Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

Nhóm 10 tái sử dụng chất thải rắn và ý nghĩa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.87 MB, 48 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

ĐỂ TÀI

TÁI SỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN VÀ Ý NGHĨA
Môn: Khoa Học Môi Trường
GVHD: TS Lê Quốc Tuấn
Sinh Viên Thực Hiện:
1/Trần Tấn Tài

13127229

DH13MT

2/Lương Tấn Thịnh

13127261

DH13MT

3/Châu Thị Thy

13127279

DH13MT

4/ Nguyễn Thị Thanh Quyên

13127209


DH13MT

5/Nguyễn Thị Tuyết Sang

13127261

DH13MT

6/Phan Văn Thắng

13127254

DH13MT

7/Nguyễn Hoàng Thông

13127267

DH13MT

Thành phố Hồ Chí Minh, 2014
1


Mục Lục:
Chương 1. Mở đầu

Trang

1.1 Đặt vấn đề


4

1.2 Mục tiêu, phương pháp nghiên cứu

4

1.2.1 Mục tiêu

5

1.2.2 Ý nghĩa

5

Chương 2. Chất thải rắn và ô nhiễm môi trường do chất thải rắn

5

I/Khái niệm cơ bản về chất thải rắn

5

1.1 Khái niệm
1.2 Nguồn gốc phát sinh
II/Phân loại chất thải rắn
2.1 Phân loại chất thải rắn theo quan điểm thông thường

7
7


a/ Chất thải rắn sinh hoạt

7

b/ Chất thải rắn công nghiệp

7

c/ Chất thải rắn xây dựng

7

d/ Chất thải rắn nông nghiệp

8

2.2 Phân loại chất thải rắn theo công nghệ quản lý và xử lý

8

III/Tính chất của chất thải rắn

9

3.1 Tính chất vật lý

9

3.2 Tính chất hóa học


10

3.3 Tính chất sinh học

11

3.4 Tốc độ thải chất thải rắn

12

IV/ Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn

14

4.1 Tác hại của chất thải rắn đối với môi trường đất

14
2


4.2 Tác hại của chất thải rắn đến môi trường không khí

15

4.3 Tác hại của chất thải rắn đến môi trường nước

16

4.4 Tác hại của chất thải rắn đến sức khoẻ


16

V/ Quản lý và xử lý chất thải rắn

17

5.1 Ngăn ngừa, giảm thiểu chất thải rắn từ nguồn

17

5.2 Tái sử dụng, tái chế chất thải rắn và thu hồi năng lượng

18

5.3 Thu gom và vận chuyển chất thải rắn

18

5.4 Xử lý chất thải rắn

19

5.4.1 Cơ sở chọn lựa phương pháp xử lý

20

5.4.2 Các phương pháp xử lý

20


5.4.2.1 Phương pháp xử lý cơ học

20

5.4.2.2 Phương pháp xử lý nhiệt

21

5.4.2.3 Phương pháp xử lý chôn lấp

24

5.4.2.4 Phương pháp xử lý sinh học

30

5.5 Tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước

33

5.5.1 Singapore

33

5.5.2 Thái Lan

34

5.5.3 Malaixia


35

5.6 Tổng quan CTR ở Việt Nam

36

5.6.1 Chất thải rắn đô thị

36

5.6.2 Chất thải rắn công nghiệp

38

5.6.2.1 Phát sinh chất thải rắn công nghiệp

39

5.6.2.2 Thu gom và vận chuyển chất thải rắn công nghiệp

40

5.6.2.3 Xử lý và tái chế chất thải rắn công nghiệp

40
3


5.6.3 Chất thải rắn công nghiệp nguy hại


41

5.6.3.1 Phát sinh chất thải rắn nguy hại

41

5.6.3.2 Thu gom và vận chuyển chất thải rắn nguy hại

42

5.6.3.3 Xử lý, tiêu diệt chất thải rắn nguy hại

42

5.6.4 Chất thải rắn y tế

43

5.6.4.1 Tình hình phát triển các bệnh viện
43
và phòng khám bệnh ở Việt Nam
5.6.4.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

43

5.6.4.3 Thành phần của chất thải rắn từ các hoạt động y tế

44


5.6.4.4 Xử lý và tiêu diệt chất thải rắn y tế

45

Đồ án :TÁI

SỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN VÀ Ý NGHĨA.
CHƯƠNG 1:MỞ ĐẦU

1.1.Đặt vấn đề: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là hai yếu tố không
thể tách rời trong mọi hoạt động của con người chúng ta. Phát triển bền vững là chiến
lược phát triển toàn cầu nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đời sống con
người bao gồm việc duy trì các yếu tố thúc đẩy cho sự phát triển cho các thế hệ tương
lai.
Cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhiều loại chất thải khác nhau
sinh ra từ các hoạt động của con người có xu hướng tăng lên về số lượng. Ô nhiễm
chất thải rắn đang là vấn đề nổi lên hàng đầu ở việt nam. Hàng năm cả nước thải ra
trên 15 triệu tấn rác thải. Vì vậy, vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn là vấn đề nan
giải trong công tác bảo vệ môi trường vá sức khỏe người dân trên cả nước nói chung
và khu vực TP.HCM nói riêng.Những phương pháp quản lý và xử lý sẻ không mang
tính hợp lý ,kém hiệu quả nếu không có sự phối hợp hành động của toàn thể các cơ
quan , các cơ sở công nghiệp,các cơ sở sản xuất,dịch vụ ,trường học,bệnh viện…..Hiện
nay công nghệ thu gom,vận chuyển chôn lấp vẫn là biện pháp phổ biến xử lý CTR
nhất. Ưu điểm phương pháp này là ít tốn kém và xử lý được nhiều loại rác thải.
4


1.2: Mục tiêu,ý nghĩa khoa học:
1.2.1 Mục tiêu:
-Trên cơ sở nghiên cứu, nắm bắt được hiện trạng phát, thu gom, vận chuyển, xử lý chất

thải rắn
-Từ đó đưa ra một số phương pháp xử lý và quản lý chất thải rắn hiệu quả nhất
-Đưa phương pháp tái sử dụng chất thải rắn vào đời sống để giảm thiểu ô nhiễm môi
trường và có ý nghĩa hơn cho cuộc sống
1.2.2 Ý nghĩa khoa học
Với những kết quả đạt được, đề tài có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường và các lợi
ích kinh tế – xã hội đem lại
- Ý nghĩa khoa học, thực tiễn:
+ Có cái nhìn toàn cảnh về quản lý chất thải rắn, đưa ra cái nhìn tổng quát
hơn về chất thải cũng như giá trị hiện thực của chất thải, biến những cái bỏ
đi thành những cái có thể sử dụng được.
- Ý nghĩa môi trường
+ Tận dụng triệt để chất thải
+ Giảm bớt áp lực của bãi rác và góp phần ngăn chặn các rủi ro ô nhiễm môi
trường do chất thải gây ra
- Ý nghĩa kinh tế – xã hội
+ Tiết kiệm chi phí xử lý khi thu hồi lại được các chất thải có khả năng sử
dụng tiếp hoặc lấy làm nguyên liệu để trao đổi hoặc bán cho các doanh
nghiệp khác có nhu cầu sử dụng.
* Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp cho ban lãnh đạo công ty cũng như các nhà
quản lý môi trường của ngành quản lý chất thải rắn hoạch định các chính sách phù hợp
cho công tác bảo vệ môi trường, là cơ sở để lựa chọn các biện pháp quản lý và xử lý
chất thải cho phù hợp, tạo điều kiện phát triển bền vững cho môi trường sống.
Chương 2: CHẤT THẢI RẮN VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO CHẤT THẢI
RẮN
I. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CHẤT THẢI RẮN
1.1.Định nghĩa :Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loaị bỏ
trong các hoạt động kinh tế − xã hội của mình (bao gồm hoạt động sản xuất ,các hoạt
5



động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng,…).Trong đó quan trọng nhất là các loại
chất thải sinh ra từ hoạt động sản xuất và hoạy động sống.
Chất thải rắn đô thị (gọi tắt là rác thải đô thị ) được định nghĩa là vật chất mà
người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu đô thị mà không đòi hỏi bồi thường.
1.2.Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:

Bảng 1:Nguồn gốc các loại chất thải rắn
Nguồn phát sinh

Nơi phát sinh

Các dạng chất thải rắn

Khu dân cư

Hộ gia đình, biệt thự,
chung cư

Thực phẩm dư thừa, giấy,
can nhựa, thủy tinh,nhôm.

Khu thương mại

Nhà kho, nhà hàng, chợ,
Thực phẩm dư thừa, giấy,
khách sạn, nhà trọ, các trạn can nhựa, thủy
sửa chữa và dịch vụ
tinh,nhôm,chất thỉa nguy

hại.

Cơ quan, công sở

Trường học, bệnh viện, văn Thực phẩm dư thừa, giấy,
phòng cơ quan chính phủ
can nhựa, thủy
tinh,nhôm,chất thỉa nguy
hại.

Công trình xây dựng

Khu nhà xây dựng mới,
sửa chửa nâng cấp đường
phố, cao ốc, san nền xây
dựng.

Gỗ, bê tông, gạch, thép,
thạch cao, bụi.

Dịch dụ công cộng đô thị

Hoạt động dọn rác vệ sinh
đường phố, công viên, khu
vui chơi, bãi tắm.

Rác cành cây cắt tỉa, rác
thải chung khu vui chơi,
giải trí.


Các khu công nghiệp

Công nghiệp xây dựng, chế Chất thải do quá trình chế
tạo, công nghiệp nhẹ
biến công nghiệp, các rác
-nặng, lọc dầu, hóa chất,
thải sinh hoạt.
6


nhiệt điện.
Nông nghiệp

Đồng cỏ, đồng ruộng,
vườn cây trái, nông trại.

Thực phẩm bị thối rửa, sản
phẩm nông nghiệp thừa,
rác, chất độc hại.

(Nguồn:Nguyễn Văn Phước –giáo trình quản lý chất thải rắn
II. Phân loại chất thải rắn.
Chất thải rắn rất đa dạng, vì vậy có nhiều cách phân loại khác nhau như sau:
2.1.Phân loại theo quan điểm thông thường :
a.Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải được tạo ra quá trình sinh hoạt hằng ngày
của con người tại nhà ở, cơ quan, chung cư, trường học. các cơ sở sản xuất, hộ kinh
doanh , khu thương mại và những nơi công cộng.
Chất thải rắn sinh hoạt không bao gồm những chất thải nguy hại, bùn cặn, chất thải y
tế, chất thải rắn xây dựng và những chất thải từ hoạt động nông nghiệp.

b.Chất thải rắn công nghiệp
chất thải rắn công nghiệp là những chất thải bị loại bỏ trong quá trình sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.Lượng chất thải này chưa phải là phần loại bỏ cuối cùng
của vòng đời sản phẩm mà nó có thể làm đầu vào cho một số ngành công nghiệp khác.
c.Chất thải xây dựng.
Chất thải xây dựng gồm các phế thải như gạch ngói, đất đá, bê tông, các sỏi,…do hoạt
động xây dựng và đập phá các công trình xây dựng,chất thải xây dựng bao gồm:
-Vật liệu xây dựng trong quá trình tháo dở bở các công trình xây dựng.
-Đất đá do việc đào móng trong xây dựng.
-Các vật liệu như kim loại, chất dẻo khác…
-Ngoài ra còn các vật liệu xây dựng các hạ tầng kĩ thuật như trạm xử lý thiên nhiên,
các bùn cặn trong ống thoát nước của thành phố.
d.Chất thải nông nghiệp.
7


chất thải nông nghiệp là những chất thải ra từ hoạt động sản xuất nông nghiệp như
trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò
giết mổ,…
2.2.Phân loại theo công nghệ quản lý - xử lý :
Phân loại chất thải rắn theo dạng này,người ta chia ra các loại:các chất cháy được, các
chất không cháy được, các chất hỗn hợp.

Bảng 2: Phân loại theo công nghệ xử lý.
Thành phần

Định nghĩa

Ví dụ


1/Các chất cháy được.
-Các vật liệu làm từ giấy

-Các túi giấy, các mảnh bìa,
giấy vệ sinh…

-Có nguồn gốc từ sợi

-Vải, len…

-Rác thải

-Các chất thải từ thức ăn,
thực phẩm hằng ngày.

-Các loại rau, quả, thực
phẩm…

-Cỏ, gỗ, củi, rơm, tre.

-Các vật liệu và sản phẩm
-Đồ dùng bằng gỗ như:bàn,
được chế tạo từ gỗ, tre, nứa.. ghế, tủ…

-Giấy
-Hàng dệt

- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ da và cao
su.

-Chất dẻo

-Phim cuộn, túi chất dẻo,
bịch nylon, chai lọ chất
dẻo…

8


2/Các chất không cháy
được.

-Kim loại sắt

-Kim loại không phải sắt

-Thủy tinh

- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ sắt mà dễ bị
nam châm hút.
-Các vật liệu không bị nam
châm hút.
- Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ thủy tinh
-Các vật liệu không cháy
được.

3/Các chất hỗn hợp.


-Hàng rào, dao, nắp lọ…

-Vỏ hộp nhôm, đồ đựng
bằng kim loại…
-Chai lọ đồ dùng bằng thủy
tinh, bóng đèn.
-Gạch đá, gốm, sành, sứ…

-Tất cả các vật liệu khác
-Đá cuội, cát, đất, tóc…
không phân loại ở phần 1 và
2 đều thuộc loại này.

III. Tính chất cơ bản của chất thải rắn.
3.1.Tính chất vật lý:
Những tính chất vật lý quan trọng nhất của chất thải rắn là khối lượng riêng, độ ẩm,
kích thước, sự cấp phối hạt, khả năng giữ ẩm tại thực địa, độ xốp của rác nén của các
vật chất trong thành phần chất thải rắn.
-Khối lượng riêng : Khối lượng riêng của chất thải rắn là trọng lượng của một đơn vị
vật chất tính trên một đơn vị thể tích (kg/m3).Bởi vì chất thải rắn có thể ở các trạng thái
khác nhau tùy thuộc vào phương pháp lưu trữ như:
-Để tự nhiên, không để trong thùng
9


-Chứa trong thùng và không nén
-Chứa trong thùng và nén
Vì vậy số liệu về khối lượng riêng chất thải rắn chỉ có ý nghĩa khi được ghi chú kèm
theo phương pháp xác định khối lượng riêng.
Ngoài ra khối lượng riêng chất thải rắn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:vị trí địa

lý,mùa trong năm,thời gian lưu trữ chất thải…Do đó, khi chọn giá trị của khối lượng
riêng cần xem xét các yếu tố này để giảm bớt sai số kéo theo cho các phép tính
toán.Khối lượng riêng của chất thải rắn sinh hoạt lấy từ các xếp rác thường dao động
trong khoảng từ 200kg/m3 đến 500kg/m3 và giá trị đặc trưng là 297kg/m3.
-Độ ẩm:độ ẩm chất thải rắn là lượng nước chứa trong một đơn vị trọng lượng chất thải
ở trạng thái nguyên thủy.
Độ ẩm chất thải rắn được biểu diển bằng hai phương pháp :trọng lượng ướt và trọng
lượng khô.
-Kích thước và cấp phối hạt:kích thước và cấp phối hạt đóng vai trò rất quan trọng
trong tính toán và thiết kế các phương tiện cơ khí như thu hồi vật liệu đặt biệt là sử
dụng các sàn lọc phân loại bằng máy hoặc phân chia bằng phương pháp từ tính.
-Khả năng giữ nước tại thực địa (hiện trường)
Khả năng giữ nước tại hiện trường của chất thải rắn là toàn bộ lượng nước mà nó có
thể giữ lại trong lượng chất thải dưới tác dụng kéo xuống của trọng lực.Là một chỉ tiêu
quan trọng để tính toán xác định lượng nước rò rỉ từ bãi rác.khả năng giữ nước tại hiện
trường thay đổi phụ thuộc vào áp lực nén và trạng thái phân hủy của chất thải ( của khu
dân cư và trung tâm thương mại thì dao động từ 50-60%).
3.2.Tính chất hóa học
Tính chất hóa học của chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn
phương pháp xử lý và thu hồi nguyên liệu.Ví dụ khả năng cháy được phụ thuộc vào
tính chất hóa học của chất thải rắn, đặc biệt trong trường hợp chất thỉa là hỗn hợp
những thành phần cháy được và không cháy được.Nếu sử dụng chất thải rắn làm nhiên
liệu cần phải xác định 4 đặc tính quan trọng sau:
-Những tính chất cơ bản
-Điểm nóng chảy
10


-Thành phần các nguyên tố
-Năng lượng chứa trong rác

Đối với những phần rác dùng làm phân compost hoặc thức ăn gia súc, ngoài thành
phần các nguyên tố chính cần xác định những nguyên tố vi lượng.
Những tính chất cơ bản
Những tính chất cơ bản cần xác định đối với các thành phần cháy có trong chất
thải rắn bao gồm:độ ẩm, thành phần các chất bay hơi, thành phần cacbon cố
định , tro…
Điểm nóng chảy của tro:là nhiệt độ tại đó tro tạo thành từ quá trình chốt cháy
chất thải bị nóng chảy và kết dính tạo thành dạng rắn(xỉ).Nhiệt nóng chảy đối
với xỉ từ quá trình đốt rác sinh hoạt dao động trong khoảng 2000 đến22000F(từ
1100 đến 12000C
3.3.Tính chất sinh học
Đặc tính sinh học quan trọng nhất thành phần hữu cơ có trong chất thải rắn là hầu hết
các thành phần này đều có khả năng chuyển hóa sinh học tạo thành khí, các chất rắn
hữu cơ trơ và các chất vô cơ.Ngoài ra còn có sự sinh mùi và ruồi nhộng trong quá trình
thối rữa chất hữu cơ (rác thực phẩm ).Ngoài nhựa , cao su, các thành phần dễ chuyển
hóa sinh học trong chất thải bao gồm:

 Các phân tử có thể hòa tan trong nước như:đường, tinh bột, amino acid và nhiều
acid hữu cơ
 Cellulose: sản phẩm ngưng tụ của đường glucose 6 carbon
 Bán Cellulose : các sản phẩm ngưng tụ của 2 đường 5 và 6 carbon
 Dầu, mỡ và sáp :là những ester của alcohols và acid mạch dài
 Lingin :một polymer chứa các vòng thơm với nhóm methoxyl (-OCH3)
 Protein:chất tạo thành từ sự kết hợp chuỗi các amino acid.
a.Khả năng phân hủy sinh học của các thành phần hưu cơ:
Khả năng phân hủy sinh học của các thành phần hưu cơ có trong chất thải được
đánh giá bởi hàm lượng chất rắn bay hơi (Violate Solid –VS) được xác định bằng
cách nung ở nhiệt độ 550oC.Ngoài ra,còn có thể sử dụng hàm lượng lingin có trong
chất thải để xác định chất hữu cơ có khả năng phân hủy theo phương trình sau:
BF=0,83-0,028LC

11


Trong đó:
 BF:phần có khả năng phân hủy sinh học biểu diễn dưới dạng VS
 LC:hàm lượng lingin có trong VS tính theo khối lượng khô
 0,83 và 0,028 :hằng số thực nghiệm
b.Sự hình thành mùi:
Mùi sinh ra do tồn trữ chất thải rắn trong thời gian dài giữa các khâu thu gom, vận
chuyển và đỗ ra bãi chôn lấp, nhất là ở những vùng khí hậu nóng, do khả năng phân
hủy kị khí nhanh của các chất hữu cơ dễ phân hủy trong thành phần chất thải sinh hoạt.
c.Sự sinh sản ruồi nhộng
Ở những vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều như nước ta thì sự sinh ruồi nhộng ở khu
vực chứa chất thải là vấn đề đáng quan tâm.Chu kì phát triển của ruồi có thể biểu diễn
như sau:
-Trứng phát triển :8-10 giờ
-Giai đoạn đầu của ấu trùng: 20 giờ
- Giai đoạn thứ 2 của ấu trùng :24 giờ
- Giai đoạn thứ 3 của ấu trùng : 3 ngày
-Giai đoạn nhộng : 4-5 ngày
Tổng cộng :9-11 ngày.
3.4. Tốc độ phát sinh chất thải rắn
Tỷ trọng phát sinh CTR theo ngành: Tỷ trọng phát sinh CTR chủ yếu;CTR đô thị, CTR
nông thôn, CTR công nghiệp,…

12


1. Lượng phát sinh CTR theo ngành
 Từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát sinh trung bình tăng từ 150 200%, CTR sinh hoạt đô thị tăng trên 200%,CTR công nghiệp tăng 181%.

 Ước tính đến năm đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước đạt khoảng 44
triệu tấn/năm

13


Tại TP. Hồ Chí Minh: Là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải rắn đô thị
hàng năm tại TP.Hồ Chí Minh rất cao. Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường,
mỗi ngày trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đổ ra khoảng 5.800 - 6.200 tấn rác thải sinh
hoạt, 500 - 700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150 - 200 tấn chất thải nguy hại, 9 - 12
tấn chất thải rắn y tế. Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu
phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn (Hoàng Thị
Kim Chi, 2009).
Mỗi ngày thành phố thải ra trên 6.700 tấn chất thải rắn đô thị, trong đó trung bình có
1.500 -2.000 tấn chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại cần xử lý, tái chế.
IV.Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO CHẤT THẢI RẮN
4.1:Tác hại của chất thải rắn đến môi trường đất.

14


Các chất thải rắn có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm
tàng đối với môi trường. Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây
cáp, bê-tông... trong đất rất khó bị phân hủy. Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại
nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi... thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ,
các khu công nghiệp. Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo
chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe. Các chất thải có
thể gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa
chất...

Tại các bãi rác, bãi chôn lấp CTR không hợp vệ sinh, không có hệ thống xử lý nước
CTR đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng,
phóng xạ... nếu không được xử lý đúng cách, chỉ chôn lấp như rác thải thông thường
thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao.
Trong khai thác khoáng sản, quá trình chế biến/làm giàu quặng làm phát sinh chất thải
dưới dạng quặng đuôi, chứa các kim loại và các hợp chất khác ảnh hưởng đến môi
trường. Một vài mỏ hiện vẫn thải quặng đuôi trực tiếp xuống đất, làm đất bị ảnh hưởng
xấu.c rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất và vi sinh vật từ CTR dễ dàng thâm nhập gây ô
nhiễm đất.
4.2:Tác hại của chất thải rắn đến môi trường không khí

15


CTR, đặc biệt là CTR sinh hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu. Dưới tác động
của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất
khí (CH4- 63.8%, CO2- 33.6%, và một số khí khác). Trong đó, CH4 và CO2 chủ yếu
phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và
các khu chôn lấp.
Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí
và thay đổi theo mùa. Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượng khí phát thải
trong mùa hè cao hơn mùa đông. Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí
phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một
sự tác động nào.Khi vận chuyển và lưu giữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân
hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí. Các khí phát sinh từ quá trình
phân hủy chất hữu cơ trong CTR: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur
mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá
ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi ốc đặc trưng.
Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTR, việc xử lý CTR bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp
phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí. Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói,

tro bụi và các mùi khó chịu. CTR có thể bao gồm các hợp chất chứa Clo, Flo, lưu
huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lượng không nhỏ các chất khí độc hại
hoặc có tác dụng ăn mòn. Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ
thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho CTR không được
tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các
chất rất độc hại đối với sức khỏe con người. Một số kim loại nặng và hợp chất chứa
kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi
trường. Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì dễ nhận
biết bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các
hợp chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào
không khí.
16


4.3.Tác hại của chất thải rắn đối với môi trường nước:
CTR không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường
nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với
không khí dẫn tới giảm DO trong nước. Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây
mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt
bị suy thoái. CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành
màu đen,
có mùi khó chịu.Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống
đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi
thải ra môi trường. Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây
dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được
thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng.Sự xuất hiện của
các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước
đáng kể.Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm
cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật,các thức ăn thừa...; chất thải độc hại: từ
bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm). Nếu không được thu

gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước
nghiêm trọng.
4.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe:
Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn
ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực
làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải... Người dân sống gần bãi rác không
hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn
hẳn những nơi khác. Một nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc các
bệnh như tiêu chảy, da liễu, hô hấp... tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn
hẳn so với khu vực không chịu ảnh hưởng.Hiện tại chưa có số liệu đánh giá đầy đủ về
sự ảnh hưởng của các bãi chôn lấp tới sức khỏe của những người làm nghề nhặt rác
thải. Những người này thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao do bụi, mầm
bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá
trình làm việc. Vì vậy, các chứng bệnh thường gặp ở đối tượng này là các bệnh về
cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn đề về đường ruột khác. Các bãi chôn
lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều
nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này. Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm
kim tiêm cũ,... có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người (lây nhiễm một
số bệnh truyền nhiễm như AIDS,...) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân,...
Một vấn đề cần được quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những người làm nghề nhặt
rác, phụ nữ và trẻ em đã trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
Hai thành phần chất thải rắn được liệt vào loại cực kỳ nguy hi chất hữu cơ khó phân
hủy. Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như
trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra
17


hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh;
tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả
năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ thứ 3... Chất

thải nông nghiệp, đặc biệt chất thải chăn nuôi đang là một trong những vấn đề bức xúc
của người nông dân. Có những vùng, chất thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm cả không khí,
nguồn nước, đất và tác động xấu đến sức khoẻ người dân ở nông thôn. Trong một điều
tra tại tỉnh Thái Nguyên đối với 113 hộ gia đình chăn nuôi từ 20 con lợn trở lên đã cho
thấy gần 50% các hộ có nhà ở gần chuồng lợn từ 5-10m và giếng nước gần chuồng lợn
- 5m thì tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc và số trứng giun trung bình của
người chăn nuôi cao gần gấp hai lần tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột của người
không chăn nuôi; và có sự tương quan thuận chiều giữa tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng
đường ruột với ký sinh trùng trong đất ở các hộ chăn nuôi (Đại họcY khoa Thái
Nguyên, 2008).

V. QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
5.1. Ngăn ngừa, giảm thiểu chất thải rắn từ nguồn.
- Phân loại tại nguồn: giúp giảm thiểu lượng rác thải chôn lấp, một lượng lớn rác
thải như chất hữu cơ sẽ được tái chế thành sản phẩm có ích như phân hữu cơ. Một
số thành phố thí điểm việc phân loại tại nguồn: Tp HCM, Hà Nội, Đà Nẵng,…

Phân loại rác thải tại nguồn phục vụ cho công tác tái chế, nhằm mục đích cuối cùng
là hạn chế đến mức có thể lượng chất thải rắn thấp nhất trước khi đưa đi xử lý.
5.2. Tái sử dụng, tái chế chất thải rắn và thu hồi năng lượng

18


Tái chế chất thải là một hoạt động thu hồi lại chất thải có thành phần của CTR sau đó
được chế biến thành các sản phẩm mới phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Lợi ích của những hoạt động tái chế chất thải rắn:
 Tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên do sử dụng những vật liệu tai chế
thy thế cho nguồn tài nguyên thiên nhiên cần phải khai thác.
 Giảm được lượng rác cần phải được xử lý, cũng như giảm được chi phí cho

 quá trình xử lý, nâng cao thời gian sử dụng của bãi rác.
 Một số chất thải trong quá trình tái chế tiết kiệm năng lượng hơn các quá trình
sản xuất từ các nguyên liệu thô ban đầu.
 Giảm tác động đến môi trường do lượng rác thải gây ra.
 Có thể thu hồi được nguồn lợi nhuận từ lượng rác vứt bỏ.
 Tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động.
Những khó khăn gặp phải trong tái chế chất thải rắn:
 Đối với những hoạt động tái chế, thường mang lại lợi nhuận thấp hoặc không có
hiệu quả kinh tế, do vậy các chương trình tái chế chất thải rắn cần có sự hỗ trợ
của các cấp chính quyền.
 Những sản phẩm tái chế thường có chất lượng không cao bằng các sản phẩm
 Sản xuất từ nguyên liệu tinh ban đầu.
 Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn.
 Yêu cầu mức độ phân loại cao.
 Yêu cầu quy trình công nghệ để tái chế.

5.3.Thu gom và vận chuyển chất thải rắn
- Hình thức thu gom: sử dụng 2 hình thức là thu gom sơ cấp (người dân tự thu gom
vào các thùng/túi chứa sau đó được công nhân thu gom vào các thùng rác đẩy tay
cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác các hộ gia đình được công nhân thu gom vào các
19


xe đẩy tay sau đó chuyển đến các xe ép rác chuyên dụng và chuyển đến khu xử lý
hoặc tại các chợ/khu dân cư có đặt container chứa rác, Cty môi trường đô thị có xe
chuyên dụng chở container đến khu xử lý)
- Tỷ lệ thu gom: Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị từ 72% năm 2004 tăng lên
khoảng 80 - 82% năm 2008.
- Theo đánh giá của các đợn vị có liên quan, tỷ lệ thu gom CTRSH đô thị năm 2010
đạt khoảng 83÷85% lượng CTRSH đô thị phát sinh như vậy còn khoảng 15÷17% bị

thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố đất, ao hồ, hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường
5.4. Xử lý chất thải rắn
 Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm
ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy
hiệu quả kinh tế.

5.4.1.Cơ sở lựa chọn phương pháp xử lý
 Mục tiêu của xử lý chất thải rắn là giảm hoặc loại các thành phần không mong
muốn trong chất thải. Các kỹ thuật xử lý chất thải rắn có thể là các quá trình sau:
- Giảm thể tích, kích thước cơ học
- Giảm thể tích bằng hóa học
- Tách từng loại theo thành phần khác nhau...
Các yếu tố cần xem xét khi xác định phương pháp xử lý:
- Thành phầnvà tính chất của chất thải rắn (chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn
20


công nghiệp hay chất thải rắn nguy hại…)
- Tổng khối lượng chất thải rắn cần được xử lý
- Khả năng thu hồi sản phẩm có thể tái chế cũng như năng lượng.
- Yêu cầu đảm bảo vệ sinh môi trường.
5.4.2. Các phương pháp xử lý chất thải rắn.
5.4.2.1 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp cơ học
Đây là quy trình xử lý chất thải. Biện pháp này là khâu ban đầu không thể thiếu nó sẽ
làm tăng hiệu quả tái chế và xử lý ở các bước tiếp theo. Ví dụ, các loại chất thải có
kích thước lớn và thành phần khác nhau phải được phân loại ngay khi tiếp nhận. Các
chất thải rắn chứa các chất độc hại (như muối cyanua rắn) cần phải được đập thành
những hạt nhỏ trước khi được hòa tan để xử lý hóa học. Các chất thải hữu cơ dạng rắn
có kích thước lớn phải được băm và nghiền nhỏ đến kích thước nhất định, rồi trộn với
các chất thải hữu cơ khác để đốt

5.4.2.1.1. Giảm kích thước bằng phương pháp pháp cơ học (băm ,chặt, nghiền).
Giảm kích thướcbằng phương pháp cơ học nhằm thu được chất thải có tính đồng
nhất và nhỏ hơn kích thước ban đầu
Các thiết bị thường sử dụng (để giảm kích thước):
• Búa đập để thu các sản phẩm thải có độ lớn chủ yếu là 5 mm, chủ yếu trên các
vật liệu có đặc tính giòn, dễ gãy.
• Kéo cắt dùng để làm giảm kích thước của các vật liệu mềm hơn so với dùng búa
đập.
 Máy nghiền có ưu điểm là di chuyển dễ dàng được sử dụng cho nhiều loại khác
nhau như các nhánh cây, CTR xây dựng. Thiết bị này khi cần thu sản phẩm thải có
độ lớn nhỏ hơn 5 mm.
Quy trình (để phân loại):
 Phân loại theo kích thước (sàng lọc): phân loại chất thải thành 2 hay nhiều loại
kích thước nhờ các sàng có kích thước khác nhau. Mục đích là tăng tính đồng nhất
của sản phẩm thải.
• Phân loại theo khối lượng: sử dụng để tách rời các vật liệu từ quá trình tách
nghiền thành 2 loại khác nhau: dạng có khối lượng riêng nhẹ (giấy, nhựa, chất hữu
cơ,…), dạng có khối lượng riêng nặng (kim loại, gỗ, các vật liệu vô cơ có khối
lượng riêng tương đối nặng,…).
21


 Phân loại theo điện trường và từ tính: Dựa vào tính nhiễm điện và từ khác nhau
của các loại vật liệu có trong thành phần CTR. Phương pháp phân loại bằng điện
trường được sử dụng phổ biến để tách riêng các kim loại màu và kim loại đen.
Phương pháp tách bằng tĩnh điện được áp dụng để tách ly nhựa và giấy dựa vào sự
khác nhau về tích điện bề mặt của 2 loại vật liệu này.
• Nén CTR: để gia tăng khối lượng riêng của các loại vật liệu để tiện lưu trữ và
vận chuyển (đóng kiện, đóng gói hay ép thành dạng viên).
 Ưu điểm:

- Nâng cao hiệu quả vận chuyển và các công đoạn xử lý tiếp theo,
- Đảm bảo độ chặt, khít của rác do vậy có thể nén ép rác dễ dàng hơn và thuận lợi hơn,
tiết kiện diện tích bãi chôn lấp,
- Ở các đống ủ người ta thường sử dụng phương pháp cơ học để cắt nhỏ rác hữu cơ
dạng sợi, có kích thước lớn thành nhỏ cho dễ phân hủy,
- Đối với công đoạn xử lý sơ bộ (tách chia các hợp phần): do chất thải được cắt nhỏ
nên thu được chất thải có kích thước đồng nhất, thuận lợi cho việc sấy khô, quạt gió
(đối với chất thải loại nhẹ), sàng và phân chia các hợp phần của chất thải rắn.
5.4.2.1.2 Giảm thể tích chất thải bằng phương pháp nén ép.
Nén ép rác là khâu quan trọng trong quá trình xử lý chất thải rắn.


Ưu điểm: Tăng khả năng chuyên chở chất thải rắn, đảm bảo tải trọng và sức
chữa của xe, giảm diện tích bãi chôn lấp



Nhược điểm: Tuy nhiên các loại chất thải hữu cơ như thức ăn thừa, rau quả, các
loại chất thải hữu cơ ở thể ướt thì không nên nén, ép vì sẽ ra rất nhiều nước, gây
khó khăn và phức tạp cho quá trình xử lý. Do vậy phương pháp này chỉ thích
chất thải ở thể khô.

Người ta thường dùng các thiết bị cuốn, ép để nén, ép rác. Thiết bị nén, ép rác có thể
là các máy nén cố định,

5.4.2.2. Phương pháp xử lý nhiệt.
5.4.2.2.1. Khái niệm

22



Xử lý CTR bằng phương pháp nhiệt là một trong những thành phần quan trọng trong
hệ thống quản lý tổng hợp CTR, nguyên lý chủ yếu là sử dụng nhiệt để chuyển hóa
chất thải từ dạng rắn sang dạng khí, lỏng và tro... đồng thời giải phóng năng lượng
dưới dạng nhiệt. Kỹ thuật này áp dụng cho các chất thải rắn và chất thải nguy hại
không thể chôn lấp mà có khả năng cháy. Trong phương pháp này, nhờ sự oxy hóa và
phân hủy nhiệt, các chất hữu cơ sẽ được khử độc tính và phá vỡ cấu trúc với mục đích
là giảm thể tích CTR và thu hồi năng lượng nhiệt.
5.4.2.2.2 Phân loại
Các hệ thống xử lý CTR bằng phương pháp nhiệt được phân loại dựa trên nhu cầu sử
dụng không khí bao gồm:


Quá trình đốt được cháy hoàn toàn CTR với một lượng oxy (không khí) vừa đủ
gọi là quá trình đốt hoá học (stoichiometric combustion).



Quá trình đốt được thực hiện với dư lượng không khí cần thiết được gọi là quá
trình đốt dư khí.



Quá trình đốt không hoàn toàn CTR dưới điều kiện thiếu không khí
(substoichiometric condition) và tạo ra các khí cháy như cacbon monooxide
(CO), hydrogen (H2) và các khí hydrocacbon gọi là quá trình khí hoá.



Quá trình xử lý CTR bằng phương pháp nhiệt trong điều kiện hoàn toàn không

có oxy gọi là quá trình nhiệt phân.

5.4.2.2.3 Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp
 Ưu điểm


Giảm đáng kể thể tích và khối lượng CTR so với ban đầu, khoảng 80 - 90%
khối lượng thành phần hữu cơ trong CTR.



Thu hồi năng lượng: nhiệt của quá trình nhiệt có thể thu hồi để chạy máy phát
điện, sản xuất nước nóng.



Chỉ cần một diện tích đất tương đối nhỏ so với phương pháp chôn lấp cần phải
có một diện tích rất lớn.



Hiệu quả xử lý cao đối với các loại chất thải hữu cơ chứa vi trùng lây nhiễm
(chất thải y tế, cũng như các loại chất thải nguy hại khác (thuốc bảo vệ thực vật,
dung môi hữu cơ, chất thải nhiễm dầu....).
23




Kỹ thuật này phù hợp đối với chất thải trơ về mặt hoá học, khó phân huỷ sinh

học.



Tro, cặn còn lại chủ yếu là vô cơ, trơ về mặt hoá học

 Hạn chế
Không phải tất cả các CTR đều có thể đốt được thuận lợi, ví dụ như chất thải có hàm
lượng ẩm quá cao hay các thành phần không cháy cao (chất thải vô cơ).


Vốn đầu tư ban đầu cao hơn so với các phương pháp xử lý khác bao gồm chi
phí đầu tư xây dựnglò, chi phí vận hành và xử lý khí thải lớn.



Việc thiết kế, vận hành lò đốt phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề
cao, chế độ tập huấn tốt.



Yêu cầu bổ sung nhiên liệu đốt nhằm duy trì nhiệt độ trong buồng đốt



Tiềm năng tác động đến con người và môi trường có thể xảy ra, nếu các biện
pháp kiểm soát quá trình đốt, xử lý khí thải không đảm bảo.




Việc kiểm soát ô nhiễm kim loại nặng từ quá trình đốt có thể gặp khó khăn đối
với chất thải có chứa kim loại như Pb, Cr, Cd, Hg, Ni, As....



Lò hoạt động sau một thời gian phải ngừng để bảo dưỡng, làm gián đoạn quá
trình xử lý.



Chất thải đốt có thành phần, tính chất khác nhau, đòi hỏi phải áp dụng những
công nghệ thích hợp, quy trình vận hành hợp lý mới đạt được hiệu quả đốt cũng
như hiệu quả kinh tế trong vận hành.



Tro lò đốt và hệ thống xử lý khí thải phải được xử lý theo công nghệ đóng rắn
hoặc chôn lấp an toàn

5.4.2.2.4 Quá trình đốt
Quá trình đốt CTR là quá trình oxy hoá khử CTR bằng oxy không khí ở nhiệt độ cao.
Lượng oxy sử dụng theo lý thuyết được xác định theo phương trình cháy:
Chất thải rắn + O2 làSản phẩm cháy + Q (nhiệt)
24


Sản phẩm cuối cùng của quá trình đốt bao gồm: bụi, NOx, CO, CO2, SOx, THC, HCl,
HF, Dioxin/Furan, hơi nước và tro.
Cháy hoàn toàn của mỗi chất phụ thuộc vào bản chất của chất bị đốt và nhiệt độ đốt.


 Đốt là phương pháp xử lý chất thải phổ biến ở các quốc gia Châu Âu, Nhật Bản,

nơi mà đất đai khan hiếm, vì các cơ sở này thường không đòi hỏi nhiều diện
tích như các bãi chôn lấp. Xử lý chất thải thành năng lượng (WTE) hoặc năng
lượng từ chất thải (EFW) là những thuật ngữ rộng cho các cơ sở đốt chất thải
trong lò hoặc lò hơi để tạo ra nhiệt , hơi nước hoặc điện.
 Tuy nhiên Đốt không phải là phương pháp hoàn hảo và đã có những lo ngại về

các chất ô nhiễm trong khí thải lò đốt, những khí này góp phần gây ô nhiễm
không khí. Ở nhiệt độ vừa phải, đốt cũng có thể sản xuất một loạt các loại khí
độc hại, tùy thuộc vào những gì được đốt cháy. Ví dụ, nhựa khi bị đốt cháy có
thể tạo ra khí clo và axit clohydric, cả hai đều là chất độc hại, ăn mòn, hoặc chết
người, đốt cháy các chất hữu cơ lưu huỳnh tạo khí sulfur dioxide (SO2). Trong
những năm gần đây công nghệ đốt đã được cải thiện, hiện đại, nhiệt độ trong lò
đốt rất cao (lên đến 1700°C, hoặc 3000°F) phá vỡ các hợp chất độc hại.

5.4.2.3 Xử lý chất thải bằng phương pháp chôn lấp.
 Chôn lấp là phương pháp cổ điển nhất, kinh tế nhất và có thể chấp nhận được về
mặt môi trường. Ngay cả khi áp dụng các biện phápgiảm thiểu lượng chất
thải,tái sinh tái, sử dụng và cả kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ chất
thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu trong chiến lược quản lý tổng hợp
CTR.
25


×