I . NỘI DUNG LÝ THUYẾT
1. Khái niệm
Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một
sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ra một sự biến đổi
nhất định.
Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do những tác động giữa
các mặt, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng tạo nên.
Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện. Điều kiện là những yếu tố giúp
nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng bản thân điều kiện không sinh ra kết quả.
Nguyên cớ là cái không có mối liên hệ bản chất với kết quả.
2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.
- Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn
kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Mối quan hệ nhân quả không chỉ
đơn thuần là sự đi kế tiếp nhau về thời gian (cái này có trước cái kia), mà là mối
liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh ra cái kia. Chỉ có mối quan hệ tất yếu về mặt
thời gian mới là quan hệ nhân quả.
- Nguyên nhân thế nào thì sinh ra kết quả thế ấy. Cùng một nguyên nhân sinh ra
nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả do nhiều nguyên nhân sinh ra. Do đó, mối
quan hệ nhân quả rất phức tạp. Trong trường hợp nhiều nguyên nhân cùng tham gia
sinh ra một kết quả, người ta chia ra các loại nguyên nhân:
Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài;
Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp;
Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản;
Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu;
Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
- Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất
định. Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động đến sự vật, hiện tượng
khác và trở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa. Do đó, sự phân biệt
nguyên nhân với kết quả chỉ có tính chất tương đối. Chẳng hạn, sự phát triển của
vật chất là nguyên nhân sinh ra tinh thần, nhưng tinh thần lại trở thành nguyên
nhân làm biến đổi vật chất.
3 . Hoán đổi|
Ăngghen đã nêu lên mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau Điều này có nghĩa là một
sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối
quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại. Engels nhận xét rằng:
“
Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân
và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định.
Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối
liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn
với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến,
trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau. Chuỗi nhân
quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc. Một hiện tượng
nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một
quan hệ xác định cụ thể
Ông cũng khẳng định: Nguyên nhân và kết quả là những biểu tượng có ý nghĩa là
nguyên nhân và kết quả khi nào được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt,
nhưng khi ta xét trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn
bộ thế giới, thì nguyên nhân hội tụ lại và quyện vào nhau trong biểu tượng về sự
tác động qua lại phổ biến trong đó nguyên nhân và kết quả luôn đổi chỗ cho nhau:
cái ở đây hay bây giờ là nguyên nhân, thì ở chỗ khác hay lúc khác lại trở thành kết
quả và ngược lại.[9][10]
Trong những quan hệ xác định, kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất
hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân. Sự ảnh hưởng đó có thể
diễn ra theo hai hướng:
Hướng tích cực, tức là thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân
Hướng tiêu cực, tức cản trở sự hoạt động của nguyên nhân.
Tính chất
Phép biện chứng duy vật của triết học Marx-Lenin khẳng định mối liên hệ nhân
quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu.
Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật,
không phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người biết hay không biết,
thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi
nhất định. Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và
”
những biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo
ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình.
Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có
nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên
nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi.
Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả
với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực.
Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống
nhau sẽ gây ra kết quả như nhau. Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật
nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy tính
tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân
tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì
kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu.
4 . Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, Triết học
Mác-Lênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng
dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự
vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân. Nhưng không
phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân. Nhiệm vụ của nhận
thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã
hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó. Muốn tìm nguyên nhân phải
tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế
giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc của con người, tách
rời thế giới hiện thực.
“
Hoạt động của con người là hòn đá thử vàng của tính nhân quả
”
— Ph.Ăng-ghen
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện
tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện
tượng đó xuất hiện.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai
trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chủ
thể cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ
yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan,
nguyên nhân khách quan... Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các
nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác
động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động
tiêu cực.
II . ÁP DỤNG GIẢI THÍCH THỰC TRẠNG TỘI PHẠM
1 . Khái niệm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
2 . Thực trạng tình hình tội phạm nước ta hiện nay
Theo số liệu thống kê do Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin, Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao và Vụ Thống kê - Tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao
cung cấp thì trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012, trong phạm vi
toàn quốc đã khởi tố điều tra 970.940 vụ với 1.488.643 bị can. Trong đó, số vụ mới
là 788.976 vụ với 1.188.865 bị can. Viện Kiểm sát nhân dân đã truy tố 697.253 vụ
với 1.131.515 bị cáo và Tòa án đã xét xử 673.832 vụ với 1.090.102 bị cáo (chưa
tính số vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia).
Nhìn chung, số lượng các vụ án có chiều hướng gia tăng theo từng năm (năm 2000
có khoảng gần 58.000 vụ nhưng đến năm 2012 có gần 94.000 vụ). Tình hình diễn
biến các nhóm tội phạm được quy định tại Phần các tội phạm của BLHS đều thay
đổi theo hàng năm. Đáng chú ý, có bốn nhóm tội luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các
vụ án được khởi tố, điều tra. Đó là: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của con người (chương 12 BLHS); các tội xâm phạm sở hữu
(chương 14 BLHS); các tội phạm về ma túy (chương 18 BLHS); các tội xâm phạm
an toàn công cộng, trật tự công cộng (chương 19 BLHS).
Về loại tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người,
nhóm tội này diễn biến ngày càng phức tạp. Các tội giết người, hiếp dâm có dấu
hiệu gia tăng. Các băng nhóm tội phạm có tổ chức, các đường dây hoạt động theo
kiểu xã hội đen mặc dù chỉ là nhóm nhỏ nhưng hoạt động liều lĩnh. Các tội xâm hại
phụ nữ, trẻ em có chiều hướng gia tăng, tập trung vào nhóm tội xâm hại tình dục;
tiếp sau đó là tội cố ý gây thương tích; tội mua bán, bắt trộm, đánh tráo trẻ em.
Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình vẫn tồn tại cả ở thành thị và nông
thôn, trong tất cả các nhóm xã hội. Đặc biệt, số vụ án về các tội xâm phạm sở hữu
được khởi tố, điều tra hàng năm luôn đứng đầu trong số bốn nhóm tội phạm nêu
trên. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu hàng năm có xu hướng tăng, nhất là cướp,
cướp giật, trộm cắp... Đối tượng thực hiện loại tội phạm này rất đa dạng. Ngoài đối
tượng tại chỗ, không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định thì thời gian
gần đây còn xuất hiện nhiều đối tượng từ các địa phương khác liên kết gây án và
đặc biệt tội phạm xảy ra trong học sinh, sinh viên, đối tượng phạm tội là người dân
tộc thiểu số. Trong vài năm gần đây đã xảy ra hàng loạt các vụ lừa đảo hoặc lợi
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các vụ vỡ nợ với số tiền lên tới hàng trăm tỷ
đồng, liên quan đến nhiều thành phần, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến tình
hình an ninh, kinh tế và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nhiều tỉnh, thành trong
thời gian dài
Về loại tội phạm ma túy, hoạt động mua bán ma túy hiện đang diễn biến khá phức
tạp và vẫn có dấu hiệu gia tăng, với những thủ đoạn tinh vi hơn, hành vi phạm tội
manh động, liều lĩnh hơn mặc dù công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm
này đã và đang thực hiện rất kiên quyết và triệt để.
Về loại tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, trong thời
gian qua nổi lên tình trạng chống người thi hành công vụ, sử dụng "vũ khí nóng"
để phạm tội; tội phạm đánh bạc có chiều hướng gia tăng ở một số địa phương.
Theo số liệu của Ban chỉ đạo Đề án IV “Đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm
hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên”, từ năm 2007 - 6/2013, toàn
quốc phát hiện gần 63.600 vụ, gồm hơn 94.300 em vi phạm pháp luật hình sự. Số
vụ phạm pháp tăng gần 4.300 vụ, bằng 6,72% so với 6,5 năm trước đó. So với tổng
số vụ phạm pháp hình sự trong toàn quốc thì số vụ án do người chưa thành niên
gây ra chiếm gần 20%.
Tội phạm do người chưa thành niên gây ra chủ yếu là các tội: Trộm cắp tài sản
(21.812 vụ/33.010 đối tượng, chiếm 34,30%); Cố ý gây thương tích (5.692
vụ/9.588 đối tượng, chiếm 8,95%); Gây rối trật tự nơi công cộng (4.870 vụ/8.768
đối tượng, chiếm 7,65%); Cướp giật tài sản (3,76%); Cướp tài sản (1,43%); Đánh
bạc; Hiếp dâm, cưỡng dâm; Cưỡng đoạt tài sản; Giết người và một số tội danh
khác.
Hầu hết người chưa thành niên phạm tội đều là nam giới, chiếm đến 96,87% tổng
số người vi phạm. Độ tuổi phạm tội ngày càng trẻ hóa, trong đó dưới 14 tuổi chiếm
13%; từ 14 - 16 tuổi chiếm 34,7%, từ 16 - 18 tuổi chiếm 52%. Điều đặc biệt, gần
một nửa số đối tượng phạm tội đều đã bỏ học (chiếm 45%), có học lực yếu, kém
(chiếm 60,7%).
Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Bộ
Công an), từ năm 2002 đến tháng 6/2013, 4 trường giáo dưỡng gồm Trường giáo
dưỡng số 2 - Ninh Bình; số 3 - Đà Nẵng; số 4 - Đồng Nai và số 5 - Long An đã tiếp
nhận 21.836 người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Ttrong đó có 21.335 nam,
chiếm 97,93%; nữ có 501 em, chiếm 2,07%.
Tính đến hết tháng 6/2013, 4 trường giáo dưỡng nói trên đang quản lý 2.834 học
sinh, trong đó có 70 em là nữ. Và cũng không có gì là lạ khi có tới 40,7% các em
đã từng bị nhà trường thi hành kỷ luật cảnh cáo hoặc đuổi học, hơn 85% số em
nghiện thuốc lá, thuốc lào, gần 60% thích xem phim đồi trụy, phim đen, 33% em
thích uống rượu, bia.
Số liệu thống kê cho thấy, 70% đối tượng người chưa thành niên phạm tội sống tại
thành phố, thị xã, thị trấn; 24% sống ở nông thôn. Có tới 34,4% các em sống trong
hoàn cảnh thiếu hẳn sự chăm sóc của bố mẹ đẻ, trong đó có 4,8% sống với ông bà;
2,4% sống với anh chị; 14,5% sống lang thang… Có 80% trong số 7.861 vụ phạm
tội ở lứa tuổi chưa thành niên rơi vào hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bố mẹ là đối
tượng hình sự, rượu chè, cờ bạc, gia đình thường xảy ra bạo lực… thiếu sự quan
tâm đến trẻ em, sự giáo dục chưa phù hợp, để các em lang thang kiếm sống hoặc
nuông chiều quá mức. Trong số 15.736 vụ án hình sự do người chưa thành niên
gây ra thì có tới 85% các em vi phạm pháp luật là do bản thân thiếu tu dưỡng, rèn
luyện, ham chơi bời, hưởng thụ, đua đòi các thói hư tật xấu của xã hội…
Trong thời gian gần đây, liên tiếp xảy ra những vụ án chấn động dư luận xã hội mà
hung thủ là những người chưa thành niên. Thậm chí, không ít trong số đó phạm
một lúc 2-3 hành vi đặc biệt nguy hiểm như cướp của, giết người… Do tại thời
điểm phạm tội, các em chưa đủ 18 tuổi nên không phải chịu khung hình phạt cao
nhất dành cho tội danh đã phạm, tuy nhiên, cái giá phải trả cho những nông nỗi
cũng không hề nhỏ.
3. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội
a . Nguyên nhân khách quan
*Từ phía gia đình
Lựa chọn phương pháp quản lý , giáo dục không đúng như : thỏa mãn và đáp ứng
đầy đủ yêu cầu vật chất của con cái khi các yêu cầu này là không chính đáng,
không phù hợp với lứa tuổi hoặc điều kiện kinh tế của gia đình. Sự nuông chiều
thái quá, không bắt làm lụng, coi nhẹ hoặc bỏ qua lỗi lầm, nghĩa vụ của con cái, từ
đo tạo ra thói quen, tâm lý đòi hỏi, hưởng thụ ích kỷ, ỉ lại. Ngược lại, có gia đình
do bố mẹ thiếu hiểu biết nên khi thấy con có lỗi đã không tìm cách khuyên răn mà
lại dạy con bằng cách đánh đập, hành hạ. Đây cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn đến vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
Hai là một số gia đình thiếu quan tâm đến việc quản lý, chăm sóc, giáo dục con cái,
ỷ lại cho nhà trường và xã hội như: bố mẹ lo làm ăn buôn bán, do phải đi công tác
xa thường xuyên, bố mẹ ốm đau bệnh tật không quản lý chặt chẽ việc học tập sinh
hoạt của con cái. Có trường hợp con cái bỏ học hàng tháng, đi chơi qua đêm,
nghiện hút và có hành vi vi phạm pháp luật và bố mẹ không hề hay biết chỉ đến khi
nhận được thông báo của cơ quan công an hoặc hàng xóm, bạn bè mách bảo thì
mọi việc đã muộn
Ba là những gia đình có cấu trúc không cơ bản bền vững, như mồ côi bố hoặc mẹ
hay bố mẹ li dị, ly thân không có người chăm sóc dạy dỗ con cái, thiếu tình cảm,
thiếu thốn về kinh tế nên dễ bị ảnh hưởng của những hiện tượng tiêu cực và phạm
pháp. Những trẻ em rơi vào hoàn cảnh này thường bị tổn thương về tâm lý do tự ti,
mặc cảm, thiếu thốn tình cảm, thiếu điều kiện học tập vui chơi, thiếu quản ý, giáo
dục dẫn đến mất phương hướng khi hành động dễ bị lôi kéo vào những hành vi tiêu
cực, phạm tội
*Từ phía nhà trường
Hiện nay, hầu hết các trường học đều tổ chức cho học sinh tham gia ký cam kết
không vi phạm pháp luật, nhưng thực tế đây cũng chỉ có tính hình thức. Trong khi
đó, các chương trình giáo dục pháp luật lại chưa chú trọng, chưa có nhiều giải pháp
quản lý, giáo dục và giúp đỡ các học sinh chưa ngoan. Thông thường, khi phát hiện
học sinh vi phạm kỷ luật thì hình thức xử lý là đuổi học, mà hình thức này khi áp
dụng lại vô tình tạo ra khoảng trống thiếu vắng sự quản lý, giáo dục nên dễ đưa
học sinh vào con đường vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, sự phối hợp trao đổi thông tin, liên lạc giữa gia đình và nhà trường thiếu
chặt chẽ nên nhiều học sinh tự ý bỏ học đi lang thang hoặc tìm niềm vui qua các
trò chơi điện tử, phim ảnh bạo lực, khiêu dâm mà nhà trường và gia đình không
hay biết. Đây là điều kiện để các đối tượng xấu ngoài xã hội lợi dụng để lôi kéo các
em vào con đường vi phạm pháp luật.
*Từ phía xã hội
Do những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường cùng với những thiếu sót
trong việc quản lý văn hóa - xã hội của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội vì
vậy chúng ta chưa đánh giá hết tính chất phức tạp, nghiêm trọng của tình hình vi
phạm và tội phạm người chưa thành niên để đề ra những chủ trương, biện pháp
phòng ngừa ngăn chặn và đấu tranh phù hợp.
Hệ thống pháp luật về trẻ em và người chưa thành niên đều đồng bộ, việc thi hành
chưa nghiêm. Sự phối hợp hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu
chặt chẽ, các ngành, các cấp chính quyền chư coi trọng đúng mức và chưa thực
hiện hết trách nhiệm của mình trong công tác phòng chống vi phạm pháp luật của
người chưa thành niên, coi đó là trách nhiệm chủ yếu của gia đình và nhà trường
Vai trò của các đoàn thể xã hội, đặc biệt là Đoàn Thanh niên trong công tác giáo
dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật của người chưa thành niên còn mờ nhạt.
Thông thường những người vi phạm pháp luật thuộc đối tượng ở tổ chức nào thì ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn giao cho tổ chức đó giáo dục, giúp đỡ và bảo vệ
quyền lợi của họ, nhưng thự tế thì rất ít trẻ em vi phạm pháp luật được giao cho
Đoàn Thanh niên quản lý, giáo dục, nếu có thì cũng chưa được các cơ sở đoàn
quan tâm đúng mức. Sự mờ nhạt của các tổ chức đoàn cùng với việc thiếu quan
tâm của gi đình dẫn đến nhều thanh niên sau khi trở về từ trường giáo dưỡng lại
tiếp tục đi vào con đường tái phạm
b . Nguyên nhân chủ quan ( từ chính bản thân người vi phạm pháp luật)
Người chưa thành niên có những đặc thù riêng, đó là nhóm đối tượng còn chưa
được hoàn thiện về tính chất và tinh thần. Ở độ tuổi này, họ luôn hướng tới sự ham
thích mới lạ, hiếu động, muốn thể hiện tính nh hùng, hảo hán, do đó có trường hợp
chỉ có cái nhìn thiếu thiện cảm hay chỉ vì xích mích nhỏ mà các em thực hiện
những hành vi phạm tội đặc iệt ngiêm trọng như cố ý gây thương tích, giết người
hoặc dễ bị các đối tượng xấu trong xã hội kích động, lôi kéo vào con đường vi
phạm pháp luật
Coi thường mạng sống của con người, biết là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình
thực hiện những hành vi trái pháp luật
3 . Hậu quả
Những hậu quả do tình trạng vi phạm gây ra cho Nhà nước và xã hội rất khó
khắc phục, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Thứ nhất nó gây mất ổn định
đời sống xã hội, đến các hoạt động kinh tế,..tạo tâm lý hoang mang lo lắng cho
người dân, sụt giảm lòng tin với chế độ xã hội mà chúng ta dang hướng đến.
Thứ hai, gây thiệt hại cho sức khỏe, tính mạng con người, thiệt hại về tài sản cả
Nhà nước có liên quan đến các vụ bê bối tài chính, gian lận thương mại, vay
vốn ngân hàng. Thứ ba, đó là sự thoái hóa của đội ngũ cán bộ công nhân viên
Nhà nước...và còn rất nhiều những hậu quả khác mang tính lâu dài khó khắc
phục. Một dạng hậu quả phi vật chất gián tiếp gây ra hậu quả cho xã hội đó là
hoạt động ban hành các văn bản trái pháp luật
4 . Giải pháp
Đầu tiên là phải đào tạo một đội ngũ cán bộ tuyên truyền phổ biến giáo dục
pháp luật đến nhân dân. Nâng cao ý thức người dân hiểu biết về pháp luật là
một vấn đề khó nhưng không thể không làm được.
Trách nhiệm còn thuộc về chính các bậc cha mẹ giáo dục con cái , để khắc phục
tình trạng trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật nhiều như hiện nay, các dịch vụ
hỗ trợ cộng đồng cần được phát triển hơn nữa, tư vấn cho những người đã phạm
tội để họ không tái phạm nữa
Quan trọng nữa là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến nhân dân, xây dựng
hệ thống pháp luật chặt chẽ, nghiêm minh, có tính toàn diện khách quan chân
thực. Cương quyết xử lý những tình trạng vi phạm trong chính các cư quan nhà
nước để làm gương cho nhân dân làm theo, tạo lòng tin của nhân dân vào Nhà
nước. Các kế hoạch tuyên truyền nên đi sâu rộng, đừng chỉ là hình thức, nên đi
sâu vào thực tế để dân là theo.
Giải quyết các vấn đề việc làm, khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các vùng
miền, thu hẹo khoảng cách giàu nghèo, giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích
với công bằng xã hội, thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật
Tăng cường sự liên kết giữa ga đình và nhà trường để quan tâm và giáo dục trẻ
vị thành niên tốt hơn
Đẩy mạnh công tác quản lý của nhà nước về các lĩnh vực: ngành văn hóa thông
tin và truyền thông tăng cườ thanh tra , kiểm tra cơ sở kinh doanh văn hóa
phẩm, dịch vụ internet.
Ngành giáo dục và đào tạo đẩy mạnh quản lý cán bộ, giáo viên, học sinh rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống. Không trù dập, đối xử thô bạo với học sinh,
sinh viên; tạo niềm tin vào môi trừng học tập lành mạnh trong nhà trường
III . VÍ DỤ CỤ THỂ
1 . Vụ thảm sát ở Bình Phước
a . Tóm tắt vụ án
Dương và Tiến bị bắt tại cơ quan Công an.
Nguyễn Hải Dương và Lê Thị Ánh Linh (con gái của ông Mỹ) đã có mối quan hệ
tình cảm từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, gần đây, vì ông Mỹ và vợ đã ra sức cấm cản
mối quan hệ này, nên Linh đã chủ động chia tay với Dương.
Vào tháng 4/2015, Dương đã nảy sinh ý định sẽ giết Linh và cả gia đình ông Mỹ để
trả thù, cướp tài sản vì biết gia đình của ông Mỹ rất giàu.
Để chuẩn bị cho hành động này, Dương đã đi mua 2 khẩu súng ngoài thị trường với
tổng giá tiền 9 triệu đồng, 1 con dao Thái Lan và 1 sim điện thoại rác,1 dao bấm,
găng tay, khẩu trang…
Ngày 6/7, Dương hẹn Vũ Văn Tiến đi uống café để bàn ý định cướp của giết người
tại nhà ông Mỹ.
Để đột nhập được vào nhà ông Mỹ, Dương kêu cháu Vỹ xuống mở cửa và hứa sẽ
có quà, tặng tiền cho Vỹ.
Vì còn nhỏ, nghe có quà và tiền, và Dương lại là người quá quen thuộc với gia
đình ông Mỹ, nên cháu Dư Minh Vỹ (cháu ông Mỹ) đã nghe theo lời Dương nói là
mở cửa. (Bác bỏ thông tin cháu Vỹ có liên quan đến hành vi của các nghi phạm)
Khi Vỹ vừa mở cửa xong, Dương và Tiến đã khống chế, trói cháu Vỹ lại, rồi giết
ngay tại chỗ. Sau đó, hai đối tượng đi lên lầu, đi từng phòng, trói và giết, cắt cổ dã
man toàn bộ các thành viên còn lại trong gia đình ông Mỹ (5 người).
Giết xong toàn bộ số người trong gia đình ông Mỹ, Dương và Tiến đã cướp đi 4
triệu đồng, 5 cái điện thoại di động, 1 máy tính bảng rồi ra về.
b. Phân tích nguyên nhân và giải pháp
*Nguyên nhân:
- Trả thù ông bà Mỹ vì đã ra sức ngăn cản tình yêu của Dương và Linh (con gái
ông Mỹ)
- Cướp tài sản vì biết gia đình ông mỹ rất giàu
- Mâu thuẫn giữa Dương và gia đình ông bà Mỹ không được giải quyết
*Giải pháp:
- Gia đình ông bà Mỹ và Nguyễn Hải Dương cần giải quyết mâu thuẫn bằng cách
cùng ngồi lại nói chuyện. Ông bà Mỹ cần giải thích rõ ràng lý do không muốn để
Linh và Dương tiếp tục mối quan hệ tình cảm để Dương không cảm thấy ấm ức,
thù hận
- Dương phải có việc làm ổn định giải quyết vấn đề kinh tế cá nhân
2 . Vụ án thảm sát ở Bắc Giang
a. Tóm tắt vụ án
Phạm nhân Lê Văn Luyện.
Rạng sáng 24/8, khi trời vẫn còn mờ tối, Luyện nấp cách tiệm vàng một quãng,
mắt đảo nhìn quanh. Khi không thấy bóng người, Lê Văn Luyện nhanh chóng đột
nhập lên tầng ba ngôi nhà. Công cụ của Luyện là một con dao nhọn và một con dao
phớ. Sau khi dùng đèn pin soi tầng ba không tìm thấy gì, Luyện xuống tầng 2. Suy
tính vàng và nữ trang giấu ở tầng 2 nên Luyện đi ngắt cầu dao và camera. Lúc 5
giờ rưỡi, thấy chủ nhân lên phơi quần áo tầng 3, Lê Văn Luyện vung dao đâm anh
ta. Anh này tuy bị thương nhưng vẫn cố đoạt vũ khí và kêu cứu. Vợ của anh ta
chạy lên liền hứng thêm nhiều nhát. Chủ nhân sau đó cướp được con dao nhọn.
Luyện liền rút dao phớ đâm tiếp. Chủ nhân lăn xuống tầng 2. Luyện tiếp tục chém
nhiều nhát đến khi anh kia im hẳn.
Con gái lớn nhà này thấy tiếng kêu bật dậy. Vì thông minh nên tìm điện thoại liên
lạc bên ngoài. Lê Văn Luyện sợ bị lộ nên vung đao chém đứt tay cô bé rồi đâm
thêm nhiều nhát. Tưởng cô bé này đã chết nên Luyện bỏ đi.
Với cô con gái thứ khóc to quá nên Luyện dùng dao phớ cướp mạng sống luôn.
Sát hại xong cả nhà, Lê Văn Luyện đi lấy ba lô và cất vũ khí vào rồi xuống tầng 1.
Sau đó, Luyện phá tủ kính và lấy vàng rồi mở cửa bếp thoát ra ngoài. Lúc này, trời
đã sáng, khu phố đã bắt đầu nhiều người qua lại. Sợ bị phát hiện, Luyện gọi điện
cho người anh họ đến đón rồi bỏ trốn
b . Nguyên nhân và giải pháp
*Nguyên nhân:
- Vì lỡ cầm mất cái xe máy đi mượn, mang tiền tiêu mất nên Luyện không còn tiền
để chuộc xe. Đó là cái động cơ tiến hành cướp tiệm vàng
- Vì lòng tham, cướp tài sản
- Bỏ học sớm, thiếu hiểu biết pháp luật
- Không có công việc ổn định
*Giải pháp
- Thắt chặt hệ thống luật pháp
- Giải quyết tình trạng thất nghiệp
- Giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho trẻ chưa thành niên