Tải bản đầy đủ (.docx) (118 trang)

Xây dựng mô hình chế định ly thân trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (540.06 KB, 118 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THỦY

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẾ ĐỊNH LY THÂN
TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THỦY
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẾ ĐỊNH LY THÂN
TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và TTDS
Mã số: 8380101,04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Anh Tuấn
Hà Nội, 2018

2


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tôi xin
khẳng định những nội dung tôi đưa ra trong luận văn không sao chép lại từ bất kỳ bài
viết nào, các thông tin, ví dụ và trích dẫn trong luận văn nhằm mục đích tham khảo đều
được trích nguồn đầy đủ, đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem
xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thị Thủy

3


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Tất cả các quý thầy cô đã giảng dạy cho tôi trong suốt khóa học tại Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Thầy cô đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức cơ bản
và hữu ích, chúng là nền tảng quan trọng để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS. Hoàng Anh Tuấn - là người hướng dẫn luận văn
cho tôi. Trong quá trình hướng dẫn luận văn, Tiến sĩ đã tận tình quan tâm, giúp đỡ, hỗ
trợ cũng như cung cấp nhiều kiến thức cơ bản và chuyên ngành để tôi có thể hoàn
thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng hết khả năng có thể để hoàn thành luận văn. Tuy
nhiên, do trình độ nghiên cứu chưa cao cũng như kiến thức còn hạn chế nên không thể
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của hội đồng
bảo vệ và các bạn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2018


MỤC LỤC
Trang

4


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1.
2.
3.
4.

BLDS : Bộ luật Dân sự
TAND: Tòa án Nhân dân
HNGĐ: Hôn nhân và gia đình
TTDS: Tố tụng dân sự

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề .
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội nói chung, thì những mối quan hệ
trong lĩnh vực HNGĐ cũng đang có nhiều biến đổi phức tạp hơn. Những vấn đề mới
xảy ra và len lỏi vào cuộc sống của gia đình, làm ảnh hưởng nhiều đến sự ổn định và
bình yên của mỗi cuộc hôn nhân. Một trong những vấn đề đó là thực trạng sống ly
thân, nó đang dần gia tăng cả về số lượng cũng như xuất hiện nhiều hệ lụy. Bên cạnh
đó các tranh chấp xuất phát từ tình trạng ly thân xảy ra ngày càng nhiều, đa dạng về

hình thức và phức tạp về nội dung dẫn đến việc rắc rối trong cách giải quyết. Ly thân
có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng bản chất của nó đều là những
mâu thuẫn mà không thể tìm được điểm chung. Những mâu thuẫn đó có thể là mâu
thuẫn trong quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, về chăm sóc, nuôi dạy con cái... Đôi
khi những mâu thuẫn đó còn do những nguyên nhân khách quan tác động đến tâm lý,
tình cảm của các cặp vợ chồng. Khi mâu thuẫn xảy ra mà không thể cùng nhau giải
quyết được, nhưng lại chưa đến mức chấm dứt hôn nhân, hoặc vợ chồng không muốn
chấm dứt hôn nhân vì nhiều lý do, thì ly thân là giải pháp mà các cặp vợ chồng lựa
chọn. Ly thân sẽ là giải pháp giúp vợ chồng có thời gian suy nghĩ và tìm hướng giải
quyết cho vấn đề đang mâu thuẫn.
Chính vì thế, việc đưa vấn đề ly thân trở thành một chế định pháp lý nhận được
cả ý kiến đồng tình và ý kiến phản đối. Mặc dù, vấn đề ly thân hiện chưa được ghi
nhận trong pháp luật nhưng những hệ lụy xuất phát từ tình trạng ly thân là không thể
phủ nhận, những hệ lụy đó bao gồm:
- Thứ nhất, về nhân thân việc ly thân đương nhiên cuộc sống hôn nhân vẫn tồn
tại trước pháp luật và vẫn còn quan hệ vợ chồng, nhưng về bản chất thì cuộc hôn nhân
đó đã có những rạn nứt và bất hòa. Trong thời gian ly thân thì việc xuất hiện của một
mối quan hệ tình cảm khác xen vào là điều rất khó tránh khỏi, từ đó sẽ nảy sinh nhiều

6


quan hệ phức tạp. Ví dụ như sống chung với người khác có con, xác lập tài sản cùng
với người khác… vậy vấn đề này cần giải quyết như thế nào?
Bên cạnh đó quan hệ vợ chồng là có nghĩa vụ chăm sóc nhau. Tuy nhiên khi đã
ly thân thì việc chăm sóc nhau lúc ốm đau, bệnh tật, khó khăn thường các bên không
quan tâm đến khiến cho việc hàn gắn tình cảm càng khó khăn hơn. Ly thân là giải pháp
hữu hiệu, giúp cho nạn nhân của bạo lực gia đình về thể xác, tinh thần hoặc tình dục
tránh xa khỏi những hành vi đó. Đặc biệt là người phụ nữ có thể tránh được những
hành vi bạo lực từ phía người chồng.

- Thứ hai, về vấn đề tài sản thì khi ly thân đa phần các cặp vợ chồng đều xác
định không liên quan gì đến tài sản của nhau. Nhưng xét trên phương diện pháp luật
hiện nay thì đó vẫn là tài sản chung do vẫn trong thời kỳ hôn nhân. Nắm bắt được vấn
đề này nhiều người đã tìm cách tẩu tán, hợp thức hóa tài sản chung thành tài sản riêng.
Hoặc cố tình vay mượn để bắt người kia phải chung trách nhiệm “vợ chồng” trả nợ.
Trong quá trình ly thân việc xảy ra quan hệ tài sản và giao dịch với người thứ ba là rất
phổ biến, việc xác định nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba chưa được quy
định.
- Thứ ba, về vấn đề nuôi dưỡng con cái. Con cái là đối tượng bị ảnh hưởng
nhiều vì ly thân vẫn đang là thời kỳ hôn nhân. Song do không cùng chung sống, nên ai
là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con cái cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn.
Không ít đứa trẻ vì bố mẹ mâu thuẫn mà bị “đá bóng” trách nhiệm, lơ là việc nuôi
dưỡng. Từ đó dẫn đến buồn chán, bỏ bê học hành, sa vào tệ nạn xã hội, hoặc phạm
pháp.
Để nhìn nhận sâu sắc hơn về vấn đề ly thân từ đó xây dựng một mô hình pháp lý
về chế định ly thân nhằm giải quyết các hệ quả phát sinh từ việc ly thân đã đề cập ở
trên, tác giả tiến hành triển khai thực hiện luận văn với đề tài: “Xây dựng mô hình chế
định ly thân trong luật HNGĐ Việt Nam”.Thông qua luận văn thạc sĩ này, tác giả mong
muốn có được những kiến thức cơ bản về các vấn đề lý luận chung liên quan đến hiện

7


tượng ly thân trong cuộc sống HNGĐ. Dựa trên góc nhìn thực tế và sự liên hệ với các
chế định pháp luật khác trong luật HNGĐ, để thấy được sự cần thiết của việc xây dựng
chế định ly thân.Từ đó đóng góp ý kiến xây dựng và hình thành hệ thống những nội
dung cơ bản, cần thiết đưa vào chế định ly thân, nếu vấn đề này được xây dựng trong
thời gian tới. Để tạo cơ sở pháp lý giải quyết các tranh chấp phát sinh, bảo vệ quyền và
lợi ích chính đáng của các chủ thể liên quan.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát.
Xuất phát từ tầm quan trọng của pháp luật đối với các vấn đề cần điều chỉnh
cũng như từ những bất cập xảy ra khi vợ chồng quyết định sống ly thân. Bài viết sẽ
nghiên cứu và trình bày những tác động, sự ảnh hưởng của ly thân với gia đình và xã
hội. Từ đó có thể để thấy được sự cần thiết của việc xây dựng chế định ly thân trong
pháp luật HNGĐ. Trên cơ sở này xây dựng mô hình chế định ly thân phù hợp và khả
thi, để áp dụng vào việc giải quyết các vấn đề xảy ra từ hiện tượng ly thân ở xã hội Việt
Nam.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.
Góp phần đạt được mục tiêu tổng quát của luận văn cần phải xác định và giải
quyết được một số mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống quan điểm lý luận về bản chất của ly thân. Đó là
hình thành khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của việc xây dựng chế định ly
thân. Nghiên cứu và đánh giá được nội dung quy định về ly thân trong pháp luật của
một số nước trên thế giới. Từ đó so sánh vấn đề ly thân trong điều kiện xã hội, phong
tục tập quán cũng như hệ thống pháp luật của Việt Nam.
Thứ hai, phân tích và đánh giá sự tác động, mức độ ảnh hưởng của vấn đề ly
thân tới gia đình, xã hội, pháp luật. Điều này nhằm khẳng định sự cần thiết xây dựng
mô hình chế định ly thân trong pháp luật HNGĐ Việt Nam.

8


Thứ ba, việc tồn tại của hệ thống các chế định thuộc phạm vi Luật HNGĐ là có
sự liên hệ với nhau. Bởi khi xây dựng chế định nào đó mà không có mối liên hệ khách
quan với các chế định khác, thì sự tồn tại của các chế định đó sẽ không phù hợp, không
đồng nhất và không mang lại ý nghĩa gì. Vì vậy, điều cần thiết là tìm ra mối liên hệ của
vấn đề ly thân với các chế định khác trong hệ thống pháp luật HNGĐ Việt Nam. Cũng
như có xét đến kinh nghiệm xây dựng pháp luật về ly thân ở nước ngoài, để hình thành
nên các nội dung cần thiết đưa vào chế định ly thân góp phần giải quyết các hệ quả do

ly thân.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài.
Vấn đề ly thân là một hiện tượng xã hội xuất hiện trong cuộc sống hôn nhân.
Nó đã và đang tồn tại, phát triển trong xã hội và ngày càng trở nên phổ biến. Vấn đề
này mặc dù đã được đưa vào dự thảo của Luật HNGĐ sửa đổi 2014, nhưng đến nay ly
thân không được điều chỉnh bởi bất kỳ quy định pháp luật nào. Vậy lý do tại sao vấn đề
ly thân lại không được đưa vào chế định pháp luật? Luận văn sẽ nghiên cứu sự ảnh
hưởng của ly thân, và tính cấp thiết của việc xây dựng chế định pháp lý về ly thân.
Xuất phát từ việc tìm ra mối liên hệ với các chế định pháp lý hiện nay,bao gồm quy
định trong khuôn khổ pháp luật HNGĐ. Ngoài ra ly thân còn có sự ảnh hưởng tới các
quy định trong pháp luật khác như luật Hình Sự; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em; Luật phòng chống bạo lực gia đình…
Luận văn sẽ phân tích các quy định về ly thân trong pháp luật cũ và dự thảo
mới nhất để nhận thấy điểm không phù hợp. Để xây dựng những nội dung, những điều
khoản cần có trong chế định ly, góp phần hình thành mô hình chế định ly thân đầy đủ
và phù hợp với nhu cầu thực tế hiện nay. Cũng như để giải quyết các hệ lụy, các tranh
chấp có nguồn gốc từ hiện tượng ly thân mà đến nay chưa có hướng khắc phục. Xây
dựng chế định ly thân trong luật HNGĐ còn ảnh hưởng đến các quy định trong một số
ngành Luật khác, do đó cần tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Trong trường hợp quy định
ly thân thì sẽ cần điều chỉnh nội dung trong các ngành luật khác.

9


1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Bài viết nghiên cứu về vấn đề ly thân, vì vậy đối tượng nghiên cứu của bài viết
là các vấn đề lý luận và thực tiễn xã hội của hiện tượng ly thân. Vấn đề ly thân chỉ xuất
hiện khi có quan hệ vợ chồng, do đó nghiên cứu vấn đề ly thân là nghiên cứu một dạng
quan hệ xảy ra giữa vợ chồng với nhau. Vấn đề ly thân hiện nay xảy ra rất phức tạp,
nên việc nghiên cứu vấn đề này cần được phân tích các vấn đề lý luận. Đó là nghiên

cứu khái niệm ly thân, đặc điểm và nguyên nhân dẫn đến ly thân, mục đích của việc ly
thân. Từ đó hình thành quan điểm về bản chất của vấn đề ly thân.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là xem xét đề tài dưới góc độ không gian và thời
gian. Dưới góc độ không gian, đề tài không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đề tài trong
phạm vi quốc gia, đó là thực tế xã hội cũng như quy định về ly thân trong pháp luật
Việt Nam. Bài viết còn mở rộng phạm vi nghiên cứu đề tài, bằng việc tìm hiểu nội
dung quy định pháp luật về ly thân của một số quốc gia khác trên thế giới. Từ đó tiếp
thu tinh hoa pháp luật cũng như sự tiến bộ của nước ngoài về thái độ đối với vấn đề ly
thân trong hôn nhân.
Về mặt thời gian, bài viết nghiên cứu vấn đề ly thân trong bối cảnh hội nhập
quốc tế hiện nay, những sự ảnh hưởng bởi quan điểm phương Tây ngày càng rõ nét và
được nhiều người lựa chọn. Từ đó đánh giá tính khả thi và sự phù hợp của việc xây
dựng chế định ly thân vấn đề ly thân. Bên cạnh đó, không thể bỏ qua việc xem xét vấn
đề ly thân dựa trên những quan điểm và quy định của pháp luật HNGĐ của Việt Nam
các giai đoạn trước đây. Để có cái nhìn sâu xa hơn về khả năng phát triển của vấn đề ly
thân trong tương lai, đưa ra những dự liệu có tính lâu dài cho việc giải quyết những bất
cập có thể xảy ra, khi ly thân càng trở nên phổ biến hơn.
2. Tổng quan tài liệu.
Sau khi dự thảo của Luật HNGĐ sửa đổi 2014 có đề xuất đưa ly thân trở thành
chế định pháp luật, đã có rất nhiều ý kiến nhận định, bày tỏ quan điểm về vấn đề này.
Đó là những bài viết, những bài nghiên cứu, so sánh, rất nhiều hội thảo xoay quanh

10


việc đưa ly thân vào quy định của Luật đã được tổ chức, nhận được nhiều sự tham gia
và đóng góp ý kiến về vấn đề ly thân trong luật. Ngay cả đến khi Luật HNGĐ 2014
được thông qua và có hiệu lực, thì vấn đề ly thân vẫn trở thành một đề tài gây nhiều
tranh cãi thông qua các bài báo, các bài bình luận. Có ý kiến cho rằng không nên quy
định về vấn đề ly thân trong luật bởi nó không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt

Nam. Vì ly thân là mối quan hệ nhạy cảm giữa vợ và chồng do vợ chồng tự định đoạt
trong cuộc sống hôn nhân và không cần sự can thiệp của luật pháp. Nếu xây dựng chế
định ly thân vấn đề ly thân sẽ dẫn đến trùng lặp, chồng chéo với chế định ly
hôn.....Nhưng bên cạnh đó, cũng có không ít ý kiến cho rằng nên xây dựng chế định ly
thân, bởi hiện nay ly thân diễn ra khá phổ biến và phức tạp dẫn đến rất nhiều hệ lụy cần
phải có quy định điều chỉnh và giải quyết. Các hệ quả phát sinh đó được giải quyết sẽ
góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thứ ba, của phụ nữ và trẻ em...
Thông qua các bài viết của một số chuyên gia trong lĩnh vực HNGĐ, ta có thể
thấy rằng ly thân là một hiện tượng xã hội có tầm ảnh hưởng rất lớn. Nó không chỉ ảnh
hưởng đối với cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng với nhau mà nó còn trở thành vấn đề
đáng lưu tâm trong việc xây dựng pháp luật. Ở mỗi bài viết, các tác giả có các cách
nhìn nhận vấn đề khác nhau, những căn cứ, phân tích, biện luận rất sắc sảo mang tính
thuyết phục cao để bảo vệ cho quan điểm của mình. Đó là những nguồn tài liệu tham
khảo hữu ích không chỉ đối với những người muốn tìm hiểu về vấn đề ly thân, mà còn
có tác động rất lớn đối với quá trình hình thành và xây dựng pháp luật về hôn nhân,
Trong số các bài nghiên cứu đó, phải kể đến những bài viết sau đây:
Bài viết: “Vấn đề ly thân có được quy định trong Luật HNGĐ Việt Nam năm
1986” của Th.S. Nguyễn Văn Cừ năm 1986 và này là PGS.TS Nguyễn Văn Cừ đăng
trên Tạp chí Luật học số 6 năm 1997. Ta có thể thấy rằng bài viết đã được thực hiện từ
năm 1997, tức là vấn đề ly thân đã xuất hiện và đã có sự nghiên cứu từ nhiều năm
trước khi Luật HNGĐ 2014 được thông qua. Bài viết phân tích nguồn gốc hình thành,
tồn tại và các quy định chính về vấn đề ly thân nói chung. Trong pháp luật của nhà

11


nước tư sản, những biến đổi của các quy định pháp lý về vấn đề ly thân trong pháp luật
Việt Nam từ giai đoạn phong kiến, ly thân không được đề cập đến do trái với truyền
thống văn hóa gia đình Việt. Đến giai đoạn tiếp theo có quy định nhưng không cụ thể
và chặt chẽ , đến nay vấn đề ly thân hoàn toàn nằm ngoài quy định pháp luật. Trong bài

viết tác giả còn đưa ra những lập luận sắc bén, để giải thích cho việc không nên đưa
vấn đề ly thân vào trong pháp luật HNGĐ. Nó xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về
chỗ ở giữa vợ và chồng. Là vấn đề thuộc về đời sống riêng tư và là quyền nhân thân
của vợ và chồng, nên để vợ chồng tự quyết định, không có bất kỳ rào cản cũng như
không bị lệ thuộc bởi ý chí của bất kỳ ai.
Một số bài viết được ra đời vào đúng thời điểm tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật
HNGĐ năm 2000 như bài viết “Bổ sung chế định ly thân vào Luật HNGĐ –những vấn
đề pháp lý và thực tiễn” của TS. Bùi Minh Hồng đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp
luật chuyên đề “sửa đổi, bổ sung Luật HNGĐ năm 2000” năm 2013– NXB Tư pháp;
hay “Vấn đề ly thân” của TS. Ngô Thị Hường tại Hội thảo khoa học về Những nội
dung liên quan đến Dự thảo Luật HNGĐ sửa đổi diễn ra tại trường Đại học Luật Hà
Nội năm 2014…
Ngay cả khi Luật HNGĐ 2014 được thông qua và có hiệu lực thi hành thì vấn
đề ly thân vẫn được đề cập nghiên cứu trong bài viết “Pháp luật Việt Nam với vấn đề
ly thân /Ngô Thu Trang đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật.Viện Nhà nước và
Pháp luật,Số 8/2016, tr. 39 – 43”.
Đề tài nghiên cứu luận văn đã thực hiện về vấn đề ly thân gồm: “Những vấn đề
pháp lý về ly thân” của Lê Thị Lương đề tài luận văn thạc sĩ /Khoa Luật Đại học quốc
gia Hà Nội năm 2016 và “Ly thân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn : luận văn thạc
sĩ luật học của Nguyễn Ngọc Sơn/ Đại học Luật Hà Nội năm 2014”
Có thể nói, các bài viết trên đã đề cập đến vấn đề ly thân và nghiên cứu nó trong
phạm vi của Luật HNGĐ Việt Nam. Các bài viết trên đã thể hiện những nhận định
mang tính pháp lý và thực tiễn cao về việc đưa quy định ly thân vào pháp luật. Mỗi bài

12


viết đều đưa ra những căn cứ hết sức thuyết phục đọc giả, để bảo vệ ý kiến của mình về
các vấn đề liên quan đến hiện tượng ly thân trong xã hội hiện nay. Bên cạnh đó, các tác
giả còn đưa ra nhiều góp ý rất giá trị, để xây dựng các thiết chế pháp lý liên quan đến

việc công nhận và không công nhận vấn đề ly thân trong pháp luật HNGĐ . Những bài
viết này không chỉ đơn thuần là những bài nghiên cứu mang tính chất khoa học thể
hiện sự quan tâm về vấn đề ly thân, mà chúng còn trở thành những tài liệu pháp lý có
giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn quan trọng, cần thiết . Nó góp phần phục vụ
cho các công trình nghiên cứu khoa học sau này cũng như trong quá trình xây dựng và
ban hành pháp luật. Tuy nhiên, các bài viết chưa tác động đa dạng đầy đủ các vấn đề
đang xảy ra mâu thuẫn của vấn đề ly thân, cũng như việc nghiên cứu chưa có sự liên hệ
để tìm ra sự tương quan với các chế định pháp lý khác về HNGĐ. Đồng thời, đến nay
chưa có một mô hình chế định ly thân nào thật sự sâu sắc, đầy đủ và phù hợp để đưa
vào luật. Ngay cả các dự thảo về vấn đề ly thân cũng gây ra nhiều sự phản đối dẫn đến
các quy định về ly thân không được thông qua.Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu, học hỏi các
nội dung đã nêu trong các công trình nghiên cứu trên, tác giả sẽ tiếp tục phân tích và
tìm hiểu một số vấn đề mới. Những vấn đề có sự ảnh hưởng, tác động đến nội dung
cần giải quyết, từ đó kiến nghị xây dựng các nội dung liên quan đến việc xây dựng mô
hình chế định ly thân.
3. Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu.
3.1. Nội dung nghiên cứu.
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của luận văn mà tác giả đã trình bày ở trên, để
nghiên cứu vấn đề xây dựng chế định ly thân ly thân thì bài viết sẽ được triển khai theo
các nội dung sau:
Chương 1: Lý luận chung về ly thân.
Với nội dung này tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề về mặt lý luận liên
quan đến ly thân từ đó làm rõ hơn bản chất của ly thân.

13


Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về vấn đề ly thân, nên chưa có một khái
niệm mang tính chất pháp lý về ly thân được công nhận. Xét từ góc độ thực tiễn thì vấn
đề ly thân được hiểu là việc vợ chồng quyết định tạm thời tách biệt về đời sống chung,

về quan hệ vợ chồng, bản chất của hôn nhân không còn tồn tại. Khi vợ chồng quyết
định sống ly thân đồng nghĩa với việc không ăn chung; không sinh hoạt chung, mọi
vấn đề đều trở thành việc cá nhân của vợ, chồng. Ly thân sẽ không còn sự quan tâm,
chia sẻ với nhau; với việc quyết định ly thân mặc dù trên phương diện pháp lý thì hôn
nhân vẫn tồn tại, song về bản chất hôn nhân thì đời sống tình cảm vợ chồng đang tạm
thời gián đoạn. . Sự tồn tại của chế định ly thân, ít nhiều cũng có sự phụ thuộc và liên
quan đến các chế định khác trong khuôn khổ luật HNGĐ, cũng như một số quy định
trong các ngành luật khác....
Chương 2: Kinh nghiệm quy định pháp luật về ly thân.
Vấn đề ly thân hiện đang là vấn đề phổ biến trong xã hội cũng như là chủ đề gây
nhiều tranh luận trong việc nghiên cứu pháp lý. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có biện
pháp giải quyết nào phù hợp. Ly thân là một hiện tượng xã hội nên nó được phát sinh,
tồn tại và phát triển gắn liền với thực tế xã hội, gắn liền với cuộc sống hôn nhân . Ly
thân đã từng được quy định trong pháp luật nước ta và mang lại những hiệu quả nhất
định. Không những thế, ly thân còn là một chế định đã và đang tồn tại trong pháp luật
của nhiều quốc gia trên thế giới; và nó đã chứng minh được những lợi ích của mình
trong giai đoạn hôn nhân.
Chương 3: Kiến nghị các quy định pháp luật về ly thân
Xuất phát từ sự cần thiết hình thành chế định ly thân trong luật HNGĐ cũng
như mối liên hệ chặt chẽ của chế định ly thân với các chế định khác , các ngành luật
khác. Xây dựng hệ thống chế định ly thân một cách đầy đủ, chi tiết và phù hợp với xã
hội và pháp luật Việt Nam là điều tất yếu. Trong khuôn khổ nội dung chương này, tác
giả sẽ trình bày những nội dung cần thiết đó là những điều luật, những quy định sẽ đưa
vào trong chế định ly thân. Ngoài ra, luận văn sẽ đưa ra các phương án thay đổi đồng

14


bộ một số nội dung pháp luật chịu sự ảnh hưởng của vấn đề ly thân, nhằm hình thành
hệ thống pháp lý về ly thân thống nhất và khả thi.


3.2. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn được tốt nhất, tác giả cần sử dụng một cách có hiệu quả
nhiều phương pháp nghiên cứu. Không chỉ là vấn đề tìm ra được phương pháp nào mà
việc sử dụng như thế nào, sử dụng ở đâu, khi nào và vào vấn đề gì là những điều hết
sức quan trọng. Bởi như vậy thì hiệu quả của việc nghiên cứu vấn đề mới thực sự được
nâng cao.
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng linh hoạt một số phương pháp
sau:
- Phương pháp thu thập, chọn lọc, phân loại và sắp xếp.
Theo đó, các phương pháp này tác giả sử dụng linh hoạt trong quá trình tìm
kiếm tài liệu nghiên cứu về vấn đề ly thân. Tuy nhiên, tài liệu là tổng hợp và phong
phú, nên cần sử dụng phương pháp chọn lọc những nguồn tài liệu đáng tin cậy và có
giá trị, phù hợp với đề tài nghiên cứu. Sau đó, việc cần thiết là phân loại các tài liệu đã
chọn lọc phân bổ vào từng nội dung trong luận văn.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
Các phương pháp này được sử dụng để giải quyết các tài liệu đã từng quy định
về ly thân trong và ngoài nước. Từ đó so sánh và đưa ra những ưu điểm và hạn chế
trong các quy định đó. Những phương pháp này chủ yếu được sử dụng tại chuwong 2
về kinh nghiệm quy định pháp luật về ly thân.
- Phương pháp tổng phân hợp, diễn dịch, quy nạp.
Nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được, phân tích để chứng minh luận điểm
bằng phương pháp diễn dịch. Sau đó sẽ chốt lại vấn đề cần giải quyết và giải quyết
như thế nào bằng phương pháp quy nạp.

15


3.3. Địa điểm nghiên cứu .
Xuất phát từ hiện tượng phổ biến cũng như những bất cập nảy sinh do hiện

tượng ly thân trong xã hội Việt Nam hiện nay, thì đề tài nghiên cứu được tập trung thực
hiện trên lãnh thổ Việt Nam, có xem xét đến yếu tố văn hóa, tôn giáo, điều kiện tự
nhiên và xã hội của Việt Nam so với các quy định về ly thân trong điều kiện kinh tế xã
hội ở một số quốc gia khác, bởi những yếu tố trên đều có sự ảnh hưởng nhất định đến
việc công nhận bằng pháp lý về vấn đề lý thân.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
4.1. Ý nghĩa lý luận.
Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến ly thân, luận
văn sẽ tiến hành thu thập các nguồn lý luận đã có trước đây, để phân tích và đưa ra
nhận định cá nhân về vấn đề ly thân hiện nay .Từ đó xây dựng quan điểm lý luận về
khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa..., góp phần hình thành bản chất của vấn đề ly thân từ đó
xây dựng hệ thống quan điểm pháp lý về ly thân.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Luận văn không chỉ mang ý nghĩa về lý luận mà còn là tài liệu mang ý nghĩa
thực tiễn lớn, khi nghiên cứu một vấn đề hiện đang rất phổ biến trong xã hội hiện nay.
Luận văn sẽ góp phần tìm hiểu các hiện tượng phát sinh từ ly thân trong xã hội, qua đó
phân tích những bất cập, những mâu thuẫn, tranh chấp do ly thân gây ra. Mục đích chủ
yếu của luận văn là hình thành mô hình chế định ly thân, để giải quyết các vấn đề phát
sinh từ ly thân mà thực tế hiện chưa có phương án xử lý.

16


CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY THÂN
Ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo, quan niệm rằng hôn nhân là do chúa trời ban
tặng nên cần phải tôn trọng và tin tưởng tuyệt đối. Do đó, trong các giáo hội không cho
phép ly hôn, ly hôn là điều cấm kỵ vì ly hôn đồng nghĩa với việc phản đối, chống lại ý
trời, chống lại ý chúa. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân vốn phức tạp và không tránh
khỏi những bất hòa làm cho cuộc sống hôn nhân không được thuận lợi. Vợ chồng cần
một giải pháp vừa không phải ly hôn mà vẫn đảm bảo giải quyết mâu thuẫn, xung đột

của vợ chồng, từ đó vấn đề ly thân được hình thành. Dần dần ly thân không còn là giải
pháp mà chỉ những người trong công giáo thực hiện, nó trở thành sự lựa chọn phổ biến
của các cặp vợ chồng và được thực hiện rộng rãi để tạo một khoảng lặng cho cuộc sống
hôn nhân đang trong tình trạng phức tạp.
Trên thế giới hiện nay, có hai hệ thống pháp luật chủ yếu là common law ( Luật
Anh – Mỹ) và civil law ( Luật Pháp – Đức) song song tồn tại với những đặc điểm khác
nhau. Tuy nhiên , ở mỗi hệ thống pháp luật có những đặc trưng riêng và có những hiệu
quả riêng. Nếu common law là coi trọng sự thỏa thuận và tiền lệ, còn civil law coi
trọng văn bản quy phạm pháp luật. Như hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đang là
mang đặc trưng của hệ thống pháp luật civil law, như vây khi xem xét xây dựng một
chế định cũng cần có sự lựa chọn phương án xây dựng theo hệ thống nào. Ở đây, tác
giả đang định hướng xây dựng mô hình chế định theo hệ thống civil law, trong đó coi
trọng văn bản pháp lý và quyết định của Tòa án.
Ngoài ra, sự cần thiết xây dựng mô hình chế định ly thân hình thành là do nhu
cầu thực tế xã hội hiện nay. Nhiều vợ chồng yêu cầu tòa án quyết định việc ly thân và
giải quyết hệ quả ly thân bằng quyết định có giá trị pháp lý , nhưng vì hiện nay chưa có
quy định về ly thân nên nhiều Tòa án lấy lý do đó để từ chối thụ lý giải quyết. Hiện
nay, khi Bộ luật TTDS năm 2015 có hiệu lực, thì quy định về việc: “Tòa án không
được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” (khoản 2
điều 4 của BLTTDS năm 2015 ) sẽ khiến cho việc từ chối trên không xảy ra. Đồng

17


nghĩa với việc, Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu ly thân của vợ chồng, còn việc giải quyết
thế nào, đúng là sẽ khiến cho Tòa án gặp khó khăn. Chính vì thế nên cần có những quy
định pháp lý về ly thân trong luật HNGĐ Việt Nam, và là một nhu cầu bức thiết hiện
nay.
1.1. Khái niệm ly thân.
Trong dự thảo Luật HNGĐ sửa đổi 2014 có đưa ra khái niệm ly thân như sau:

“Ly thân là tình trạng pháp lý, theo đó vợ chồng không có nghĩa vụ sống chung với
nhau do cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của hai vợ
chồng hoặc của vợ, chồng”. Tuy nhiên, khái niệm này gây ra nhiều tranh luận về tính
hợp lý cũng như mức độ chính xác của nó, do dự thảo liên quan đến vấn đề ly thân
không được ghi nhận trong luật nên chưa có khái niệm chính thức về ly thân.
Xét về mặt thực tế và theo cách hiểu đơn giản nhất thì vợ chồng thường xem ly
thân là việc mà vợ chồng không có mối quan hệ tình cảm với nhau, ly thân để hàn gắn
hôn nhân và giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Do đây là vấn đề nhạy cảm nên thường
chỉ có hai vợ chồng biết và tự quyết định với nhau. Nhưng xem xét trên góc độ pháp lý
thì ly thân không chỉ đơn giản là vấn đề riêng tư của vợ chồng mà nó còn là vấn đề ảnh
hưởng đến nhiều mối quan hệ khác. Như vậy, thứ nhất ly thân là do vợ chồng quyết
định, điều này đảm bảo nguyên tắc hôn nhân tự nguyện xuyên suốt trong các quan hệ
HNGĐ. Ngoài ra, trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được việc ly thân, hoặc
có một bên yêu cầu ly thân thì bắt buộc phải cần có sự can thiệp của Tòa án.
Thứ hai, quy định ly thân là việc vợ chồng không có nghĩa vụ sống chung là
mâu thuẫn với quy định về tự do cư trú, Theo khoản 2 điều 15 Luật cư trú văn bản hợp
nhất 2013 “Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận”[34]. Do đó
không loại trừ trường hợp vợ chồng chưa ly thân vẫn có quyền không cùng nơi cư trú.
Khái niệm sống chung tồn tại nhiều hình thức như sống chung nhà, ăn chung, ngủ
chung, sử dụng tài sản chung..., ở đây ly thân chỉ là đề cập đến vấn đề không có quan
hệ vợ chồng, không có đời sống tình cảm với do mâu thuẫn. Và trên thực tế xã hội

18


nước ta hiện nay phổ biến là việc vợ chồng sống ly thân là chỉ ăn riêng, ngủ riêng ...
nhưng vẫn sống chung nhà. Một phần là do điều kiện về nơi ở của vợ chồng, một phần
là do văn hóa nước ta là vợ chồng vẫn còn muốn giữ kín chuyện ly thân, chỉ vợ chồng
biết với nhau và không muốn để ai biết. Chính vì vậy, nếu như quy định rằng vợ chồng
không có nghĩa vụ sống chung trong thời gian ly thân, thì nên có quy định giải thích rõ

thế nào là nghĩa vụ sống chung cho phù hợp với khái niệm ly thân ở nước ta.Cụ thể
hơn là không nên quy định việc “biệt cư”- tách biệt về chỗ ở là bắt buộc mà chỉ bắt
buộc trong một số trường hợp cần thiết như vợ hoặc chồng có nguy cơ bị bạo lực gia
đình về thể xác, tinh thần, hoặc tình dục, bị xúc phạm danh dự , nhân phẩm...
Tìm hiểu khái niệm ly thân trong pháp luật của một số quốc gia khác ta nhận
thấy bản chất của ly thân là việc đình chỉ nghĩa vụ sống chung. Trong pháp luật Cộng
hòa Pháp ( civil law) thì chế định ly thân được quy định tại điều 296 BLDS Cộng hòa
Pháp, nó được hiểu là sự giảm độ gắn kết quan hệ vợ chồng. Theo đó, hệ quả quan
trọng nhất là sự hủy bỏ nghĩa vụ chung sống giữa vợ và chồng, trong khi những nghĩa
vụ khác như nghĩa vụ chung thủy, nghĩa vụ tương trợ giúp đỡ nhau vẫn phải được duy
trì giữa vợ và chồng. Theo pháp luật của Anh (common law) thì ly thân được hiểu là
đình chỉ quyền và nghĩa vụ sống chung, chỉ còn để lại nghĩa vụ trung thành và không
thể kết lập cuộc hôn nhân mới. Tham khảo các khái niệm về ly thân trên, ta nhận thấy
rằng việc ly thân không làm chấm dứt hôn nhân, mà chỉ là tạm thời gián đoạn hay dùng
từ chính xác hơn là “đình chỉ” một số quyền và nghĩa vụ của vợ chồng , như vậy sẽ phù
hợp hơn quy định là “hủy bỏ”. Nó làm giảm mức độ gắn kết của mối quan hệ vợ
chồng, chứ không phải là bị hủy bỏ hoàn toàn tất cả các quyền và nghĩa vụ vợ chồng
như ly hôn. Bởi khi ly thân có thể sẽ xảy ra hai trường hợp là vợ chồng sẽ ly hôn hoặc
sẽ quay trở lại với nhau. Và mục đích của việc ly thân là hàn gắn hôn nhân để có kết
quả cuối cùng là gìn giữ hôn nhân, không để hôn nhân chấm dứt.
Công nhận chế định ly thân trước hết là công nhận quyền được ly thân của vợ
chồng, để bảo đảm nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân. Đồng thời cũng cần sự công

19


nhận của cơ quan nhà nước để việc ly thân đó là cơ sở giải quyết các hệ quả phát sinh.
Do vậy, việc vợ chồng quyết định ly thân cần có văn bản thoản thuận, và để văn bản
thỏa thuận đó có giá trị pháp lý thì cần có sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Do nước ta còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng văn hóa nên việc công khai ly thân của vợ

chồng còn nhiều e ngại, nên chăng cho phép vợ chồng thỏa thuận ly thân bằng chứng
thư ly thân nhưng có sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền. Có thể cho phép vợ
chồng lựa chọn có thể yêu cầu Tòa án công nhận, hoặc cơ quan tư pháp địa phương.
Bên cạnh đó, để bảo vệ tốt hơn quyền của phụ nữ và trẻ em – là những người yếu thế
hơn tránh khỏi vấn nạn bạo lực gia đình... thì nên chấp nhận ly thân pháp lý, đó là việc
Tòa án cho phép ly thân khi có yêu cầu của một bên và khi xét thấy cần thiết.
Từ những phân tích ở trên, tác giả cho rằng khái niệm ly thân nên hiểu như sau:
“Ly thân là tình trạng pháp lý không làm chấm dứt hôn nhân trước pháp luật, nhưng
làm gián đoạn một số quyền và nghĩa vụ vợ chồng nhằm giải quyết mâu thuẫn vợ
chồng và hàn gắn hôn nhân. Việc ly thân có hiệu lực pháp luật khi có sự công nhận
hay quyết định của Tòa án.”
1.2. Phân loại ly thân.
Ly thân xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, với mỗi căn cứ phân loại lại có
những hình thức riêng. Phân loại ly thân có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình
xây dựng pháp luật. Nó giúp cho việc nghiên cứu bản chất ly thân được đa dạng hơn,
đầy đủ hơn. Ngoài ra, nó còn góp phần quan trọng vào quá trình hình thành các quy
định pháp lý về ly thân. Từ đó có thể điều chỉnh đượccác quy định phù hợp với từng
hình thức ly thân.
Nếu căn cứ theo đối tượng yêu cầu ly thân, thì có thể phân loại thành thuận tình
ly thân và yêu cầu ly thân của một bên. Thuận tình ly thân là khi cả hai bên vợ chồng
đều đồng ý chấp nhận việc ly thân. Còn ly thân theo yêu cầu của một bên, là chỉ có một
bên vợ hoặc chồng có nhu cầu ly thân, còn bên kia không đồng ý ly thân mà lựa chọn
phương án khác để giải quyết mâu thuẫn hôn nhân.

20


Còn nếu căn cứ theo thủ tục pháp lý thì có thể gồm ly thân pháp lý và ly thân
thực tế. Theo đó, ly thân pháp lý là do cơ quan nhà nước ra quyết định công nhận sự
việc ly thân. Còn ly thân thực tế là khi vợ chồng thỏa thuận với nhau bằng hợp đồng ly

thân có chữ ký của hai bên vợ chồng.
Hoặc căn cứ theo nguyên nhân ly thân có thể phân chia thành ly thân vì yếu tố
lỗi, ly thân do bạo lực gia đình, ly thân do ngoại tình.....Cách phân loại này là căn cứ
vào nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly thân hay vợ chồng ly thân vì lý do gì.
1.3. Đặc điểm của ly thân
1.3.1. Ly thân là quyền của vợ chồng nhằm giải quyết mâu thuẫn trong hôn nhân.
Hôn nhân là sự gắn kết của hai con người, mỗi người có những quan điểm,
những cách nghĩ khác nhau. Rất khó có thể đồng nhất tuyệt đối những quan điểm đó,
dẫn đến mối quan hệ vợ chồng trong đời sống hôn nhân rất phức tạp và nhạy cảm nên
không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng. Hôn nhân sẽ bền chặt và lâu dài, nếu
chủ thể của những mâu thuẫn đó là vợ chồng tìm được cách giải quyết phù hợp cho
từng trường hợp, mà không làm ảnh hưởng đến tình cảm của vợ chồng. Mâu thuẫn
trong cuộc sống hôn nhân có rất nhiều hình thức và do rất nhiều nguyên nhân gây nên .
Và đương nhiên, chỉ có người trong cuộc mới nắm rõ được bản chất vấn đề đang xảy
ra. Vậy nên, việc quyết định đưa ra giải pháp như thế nào là quyền của vợ chồng, bản
thân họ sẽ điều chỉnh hài hòa mâu thuẫn đó và đưa cuộc sống hôn nhân trở lại bình
thường.
Chẳng hạn, mâu thuẫn liên quan đến tài sản thì đã có chia tài sản vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân. Mâu thuẫn liên quan đến tình cảm và cảm xúc của vợ chồng khiến
cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, mâu thuẫn không thể hài hòa được thì vợ chồng
thường tìm đến giải pháp ly hôn,... Vậy đối với những trường hợp chưa đến mức phải
ly hôn và vợ chồng vẫn còn mong muốn sống cùng nhau, chỉ là giảm thiểu những căng
thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ chồng, để cho các bên có thời gian suy ngẫm, nhìn
nhận lại bản thân để hướng tới sự hòa hợp, đoàn tụ thì phương pháp nào là phù hợp?

21


Do đó ly thân là giải pháp được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn dùng để giải quyết mâu
thuẫn vợ chồng trong thời kỳ hôn, chứ không phải là để chấm dứt hôn nhân. Rất nhiều

cặp vợ chồng khi quyết định ly hôn thường bị "sĩ diện cá nhân" chi phối, nên sau đó
cảm thấy việc chia tay của mình là quá vội vàng. Thủ tục ly hôn nhanh khiến họ không
có thời gian để kiểm nghiệm xem quyết định của mình là đúng hay sai. Do đó xảy ra
nhiều trường hợp cảm thấy hối hận muốn trở lại làm vợ chồng sau một thời gian quyết
định ly hôn, lúc này muốn quay lại thì phải thực hiện lại thủ tục kết hôn.
Chính vì thế, ly thân là giải pháp phù hợp để kìm chế lại những mâu thuẫn vợ
chồng, không thể cứ mâu thuẫn là vợ chồng đòi chia tay và tìm đến việc ly hôn. Những
mâu thuẫn xảy ra tạo lên sự căng thẳng trong cuộc sống gia đình, khiến cho những
người trong cuộc cảm thấy ngột ngạt và áp lực. Vì vậy mà cần có thời gian để chính
bản thân họ tìm ra nguyên nhân và cách để giải tỏa những mâu thuẫn đó. Mọi người
được tôn trọng trong việc lựa chọn vợ, chồng phù hợp để cùng xây dựng cuộc sống hôn
nhân và tạo lập gia đình. Do đó vợ chồng hoàn toàn có quyền lựa chọn nơi sống, cách
sống và cách giải quyết các vấn đề phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, việc làm
thế nào để điều hòa mâu thuẫn, xung đột là quyền của chính vợ chồng. Không ai có thể
ép buộc hay tác động vào vấn đề này, điều này càng đúng hơn với những quyền liên
quan đến nhân thân của vợ chồng. Việc họ sống với nhau như thế nào do họ quyết định,
khi nào nên tạm dừng, khi nào nên tiếp tục và khi nào thì chấm dứt sẽ cần cân nhắc rất
kỹ lưỡng. Tương ứng với mỗi giai đoạn, với mỗi trường hợp xảy ra thì sẽ có các
phương pháp phù hợp để giải quyết. Điều quan trọng là những người trong mối quan
hệ đó lựa chọn cách nào, và ly thân cũng là một phương pháp mà vợ chồng có quyền
lựa chọn.
1.3.2. Ly thân mang tính chất tự nguyện, bình đẳng.
Tự nguyện, bình đẳng là nguyên tắc chung và xuyên suốt trong thời kỳ hôn nhân
được pháp luật HNGĐ Việt Nam ghi nhận. Do vậy, ly thân xảy ra trong thời kỳ hôn
nhân nên cũng cần đảm bảo nguyên tắc này. Việc ly thân là vấn đề của vợ chồng,

22


nhưng không phải lúc nào cũng dùng ly thân để giải quyết mâu thuẫn, mà chỉ khi vợ

chồng cảm thấy cần thiết mới lựa chọn ly thân. Hôn nhân được xây dựng trên nguyên
tắc tình cảm tự nguyện, không gượng ép thì mới bền vững, lâu dài và có giá trị pháp
lý. Nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện xuyên suốt luật HNGĐ thể hiện ở việc vợ chồng
tự định đoạt các sự việc phát sinh. Việc định đoạt đó được gây đựng trên cơ sở bình
đẳng giữa vợ và chồng , mỗi người đều được tôn trọng ý kiến cá nhân của mình. Vì thế
mà ly thân hoàn toàn theo yêu cầu và thỏa thuận của vợ chồng, và quyền giữa vợ và
chồng là như nhau. Theo đó, một bên vợ hoặc chồng không được ép buộc bên kia đồng
ý ly thân, hay không bất kỳ ai có quyền yêu cầu vợ chồng ly thân nếu bản thân vợ
chồng đó cảm thấy không thực sự cần thiết. Ngoài xét đến tính tự nguyện trong việc ly
thân, thì việc ly thân còn thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Theo đó vợ chồng có
thể cùng chấp nhận ly thân hoặc một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu ly thân nếu có lý
do chính đáng và cần thiết. Đối với những trường hợp vi phạm nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng mà chứng minh được, thì việc ly thân đó có thể bị coi là vô hiệu và không
thể áp dụng các quy định pháp luật về ly thân trong mối quan hệ đó. Pháp luật cũng
không thể cưỡng chế ly thân, vì bản chất của ly thân là quyết định của vợ chồng tương
tự như kết hôn và ly hôn; chỉ khi nào vợ, chồng có yêu cầu khi pháp luật mới can thiệp
để giải quyết. Việc can thiệp của cơ quan có thẩm quyền nhằm xác định quyết định ly
thân đó có hiệu lực pháp luật, và mọi hậu quả pháp lý sau ly thân phải được áp dụng.
Tuy nhiên, việc ly thân cũng cần được đặt trong giới hạn quy định của các thiết chế
pháp luật, để giải quyết các hệ quả ngay cả khi vợ chồng không có yêu cầu, nhằm đảm
bảo quyền lợi hợp pháp của các quan hệ xã hội khác.
1.3.3. Ly thân là quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác.
Xét về bản chất thì ly thân là mối quan hệ giữa vợ và chồng nó thể hiện quyền
nhân thân của hai người với nhau, nên việc phát sinh, diễn biến, giải quyết, định đoạt là
hoàn toàn do quyết định của vợ chồng. Ly thân là vấn đề xảy ra trong mối quan hệ vợ
chồng và chủ thể của ly thân là vợ và chồng, nó là chuyện riêng tư của vợ chồng. Do

23



đó chỉ có vợ chồng mới hiểu được mức độ nghiêm trọng của mâu thuẫn để đưa ra
quyết định ly thân. Cuộc sống hôn nhân, chuyện gần gũi của vợ chồng là quyền nhân
thân đã được pháp luật cho phép, người thực hiện ở đây là hai cá thể đã được liên kết,
gắn bó đó là vợ và chồng. Mặc dù pháp luật công nhận đời sống chung của vợ chồng,
nhưng việc thực hiện đời sống đó như thế nào thì hoàn toàn do quyết định của vợ
chồng. Vợ chồng có thể tạm dừng đời sống vợ chồng bất kể lúc nào họ thấy cần thiết
mà không ai có quyền can thiệp, nhưng trên pháp luật họ vẫn là vợ chồng, nên cần đảm
bảo các nguyên tắc, các nghĩa vụ của vợ chồng với nhau. Ngay cả việc ly thân trong
bao lâu thì cũng do vợ chồng quyết định và tự giải quyết với nhau chứ không ai có thể
thay thế, đại diện họ. Họ cũng không thể ủy quyền cho ai đưa ra quyết định ly thân
hay không ai có thể ép buộc họ làm việc này. Điều này sẽ góp phần giữ gìn trật tự của
cuộc sống hôn nhân. Trong trường hợp vợ chồng ly thân do bị ép buộc thì đương nhiên
việc ly thân đó không có hiệu lực và tất cả các hệ quả từ ly thân đó không được công
nhận. Khi ly thân xảy ra mà có dấu hiệu vi phạm thì bất kể ai liên quan đều có quyền
yêu cầu hủy quyết định ly thân đó.
1.3.4. Ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật.
Hậu quả pháp lý về ly thân là hoàn toàn khác với hậu quả pháp lý về ly hôn. Ly
thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng mà chỉ tạm ngừng việc sống chung. Tuy
nhiên, do vợ chồng không cùng sống chung với nhau nên phát sinh vấn đề là giải quyết
về tài sản và con chung. Những nước mà pháp luật quy định vợ và chồng có tài sản
chung thì khi ly thân tài sản chung được chia. Nguyên tắc chia tài sản chung giống như
khi vợ chồng ly hôn. Một nguyên tắc mà các quốc gia đều áp dụng là ly thân sẽ dẫn
đến biệt sản. Về vấn đề con chung thì các nước đều quy định phương thức giải quyết
giống như khi vợ chồng ly hôn. Ly thân chấm dứt khi vợ chồng về chung sống với
nhau. Trong trường hợp này thì chế độ biệt sản chỉ chấm dứt khi vợ chồng có thỏa
thuận bằng văn bản (hợp đồng). Nếu bản án ly thân đã được chuyển thành bản án ly
hôn theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật thì các bên chấm dứt

24



quan hệ vợ chồng. Các vấn đề về tài sản, về con chung giải quyết theo quy định chung
về ly hôn.
Ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng nên trong
thời gian sống ly thân, các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, với
con chung và tài sản. Mặt khác, nếu qua quá trình ly thân mà tình trạng mâu thuẫn vợ
chồng vẫn trầm trọng, vợ hoặc chồng vẫn không thể hài hòa mâu thuẫn, không cảm
thông, tha thứ cho nhau, không khắc phục lỗi lầm, không dung hòa... khi ấy, các bên có
thể xin ly hôn.
Ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, mà công nhận ly thân để có căn
cứ pháp lý điều tiết các quan hệ xã hội, các hậu quả pháp lý bị ảnh hưởng bởi việc ly
thân. Ly thân chỉ là tạm ngừng một số nghĩa vụ, trách nhiệm và làm riêng biệt một số
vấn đề của vợ chồng nhưng quan hệ hôn nhân trước pháp luật vẫn được đảm bảo.
1.4. Mục đích, ý nghĩa của ly thân và việc xây dựng chế định ly thân.
- Giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng
Ly thân tạo điều kiện cho vợ, chồng có thời gian để cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đi tới
quyết định cuối cùng trong giải quyết mâu thuẫn của mình. Thời gian ly thân sẽ giúp vợ chồng
bình tĩnh lại để xem xét lỗi lầm của mỗi người, và là cơ hội để vợ chồng thay đổi cũng như tha
thứ cho nhau, nhờ đó mà có cái nhìn chín chắn và sâu sắc hơn trong các vấn đề mâu thuẫn. Ly
thân là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng ngoài biện pháp chấm dứt hôn
nhân bằng ly hôn.
Ly thân là để hướng đến sự đoàn tụ, giải quyết mâu thuẫn và để khẳng định
cũng như gắn chặt thêm tình cảm vợ chồng, chứ không phải để hướng đến ly hôn. Với
ý nghĩa đó, ly thân không phải là bước đệm để ly hôn. Tuy nhiên, nếu sau một thời gian
ly thân mà các bên vẫn không thể nào đoàn tụ được, lúc đó ly thân là cơ sở để tòa án
xem xét giải quyết cho ly hôn.
Nhiều ý kiến cho rằng, khi ly thân thì tình cảm vợ chồng sẽ ngày càng mờ nhạt,
thêm vào đó do chịu sự cám dỗ và tác động bên ngoài mà thái độ cư xử của vợ chồng

25



×