Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tìm hiểu theo chuyên đề thế giới nghệ thuật trong bài thơ vội vàng của xuân diệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.34 KB, 31 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ do lùa chän ®Ò tài:
Thơ trữ tình là một trong ba phương thức phản ánh hiện thực cư bản nhất
và thường là hình thái vưn học đầu tiên trong các nền văn học dân tộc. Do
đặc trưng của thể loại, thơ trữ tình có khả năng phản ánh cuộc sống, thể
hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc,
giàu hình ảnh ...Thơ đòi hỏi sự tiếp nhận dựa trên những tri thức cụ thể,
những kinh nghiệm và bằng cả những khám phá mang tính trực giác. Dạy
học văn chương, đặc biệt là thể loại thơ, là một hoạt động đòi hỏi sự nỗ
lực không ngừng của giáo viên và học sinh.
Thơ mới là hiện tượng nổi bật của của văn học Việt nam. Trong phần đọc
văn của chương trình ngữ văn hiện hành, Thơ mới có ý nghĩa và vị trí khá
quan trọng. Song, việc dạy học tác phẩm Thơ mới vẫn luôn đặt ra không
ít thách thức đối với giáo viên và học sinh. Do vậy, việc dạy đọc hiểu –
khai thác khám phá loại tác phẩm này xứng đáng có được sự đầu tư, tìm
hiểu kĩ lưỡng. “Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu trong chương trình
ngữ văn lớp 11 là một trong số những tác phẩm đó. Qua thời gian công
tác giảng dạy , bồi dưỡng học sinh bản thân tôi đúc rút được kinh nghiệm
định hướng học sinh tìm hiểu tác phẩm theo vấn đề thi pháp và có hiệu
quả. Nên trong sang kiến này, tôi đã lựa chọn vấn đề “ kinh nghiệm định
hướng học sinh tìm hiểu theo chuyên đề “thế giới nghệ thuật trong bài thơ
Vội vàng của Xuân Diệu” (chương trình SGK lớp 11).
1.2. Mục đích nghiên cứu

Trang 1


Sáng kiến kinh nghiệm hớng đến mc tiờu áp dụng vo vic dy
hc bồi dỡng học sinh giỏi, giảng dạy chơng trình tự chọn cho đối
tợng học sinh lớp 11 và ôn THPT quc gia, đại học và Cao đẳng.


1.3. i tng nghiờn cu:
Đối tợng nghiên cứu
Tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Vội vàng
của Xuân Diệu, ngời viết tập trung khảo sát tác phẩm Vội vàng
rút trong tập Thơ thơ .
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu Vội vàng trong tính chỉnh thể giữa nội dung và
hình thức nhng sáng kiến kinh nghiệm chỉ tập trung đi sâu vào
những phơng diện nổi bật làm thành giá trị riêng. Những yếu tố
mờ nhạt, ít xuất hiện hoặc không chỉ có ở Vội vàng, chúng tôi sẽ
điểm qua hoặc kết hợp bình chú để làm rõ những yếu tố
chính.
Nghiên cứu Vội vàng, chúng tôi không tách rời, biệt lập mà
đặt đối tợng trong mối liên hệ với các tác phẩm khác của Xuân
Diệu và các tác phẩm của các tác giả khác trong phong trào Thơ
mới.

1.4. Phng phỏp nghiờn cu
1.4.1. Phơng pháp loại hình
1.4.2. Phơng pháp so sánh
1.4.3. Phơng pháp phân tích - tổng hợp

2. NI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận:
Theo lí luận văn học: Tác phẩm văn học là một hệ thống
chỉnh thể. Nói đúng hơn Chỉnh thể tác phẩm đợc nhận thức
Trang 2


qua khái niệm thế giới nghệ thuật, trong đó tác phẩm đợc xem nh

một lĩnh vực tồn tại đặc thù, có không gian, thời gian riêng, có các
quy luật nghệ thuật đặc thù chi phối các quan hệ liên kết của tất
cả mọi yếu tố tác phẩm. Với cách định nghĩa nh vậy, tìm đến
với thế giới nghệ thuật của Vội vàng cũng đồng nghĩa với việc là
chúng ta đang làm một cuộc hành trình để khám phá cái hay, cái
đẹp của tác phẩm theo cách riêng của mình từ góc độ thi pháp.
Bản thân tôi tìm đến với đề tài không nằm ngoài ngoại lệ so với
những độc giả khác là muốn góp thêm một phần khiêm tốn tiếng
nói riêng của mình trong quá trình đi tìm

cái đẹp của Vội

vàng.
2.2. Cơ sở thực tiễn thc trng :
Vội vàng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân
Diệu trong phong trào Thơ mới đợc đa vào chơng trình sách giáo
khoa Ngữ Văn 11- THPT và đợc đa vào để dạy học trong chơng
trình chính khóa. Tuy nhiên lâu nay trong quá trình dạy học tác
phẩm trong nhà trờng, giáo viên và học sinh ít có điều kiện để
nghiên cứu và tìm hiểu thấu đáo về thế giới nghệ thuật của nó
bởi giới hạn thời lợng chơng trình hạn hẹp. Hiện nay với việc thực
hiện chơng trình, thiết nghĩ rằng sự mềm dẻo của phân phối chơng trình, giáo viên sẽ có điều kiện giúp học sinh nâng cao hiểu
biết của mình về tác phẩm trong chơng trình tự chọn và cao
hơn là trong công tác bồi dỡng học sinh giỏi, ôn thi THPT quc gia- Đại
học Cao đẳng. Đó là lí do dn ti vic tôi lựa chọn đề tài.

2.3. Cỏc gii phỏp thc hin
2.3.1. Giới thuyết về khái niệm thế giới nghệ thuật
Khi đọc văn bản ngôn từ, chúng ta bớc vào thế giới nghệ thuật
của tác phẩm tác giả, một thế giới đầy ắp xung đột, buồn vui,

Trang 3


hạnh phúc, đau đớn. Thế giới đó là văn bản hình tợng- văn bản nội
tại của văn bản ngôn từ. Gọi thế gới nghệ thuật là văn bản bởi các
hình tợng có tính chất kí hiệu, biểu tợng, bởi nó là sự thống nhất
chỉnh thể của các kí hiệu có khả năng biểu hiện một phức hợp ý
nghĩa - t tởng nhất định mà ngời ta cần đọc từng bộ phận, chi
tiết để nhận ra. Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo
đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh
thực tại vừa có sự tởng tợng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ của
thế giới bên trong của nhà văn. Thế giới này chỉ có trong tác phẩm
và có trong tởng tợng nghệ thuật.Thế giới nghệ thuật là thế giới t
tởng, thế giới thẩm mĩ, thế giới tinh thần của con ngời.
Thế giới nghệ thuật là một thế giới kép: thế giới đợc miêu tả
và thế giới miêu tả. Thế giới đợc miêu tả bao gồm nhân vật, sự
kiện, không gian, thời gian riêng, đồ vật, âm thanh, màu sắc...
có ý nghĩa tợng trng riêng, không đồng nhất với thực tại.Thế giới
miêu tả là thế giới của ngời kể chuyện, ngời trữ tình. Hai thế giới
này gắn kết không tách rời nh hai mặt của một tờ giấy. Không có
thế giới miêu tả thì không có thế giới đợc miêu tả và ngợc lại. Tuy
nhiên chúng không thể liên thông. Ngời kể chuyện không thể trực
tiếp tham gia vào sự kiện trong thế giới đợc miêu tả nh một nhân
vật.
Thế giới nghệ thuật của một tác phẩm ngôn từ là hệ thống
hoàn chỉnh và bao gồm những giới hạn nhất định. Bởi vì hệ
thống đó sống theo các quy luật, nguyên tắc vốn có của nó, có
không gian, thời gian, tâm lí, đạo đức xã hội và hoàn cảnh vật
chất riêng. Một thế giới nghệ thuật với t cách hệ thống không chỉ
đặc trng cho tác phẩm đó, mà còn đặc trng cho cả nhà văn nói

chung. Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu
hình tợng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về
Trang 4


thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà
văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật.
Những kiến thức lí luận trên là định hớng chung nhất để
độc giả khám phá thế giới nghệ thuật của một tác phẩm. Tuy
nhiên, tùy vào đặc trng của từng thể loại văn học cụ thể mà chúng
ta áp dụng kiến thức đó nh thế nào. Trong giới hạn đề tài này, ngời viết chỉ tập trung tìm hiểu thế giới nghệ thuật của tác phẩm
thơ trữ tình Vội vàng ( Xuân Diệu) nên chủ yếu đi sâu khám
phá tác phẩm ở những phơng diện cơ bản sau: Hình tợng cái tôi
trữ tình, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và một số
phơng thức biểu hiện.
2.3.2. Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Vội vàng
Hình tợng cái tôi trữ tình
Cái tôi phải là hình tợng trung tâm, là hạt nhân của một thế
giới thơ trữ tình. Nó là hình ảnh phóng chiếu từ con ngời thực
của tác giả theo nguyên tắc điển hình hóa. Nhng có lẽ, nó là con
ngời tâm linh của tác giả đợc hình tợng hóa, là phần khát vọng
thẩm mĩ sâu kín nhất trong tác giả đợc hình tợng hóa. Dù có cội
nguồn thế nào đi nữa thì trong văn bản thơ( đặc biệt là thơ
trữ tình lãng mạn), trong một thế giới thi ca, nó cũng hiện ra nh
một con ngời với nhân dạng, nhân cách khá rõ rệt. Ngời ta có thể
nhận ra nó qua những nét tự họa, qua t thế trữ tình và giọng
điệu trữ tình chủ đạo của hệ thống thi phẩm. Là đại biểu xuất
sắc của phong trào Thơ mới, đồng thời là ngời đợc mệnh danh là
ông hoàng của thơ tình Việt Nam, cái tôi trữ tình Xuân Diệu
hiện ra với những đặc điểm nổi bật sau:

Cái tôi tha thiết yêu đời và ý thức sâu sắc về sự sống cá
thể
Trang 5


Là tù nhân của một chữ tình (Chu Văn Sơn), cho dù bạn với
ân tình hay với cảnh cái tôi trữ tình Xuân Diệu luôn hiện ra
trong chân dung một gã tình si tha thiết yêu đời, luôn thèm khát
một luyến ái vô biên.
Tình yêu ấy đợc bộc lộ qua ớc muốn hết sức kì lạ: muốn cỡng
lại quy luật tự nhiên, đặc biệt hơn, đó là những thứ vốn ngắn
ngủi, mong manh để níu kéo lại tất cả những gì đẹp tơi, rực rỡ,
quí giá mà thiên nhiên ban tặng:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất ;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi.
Nhng làm sao cỡng lại đợc những thứ vốn ngắn ngủi, mong manh
đó? Cái ớc muốn lạ lùng, thậm chí ngông cuồng đó đã hé mở cho
ta một lòng yêu bồng bột vô bờ đối với cuộc đời.
Vì yêu đời, khát khao luyến ái nên cái tôi ấy luôn nhìn đời
với một cặp mắt xanh non, háo hức, đầy đam mê của một ngời
tình. Thế giới này đợc thi nhân cảm nhận qua lăng kính của tình
yêu nên nó hiện lên rực rỡ nh một thiên đờng trên mặt đất:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;
Này đây lá của cành tơ phơ phất ;
Của yến anh này đây khúc tình si ;
Vẻ đẹp của thiên nhiên đợc quy chiếu về vẻ đẹp của giai nhân ngời tình nhân yêu kiều, kiêu sa, đầy quyến rũ mời mọc trong
mối quan hệ với gã tình si :

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ;
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần.
Trang 6


Cũng vì yêu đời nên cái tôi ấy đã ngậm ngùi, nuối tiếc khôn
nguôi trớc dòng thời gian trôi chảy và sự ra đi của tuổi trẻ, của
mùa xuân:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa tôi cũng mất.
........................................................
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.
Niềm quyến luyến, ngậm ngùi trớc bớc đi nhanh chóng của thời
gian nh vậy xét đến cùng là xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị
của sự sống cá thể. Mỗi khoảnh khắc trong đời cá thể đều vô
cùng quý giá, bởi khi đã mất đi là mất đi vĩnh viễn. Những cung
bậc cảm xúc đó giúp mỗi chúng ta biết quý trọng từng giây phút
của đời mình và biết làm cho mỗi khoảnh khắc của mình có ý
nghĩa. Chúng không làm cho con ngời tuyệt vọng mà đốt lên
tình yêu cuộc sống.
Xuất phát từ những cơn cớ trên mà kẻ tình si Xuân Diệu đã
chạy đua với thời gian, đón đầu thời gian để sống:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...
Mau đi thôi! Mùa cha ngả chiều hôm
lúc nào cũng thèm yêu, khát sống, lúc nào cũng khao khát tận hởng
những giây phút tuổi xuân của mình, tận hởng những gì mà
cuộc đời ban tặng cho mình với vòng tay ham hố của một tình
nhân:

Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Trang 7


Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
Còn toàn thân thì luôn choáng ngợp trong những rung động diệu
kì đến lả mình:
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả đầy ánh
sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi.
Cái tôi triết nhân
Trong Vội vàng, nếu nh con ngời tình nhân mải yêu đơng,
bận luyến ái thì con ngời triết nhân lại quan sát, ngẫm nghĩ, đúc
kết để rút ra những quan niệm sống, những kinh nghiệm nhân
sinh
Là triết nhân, Xuân Diệu đã say sa tranh biện với ngời xa về
quan niệm thời gian, tuổi trẻ:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

*


Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi,
Không những thế, triết nhân còn là sự lên tiếng của cái
ham muốn lập thuyết thẳm sâu trong Xuân Diệu. Có thể thấy
rất rõ rằng Vội vàng ở đây không phải là một trạng thái cảm xúc
nhất thời mà là một sự lựa chọn có tính lâu dài gắn liền với thái
độ, quan niệm sống của tác giả. Nói đúng hơn, Vội vàng là một
định nghĩa về cách sống. Với Xuân Diệu, sống là hạnh phúc.
Trang 8


Muốn hạnh phúc là phải chạy đua với thời gian, phải tranh thủ
sống:
Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi! mùa cha ngả chiều hôm.
Phải Sống toàn tâm, toàn bích, sống toàn hồn; Bằng say mê và
thức nhọn giác quan để tận hiến, tận hởng những giây phút tuổi
xuân của mình, tận hởng những gì mà cuộc đời ban tặng cho
mình:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả đầy
ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi.

Cái tôi triết nhân còn thể hiện rõ hơn ở chỗ: trong tác phẩm,
Xuân Diệu không chỉ định nghĩa về cách sống mà còn say sa
tìm cách lí giải, cắt nghĩa cho lối sống vội vàng. Với thi nhân, sở
dĩ phải sống vội vàng vì cuộc đời quá đẹp, luôn kêu gọi con ngời
sống và hởng thụ:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ;
Trang 9


Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần.
Theo ngời thơ, mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm và đời ngời
chỉ thực sự sống có ý nghĩa nhất là lúc tuổi trẻ. Nhng đời ngời
ngắn ngủi, trong khi thời gian trôi chảy không ngừng:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi,
Suy cho cùng, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu
bắt nguồn sâu xa từ cảm niệm triết học về thời gian, về sự
ngắn ngủi của kiếp ngời, về cái chết nh là kết cục không thể
tránh khỏi mai hậu.

Cái tôi nội cảm
S phỏt trin ca Th mi chớnh l bc ci to ht sc quan trng ca th tr
tỡnh Vit Nam. Tip xỳc vi lung sinh khớ mi t phng Tõy, t duy, cm xỳc ca
cỏc nh th mi cú nhng thay i. T duy th hng vo phớa trong phõn tớch
cm giỏc, trỡnh by cỏc trng thỏi tỡnh cm. Ch trng o sõu ni cm, cỏc nh
th mi ó hu hỡnh húa nhng vi diu ca i sng tõm hn. Th mi bc l mt
cỏch trc tip tt c mi cung bc v sc thỏi ca tỡnh cm: vui, bun, hn, gin,
thit tha, say m, mng m, cay ng, xút xa... Có thể nói, Thơ mới là một
cuộc cách mạng phơi mở thế giới nội tâm con ngời, là khát vọng
bc l thnh thc cm xỳc, c núi lờn s tht ca tõm hn bng ting núi
riờng ca mỡnh. Xuân Diệu là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ
mới nên cái tôi trong thơ ông hẳn là tiếng thơ thể hiện đầy đủ
nhất cho ý thức cá nhân của cái tôi Thơ mới - cái tôi nội cảm. Cái
Trang 10


tôi trong Vội vàng luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp
nhàng lặng lẽ, cái sôi nổi, háo hức của thế giới bên trong giữa cái
ồn ào, rộn rịp của cuộc sống đời thờng. Lúc thì cái tôi ấy sống
trong tâm trạng thiết tha, rạo rực, đắm say khi bộc lộ ham muốn
khác thờng của mình:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất ;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi.
Lúc thì say sa vồ vập khi giới thiệu và cảm nhận thế xung quanh:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất ;
Của yến anh này đây khúc tình si ;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ;
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần;
Khi thì quyến luyến, ngậm ngùi, nuối tiếc do cảm nhận bớc đi
nhanh chóng của thời gian:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng
qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Trang 11


Và lúc thì vội vàng, cuống quýt tận hởng vẻ đẹp của trần thế
mà cuộc đời ban tặng cho mình:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn
nhiều ;
Và non nớc, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả
đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi.
Điều đáng nói là cái tôi trong thơ lãng mạn nói chung, trong
Thơ mới nói riêng không chỉ là sự tự ý thức của nhà thơ về bản
thân mà còn còn là đối tợng để mô tả, lí giải (theo nguyên tắc
thẩm mĩ khách thể hóa) chính vì vậy cái tôi trữ tình trong Vội
vàng hiện lên thật rõ nét nh một dòng chảy cảm xúc với nhiều
cung bậc cảm xúc thật tinh tế mang đậm sắc thái cá thể hóa.
Tiếp xúc với Vội vàng, có nghĩa là ta đang tiếp xúc với một con ngời và từ cái tôi ấy ta thấy cảm thông hơn, trân trọng hơn khát
vọng, tâm thế sống của một con ngời, một lớp ngời (tầng lớp trí
thức tiểu t sản trong xã hội Việt Nam trớc cách mạng Tháng Tám/
1945 ) và để từ đó biết trân trọng hơn những giây phút trong
qũy thời gian của cuộc đời, biết sống có ý nghĩa hơn.
Thời gian nghệ thuật
Thời gian là hình thức tồn tai của thế giới nghê thuật. Đó là thời
gian do con ngời sáng tạo ra, vừa thể hiện trạng thái con ngời trong
thời gian, vừa mở ra lộ trình để ngời đọc đi vào thế giới tác
Trang 12


phẩm. Có nhiều loại thời gian: thời gian vũ trụ, bốn mùa, có thời
gian lịch, thời gian đồng hồ trung tính, có thời gian lịch sử, thời
gian xã hội, thời gian tâm lí đậm tính chủ quan... Mỗi thời gian có
độ đo riêng, làm cho chúng khác biệt nhau: năm, tháng, phút,
giây, mùa, thế kỉ, thời đại... Trong lịch sử văn học, mỗi thể loại
văn học có những thời gian đặc trng của nó: thời gian thần thoại,
thời gian vũ trụ, thời gian sử thi, thời gian cổ tích, thời gian tiểu
thuyết... Chẳng hạn thơ cổ điển thích dùng cặp từ sóng đôi sớm
- chiều, đêm - ngày, thu - đông, xa - nay... để diễn tả sự tĩnh tại,
tuần hoàn của thời gian. Ví dụ: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Ngày nhàn

mở cửa xem Chu Dịch, Đêm vắng tìm mai bạn lão Bô (Nguyễn
Trãi)... Sở dĩ ngời xa có cách nhìn nh vậy là bởi họ cho rằng con
ngời vốn là một bộ phận không thể tách rời của trời đất, thiên
nhiên (quan niệm con ngời vũ trụ) nên chẳng phải sợ sau khi chết
tất cả tan biến vào h không. Là một nhà Thơ mới, với cái cái nhìn
của một cái tôi hiện đại, Xuân Diệu đã có một quan niệm rất
riêng về thời gian. Ngay từ khi mới xuất hiện với những thi phẩm
đầu tiên, ngời đọc đã thấy Xuân Diệu bị ám ảnh bởi thời gian.
Và từ đó đến nay, bạn đọc đã khám phá ra nhiều điều thú vị
xung quanh cái phong cách thời gian của thi sĩ. Vội vàng là bài
thơ tiêu biểu cho cái phong cách thời gian ấy.
Nh trên đã nói, trong thơ trung đại ngời ta quan niệm thời
gian là tuần hoàn. Còn với Xuân Diệu, đó là thời gian tuyến tính.
Nó chẳng những không trở lại, mà mỗi khoảnh khắc trôi qua là
mất đi vĩnh viễn, nh con ngời vĩnh viễn mất đi một phần đời.
Đó là thời gian tiêu cực, hủy hoại tuổi xuân:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Trang 13


Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Thớc đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở
lại thì làm chi có sự tuần hoàn! Trong cái mênh mông của đất trời,
cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con ngời thật là ngắn ngủi,
hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp ngời, Xuân Diệu đã
ngậm ngùi nuối tiếc:

Còn trời đất, nhng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng kăn hhuâng tôi tiếc cả đất trời;
Nhà thơ cũng đã có một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Là ngời say mê Bô- đơ- le - ông tổ của chủ nghĩa tợng trng Pháp,
Xuân Diệu đã mợn cảm quan tơng ứng của tợng trng để diễn đạt
cái tinh thần lãng mạn của mình: Thời gian đợc cảm nhận bằng
khứu giác: Mùi tháng năm - thời gian của Xuân Diệu làm bằng hơng. Chắc có lẽ vì vậy mà thi sĩ muốn buộc gió lại để giữ mãi
tuổi xuân của cuộc đời. Thời gian không chỉ đợc cảm nhận bằng
khứu giác mà còn đợc cảm nhận thị giác, vị giác: Một chữ rớm gợi
nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ vị liền đó, lại cho thấy
cảm giác thơ đã chuyển sang vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn
toàn phi vật chất: vị chia phôi. Và không chỉ nh vậy, thi nhân
còn có cách cảm nhận thời gian tinh tế hơn ở chỗ: Với cảm quan
tinh nhạy của một cái tôi lãng mạn thời đại Thơ mới, thi sĩ thấy thật
hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành
quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Trên mỗi thời khắc
đều đang có một cuộc ra đi nh thế, thời gian đang chia tay với
con ngời, chia tay với không gian và cả với chính thời gian. Cả đất
Trang 14


trời đang diễn ra một cuộc chia tay lớn nên thi sĩ nghe thấy một
lời than triền miên, bất tận:
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Trong hầu hết các thi phẩm của Xuân Diệu, bạn đọc có thể
dễ dàng nhận thấy khác với quan niệm thời gian của nhiều thi
nhân khác - thời gian bốn mùa luân chuyển hay quan niệm thời
gian ba thì quen thuộc: quá khứ - hiện tại - tơng lai thì Xuân
Diệu lại chia bốn mùa trong năm thành hai mùa: mùa xuân và mùa

còn lại. Mà mùa còn lại hầu nh không có, vì bốn mùa đều có thể
thành xuân:
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé
Giữa mùa hè khi trời biếc sau ma
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Vậy là với Xuân Diệu chỉ tồn tại duy nhất một mùa - mùa xuân.
Mặt khác, ở những câu thơ trên ta đã biết thi sĩ đã lấy tuổi trẻ
để đo đếm thời gian, tuy nhiên trong thực tế thì thời gian là
một dòng chảy trôi lạnh lùng và hơn ai hết Xuân Diệu là ngời rất
nhạy cảm với thời gian và luôn bị ám ảnh bởi thời gian, vậy thì thi
sĩ đã đo đếm dòng chảy thời gian đó bằng cách nào? Nh trên
phần giới thuyết khái niệm thời gian nghệ thuật ta đã biết thời
gian nghệ thuật là thời gian do con ngời sáng tạo ra mang đậm
tính chủ quan. Trong Vội vàng thi sĩ đã xây cất lên cái thế giới
nghệ thuật riêng của mình bằng quan niệm thời gian khác lạ:
thời sắc. Thời gian đợc nhìn ở phía nhan sắc, gắn với nhan
sắc của sự vật: thời tơi và thời phai. Thời tơi là thời gian gắn liền
với nhan sắc son trẻ của mỗi sự vật. Độ xuân thì chính là thời tơi,
lúc vạn vật tràn đầy âm thanh, hơng sắc:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật;
Trang 15


Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;
Này đây lá của cành tơ phơ phất ;
Của yến anh này đây khúc tình si ;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ;
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần;

Chính vì vậy con ngời cần ý thức triệt để điều đó để mau
mau tận hởng vẻ đẹp mà cuộc đời ban tặng:
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả đầy
ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Thời phai là thời gian gắn với độ phai tàn phôi pha, vạn vật đều
phải sợ:
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Nh vậy, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm đợc cảm nhận
qua lăng kính của một cái tôi lãng mạn nên nó vừa mang những
đặc điểm chung của thơ ca thời đại Thơ mới - thời gian tuyến
tính, vừa mang đặc điểm riêng biệt không thể trộn lẫn - thời
sắc. Điều gì có thể cắt nghĩa cho cách cảm nhận thời gian đó?
và một câu hỏi ngợc lại là thời gian nghệ thuật đó giúp ta cảm
nhận đợc điều gì về quan niệm sống, thái độ của thi nhân đối
với cuộc đời? Chắc chắn tất cả những quan niệm này đều xuất
phát từ sự ý thức sâu sắc về con ngời cá nhân của thi nhân giữa
cuộc đời và sâu xa hơn là xuất phát từ niềm thiết tha vô bờ của
ngời nghệ sĩ với tuổi trẻ với nguồn sống trẻ, vẻ đẹp trẻ của thế gới
này. Đồng thời qua yếu tố thời gian nghệ thuật bạn đọc có thể
hiểu đợc vì sao vì sao vừa mới xuất hiện trên thi đàn Xuân Diệu
lập tức đã thuộc về tuổi trẻ.
Trang 16


Không gian nghệ thuật
Theo thi pháp học: không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại
của thế giới nghệ thuật. Không có hình tợng nghệ thuật nào
không có không gian, không có nhân vật nào không có một nền

cảnh nào đó. Bản thân ngời kể chuyện hay nhà thơ trữ tình
cũng nhìn sự vật trong một khoảng cách, góc nhìn nhất định.
Không gian trong tác phẩm văn học là không gian mang tính ớc lệ,
tợng trng mang dụng ý nghệ thuật. Nó là sản phẩm sáng tạo của
nghệ sĩ nhằm biểu hiện con ngời và thể hiện một quan niệm
nhất định về cuộc sống. Chính vì vậy nó là không gian mang
tính chủ quan - không gian mang tính ngời. Cũng nh bất cứ một
tác phẩm văn học nào khác, trong Vội vàng Xuân Diệu đã xây
dựng một không gian nghệ thuật theo quan điểm thẩm mĩ của
riêng mình. Đó là không gian của cái tôi và không gian trong cái
tôi, là ngôn ngữ để nhà văn bộc lộ thế giới tinh thần mà nhà văn
muốn kí thác vào đó. Đọc Vội vàng ta có thể nhận thấy không
gian nghệ thuật trong bài thơ hiện ra nh một khu vờn với hai diện
mạo: Khu vờn tình ái và hoang mạc cô đơn.
Khu vờn tình ái
Có thể thấy vờn là hình ảnh trở đi trở lại khá nhiều trong hai
tập thơ Thơ thơ và Gửi hơng cho gió : Vờn cời bằng bớm, hót
bằng chim, Trong vờn đêm ấy nhiều trăng quá/ ánh sáng tuôn
đầy các lối đi, Đem chim bớm vào thả vờn tình ái,Đây cũng
là diện mạo căn bản của hình tợng thế giới trong thơ Xuân Diệu.
Đến với Vội vàng, đầu tiên ngời đọc nh bớc chân vào một mảnh vờn tình ái. Đó là thế giới tình tứ hạnh phúc, vạn vật từng cặp đôi
đang giao duyên, giao cảm, tất cả đều đợc tình yêu hóa:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật
.
Trang 17


Của yến anh này đây khúc tình si ;
ở đây ngời đọc nh thấy nhà thơ kêu to lên điều ngỡ rằng vừa mới
đợc phát hiện : quy luật bao trùm vũ trụ là quy luật tìm đôi, không

ai có thể đứng ngoài. Để quyến rũ nhau, tất cả đều hãnh diện
phô khoe vẻ đẹp thanh tân của mình. Mây không còn là mây,
gió không còn là gió, cỏ không còn là cỏ, xuân không còn là xuân
cộc lốc, vô hồn, phi cá tính. Dới đôi mắt nhìn bỡ ngỡ, hồn nhiên,
đắm say, mây phải là mây đa, gió phải là gió lợn, cỏ phải là cỏ
rạng, xuân phải là xuân hồng, thời phải là thời tơi.
Tạo vật thiên nhiên, từng nét, cảnh riêng rẽ đợc cảm nhận
thông qua vẻ đẹp tình nhân đợc quy chiếu về vẻ đẹp của
những cuộc tình tự :
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sứm thần vui hằng gõ cửa ;
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần ;
Tất cả cây cỏ, hình sắc, ánh sáng, thanh âm, hơng vị đều
mát tơi nồng thắm, căng đầy sức sống và tràn ngập xuân tình
Lúc nào cũng sẵn bày những bữa tiệc trần gian:
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
...................................................
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa ;
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần;
Hoang mạc cô liêu
Tơng phản với không gian khu vờn tình ái là cảnh quan hoang
mạc cô liêu. Đây là diện mạo thế giới lúc hoang liêu cô quạnh khiến
con ngời rơi vào trống vắng cô đơn. Trong thế giới đó vạn vật
chia rời li tán thành từng cá thể lẻ loi, tất cả đều nhạt nhòa u uất:
Trang 18


Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Vì sao không gian trong Vội vàng lại chia thành hai mảng
đối lập nhau nh vậy mặc dù cảnh vật, thiên nhiên đang giữa mùa
xuân? ở trên, trong phần tìm hiểu về thời gian nghệ thuật ta đã
thấy cái cốt lõi chi phối ý niệm thời gian chia thành hai thì thời tơi và thời phai

suy cho cùng là bắt nguồn từ tình yêu của thi

nhân đối với cuộc đời, đối với tuổi trẻ. Khi tình nồng thắm làm
nên thời tơi, khi tình lặng ngắt làm nên thời phai.Và chính mạch
vận hành của thời sắc này cũng quyết định đến sự biến đổi
biện chứng của không gian nghệ thuật trong bài thơ: Thời tơi làm
cho cảnh thiên nhiên trở thành khu vờn tình ái còn thời phai là lúc
vờn tình đang suy biến, phôi pha để trở thành hoang mạc cô
liêu. Không gian đó làm nên thế giới riêng của Vội vàng - thế giới đợc thi nhân dựng lên bằng chính tình yêu và bằng tâm huyết của
mình.
2.3.3. Một số phơng thức biểu hiện nghệ thuật trong Vội
vàng
Trong thế giới nghệ thuật của Vội vàng, cái tôi trữ tình, không
gian, thời gian nghệ thuật đợc xem là những yếu tố của thế giới
hình tợng. Những yếu tố này có mối quan hệ, chi phối lẫn nhau
theo đặc trng của tính chỉnh thể trong tác phẩm. Tuy nhiên để
xây dựng đợc thế giới hình tợng trong tác phẩm cần có những phơng thức biểu hiện cụ thể.Trong giới hạn bài viết này, ngời viết
chỉ xin đề cập đến một số yếu tố thuộc phơng thức biểu hiện
nh: từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ, giọng điệu và thể thơ.
Trang 19



Từ ngữ, hình ảnh
Trớc tiên, tiếp xúc với Vội vàng ta bắt gặp một hệ thống từ
ngữ rất mới lạ, gợi cảm, táo bạo và mang đậm màu sắc cá thể : vị
chia phôi, thời tơi, cái hôn nhiều, thâu, say, ôm, riết, cắn. Cạnh
những từ ngữ đó là vô số quan hệ từ mang tính chất lí giải,
phân tích trong nghị luận xuất hiện: nghĩa là, nhng mà, nếu,
nên và một hệ thống nhiều hình ảnh tơi mới, đầy sức sống: ong
bớm tuần tháng mật, hoa của đồng nội xanh rì, lá của cành tơ,
mây đa, gió lợn, cánh bớm, cây, cỏ rạng... Những từ ngữ, hình
ảnh thơ nh vậy không chỉ góp phần làm hiện nguyên trạng một
cái tôi tha thiết yêu đời mà còn xây dựng đợc hình tợng một cái
tôi duy lí (cái tôi triết nhân) - cái tôi luôn có nhu cầu đối thoại
trực tiếp với ngời đọc để giãi bày một cách thành thực cảm xúc,
quan niệm sống, cách nhìn đời của mình.
Các biện pháp tu từ
Bên cạnh cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh độc đáo, mới lạ thi
nhân còn sử dụng một cách đa dạng các biện pháp tu từ:
Trớc tiên là biện pháp đối lập tơng phản vốn đợc sử dụng quen
thuộc

trong bút pháp lãng mạn( Sự đối lập giữa cái vô thủy vô

chung của thời gian, vũ trụ với cái hữu hạn, nhỏ bé của kiếp ngời,
của tuổi xuân; Sự đối lập của khung cảnh thiên nhiên trong cảm
nhận của thi nhân về bớc đi của thời gian: hình ảnh khu vờn
tình ái với hoang mạc cô liêu) đã đợc phát huy tác dụng để diễn tả
một cách tinh tế các cung bậc, biến thái tinh vi trong tâm trạng
của một cái tôi lãng mạn: khi thiết tha, rạo rực, đắm say trớc mùa
xuân,

khi thì quyến luyến, ngậm ngùi, nuối tiếc do cảm nhận bớc đi
nhanh chóng của thời gian.
Trang 20


Tuy nhiên phải kể đến ở đây là trong bài thơ Xuân Diệu đã
có nhiều so sánh, ẩn dụ hết sức mới lạ, táo bạo. Và do đặc trng
thơ lãng mạn là lấy tâm trạng làm nội dung, lấy cái nhìn cá thể
làm nền tảng tạo hình, lấy tiếng nói cá thể làm giọng điệu
( Trần Đình Sử) nên những so sánh ẩn dụ đó cũng thấm đợm tính
chất chủ quan, nói đúng hơn là nó gắn liền với tâm trạng và cảm
xúc cá nhân cho phép cá tính nhà thơ bộc lộ sắc nét hơn bao
giờ hết:
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
.......................................................
Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần;
Với kẻ tình si, si mê sự sống, ánh sáng bình minh rực rỡ chiếu sáng
đợc ví nh ánh sáng phát ra từ đôi mắt xinh đẹp của ngời thiếu
nữ, mùa xuân giống nh một ngời tình đầy hấp dẫn, trinh nguyên,
quyến rũ không thể cỡng lại đợc. Lấy con ngời làm chuẩn mực cho
cái đẹp, Xuân Diệu đã thực sự góp phần làm cuộc cách cách
mạng đổi mới thi pháp trong lĩnh vực thi ca. Và đây là những ẩn
dụ, nhân hóa ta chỉ có một không hai mà ta chi bắt gặp trong
thơ Xuân Diệu sản phẩm của nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi thời
gian và trong Thơ mới do ảnh hởng của phép tơng giao trong thơ
tợng trng:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Phải chăng những so sánh ẩn dụ trên là những phơng tiện hữu
hiệu nhất để thi nhân kí thác những cung bậc khác nhau của
tình yêu đối với cuộc sống.
Trang 21


Kế đến là phép điệp, phép liệt kê đợc sử dụng một cách có
hiệu quả. Chúng góp phần diễn tả hình ảnh một cái tôi đang tha
thiết với cuộc đời trần thế, với mùa xuân:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi.
Của ong bớm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất ;
Của yến anh này đây khúc tình si,
đang ham hố, đang đứng giữa trần gian, dang rộng vòng tay, nới
rộng tầm tay để ôm cho hết mọi cảnh sắc của trần thế vào
lòng :
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả đầy
ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi!

Giọng điệu
Là một hiện tợng nghệ thuật, giọng điệu văn học là giọng
điệu của ngôn từ bên trong, nội tại, nó thuộc về chủ thể trữ tình,
gần gũi với tác giả, phản ánh cái tôi thứ hai của tác giả. Trong Vội
vàng ta bắt gặp rất nhiều giọng điệu: Giọng điệu oai nghiêm
Trang 22


qua cách sử dụng đại từ nhân xng tôi, ta để xác lập thế
đứng, sự tồn tại của con ngời cá nhân trong đối thoại với mọi ngời;
giọng điệu say mê khi giới thiệu, cảm nhận thiên nhiên đơng độ
xuân thì:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si,
Có giọng suy t, triết lí khi bày tỏ quan niệm sống, quan niệm về
thời gian, tuổi trẻ :
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Có giọng điệu mệnh lệnh khi hối thúc con ngời phải biết vội
vàng lên để tận hởng những giây phút của tuổi xuân của
mình bởi thời gian trôi chảy nhanh chóng, một đi không trở lại:
Chẳng bao giờ, ôi!Chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi! Mùa cha ngả chiều hôm,

Có giọng điệu sôi nổi, bồng bột khi bộc lộ hành động sống vội
vàng:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Trang 23


Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả đầy ánh
sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi!
Tất cả các giọng điệu trên làm thành một không khí riêng của
Vội vàng và giúp ngời đọc cảm nhận một cách đầy đủ chân
dung cái tôi trữ tình Xuân Diệu bởi Giọng điệu là một yếu tố
đặc trng của hình tợng tác giả (Trần Đình Sử)
Cú pháp
Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ cha đủ,
để tạo nên thế giới hình tợng trong tác phẩm còn phải kể đến
hình thức câu thơ. Theo nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự
nhiên, sống động của cảm xúc cá nhân, cá thể nên câu thơ trong
Thơ mới nói chung và trong bài thơ Vội vàng nói riêng là câu thơ
điệu nói ( Trần Đình Sử ), chúng mang những đặc điểm cơ bản
sau:
Với các đại từ nhân xng ở ngôi thứ nhất, với hình thức câu
hỏi, câu cảm thán, các cách lập luận, các khẩu hiệu, cái tôi trữ
tình đã khẳng định sự tồn tại của mình giữa cuộc đời, đồng

thời bộc bạch với đồng loại về tình yêu của mình đối với cuộc
sống:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mấ;t
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi.
Hay:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Trang 24


Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
và trình bày một cách rõ ràng quan niệm sống, quan niệm về
thời gian, tuổi trẻ :
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
.

Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi! Mùa cha ngả chiều hôm,
Ngoài ra, bài thơ còn có cú pháp hết sức tân kì: có hiện tợng một dòng thơ có nhiều câu thơ:

Tôi sung sớng. Nhng vội vàng một nửa;
có khi một câu thơ có nhiều dòng:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Có cách vắt dòng :
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ;
Có khi cả khổ thơ chỉ là một câu:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Trang 25


×