp học trong đó các hoạt động thực hành cần được thực hiện thường xuyên,
chuyển quá trình thuyết giảng một cách hình thức, áp đặt của người dạy thành
quá trình tự học, tự tìm tòi khám phá của người học.
e. Đánh giá năng lực người học trong quá trình dạy học.
Các tiêu chí đánh giá năng lực người học:
Người học phải có kiến thức, hiểu biết một cách có hệ thống hoặc chuyên
sâu về lĩnh vực hoạt động nào đó.
Có khả năng tiến hành hoạt động đó hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với
mục đích.
Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện
mới, không quen thuộc.
Đặc điểm của đánh giá năng lực người học:
Đánh giá năng lực người học có xu hướng tập trung vào các nhiệm vụ
phức tạp hoặc gắn với bối cảnh cụ thể. Nó cho phép người học chứng minh năng
lực của họ trong một bối cảnh giả lập.
Các hình thức đánh giá năng lực người học bao gồm: Sản phẩm, dự án
học tập, trình diễn, thực hiện.
Các bước xây dựng kiểm tra đánh giá năng lực:
Bước 1: Xác định chuẩn – điều học sinh cần và có thể thực hiện.
Bước 2: Xác định nhiệm vụ.
Bước 3: Xác định các tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ.
Bước 4: Xây dựng than điểm.
2.2. Thực trạng.
Vấn đề dạy học gắn với phát triển năng lực học sinh đã được đề cập nhiều
và đã được áp dụng ở nhiều trường học, nhiều cơ sở giáo dục. Là một một giáo
viên giảng dạy môn Tin học ở trường nói chung cũng như nhiều thầy cô giáo bộ
môn khác đang giảng dạy tại đơn vị tôi đang công tác, vấn đề này cũng hết sức
được quan tâm và có những thuận lợi sau:
+ Các hoạt động chuyên môn của nhà trường luôn nhận được sự quan tâm
chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo.
+ Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá được
lãnh
đạo nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách tích cực, có hệ thống, bám
sát chủ trương đổi mới nền giáo dục của Đảng và nhà nước.
+ Đội ngũ giáo viên trẻ và có trình độ chuyên môn vững, được đào tạo
trên chuẩn và đã được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn do Phòng giáo
dục và đào tạo tổ chức hàng năm.
+ Các tổ chuyên môn tích cực trao đổi, thảo luận và soạn giảng, dự giờ rút
kinh nghiệm cho đồng nghiệp.
+ Bản thân mỗi giáo viên luôn tích cực học tập, tìm hiểu và áp dụng các
phương pháp kĩ thuật dạy học mới để áp dụng trong quá trình dạy học.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng
nghiệp, tôi thấy việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy
năng lực học sinh còn gặp phải nhiều khó khăn:
+ Về phía giáo viên: Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học
tích cực còn chưa mang lại hiệu quả cao. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ
chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia,
các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động. Mục đích của
thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan
điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành
quan điểm cá nhân.Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực
hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ
một chiều. Để thực hiện phương pháp dạy học này người giáo viên cần mất
nhiều thời gian hơn để chuẩn bị cho một tiết học nên việc dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh cũng gặp khó khăn.
+ Về phía học sinh: Học sinh chủ yếu là học sinh vùng nông thôn nên việc
tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một
số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm
tòi nghiên cứu bài học, việc giao tiếp và khả năng nhận thức còn hạn chế, giao
tiếp các em còn e dè, chưa tự tin, khả năng sử dụng vốn từ còn ít nên khi thảo
luận nhóm các em còn chưa mạnh dạn… Một số học sinh chưa chăm học, thời
gian dành cho việc học còn ít. Một số phụ huynh cũng chưa thực sự quan tâm
đến việc học của con cái. Họ còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả
nhờ thầy”.
+ Về nhà trường: Phòng máy tính có kết nối mạng Internet chưc được
trang bị đầy đủ nên việc học sinh khai thác nguồn thông tin trên mạng để phục
vụ cho bài học còn hạn chế. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa
đáp ứng tốt cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học.
2.3. Giải pháp.
Từ chuyên đề: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” tôi
đã được bồi dưỡng thêm các kiến thức về các phương pháp dạy học tích cực để
sử dụng thành thục, nhuần nhuyễn trong quá trình dạy học như các phương pháp
dạy học nhóm, dạy học theo trạm, bàn tay nặn bột, các kĩ thuật dạy học tích
cực… dạy học theo trải nghiệm sáng tạo, dạy học tích hợp, liên môn… các
phương pháp này sẽ kích thích được mọi học sinh tích cực làm việc đặc biệt là
những học sinh yếu bởi chính những học sinh này sẽ được giáo viên và các bạn
cùng nhóm để ý đến nhiều hơn. Khi phát triển được các năng lực trong quá trình
học tập tức là học sinh thấy rõ vai trò vị trí của mình, từ đó sẽ biết nỗ lực để
hoàn thành nhiệm vụ, biết hành động vì người khác và đó chính là một cách để
hoàn thiện nhân cách người học sinh.
Để dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh có hiệu quả thì
mỗi giáo viên phải tự học tự rèn luyện và phải học hỏi các đồng nghiệp khi tham
gia dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm, tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn. Để
khắc phục dần những khó khăn khi thực hiện việc dạy học theo định hướng năng
lực học sinh theo em cần làm một số việc sau:
Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực bắt buộc cả giáo viên
và học sinh phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, học sinh phải chủ động và tích
cực hợp tác trong mọi hoạt động.
Yêu cầu giáo viên phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận
trong việc lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng như
thay đổi cách đánh giá học sinh – dạy học gắn với phát triển năng lực. Muốn làm
được điều đó trước hết người giáo viên phải có sự thay đổi trong cách tiếp cận,
phải giúp cho học sinh làm chủ quá trình học tập.
Kết hợp tốt các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp
dạy học tích cực. Xác định các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn bên
canh những phương pháp dạy học truyền thống cần chú ý các phương pháp dạy
học tích cực như: phương pháp trực quan, phương pháp làm việc theo nhóm,
phương pháp đóng vai…
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết
vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn
hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập
trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý
nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những
tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ
đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các
môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và
phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm
thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo
của tư duy.
– Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp
đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp
nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc: “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm
vụ nhận thức với tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
– Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với hình thức dạy học. Tùy theo
mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức
thích hợp như học cá nhân, học nhóm; trong lớp học, ngoài lớp học… Cần
chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn
luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú
cho người học.
– Cần sử dụng đủ, hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiếu đã quy định.
Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung
học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin
trong dạy học.
* Các năng lực mà môn học Tin học hướng đến:
+ Năng lực tự học.
+ Năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực sáng tạo.
+ Năng lực hợp tác.
+ Năng lực giao tiếp.
+ Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
+ Năng lực tạo lập và tiếp nhận văn bản (năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ
thẩm mĩ).
* Những yêu cầu cần có trong một tiết học:
+ Phát huy tối đa các năng lực trong giờ học cho học sinh
+ Tạo không khí hào hứng, thoải mái, tự nhiên cho học sinh trong giờ học.
+ Phát hiện năng lực chuyên biệt của học sinh
+ Phát triển năng lực, phẩm chất học sinh thông qua phương pháp thảo luận
nhóm
+ Phát triển năng lực, phẩm chất học sinh thông qua phương pháp tổ chức trò
chơi
+ Phát triển năng lực, phẩm chất học sinh qua khả năng phản biện
Triển khai một tiết học cụ thể: Tiết 50: Bài 8: Sắp xếp và lọc dữ liệu (tiết 1)
* Mục tiêu cần đạt: giúp HS
1. Kiến thức
- Hiểu mục đích của việc lọc dữ liệu và cách thức sắp xếp dữ liệu.
- Từ việc sắp xếp dữ liệu, học sinh có thể so sánh dữ liệu trong
cùng một bảng tính
- Rèn luyện kĩ năng sắp xếp dữ liệu
2. Kỹ năng
- Biết sắp xếp dữ liệu trong trang tính.
- Học sinh biết thực hiện theo các bước và hình dung được các thao
tác trên màn hình, vận dụng được các thao tác trong thực hành.
3. Thái độ
- Nghiêm túc trong giờ học, hứng thú học tập
- Có ý thức làm việc hợp lí, khoa học
* Cách thức tiến hành
1. Thành công lớn nhất và có tính quyết định của tiết dạy là việc GV thực
hiện tốt khâu dặn dò ở tiết trước.( những định hướng cụ thể, sát thực để học sinh
nghiên cứu tìm tòi, tích hợp…)
- HS chủ động đọc, tìm hiểu nội dung bài học: ý nghĩa và các bước thực
hiện sắp xếp và lọc dữ liệu.
- Phần luyện tập, không chỉ thực hành vận dụng để giải quyết các yêu cầu
của bài tập mà còn vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
2. Chủ động thiết kế các slide và các hiệu ứng thay cho việc làm bảng phụ
trước đây. Các slide vừa đáp ứng nhu cầu trực quan, vừa làm ngữ liệu khai thác,
vừa tinh giảm thời gian, tăng kỹ năng thực hành... tiết dạy, ngoài các slide là ngữ
liệu và khai thác các ví dụ, còn có thêm các slide các bài tập mở rộng nhằm tích
hợp các chuyên đề như tăng cường các giá trị, kĩ năng sống và khả năng giải
quyết tình huống có vấn đề.
3. Xây dựng hệ thống câu hỏi và vận dụng các thao tác hợp lý.
4. Chủ động việc vận dụng tích hợp các lượng kiến thức mà học sinh đã
học.
5. Lấy học sinh làm trung tâm, tập trung tạo nhiều tình huống cần thiết để
giúp tất cả học sinh phát huy tính chủ động tích cực học tập nhằm phát huy tối
đa các năng lực của HS.
6. Để thể hiện và hoàn thành nội dung bài học, bản thân giáo viên phải có
ý tưởng thiết kế hệ thống slide sao cho đạt hiệu quả trong khai thác, ứng dụng
hiệu ứng hiệu quả nhằm tăng khả năng tổng kết các kiến thức và vận dụng thực
hành. (slide: ví dụ trực quan, các hiệu ứng phân tích, các hình ảnh miêu tả sống
động…).
3. Kết luận.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học được xem như
một nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục hiện đại trong xu thế đổi mới căn
bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo hiện nay. Điểm khác nhau giữa cách dạy
này so với các phương pháp dạy học trước đây là ở chỗ dạy học phát triển phẩm
chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người
dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây.
Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây,
việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học
được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách
con người.
Thiết nghĩ, với sự chủ động của GV trong việc tạo ra hệ thống câu hỏi, qua
ứng dụng công nghệ thông tin, gắn với việc linh hoạt vận dụng các phương pháp
thích ứng có tích hợp kiến thức cũ và mới, và nhất là sự chủ động đưa vào các
cách thức giáo dục kĩ năng sống... chắc chắn hiệu quả giáo dục sẽ được cải
thiện. Với học sinh, khi đã chuẩn bị kỹ bài ở nhà, đến lớp chủ động, tích cực xây
dựng bài và nhất là chủ động trong việc rèn luyện, vận dụng thực hành, hiệu quả
tiết học cũng sẽ khả quan và chất lượng được cải thiện.
* Kiến nghị:
Để ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học
theo định hướng phát triển năng lực học sinh, em có một số đề xuất, kiến nghị
sau:
- Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo nhà trường tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để
giáo viên được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên
môn, nghiệp vụ. Đặc biệt là tạo điều kiện về vật chất cho giáo viên tham gia các
lớp bồi dưỡng nâng cao trình động chuyên môn như những lớp học này.
- Phòng giáo dục, nhà trường đầu tư, trang bị tốt hơn về cơ sở vật chất, phương
tiện, thiết bị dạy học hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các
phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.
Như vậy qua khóa bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II tôi
thấy đây là một khóa học bổ ích cho mỗi cán bộ giáo viên tham gia học tập. Mỗi
cán bộ giáo viên đều học tập và tích lũy cho mình những kiến thức quý báu từ
các chuyên đề và áp dụng trong quản lý nhà trường và trong công tác dạy học để
ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cho địa phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sỡ hạng II.
2. Dự án Việt – Bỉ (2009), Dạy và học tích cực. Tài liệu tập huấn.