Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

Hình sự hóa và phi hình sự hóa trong Bộ luật hình sự năm 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (419.35 KB, 100 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN SƠN

H×NH Sù HãA Vµ PHI H×NH Sù HãA
TRONG Bé LUËT H×NH Sù N¡M 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN SƠN

H×NH Sù HãA Vµ PHI H×NH Sù HãA
TRONG Bé LUËT H×NH Sù N¡M 2015
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các kết quả trong luận văn chưa được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Sơn


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH SỰ HOÁ VÀ
PHI HÌNH SỰ HOÁ.........................................................................10
1.1.

Khái niệm hình sự hoá, phi hình sự hoá.........................................10

1.1.1. Khái niệm hình sự hoá........................................................................10

1.1.2. Khái niệm phi hình sự hóa..................................................................13
1.2.

Hình sự hoá, phi hình sự hoá trong thực hiện chính sách
pháp luật hình sự..............................................................................16

1.3.

Mối quan hệ hình sự hoá, phi hình sự hoá với tội phạm hóa,
phi tội phạm hoá...............................................................................24

1.4.

Cơ sở của hình sự hoá, phi hình sự hoá..........................................29

1.4.1. Cơ sở lý luận.......................................................................................29
1.4.2. Cơ sở thực tiễn....................................................................................30
1.4.3. Cơ sở pháp lý......................................................................................33
Chương 2: CÁC NỘI DUNG HÌNH SỰ HOÁ VÀ PHI HÌNH SỰ
HOÁ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015.....................................36
2.1.

Hình sự hoá, phi hình sự hóa trong Phần chung Bộ luật hình sự
............................................................................................................36

2.1.1. Các nội dung hình sự hoá...................................................................39
2.1.2. Các nội dung phi hình sự hoá.............................................................43
2.2.

Hình sự hoá, phi hình sự hóa trong Phần các tội phạm Bộ



luật hình sự........................................................................................50
2.2.1. Các nội dung hình sự hoá trong các chế tài........................................50
2.2.2. Các nội dung phi hình sự hoá trong các chế tài..................................53
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HÌNH SỰ
HOÁ VÀ PHI HÌNH SỰ HOÁ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ NƯỚC TA...................................................................................55
3.1.

Các yêu cầu của hình sự hoá, phi hình sự hoá...............................55

3.1.1. Yêu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người........................................55
3.1.2. Yêu cầu thực hiện chính sách hình sự hướng thiện, coi trọng tính
phòng ngừa, giảm hình phạt tù, hạn chế áp dụng tử hình, tăng
cường áp dụng hình phạt không phải hình phạt tù trong Cải cách
tư pháp................................................................................................59
3.1.3. Yêu cầu thể hiện các nguyên tắc của luật hình sự..............................64
3.1.4. Yêu cầu thực tiễn tình hình tội phạm và đấu tranh phòng, chống
tội phạm..............................................................................................65
3.1.5. Yêu cầu khắc phục những bất cập, hạn chế của quá trình hình sự
hoá, phi hình sự hoá trong Bộ luật hình sự năm 1999........................68
3.2.

Phương hướng và các giải pháp tiếp tục hình sự hoá, phi
hình sự hoá trong pháp luật hình sự nước ta.................................71

3.2.1. Phương hướng....................................................................................71
3.2.2. Các giải pháp......................................................................................76
KẾT LUẬN....................................................................................................86

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................88


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

BLHS

Bộ luật hình sự

2

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

3

CHXHCN

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa.

4


HSH

Hình sự hóa

5

PHSH

Phi hình sự hóa

6

PTPH

Phi tội phạm hóa

7

PLHS

Pháp luật hình sự

9

TPH

Tội phạm hóa

10


TAND

Toà án nhân dân

12

TNHS

Trách nhiệm hình sự

13

TTTN

Tình tiết tăng nặng

14

TTGN

Tình tiết giảm nhẹ

15

TANDTC

Toà án nhân dân tối cao

16


XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, việc nước ta
gia nhập và được công nhận là thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế
giới WTO thực sự là một bước chuyển về mọi mặt của một đất nước đang
phát triển. Đạt được thành tựu đó là nhờ quyết tâm cải cách chính trị, hành
chính và sự đồng thuận của cả dân tộc trong công cuộc đổi mới.
Hội nhập, chúng ta có nhiều cơ hội bên cạnh đó là không ít thách thức,
mà một trong những thách thức ấy là việc phát sinh hàng loạt các loại tội
phạm. Việc đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng hơn bao
giờ hết của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân. Hình sự
hóa và phi hình sự hóa là một chủ trương, đường lối, định hướng với mục
đích phòng, chống tội phạm và cũng là một trong những mục tiêu cơ bản
trong cuộc đấu tranh đầy cam go này.
Luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu
tranh và phòng ngừa tội phạm. Hiệu quả của việc đấu tranh và phòng ngừa
tội phạm phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó việc đánh giá đúng đắn và xác
định càng chính xác, càng cụ thể hành vi nguy hiểm cho xã hội càng tốt. Vì
thế phải phân hóa cao độ các loại hành vi trong các đạo luật đồng thời phải
bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định
về hành vi nguy hiểm cho xã hội. Quá trình sửa đổi bổ sung đó được thực
hiện theo hai xu hướng trái ngược nhau là bổ sung những hành vi mới được
coi là tội phạm hoặc gia tăng mức độ hình phạt đối với một số loại hành vi
nguy hiểm cho xã hội nào đó và ngược lại loại bỏ khỏi danh mục các hành vi

được coi là tội phạm hoặc giảm thiểu các biện pháp và mức độ nghiêm khắc
của hình phạt đối với những loại hành vi khác. Hai xu hướng tưởng chừng

1


mâu thuẫn đó lại là sự thống nhất chặt chẽ mà trong khoa học luật hình sự
nhắc đến là: Xu hướng tội phạm hóa, hình sự hóa và xu hướng phi tội phạm
hóa, phi hình sự hóa.
Tình hình tội phạm đã và đang diễn biến hết sức phức tạp ở nước ta
trong những năm gần đây, số lượng các vụ án cũng như người phạm tội ngày
càng tăng, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Tội phạm xảy ra phổ
biến, nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực ảnh hưởng tới sự ổn định và phát
triển của đất nước. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm như vậy
là do công tác quản lý của các cơ quan chức năng, cơ chế quản lý, chính sách
kinh tế của Nhà nước còn sơ hở, thiếu sót. Công tác đấu tranh, xử lý tội
phạm hiệu quả chưa cao, sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền còn hạn chế, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong phòng ngừa,
đấu tranh, xử lý tội phạm.
Trong những năm qua Pháp luật hình sự đã liên tục được nghiên cứu,
bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước đối
với việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm bằng nhiều biện pháp khác
nhau, trong đó biện pháp Pháp luật hình sự là cốt lõi nhằm đảm bảo an ninh
chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Tình hình tội phạm đang tiếp tục có nhiều
biến động phức tạp do những thay đổi về điều kiện khách quan của kinh tế xã
hội. Thực tiễn cho thấy trong quá trình phát triển, lợi dụng chính sách của
Nhà nước nên xuất hiện một số hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa được
quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm. Ngược lại, cũng một số hành vi
không còn mang tính nguy hiểm cho xã hội, không còn phù hợp trong điều
kiện hiện nay nên cần được phi tội phạm hóa.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, chúng ta có những thời
cơ, thuận lợi để phát triển nhưng cũng đặt ra những thách thức, khó khăn và
những hệ quả tiêu cực kéo theo. Tình hình tội phạm sẽ còn tiếp tục có những

2


phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi và gây khó khăn hơn trong đấu
tranh, xử lý tội phạm. Nghị quyết số 08 Bộ Chính trị đặt ra những yêu cầu đối
với công tác tư pháp là: Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý
kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo
đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và
công dân. Tiếp đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đề ra một trong những
phương hướng quan trọng, đó là hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự
mang tính hướng thiện, coi trọng tính phòng ngừa.
Mặc dù Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện tương đối rõ chính sách
hình sự, tuy nhiên nó còn bộc lộ nhiều thiếu khuyết, bất cập, khi đất nước hội
nhập sâu vào quan hệ quốc tế, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chính vì vậy nhu cầu đổi mới chính sách hình sự đối với lĩnh vực đấu
tranh phòng chống tội phạm đặt ra và đòi hỏi những đổi mới, bổ sung nhằm
đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước. Khắc
phục những hạn chế bất cập của Bộ luật này Bộ luật hình sự năm 2015 sửa
đổi bổ sung năm 2017 ra đời nhằm thể chế hóa những quan điểm phát triển
mới của đất nước và khắc phục những hạn chế của Bộ luật hình sự năm 1999.
Nhiều quy định mới phù hợp hơn đã được nhà lập pháp đưa vào Bộ luật hình
sự năm 2015.
Trên cơ sở những định hướng về đấu tranh phòng chống tội phạm,
nghiên cứu quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành, cũng như Bộ luật hình
sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), phân tích khả năng, điều kiện áp dụng

thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả và hiệu lực cao của hoạt động cải
cách tư pháp là những lý do quan trọng để học viên quyết định chọn Đề tài:
“Hình sự hóa và phi hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015” làm đề tài
luận văn thạc sĩ luật học của mình.

3


2. Tình hình nghiên cứu
Đây là một trong những chính sách về tội phạm và hình phạt có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn quan trọng. Tuy nhiên, thời gian qua trong khoa học pháp
lý chưa có công trình nghiên cứu riêng về chính sách này. Thời gian gần đây đã
có một số công trình nghiên cứu chung và đề cập tới vấn đề hình sự hóa và phi
hình sự hóa với tính chất là một tổng thể như: Những vấn đề lý luận của việc
đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay của GS - TSKH Đào Trí Úc
và tập thể tác giả (1994), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; Sách
chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
(phần chung), GS - TSKH Lê Cảm (2005), Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà
Nội; Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới ánh sáng Nghị quyết
Đại hội IX của Đảng (2002) của PGS, TS. Hồ Trọng Ngũ, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội, Tội phạm hoá và phi tội phạm hoá trong luật hình sự Việt
Nam, Lô Văn Lý, Luận văn thạc sỹ Luật, Trường ĐH Luật TP HCM năm 2000,
Tội phạm hóa và phi tội phạm hóa trong Bộ Luật hình sự 1999 và ý nghĩa, GS
– TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2001...
Các công trình nghiên cứu của các tác giả chủ yếu dưới dạng bài viết
đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành hoặc một phần trong các
các giáo trình giảng dạy, hoặc một phần trong sách chuyên khảo... Chính vì
vậy việc nghiên cứu chính sách hình sự trong lĩnh vực “Hình sự hóa và phi
hình sự hóa trong Bộ luật hình sự 2015” là thực sự cần thiết có nghĩa về lý
luận và thực tiễn đặc biệt là trong điều kiện Bộ luật hình sự 2015 chính thức

có hiệu lực thi hành và tình hình đổi mới hiện nay ở nước ta.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở thực
tiễn của quá trình hình sự hóa và phi hình sự hóa trong Bộ luật hình sự Việt

4


Nam năm 2015 so với Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 ngày 19-6-2009 so với Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999. Trong nội dung trình bày sẽ cố gắng đưa ra
những nhận xét, đánh giá xu hướng của quá trình hình sự hóa và phi hình sự
hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 và những đề xuất đối với xu hướng
này trong tương lai
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phục vụ mục đích nghiên cứu nêu trên, những nhiệm vụ nghiên
cứu sẽ là
Về mặt lý luận: Qua việc nghiên cứu chính sách về hình sự hóa và phi
hình sự hóa trong Bộ luật hình sự 2015 và trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến
về lý luận đối với việc hình sự hóa và phi hình sự hóa đối với một số hành vi
góp phần hoàn thiện việc triển khai thực hiện chính sách về về tội phạm và
hình phạt hiện nay nhằm bảo đảm chính sách hình sự ngày càng phù hợp
nguyện vọng của nhân dân và có những tác động tích cực của quá trình hình
sự hóa và phi hình sự hóa đối với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền,
trong chính sách nhân đạo đối với quyền con người tại Việt Nam.
Qua việc nghiên cứu, xác định vị trí vai trò của chính sách tội phạm và
hình phạt trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, phân tích làm rõ các
khái niệm và nội dung cơ bản của chính sách tội phạm về hình sự hóa, phi
hình sự hóa. Trên cơ sở này, đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện

chính sách về tội phạm và hình phạt hướng tới hoàn thiện chính sách tội phạm
và hình phạt theo yêu cầu của tình hình mới.
Về mặt thực tiễn: Qua việc nghiên cứu sẽ phần nào nêu lên tính nhân
đạo của Pháp luật Việt Nam trong nhiệm vụ bảo vệ quyền con người - mục
tiêu quan trọng nhất của các nhà lập pháp Việt Nam trong quá trình thực hiện
hình sự hóa và phi hình sự hóa đối với một số hành vi. Vì vậy luận văn sẽ

5


phân tích, bình luận từng nội dung được hình sự hóa và phi hình sự hóa trong
Bộ luật hình sự năm 2015 sau đó đưa ra các số liệu cụ thể về tình hình tội
phạm của nước ta từ đó đưa ra các kiến nghị, đề xuất về hình sự hóa, phi hình
sự hóa trong thời gian tới.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những chính sách hình sự liên
quan đến hình sự hóa và phi hình sự hóa trong Bộ luật hình sự 2015 cụ thể là
khái niệm, sự cần thiết, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa của hình sự hóa và phi hình
sự hóa trong chính sách hình sự của nước ta. Luận văn còn kết hợp với việc
thống kê quá trình hình sự hóa và phi hình sự hóa đối với các tội phạm cụ thể
qua hai lần pháp điển hóa Bộ luật hình sư 2015 đồng thời nghiên cứu các số
liệu về tình hình tội phạm của nước ta trong những năm gần đây và nêu ra
một số cơ sở lý luận và đề xuất đối với chính sách hình sự này trong thời gian
tới nhằm nâng cao tính dân chủ, phù hợp với tiến trình hội nhập của Việt Nam
trong thời đại mới.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những hành vi được các nhà làm luật
hình sự hóa, phi hình sự hóa trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật
hình sự, các số liệu, các quan điểm của các nhà nghiên cứu pháp luật và một
số đề xuất về hình sự hóa và phi hình sự hóa đối với các tội phạm cụ thể nhằm

mục đích hoàn thiện chính sách pháp luật để chính sách pháp luật đi vào cuộc
sống và trở thành một bộ phận không thể tách rời trong cuộc sống của người
dân để đảm bảo mỗi người dân Việt Nam luôn “sống, làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật”
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền công dân,

6


quyền con người cũng như đảm bảo pháp luật phải phù hợp với cuộc sống,
không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo đảm chính sách
nhân đạo. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng, tiếp thu, kế thừa các thành tựu
khoa học của chuyên ngành pháp lý, các nhà chuyên môn, nhà khoa học, các
luận điểm nghiên cứu của các nhà khoa học, các công trình nghiên cứu, sách
chuyên khảo và các bài viết chuyên ngành pháp lý được đăng trên các tạp chí.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận Đề tài “Hình sự hóa và phi hình sự hóa trong Bộ luật hình
sự năm 2015” luận văn vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận triết học
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được vận dụng
trong luận văn là:
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này thể hiện trong luận văn là
những lý giải, phân tích những điều luật được các nhà làm luật hình sự hóa,
phi hình sự hóa một phần hay toàn bộ trong Bộ luật hình sự 2015. Các nhận
xét, đánh giá, đề xuất đối với việc thực hiện hình sự hóa và phi hình sự hóa
trong chính sách pháp luật của các nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự Việt
Nam qua đó rút ra được sự cần thiết, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa của chính sách

hình sự này trong đời sống pháp luật, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đưa
ra các kiến giải và nhận định về tình hình tội phạm qua các năm từ đó rút ra
được các biểu đồ, sơ đồ về tình hình phạm tội để rút ra được những kết luận
về thực trạng, giải pháp và các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Phương pháp này được thể hiện
thông qua những tài liệu, số liệu cũng như các báo cáo của các cơ quan điều
tra về tình hình tội phạm của nước ta trong thời gian vừa qua để làm sơ sở

7


phân tích, nghiên cứu nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp. Bên cạnh đó,
phương pháp này còn được thể hiện ở việc sưu tầm các số liệu tìm được trên
mạng Internet cũng như các tổng hợp thống kê liên quan của các cơ quan hữu
quan như Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, các báo
cáo của Quốc hội, các báo cáo trong các hội thảo khoa học về chính sách pháp
luật, các báo cáo của các Ngân hàng về tình hình tội phạm trong lĩnh vực
ngân hàng, các báo cáo của Viện Khoa học quản lý môi trường - Bộ Tài
nguyên và Môi trường để rút ra các kiến giải về tội phạm hóa, phi tội phạm
hóa trong một số lĩnh vực.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp tiếp cận khác như:
Lịch sử, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch... đồng thời sử dụng các văn bản pháp
luật của Nhà nước như: Bộ luật Hình sự các năm 1985, 1999, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 ngày 19/6/2009, Luật Bảo vệ
môi trường, các Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Chương trình hành động...
làm tài liệu nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đây là đề tài nghiên cứu về “Hình sự hóa, phi hình sự hóa trong Bộ luật

hình sự 2015” nên đề tài đã cố gắng tập trung giải quyết các nội dung sau:
- Phân tích và tổng hợp một các cụ thể và chi tiết nội dung hình sự
hóa và phi hình sự hóa qua hai lần pháp điển hóa và sửa đổi bổ sung Bộ
Luật Hình sự.
- Phân tích để thấy rõ được sự cần thiết, vai trò, mục tiêu, ý nghĩa của
việc thực hiện chính sách hình sự liên quan đến quá trình hình sự hóa, phi
hình sự hóa trong công cuộc hoàn thiện pháp luật.
- Đề xuất hình sự hóa và phi hình sự hóa đối với một số hành vi nhằm
hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự Việt Nam.

8


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn góp tiếng nói khiêm tốn làm sáng tỏ và hoàn thiện lý luận về
hình sự hoá, phi hình sự hoá; mối quan hệ giữa tội phạm hoá, phi tội phạm
hoá với hình sự hoá, phi hình sự hoá; đánh giá quá trình hình sự hoá, phi hình
sự hoá trong quá trình xây dựng và ban hành BLHS 2015
6.2. Về mặt thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn ngoài việc đưa ra những đóng góp về
việc đổi mới chính sách hình sự phục vụ cuộc đấu tranh với tội phạm là
những kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn thi hành Bộ luật hình sự và cả
những đạo luật hình sự trước đây. Đồng thời luận văn cũng có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên trong hệ thống các trường đại học,
cao đẳng, cho các nhà hoạt động thực tiễn và cho tất cả những ai quan tâm
đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hình sự hóa và phi hình sự hóa
Chương 2: Các nội dung hình sự hóa và phi hình sự hóa trong Bộ luật
hình sự năm 2015
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp tiếp tục Hình sự hóa và phi hình sự
hóa trong pháp luật hình sự nước ta.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH SỰ HOÁ
VÀ PHI HÌNH SỰ HOÁ
1.1. Khái niệm hình sự hoá, phi hình sự hoá
1.1.1. Khái niệm hình sự hoá
Hình sự hóa là 1 phần quan trong trong chính sách hình sự phản ánh
việc nhà lập pháp qui định hình phạt hay xác định loại hình phạt, khung hình
phạt, điều kiện quyết định hình phạt đối với tội phạm này hay tội phạm khác.
Trong Từ điển luật học có nêu: “HSH là việc biến một hành vi vốn
không bị pháp luật xử lý hoặc chỉ bị xử lý bằng một chế tài khác và nhẹ thành
một hành vi có tính tội phạm và bị pháp luật xử lý bằng chế tài hình sự - loại
chế tài nặng nhất” [8, tr.631] và “cơ sở của hình sự hoá là việc đánh giá lại
tính chất nguy hiểm của hành vi nào đó” [82, tr.162].
Trong ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ báo chí và rải rác trong một số
tham luận ở các hội thảo, tọa đàm, thuật ngữ “hình sự hóa” [22, tr.6] được
hiểu là trường hợp những hành vi vi phạm nghĩa vụ trong các quan hệ kinh tế,
dân sự được các cơ quan, cá nhân thực thi quyền điều tra, truy tố, xét xử
chuyển hóa thành các hành vi phạm tội và áp dụng pháp luật hình sự để giải
quyết. Biểu hiện của hiện tượng hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự là
việc các cơ quan pháp luật đã dùng pháp luật hình sự và các biện pháp tố tụng
hình sự để giải quyết các quan hệ xã hội mà bản chất thực tế của nó là các

quan hệ của hợp đồng kinh tế, dân sự [37, tr.11].
Trong các tài liệu pháp lý, về thuật ngữ “hình sự hoá”, tồn tại nhiều
cách hiểu khác nhau xuất phát từ các quan điểm sau:
– Quan điểm 1: chấp nhận thuật ngữ “hình sự hoá” để chỉ một hiện
tượng lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết các quan hệ kinh tế, dân sự
[22, tr.8]. Đây là quan điểm chiếm đa số, thường gặp trên báo chí và rải rác

10


trong một số tài liệu pháp lý. Hình sự hoá theo nghĩa này chỉ tập trung ở giai
đoạn áp dụng luật, là một hành vi mang tính tiêu cực, thể hiện sự yếu kém,
tiêu cực trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và xa hơn là sự lỏng lẻo của
Nhà nước trong quản lý kinh tế, là sự tùy tiện, lộng hành của một nhóm người
nắm trong tay các công cụ quyền lực Nhà nước. Chủ thể thực hiện việc hình
sự hóa là các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng điều tra. Hình sự
hóa, do đó phải được xem là hành vi trái luật, trái đạo đức. Vì vậy nếu hiểu
hình sự hoá theo nghĩa này thì hiện tượng hình sự hoá các quan hệ dân sự
kinh tế là hiện tượng vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng xuất
phát từ mục đích, động cơ cá nhân hoặc trình độ yếu kém của chính cá nhân,
thực hiện công tác điều tra, truy tố… Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này
hoàn toàn không hẳn là hệ thống pháp luật không đồng bộ hoặc kỹ thuật lập
pháp của các cơ quan soạn thảo, ban hành pháp luật yếu kém
- Quan điểm 2: là quan điểm của các nhà nghiên cứu, tuy không phổ
biến nhưng được xây dựng trên nền tảng lý luận vững chắc. Quan điểm này
cho rằng hình sự hóa là sự chuyển hoá các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế
thành các quan hệ pháp luật hình sự thông qua việc xây dựng các qui phạm
pháp luật của cơ quan có thẩm quyền [37, tr.15]. Trong cuộc sống xã hội, các
quan hệ xã hội hình thành, phát triển, thay đổi cả về lượng và chất, mức độ
nguy hiểm của một số hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, dân sự

thay đổi theo hướng nặng hơn. Sau khi nghiên cứu đánh giá mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi, tính phổ biến, mức độ trái với các qui phạm đạo đức,
khả năng chứng minh về mặt tố tụng… nếu xét thấy cần thiết phải sử dụng biện
pháp hình sự mới đấu tranh phòng ngừa các vi phạm, cơ quan lập pháp xác
định hành vi ấy như một loại tội phạm mới trong pháp luật hình sự của quốc
gia.
Nếu hiểu hình sự hóa theo nghĩa này thì hiện tượng hình sự hóa là

11


một tiến trình tích cực, hợp lý, và là công cụ thực hiện chính sách hình sự.
Chủ thể thực hiện việc hình sự hoá chỉ có thể là cơ quan lập pháp. Về bản
chất, đây là hoạt động thay đổi để phù hợp với nội dung chính trị - xã hội
của pháp luật hình sự.
Xung quanh quan điểm này cũng tồn tại hai ý kiến khác nhau:
- Ý kiến thứ nhất: đồng nhất khái niệm hình sự hóa và khái niệm tội
phạm hóa. Trong một chừng mực nào đó hai thuật ngữ này đồng nghĩa với
nhau: hình sự hoá và tội phạm hoá là việc đưa vào Bộ luật hình sự các hành vi
phải được qui định thành các tội phạm với tội danh cụ thể mà trước đó chưa
xem là tội phạm. Hình sự hoá hay tội phạm hoá là sự qui định hoặc tuyên bố
chính thức của cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan lập pháp) một hành vi
nguy hiểm cho xã hội là tội phạm [37, tr.15].
- Ý kiến thứ 2 cho rằng các khái niệm hình sự hoá và tội phạm hoá là
liên quan mật thiết với nhau nhưng hoàn toàn khác nhau về bản chất, trong
đó: Tội phạm hoá là việc xác định một loại hành vi này hay loại hành vi khác
là tội phạm, tức là xác định sự cần thiết phải trừng trị bằng các biện pháp hình
sự. Ngược lại, phi tội phạm hoá là xác định một loại hành vi nào đó không là
tội phạm và không cần thiết phải trừng trị bằng pháp luật hình sự. Còn hình sự
hóa là làm tăng tính nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự, của chế tài hình sự

với các hành vi phạm tội [37, tr.15].
Thuật ngữ “hình sự hoá” được hiểu với hai nghĩa hoàn toàn khác nhau,
thậm chí trái ngược nhau dưới phương diện ý nghĩa pháp lý- xã hội.
Như vậy, khi đề cập đến HSH một loại hành vi được hiểu là trước đây
hành vi đó không bị PLHS cấm, hoặc dù bị PLHS cấm nhưng tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi chưa đến mức phải áp dụng loại chế tài nặng hơn, thì
trong hoàn cảnh mới, khi tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tăng lên. Vì vậy chính sách của Nhà nước

12


cần phải điều chỉnh, chế tài áp dụng phải được nghiêm khắc hơn. Đó là lúc mà
việc HSH được đặt ra, tiến hành. Rõ ràng, TPH và HSH là hai quá trình gắn
chặt với nhau trong khi xây dựng, hoàn thiện BLHS. Sẽ là vô nghĩa nếu trong
hoạt động lập pháp hình sự chỉ diễn ra quá trình TPH mà không có quá trình
HSH. Đồng thời quá trình HSH cũng không thể diễn ra nếu không có những
căn cứ quan trọng để xác định các tội phạm - là kết quả của quá trình TPH.
Những nội dung của quá trình HSH với tư cách là một quá trình của
hoạt động xây dựng PLHS cho thấy trong giai đoạn phát triển tương ứng của
xã hội nếu Nhà nước tiếp tục giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng chế tài
hình sự không đủ nghiêm khắc, thì không còn đủ sức ngăn chặn đối với hành
vi tiêu cực đó nữa. Tuy nhiên, thực tiễn xã hội - lịch sử trong đấu tranh phòng
và chống tội phạm lại khẳng định rằng hiệu quả của các quy phạm PLHS đạt
được không hoàn toàn bằng sự mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tăng nặng hình
phạt, mà phải bằng việc phân hóa tối đa TNHS để đảm bảo nguyên tắc nhân
đạo, nguyên tắc công bằng trong LHS và đảm bảo nguyên tắc quan trọng
trong tố tụng hình sự là mọi hành vi phạm tội đều bị trừng trị. Thực tiễn này
đặt ra yêu cầu cho những nhà lập pháp khi cân nhắc có HSH một hành vi nào
đó hay không, đồng thời cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của C. Mác

khi chứng minh sự cần thiết của việc phải giảm nhẹ sự trấn áp về hình sự đối
với những người phạm tội, ông cho rằng: “nhà làm luật thông minh là phải
ngăn ngừa tội phạm để khỏi phải trừng phạt vì nó... và đừng biến thành tội
phạm hành vi nào chỉ mang tính vi cảnh” [14, tr.125].
Như vậy, “Hình sự hóa là việc nhà làm luật bổ sung loại hình phạt;
quy định dẫn đến chế tài được nghiêm khắc hoá, các hình phạt nghiêm khắc
có khả năng được áp dụng nhiều hơn; hạn chế áp dụng các hình phạt nhẹ đối
với một số hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm.”
1.1.2. Khái niệm phi hình sự hóa
Phi hình sự hóa là quá trình ngược lại của HSH. Quá trình này cũng

13


diễn ra tương ứng với quá trình PTPH. PHSH là quá trình thu hẹp phạm vi tác
động của LHS hoặc làm nhẹ hơn TNHS. Thể hiện qua việc nhà làm luật loại
bỏ hình phạt mà trước đó đã áp dụng đối với một hành vi tội phạm, nay hành
vi đó được xác định không còn tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội nữa và
không được coi là tội phạm; hoặc thay thế một hình phạt nặng bằng hình phạt
nhẹ hơn, hoặc giảm mức tối đa của hình phạt. Phi hình sự hóa thể hiện một số
nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, nhà làm luật thu hẹp trong Phần chung BLHS phạm vi (giới
hạn) của sự trấn áp về hình sự đối với một hoặc một số tội phạm. Chẳng hạn,
BLHS năm 1999 đã quy định bổ sung một trường hợp miễn TNHS mới, đó là
miễn TNHS khi có văn bản đại xá [50, Điều 25]; Bổ sung vào chế định miễn
chấp hành hình phạt hai trường hợp mới, đó là miễn chấp hành hình phạt khi
có văn bản đặc xá hoặc văn bản đại xá (Khoản 2 Điều 57); Loại trừ hình phạt
tước quyền đảm nhiệm cương vị phụ trách trong các tổ chức xã hội [50, Điều
39] mà trước đây được quy định tại Khoản 1 Điều 31 BLHS năm 1985; v.v...
Thứ hai, nhà làm luật quy định theo hướng giảm nhẹ hơn loại hoặc mức

hình phạt đối với một số tội phạm. Chẳng hạn, trong BLHS năm 1999 nhà
làm luật quy định giảm nhẹ hơn mức tối thiểu hoặc tối đa của hình phạt trong
một loạt chế tài đối với những tội phạm được ghi nhận tại các điều 114, 139,
142, 144, 153, 158, 160, 162, 164, 166, 169, 173, 177, 181, 188, 190, 193,
202, 203, 208, 209, 212, 213, 216, 217, 229, 247, 250, 253, 255, 259, 262,
266, 267, 276, 281, 282, 284, 285, 306, 313, 319, 324….[50].
Thứ ba, việc PHSH còn được thực hiện bằng cách quy định bổ sung
nhiều loại hình phạt khác nhau nhẹ hơn hình phạt đã quy định trong chế tài.
Về vấn đề này có quan điểm cho rằng việc bổ sung hình phạt là biểu hiện của
hình sự hóa [19, tr.74].
Chúng tôi cho rằng ngoài những hình phạt truyền thống, BLHS quy

14


định bổ sung những hình phạt mới tạo sự đa dạng, phong phú cho hệ thống
hình phạt. Mặt khác, việc quy định bổ sung loại hình phạt mới vào các chế tài
đã tạo điều kiện lựa chọn nhiều hơn cho các Thẩm phán khi xét xử, đảm bảo
thực hiện tốt hơn nguyên tắc công bằng trong áp dụng PLHS. Vì vậy, tác giả
đồng tình với quan điểm cho rằng xuất phát từ tình hình thực tế về cơ cấu tội
phạm, tăng thêm số lượng hình phạt không có nghĩa là mở rộng phạm vi tác
động của LHS và không có nghĩa là tăng thêm yếu tố trừng trị [73, tr.570-571].
Quy định một hệ thống hình phạt cân đối, một số lượng hình phạt lớn và đa
dạng giúp cho sự lựa chọn của các Tòa án khi quyết định hình phạt được dễ
dàng, sát với nhu cầu của việc giáo dục và cải tạo người phạm tội. Thực tiễn
xét xử ở nước ta đã chứng minh có giai đoạn các Tòa án phải xử án tù giam
với một số đối tượng nhất định, bởi vì không thể tha miễn hình phạt cho kẻ
phạm tội khi trong hệ thống hình phạt không có những hình phạt khác để thay
thế cho sát, cho đúng. Hoặc trong BLHS 1999, chúng ta đã bổ sung thêm một
loại hình phạt mới vào hệ thống hình phạt - hình phạt trục xuất (Điều 32) tạo

ra sự đa dạng, phong phú cho hệ thống hình phạt, đáp ứng yêu cầu xử lý đối
với chủ thể đặc biệt là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.
Như vậy rõ ràng thực chất của HSH - PHSH là quá trình tăng nặng,
giảm nhẹ chế tài chứ không hoàn toàn là việc bổ sung hay hủy bỏ loại hình
phạt, mức hình phạt. Nhà làm luật tiến hành PHSH khi quy định bổ sung hình
phạt trong các chế tài, nếu việc bổ sung này làm chế tài ít nghiêm khắc hơn.
Chính vì vậy việc nhà làm luật bổ sung hình phạt mới vào hệ thống
hình phạt hay quy định thêm loại hình phạt trong chế tài của các điều luật cụ
thể để tạo khả năng tùy nghi và lựa chọn nhiều hơn khi áp dụng pháp luật thì
đó là biểu hiện của PHSH chứ không phải là HSH. Nói cách khác, bằng việc
PHSH, nhà làm luật cho chúng ta thấy trong giai đoạn phát triển tương ứng
của xã hội không cần thiết phải tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế về hình

15


sự đối với hành vi nào đó vì nó đã hoàn toàn mất đi tính nguy hiểm cho xã
hội; hoặc tuy hành vi vẫn còn nguy hiểm, nhưng do sự thay đổi của các yếu tố
khách quan (như các điều kiện cụ thể của đất nước về kinh tế - xã hội, chính
trị, văn hóa, hoặc pháp luật, v.v...) nên chỉ coi là hành vi trái đạo đức hay hành
vi vi phạm pháp luật khác. PHSH còn thể hiện qua việc quy định hình phạt
nhẹ hơn, giảm mức tối đa của hình phạt, hoặc mở rộng loại hình phạt tạo sự
phong phú trong hệ thống hình phạt. Bằng việc PHSH nhà làm luật thu hẹp
phạm vi tác động về hình sự khi quy định trách nhiệm hình sự nói chung, hình
phạt nói riêng.
Có thể hiểu về phi hình sự hóa như sau: “Phi hình sự hóa là việc nhà
làm luật bổ sung loại hình phạt nhẹ hơn; bổ sung các quy định, điều kiện dẫn
đến miễn TNHS, miễn hình phạt; chế tài, các hình phạt nhẹ có khả năng được
áp dụng nhiều hơn; hạn chế áp dụng các hình phạt nặng, nghiêm khắc đối với
một số hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm.”

1.2. Hình sự hoá, phi hình sự hoá trong thực hiện chính sách pháp
luật hình sự
Trong hầu hết các ngôn ngữ, chính sách luôn đồng nghĩa với chính trị.
Xét dưới góc độ ngôn ngữ, chính trị và chính sách là những từ có nghĩa rất
gần nhau, đều có chung một gốc “chính” để chỉ sự đúng đắn, sáng suốt. Chính
sách nói chung được hiểu là sách lược để thực hiện mục đích chính trị, đường
lối chính trị là sách lược chính trị. Chính sách trước hết là chính trị. Chính
sách bao giờ cũng mang tính mục tiêu chiến lược, sách lược của những người,
những lực lượng đề xướng, phản ánh tập trung quyền lợi giai cấp, đồng thời
phản ánh điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi đề ra nó.
Trong Tiếng Việt, chính sách là “chủ trương và các biện pháp của một
đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội…” [81, tr.368].
Kể từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn coi pháp
luật là một công cụ sắc bén trong xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ và

16


củng cố các quan hệ xã hội. Toàn bộ công tác xây dựng pháp luật, áp dụng và
thi hành pháp luật cũng như giáo dục, tuyên truyền pháp luật đều được tiến
hành trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng. Đường lối đó thể hiện ý chí
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện
và tổ chức thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
ở nước ta hiện nay được tiến hành trước hết trên nền tảng chính sách pháp
luật phù hợp. Vì vậy, chính sách pháp luật được hiểu là tổng thể các đường
hướng, các hình thức, nhiệm vụ, nội dung và mục đích hoạt động của Nhà
nước trong việc xây dựng, hoàn thiện và sử dụng pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Nói cách khác, đó là tổng thể những quan niệm, quan điểm
của Đảng cầm quyền về việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp
luật trong thực tiễn để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội.

Lý luận về chính sách hình sự là lý luận về sự kết hợp những nhân tố
chính trị vào trong các biện pháp pháp luật để đảm bảo tính hệ thống, sự nhất
quán của cơ chế bảo vệ và điều chỉnh bằng pháp luật các mối quan hệ xã hội
trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm phù hợp với bản
chất và mục đích của Nhà nước. Khái niệm chính sách hình sự đã được sử
dụng từ rất lâu, vào khoảng năm 1800 [34, tr.862].
Đây là vấn đề luôn được các Đảng cầm quyền, các Nhà nước với chế độ
chính trị, xã hội khác nhau quan tâm. Đảng cầm quyền khi đề ra các chính sách,
đường lối của mình trước hết phải xuất phát từ lợi ích của giai cấp mà Đảng đó
là hạt nhân lãnh đạo. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng từ trước
đến nay về lý luận vẫn chưa có nhận thức chung thống nhất về khái niệm chính
sách hình sự cũng như chưa có tiếng nói chung về nội hàm của nó.
Tại Việt Nam, vấn đề chính sách hình sự từ lâu đã thu hút được sự quan
tâm của Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn.
Thuật ngữ “chính sách hình sự” xuất hiện trong khoa học pháp lý từ những
năm đầu của thập kỷ 90. Thời gian đầu chính sách hình sự được nhắc đến

17


trong khuôn khổ của khoa học LHS nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản,
quan trọng của Luật hình sự, thể hiện trong một số bài viết khoa học bằng
việc phát hiện, nêu vấn đề có tính chất phương pháp luận chung. Trong một số
Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đã chứa đựng những
nội dung của chính sách hình sự. Tuy nhiên, tất cả những văn bản này chưa đề
cập một cách cụ thể và có hệ thống nội hàm của chính sách hình sự.
Đến nay chính sách hình sự vẫn là vấn đề lý luận chưa hoàn toàn có sự
thống nhất trong khoa học pháp lý.
- Có quan điểm cho rằng chính sách pháp luật là chính sách xây dựng
và sử dụng pháp luật, và một trong những bộ phận quan trọng của chính sách

pháp luật là chính sách hình sự [72, tr.120 - 121].
Xuất phát từ quy định tại Điều 4 của BLHS, trách nhiệm đấu tranh
phòng và chống tội phạm là trách nhiệm đặc biệt của Cơ quan công an, Viện
kiểm sát, Tòa án. Đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các cơ quan Nhà
nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân. Công tác đấu tranh phòng và
chống vi phạm nói chung, tội phạm nói riêng có nền tảng vững chắc là chính
sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Vì vậy, việc đấu tranh nhằm phòng ngừa và chống tội phạm đòi hỏi
phải có nhiều hình thức và biện pháp, trong đó có những biện pháp cưỡng chế
và pháp lý của các cơ quan chuyên trách. Trên cơ sở đó tác giả cho rằng chính
sách hình sự là chính sách xây dựng và sử dụng PLHS. Chính sách hình sự là
một bộ phận quan trọng trong chính sách pháp luật, đồng thời là một bộ phận
của chính sách phòng và chống tội phạm. Đó là đường lối, chiến lược, sách
lược và những nguyên tắc do Nhà nước đề ra trong việc xây dựng và sử dụng
các biện pháp pháp lý hình sự để đấu tranh chống tội phạm.
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nhiệm vụ của pháp luật hình sự là
nhằm bảo vệ các lợi ích của con người, của xã hội và của nhà nước, đồng

18


thời góp phần bảo vệ hoà bình và an ninh của nhân loại khỏi sự xâm hại của
tội phạm cũng như ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm mới của những người
đã thực hiện tội phạm nào đó và ngăn ngừa các thành viên khác trong xã hội
thực hiện tội phạm (TP), đồng thời giáo dục các công dân có ý thức tôn
trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Để thực hiện được
nhiệm vụ này, trong điều kiện nền kinh tế xã hội luôn có những biến động,
thay đổi thì không chỉ việc xác định loại hành vi như thế nào sẽ bị ghi nhận
trong pháp luật hình sự là tội phạm (gọi là tội phạm hóa) và ngược lại, loại

trừ khỏi pháp luật hình sự hiện hành loại hành vi nào đó (phi tội phạm hóa)
mà cả thay đổi chế tài đối với các tội phạm khác nhau luôn là một đòi hỏi
lớn đối với nhà làm luật.
Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, HSH và PHSH là hai quá
trình trái ngược nhau nhưng rất cần thiết trong chính sách về pháp luật hình
sự. Đánh giá đúng tính chất nguy hiểm hoặc không còn nguy hiểm cho xã hội
của từng loại hành vi vi phạm pháp luật để từ đó xác định có cần thiết sử dụng
chế tài hình sự - loại chế tài mạnh nhất, nghiêm khắc nhất để áp dụng với chủ
thể của hành vi là việc làm hết sức cần thiết. Để quản lý xã hội bằng pháp luật
thì bất kỳ một chính sách pháp luật (CSPL) nào do nhà nước soạn thảo ra đều
nhất thiết nhằm vào một hoặc nhiều mục đích nhất định căn cứ vào hướng
triển khai chính sách tương ứng trong đời sống xã hội.
Chính sách hình sự (CSHS) bao gồm một phạm vi rộng lớn rất nhiều
vấn đề mà khoa học pháp lý về tư pháp hình sự của nước ta có nhiệm vụ phải
làm sáng tỏ về mặt lý luận bản chất của chúng. Trong khoa học Luật hình sự
các vấn đề của CSHS từ lâu đã được các nhà nước quan tâm, ở nước ta vấn đề
này hiện còn nhiều quan niệm khác nhau về CSHS.
CSHS là chính sách của nhà nước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt
với mục đích hoàn thiện và tăng cường năng lực cho pháp luật hình sự phục

19


×