Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Tư tưởng khoan dung trong triết học Immanuel Kant và ý nghĩa hiện thời của nó

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (271.78 KB, 13 trang )

TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG TRONG TRIẾT HỌC IMMANUEL KANT
VÀ Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA NÓ
Lê Đức Thọ
Khoa Cơ bản – Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
Email:
(Tạp chí Khoa học, Đại học Hà Tĩnh, ISSN 0866-7594. Số 15, tr.81-90. Năm
2018)
Tóm tắt
Tư tưởng khoan dung có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại cả ở phương
Đông và phương Tây, nhưng cho đến thiên niên kỷ thứ II, loài người mới tìm
thấy trong ngôn ngữ chung của cộng đồng quốc tế về sự khoan dung. Vì thế,
việc xem xét, so sánh tư tưởng khoan dung trong triết học phương Tây phương
Đông, gắn liền với sự vận động, phát triển tư tưởng khoan dung của thế giới
đương đại, có thể là một gợi ý nhằm điều chỉnh quá trình giao lưu, hòa đồng của
văn hóa Đông - Tây trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Nguyên lý nhân văn
vĩ đại được Kant nêu ra: Con người không thể là phương tiện cho cái gì cả, nó
bao giờ cũng là mục đích. Đây cũng chính là nguyên tắc nhân văn của văn hóa
khoan dung hiện đại. Trên cơ sở làm rõ nội hàm khái niệm khoan dung, bài viết
bước đầu phân tích biểu hiện khoan dung trong triết học của Kant và chỉ ra ý
nghĩa hiện thời của nó ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Khoan dung; Tư tưởng khoan dung; Triết học Kant.
Tolerance in Immanuel Kant philosophy and its current meaning
Abstract
Tolerance is very early in human history both in the East and in the West,
but until the second millennium humanity found in the common language of the
international community for tolerance. Therefore, the consideration and
comparison of tolerance in Western philosophy in the East, associated with the
1


movement and development of the tolerant thought of the contemporary world,


may be a suggestion to correct too. The exchange and integration of East-West
culture in the context of globalization today. The great humanist principle is
quoted by Kant: Man can not be means for anything, it is always the purpose.
This is also the humanistic principle of modern tolerance culture. On the basis
of clarifying the connotation of tolerance, the paper first analyzes the expression
of tolerance in Kant's philosophy and points out its current meaning in Vietnam
today.
Keywords: tolerant; thought tolerance; Kant philosophy.
1. Bàn về khái niệm khoan dung
Tư tưởng khoan dung xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng triết học.
Dù rằng, trong giai đoạn đầu tiên đó, thuật ngữ khoan dung chưa được sử dụng
thường xuyên, nhưng tinh thần của nó có ảnh hưởng lớn đến giai đoạn sau. Ở
phương Tây, thuật ngữ “khoan dung” có nguồn gốc từ tiếng Latinh tolerare và
tolerantia với nghĩa là tha thứ, ủng hộ, dung nạp. Thuật ngữ này, gắn liền
với đời sống tôn giáo khi xuất hiện vào thế kỷ XVI trong những xung đột tôn
giáo giữa người Công giáo và Tin lành. Trong tiếng Anh có chữ toleration (sự
khoan dung, sự tha thứ), dùng gần nghĩa với benevolance (khoan dung, thiện
nguyện). Ở phương Đông thuật ngữ khoan dung xuất hiện lần đầu trong Kinh
Thư. Trong đó, khoan dung được quan niệm là một đức tính của người quân tử
bên cạnh tín, mẫn, huệ; “khoan” được hiểu là sự tha thứ, rộng lượng, khoan
hồng, “dung” là bao dung.
Mặc dù được đề cập và bàn luận từ lâu, song với tư cách là một thuật ngữ
khoa học, khoan dung mới chỉ được nhắc tới ở Việt Nam từ những năm 90 của
thế kỷ XX và được hiểu như một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực nhân văn
của con người. Trong Hán Việt từ điển giản yếu, học giả Đào Duy Anh cho rằng:
Khoan dung là sự rộng rãi dung được nhiều, độ lượng rộng, khoan dung là lòng
rộng bao dung [1]. Còn Bửu Kế trong Từ điển Hán Việt từ nguyên [7]: Khoan
dung là che chở, đùm bọc, bao dung kẻ khác; Hoàng Phê trong Từ điển tiếng
2



Việt [11]: Khoan dung là rộng lượng tha thứ cho người có lỗi lầm; trong Từ điển
bách khoa Việt Nam [4]: Khoan dung là thái độ ứng xử rộng lượng của người
trên đối với kẻ dưới quyền.
Như vậy, khoan dung có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu phổ biến
nhất là chỉ sự tha thứ của người trên đối với kẻ dưới, song nghĩa rộng nhất
chúng ta có thể hiểu: Khoan dung chỉ thái độ chấp nhận khác biệt có phê phán
trong mức độ đối thoại để cùng phát triển, không phân biệt cao thấp, sang hèn,
văn minh hay không văn minh. Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ khoan dung
chưa có sự thống nhất về nội hàm nên dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau. Có
khi khoan dung được hiểu là thái độ, cách ứng xử có liên quan đến tôn giáo,
thường chỉ tình yêu thương, bao dung, độ lượng giữa con người với con người.
Khác với Phật giáo thì Nho giáo coi khoan dung là một phẩm tính của người
quân tử và nội hàm thiên về thái độ ứng xử của bề trên đối với kẻ dưới, của
người có quyền đối với người không có quyền. Song thực tế khoan dung còn
được đề cập ở nhiều lĩnh vực khác. Ngày nay, khoan dung bao hàm ý nghĩa là
một sự đối thoại ngay cả với những người có tín người, có niềm tin trái ngược
nhau.
Trước những đổi thay của xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi các nước ngày
càng gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, bên cạnh sự đụng độ về kinh tế và về chính trị,
sự đụng độ về văn hoá và văn minh đã và đang xảy ra thì khoan dung là một
thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong quan hệ giữa các khu vực và các
dân tộc. Để vạch rõ nội hàm của khái niệm khoan dung, tìm ra một khuôn mẫu
cho thế giới hiện đại của thế kỷ XIX, UNESCO trong bản Tuyên ngôn những
nguyên lý về khoan dung đã xác định bốn khía cạnh chủ yếu của tư tưởng khoan
dung có tác động tích cực đến việc xây dựng xã hội hoà bình. Theo đó, “Khoan
dung là một hình thức tự do, tự do về tư tưởng, tự do về pháp lý. Một con người
khoan dung là người làm chủ về tư tưởng và hành động của mình. Khoan dung
là một thái độ ứng xử tích cực, không hàm ý mang ơn hay hạ mình chiếu cố đối
với người khác. Khoan dung là thừa nhận và chấp nhận sự khác biệt. Đó là học

3


cách nghe, cách thông tin và cách hiểu người khác. Khoan dung là chấp nhận sự
đa dạng của các nền văn hóa, là sự cởi mở đối với những tư tưởng triết lý khác
mình, là sự ham học hỏi, tìm hiểu những điều bổ ích để làm giàu cho bản thân,
không bác bỏ những gì mà mình chưa biết. Khoan dung là tôn trọng quyền và tự
do của người khác. Khoan dung là sự thừa nhận không có một nền văn hóa, một
quốc gia hay một tôn giáo nào độc tôn về tri thức và chân lý” [13, tr.29].
Như vậy, khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đề cao sự đa dạng, là sự
hòa hợp trong sự khác biệt.
2. Nội dung cơ bản của tư tưởng khoan dung trong triết học Kant
Immanuel Kant (1724 – 1804) là một trong những nhà triết học vĩ đại của
lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác. Triết học của Kant là nền tảng và điểm
xuất phát của triết học Đức hiện đại. Ông đã để lại cho nhân loại hệ thống triết
học độc đáo và sâu sắc, đề cập rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh như: văn hóa,
đạo đức, chính trị - xã hội … trong đó có tư tưởng khoan dung. Tư tưởng khoan
dung được Kant cố gắng hiện thực hóa trong các mối quan hệ, nhất là nhằm loại
bỏ sự nghi ngờ lẫn nhau giữa các quốc gia, thiết lập quan hệ quốc tế và đề xuất
những nguyên tắc phân xử xung đột [8, tr.9].
Thứ nhất, Kant phê phán chiến tranh. Kant đồng ý với quan điểm của
Hobbes rằng, chiến tranh là hiện tượng tự nhiên, đồng thời ông cũng khẳng định,
chiến tranh tự nó là một hiện tượng tự nhiên hữu ích, là cái cho phép bảo vệ bản
sắc và sự độc lập của các dân tộc và ở một chừng mực nào đó, nó còn kích thích
phát triển toàn diện những năng lực bản chất của con người. Nhưng, Kant coi
chiến tranh là một phương tiện bất đắc dĩ mà người ta buộc phải tiến hành để
khẳng định các quyền của mình bằng sức mạnh và để hy vọng, rốt cuộc thì “nền
hòa bình vĩnh cửu của các quốc gia cũng phải được thiết lập” [10, tr.167]. “Hòa
bình” được ông hiểu là sự kết thúc mọi sự thù địch, mọi hành động chiến tranh.
Vì, nếu chiến tranh cứ diễn ra thường xuyên thì sẽ không có điều kiện để phát

triển kinh tế. Đồng thời, việc phải thường xuyên chuẩn bị chiến tranh sẽ dẫn đến
việc đánh mất một cách vô bổ những năng lực con người và đến lượt mình, điều
4


đó sẽ kìm hãm việc phát triển các giá trị mang bản chất người. “Một cộng đồng
hẹp hay rộng lớn trên trái đất này đều có quyền phát triển cho đến khi sựu vi
phạm về quyền tại một nơi nào đó trở thành hiện tượng phổ biến ở khắp nơi” [8,
tr.46].
Để có được nền hòa bình vĩnh cửu, Kant kêu gọi loại bỏ quân đội thường
trực, vì nếu nó được duy trì với số lượng không phù hợp sẽ là mối đe dọa đối
với các quốc gia khác, khiến cho việc “chạy đua vũ trang” giữa các quốc gia trở
thành khó tránh khỏi. Chiến tranh có thể nổ ra khi sức mạnh của quốc gia đó
được thể hiện trong năng lực kinh tế. Trong xã hội hiện đại, vấn đề này đã được
thể hiện một cách rõ ràng, dể thấy và Kant chính là người nhận ra điều này ngay
từ những ngày đầu phát triển của xã hội tư bản. Nếu chiến tranh cứ diễn ra
thường xuyên thì, theo ông, sẽ không có điều kiện phát triển kinh tế. Do vậy,
chiến tranh là cái luôn xung khắc với thương mại. Việc phải thường xuyên
chuẩn bị chiến tranh sẽ dẫn đến việc đánh mất một cách vô bổ những năng lực
con người và đến lượt mình, điều đó sẽ kìm hãm việc phát triển các giá trị mang
bản chất người. Như vậy, bên cạnh những yếu tố duy tâm, không tưởng, khó
tránh khỏi đạo đức học và quan điểm chính trị của Kant chứa đựng một số điểm
tích cực, nhân văn.
Thứ hai, Kant đề cao nhân cách đạo đức với học thức và giáo dục của JeanJacques Rousseau, Kant cho rằng, các nguyên lý đạo đức là độc lập với mọi lĩnh
vực hoạt động khác của con người. Nếu trong triết học lý thuyết, cảm giác là
nguồn gốc duy nhất của tri thức, của giác tính với các phạm trù và quy luật của
hiện tượng luận, thì ở đây, lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên tắc và
chuẩn mực đạo đức. Trong lĩnh vực này, “các nguyên lý cảm tính nói chung
không thích hợp để có thể từ đó người ta xây dựng nên các quy luật đạo đức” [3,
tr.285]. Nguyên lý cơ bản của nhà sáng lập ra triết học cổ điển Đức là làm theo

yêu cầu của lý trí, cái mà Kant gọi là “mệnh lệnh tuyệt đối”. Mệnh lệnh tuyệt đối
đòi hỏi người ta phải hành động như thế nào đó để những hành vi của mình phù
hợp với một pháp chế - phổ biến: “Mỗi người hãy hành động tới mức tối đa sao
5


cho điều đó được đưa vào cơ sở pháp chế phổ biến”.
Thứ ba, Kant đề cao quyền con người. Theo Kant, chỉ có hành động của
con người phù hợp với mệnh lệnh tuyệt đối nói trên mới được coi là hành động
có đạo đức. Cụ thể, một mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi hoạt động của con người
phải tuân theo các quy tắc sau: Một là, mỗi người đều có quyền và cần hành
động theo điều kiện và ý muốn sao cho ai cũng làm được như thế; Hai là, mỗi
người đều có quyền và cần cho phép người khác cũng có được quyền như thế,
đồng thời tạo điều kiện để họ thực hiện được quyền đó; Ba là, mỗi người đều có
quyền và cần phải ngăn chặn những người khác hành động trái với mệnh lệnh
tuyệt đối trong khả năng có thể làm được. Quan điểm về đạo đức học và quan
điểm chính trị của Kant: Kant đi tìm lời đáp cho câu hỏi “Tôi cần phải làm gì?”
được Kant trình bày trong Phê phán lý trí thực tiễn. Điều đầu tiên là làm sáng tỏ
sự khác nhau giữa lý luận thuần túy (lý luận) và tri thức thực tiễn. Nếu lý trí
thuần túy định nghĩa đối tượng tư duy, thì lý trí thực tiễn đòi hỏi thực hiện, tức
thiết lập đối tượng đạo đức và khái niệm của nó. Kant không hiểu “thực tiễn”
như hoạt động sản xuất hay cải tạo xã hội, mà chỉ đơn thuần là hành vi xử thế,
môi trường đạo đức.
Con người, theo Kant, về bản tính là ác. Về điểm này, Kant có những điểm
tương đồng với T.Hobbes, người từng khẳng định ở trạng thái tự nhiên, con
người “còn ác độc hơn cả gấu, rắn và chó sói cộng lại”, tuy ông vừa khẳng định
bản tính tự nhiên của con người chứa đựng cả mầm mống của cái thiện. Kant
trích dẫn câu châm ngôn nổi tiếng của Horat “Vitiis nemo sine nascitur” (Không
ai sinh ra mà lại không có lỗi cả). Nguồn gốc của cái ác trong bản tính con người
được Kant lý giải như sau: “Khi chúng ta khảo cứu nguồn gốc hay căn nguyên

của cái xấu, chúng ta thường không bắt đầu từ những điều mà vẫn còn đang ở
dạng tiềm tàng (peccatum in potentia) hay còn ở dưới dạng khả năng mà thường
phải xuất phát từ việc cái xấu đã hiển hiện chứa đựng trong các hành vi, từ trong
tiềm tàng cái mà dẫn tới hành vi võ đoán hay tùy hứng. Khi ta truy tìm nguồn
gốc lý trí của một hành vi xấu nào đó thì cần xem xét lý do liệu có phải người ta
6


từ chỗ tình trạng vô tội rơi vào hành vi xấu đó hay không” [5, tr.690].
Tuy nhiên, nếu như T.Hobbes cho rằng con người về bản tính là ích kỷ, thì
theo Kant, không phải con người khi sinh ra đã là ác, mà có khả năng làm điều
ác. Cái ác tiềm ẩn trong bản chất con người chứ không phải ngay từ khi sinh ra
đã hiện hữu trong con người – đây là điểm khác nhau giữa I.Kant và T.Hobbes.
Cái ác hay cái thiện chỉ thể hiện khi con người hành động. “Xét từ khía cạnh đạo
đức, một người nào đó đang hay phải là một người tốt hay một kẻ xấu – điều đó
hoàn toàn do tự bản thân người đó mà ra. Người tốt hay xấu đều là hệ quả từ
những mong muốn hay võ đoán của con người ta; còn trong trường hợp ngược
lại thì chưa thể kết luận con người đó là một người tốt hay là một kẻ xấu được”
[5, tr.694].
Mỗi chúng ta chỉ có thể trở thành một con người tốt khi đấu tranh chống lại
cái ác. “Nếu như chỉ thúc đẩy những mầm mống cái thiện nằm trong giống nòi
con người chúng ta mà bấy lâu nay vẫn bị che phủ thì vẫn chưa đủ để có thể
biến một người bình thường trở thành một người tốt về mặt đạo đức. Phải đấu
tranh chống lại căn nguyên của những cái ác, cái xấu nữa. Đó cũng là điều mà
các nhà đạo đức học cổ đại, cụ thể là các nhà Khắc kỷ, đã tìm thấy đức hạnh qua
khẩu hiệu của họ” [5, tr.709]. Đương nhiên, đạo đức học không thể hoàn chỉnh
nếu con người ta thiếu niềm tin vào Thượng đế, bởi chính Thượng đế định
hướng cho hành vi của con người hướng tới cái thiện, cái tốt và những giá trị
đạo đức khác. Kant viết: “Trong đức tin thực hành vào Đức Chúa Con [Giêsu
Kitô – N.Q.H.] (…) giờ đây người ta có thể hy vọng là Đức Chúa sẽ mãn

nguyện (qua sự cứu rỗi). Điều đó có nghĩa là người nào đang ở trong quan niệm
(trong nếp suy nghĩ) đạo đức đó có chủ ý, thì người đó có thể đang được dựa
trên một đức tin hoàn toàn có cơ sở” [5, tr.714].
Thứ tư, Kant tôn trọng tự do của con người. Theo Kant, tri thức có giá trị
chỉ khi nào hướng đến con người, thiết lập những chuẩn mực giúp con người trở
thành con người theo đúng nghĩa của từ đó. Do vậy, lý trí thực tiễn cao hơn lý trí
thuần túy (lý luận). Khác với lý trí thuần túy đề cập đến cái đang có năng lực
7


nhận thức của con người, lý trí thực tiễn đề cập đến cái cần phải có: con người
tao ra quy luật của mình bằng những nổ lực của ý chí. Quy luật đạo đức được
Kant cô đọng lại dưới hình thức mệnh lệnh tuyệt đối, mang ý nghĩa của những
đòi hỏi phổ biến và cưỡng chế. Các quy luật đạo đức có tính hình thức, xét như
khuôn mẫu, thước đo tuyệt đối mọi hành vi, không dựa vào kinh nghiệm mà có
tính chất tiên nghiệm, dựa vào lý trí thực tiễn, tức lý trí thể hiện trong hoạt động.
Khi quyết định một việc gì? con người dùng lý trí rà soát xem việc làm ấy có
hợp lý hay không, có hợp với quy luật đạo đức hay không. Vậy quy luật đạo đức
xuất phát từ đâu? Câu trả lời của Kant tỏ ra dứt khoát: Có những quy luật đạo
đức được xuất phát từ tận nơi sâu thẳm của linh hồn, mà người bình thường nào
cũng có thể tuân theo như một mệnh lệnh, bởi lẽ cái tầng sâu ấy hình thành nơi
con người như một tất yếu, để phân biệt với những loài khác. Aristote đã định
nghĩa con người là một “sinh vật xã hội”, vượt lên trên thế giới loài vật là vì lẽ
đó. Trong số các quy luật đạo đức, có thể chú ý đến hai hành động sau: 1) Hãy
hành động sao cho cái bạn tuân thủ cũng trở thành quy tắc chung; 2) Hãy hành
động sao cho bạn luôn đối xử với nhân loại, dù nhân danh cá nhân hay danh bất
kỳ người nào khác, như mục đích chứ không như phương tiện.
Theo Kant, con người là chủ thể sáng tạo, do đó cũng là một chủ thể tự do.
Tuy nhiên không ai có quyền sử dụng tự do của mình để tự thủ tiêu tự do của
những người khác. Nguyên tắc “tự do” và “tự chủ ý chí” là cơ sở đi tới những

bậc thang tiếp theo của đời sống đạo đức: Thứ nhất, không có đạo đức không có
tự do, vì bổn phận làm người tôi buộc phải hành động như thế, chứ không khác
đi. Trong trường hợp có ý chí quyền lựa chọn cái phải làm; tôi tự do xét như một
sinh vật biết tự mình suy nghĩ và hành động; Thứ hai, không có tự do không có
đạo đức. Tự do là quyết định điều phải làm. Tự do nghĩa là khi phải quyết định
con người chỉ phải tuân thủ lý trí, quy luật đạo đức. Chính quy luật đạo đức là sự
đảm bảo tự do cho tất cả trong sự quân bình và ngăn chặn mọi sự vi phạm quyền
thiêng liêng đó của con người [14, tr.162]. Từ hai khía cạnh này Kant đi đến
nhận định rằng: Ngoài ý chí tự do, con người còn ý thức về nghĩa vụ, thiện chí.
8


Những phạm trù này được Kant xem như tính chế ước xã hội đối với cá nhân.
Kant đề cao nghĩa nghĩa vụ, còn tự do dường như được ông đưa về thế giới tự
nhiên, như một khát vọng vươn tới mục đích, nhưng không thể đạt được nó.
Như vậy, trong triết học Kant, tư tưởng khoan dung được cố gắng hiện thực
hóa trong các mối quan hệ, nhất là nhằm loại bỏ sự nghi ngờ lẫn nhau giữa các
quốc gia, thiết lập quan hệ quốc tế và đề xuất những nguyên tắc phân xử xung
đột.
3. Ý nghĩa hiện thời tư tưởng khoan dung của Immanuel Kant
Tinh thần khoan dung là một trong những giá trị văn hóa của dân tộc Việt
Nam. Những bài học rút ra từ lịch sử cho thấy việc thực hiện tư tưởng khoan
dung đã góp phần làm nên những chiến công hiển hách, góp phần bảo vệ thành
công nền độc lập và chủ quyền quốc gia trước các loại ngoại xâm và thúc đẩy sự
phát triển đất nước. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế và chủ động tham
gia vào các quá trình toàn cầu hóa hiện nay, tinh thần khoan dung chắc chắn sẽ
giúp chúng ta tiếp thu được nhiều những giá trị mới của văn hóa nhân loại đồng
thời góp phần tích cực vào việc xây dựng nền hòa bình bền vững trên trái đất.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ngày
18/1/2012 đã phát động một chương trình giáo dục lòng khoan dung có tên

gọi "Giáo dục sự tôn trọng mọi người" nhằm nâng cao nhận thức trong giới
trẻ chống lại nạn phân biệt chủng tộc và sắc tộc. Trong điều kiện đó, việc
nghiên cứu và vận dụng tư tưởng khoan dung trong triết học Kant là rất cần
thiết; bời tư tưởng đó để lại nhiều bài học ý nghĩa cho thế giới hiện đại nói
chung và Việt Nam nói riêng.
Thứ nhất, đối với cá nhân: Người có lòng khoan dung sẽ cảm thấy hạnh
phúc, có lối ứng xử thông minh, hòa nhập với xã hội tạo thêm mối quan hệ giúp
cho việc ngoại giao dễ dàng và khả năng thành công trong công việc là rất cao.
Người có lòng khoan dung luôn vui vẻ, không hận thù và luôn nghĩ cho lợi ích
của tập thể hơn lợi ích của bản thân. Người có lòng khoan dung luôn được mọi
người coi trọng và khẳng định giá trị bản thân của họ. Khoan dung giúp cho thân
9


thể con người khỏe mạnh, dễ dàng làm nên việc lớn và đưa con người trở về với
bản chất của chính mình và khoan dung làm cho con người ta có nhiều niềm vui,
hạn chế những hận thù, thân thiện với nhau hơn mà bớt đi sự cô đơn và tẻ nhạt
trong cuộc sống.
Thứ hai, đối với gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình ổn định và
phát triển thì xã hội mới ổn định và phát triển. Khoan dung giúp cho mọi người
sống với nhau một cách hòa thuận, không hơn thua, ganh ghét lẫn nhau. Không
vì lợi ích nhỏ mà bỏ đi tình thân, có như thế mới là một gia đình văn minh, hạnh
phúc. Các thành viên trong gia đinh biết chấp nhận sự khác biệt về tính cách,
thói quen của các thành viên khác, bỏ qua những lỗi lầm và cho họ cơ hội để sửa
chữa những sai lầm mà họ phạm phải. Tha thứ những lỗi lầm nhưng đồng thời
phải góp ý, phân tích đúng sai, để các thành viên trong gia đình hoàn thiện bản
thân. Đứng trên lập trường giáo dục thì hạn chế cảnh chồng đánh vợ, cha đánh
con và cả sự thù hằn lẫn nhau.Thay vào đó bằng sự tha thứ, lòng khoan dung và
cả những lời dạy bảo hết sức ân cần của người chồng dành cho vợ, của các bậc
phụ huynh dành cho con cái, và ngược lại con cái cũng phải biết kính trọng, biết

nghe lời và phải hiếu thảo, giúp đời sống gia đình trở nên tốt đẹp, gắn bó và yêu
thương lẫn nhau, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” vì thế, khoan dung là nền
tảng của một gia đình hạnh phúc.
Thứ ba, đối với xã hội: Khoan dung là sợi dây gắn kết mọi người lại với
nhau từ đó thấu hiểu tâm tư, tình cảm và hoàn cảnh của nhau để cùng sẽ chia,
giúp đỡ và cùng tiến bộ. Ngày nay tư tưởng khoan dung được mọi người vân
dụng làm cơ sở đễ đối xử với nhau. Điều đó được thể hiện thông qua các chương
trình như: “trái tim nhân ai”, “Chắp cánh ước mơ”, “Lục lạc vàng”, “Chuyến xe
nhân ái’’, “vượt lên chính mình”, “cặp lá yêu thương”,… Điều đó chứng mình
được con người luôn yêu thương lẫn nhau. Không những thế, khoan dung còn là
cầu nối giúp cho việc giao lưu văn hóa thuận lợi giữa các quốc gia trong khu vực,
họp tác giữa các nước trên thế giới dựa trên nguyên tắc: hợp tác, hòa bình, hữu
nghị giữa các quốc gia. Giải quyết các xung đột bằng biện pháp hòa bình, chuyển
10


từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác cùng phát triển. Khoan dung còn là điều kiện, là
phương tiện và cũng là nền tảng để các doanh nghiệp, các quốc gia có thể chấp
nhận sự khác biệt để gần nhau hơn, hợp tác và phát triển bền vững.
Giáo dục tinh thần khoan dung cho thế hệ trẻ sẽ có tác dụng giáo dục họ
kính thầy, yêu bạn, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, sinh hoạt, quý trọng của
công, quan tâm đến nỗi bất hạnh của người khác. Tình yêu thương con người
phải gắn với lòng căm thù các thế lực thù địch con người. Ngày nay thế hệ trẻ
phải biết ngăn chặn cái ác, cái xấu đang len lỏi vào cuộc sống của họ. Nhiệm vụ
đặt ra cho thế hệ trẻ là trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều phải nêu cao tinh thần
đấu tranh, chống mọi cám dỗ, thấp hèn, chống lại sự lây lan của tệ nạn xã hội.
Thế hệ trẻ ngày nay phải đấu tranh kiên quyết để nhanh chóng loại trừ ra khỏi
cuộc sống của mình tệ nạn ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác đang xâm
hại nghiêm trọng tư cách đạo đức, phẩm giá và sức khỏe của tuổi trẻ. Bên cạnh
thái độ dứt khoát tránh xa các tệ nạn xã hội, thế hệ trẻ đồng thời phải biết

khuyến khích cái thiện, noi gương người tốt việc tốt, có tinh thần đoàn kết, nhiệt
tình tham gia các phong trào của thanh niên, thế hệ trẻ cả nước, góp phần vào
các hoạt động xã hội như chiến dịch ánh sáng văn hóa, mùa hè xanh, phong trào
hiến máu nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng...
Thế hệ trẻ Việt Nam cũng phải sát cánh cùng thế hệ trẻ thế giới chống chiến
tranh, chống phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa khủng bố... Tính tích cực của
thế hệ trẻ trong các phong trào trên chẳng những đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
mà còn là môi trường rèn luyện của thế hệ trẻ, nâng cao vị thế của thế hệ trẻ
trong xã hội.
Hiện nay, trên thế giới vẫn đang diễn ra những cuộc chiến tranh xung đột
đẫm máu về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo... Do thiếu một tinh thần khoan dung, họ
tự coi mình là độc tôn, đi tới kỳ thị, dị hóa với tất cả cái gì không phải là mình!
Chính trong một thế giới còn đang tồn tại quá nhiều sự cuồng tín và tàn bạo,
nhân loại đang rất cần đến tinh thần khoan dung. Bồi dưỡng, phát triển và nâng
cao tinh thần khoan dung đang là một yêu cầu cấp bách, trong đó tư tưởng
11


khoan dung của Kant đang được nhắc đến như một giá trị tiêu biểu cho văn hóa
khoan dung của thời đại hiện nay.
Bồi dưỡng và phát triển tinh thần khoan dung cũng đang là một giải pháp
cơ bản để củng cố khối đại đoàn kết và thực hiện hoà hợp dân tộc. Một trong
những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là đã đem lại sự
đa dạng, phong phú về định hướng giá trị cho mỗi cá nhân. Cuộc sống có nhiều
giá trị: giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, giá trị kinh tế, giá trị sáng tạo nghệ
thuật,... có những quan niệm đa dạng, phong phú về hạnh phúc, về cái đẹp, về
tập quán, tín ngưỡng, lối sống... Mọi người đều có thể theo đuổi những giá trị
khác nhau đó, miễn là không hại đến mục tiêu chung là “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”. Biết tôn trọng sự đa dạng của văn hóa - tinh
thần là một nhân tố quan trọng để thực hiện đoàn kết - hòa hợp dân tộc và đoàn

kết quốc tế.
Ngày nay, khi mở cửa, hội nhập đang diễn ra trên quy mô toàn thế giới, các
nền văn hóa đang có sự giao thoa ngày càng rộng rãi. Trong tình hình đó, con
người càng cần đến khoan dung. Khoan dung đang trở thành một phẩm chất
không thể thiếu của con người văn minh để cùng chung sống trong một thế giới
cộng sinh, cộng sinh giữa cái riêng với cái chung, cái đơn nhất với cái đa dạng,
cái nội sinh với cái ngoại lai, trên cơ sở triết lý nhân văn rất sâu sắc ở mọi nền
văn hóa lớn nhỏ trên trái đất này.
4. Kết luận
Từ ý nghĩa của khoan dung và tầm quan trọng cấp bách của việc phổ cập và
nâng cao tinh thần khoan dung, tạo ra sự đồng thuận trong một thế giới đầy biến
động như hiện nay, chúng ta càng thấy rõ giá trị của tư tưởng khoan dung trong
triết học Kant. Bài viết đã góp phần nhận thức các biểu hiện trong tư tưởng
khoan dung của Kant, và chỉ ra ý nghĩa giáo dục của nó đối với cá nhân, gia
đình và hội ở nước ta hiện nay. Bài viết có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
sinh viên các ngành khoa học xã hội muốn nghiên cứu về tư tưởng của Kant./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
12


Đào Duy Anh (2013), Hán Việt từ điển giản yếu, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà
Nội.
Nguyễn Tiến Dũng (2009), Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Văn nghệ, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Kant, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2002). Từ
điển bách khoa Việt Nam. Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
I.Kant. Tôn giáo chỉ tồn tại trong khuôn khổ của lý tính. Trong: I. Kant. Các tác
phẩm, tập IV. Hiệp hội xuất bản sách khoa học, Darmstadt,
1983, tr.822 (tiếng Đức).

Kant. Hướng
tới
nền
hoà

bình

vĩnh

cửu.

(Kant/Perpetual

Peace), http:/.www.yahoo.com. Philosophy/Kant/Perpetual Peace.
Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb. Thuận Hóa.
Nguyễn Thị Phương Mai (2012), Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của
nó, Luận án Tiến sĩ triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Hà Nội.
Nguyễn Thị Phương Mai (2007), “Khoan dung thuật ngữ và sự vận động của nó
trong lịch sử triết học phương Tây”, Tạp chí Triết học, số 8 (195).
Nguyễn Thị Phương Mai (2007), “Hướng tới nền hòa bình vĩnh cửu” – khát
vọng của nhân loại, Tạp chí Triết học, số 4 (167).
Hoàng Phê (chủ biên) (2000). Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm
Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng.
Bùi Văn Nam Sơn (2007), Kant phê phán lý tính thực tiễn, Nxb. Tri thức, Hà
Nội.
Trần Đăng Sinh - Đào Đức Doãn (2011), Giáo trình Tôn giáo học, Nxb. Đại
học sư phạm, Hà Nội.
Đinh Ngọc Thạch (2004), Giáo trình Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội.


13



×