Tải bản đầy đủ (.docx) (42 trang)

Bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ loài mắc ca

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.9 MB, 42 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Bộ môn Thực vật rừng

CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÂM SẢN NGOÀI GỖ
(Thuộc CMHTVR)
Họ tên sinh viên : Cháng A Cháng
Mã sinh viên

: 1653020680

Lớp : K61B_Chuyên môn hóa thực vật rừng
Ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Giáo viên môn học : NSƯT.PGS.TS Trần Ngọc Hải

Năm 2019


ĐẶT VẤN ĐỀ

3

1. Giới thiệu chung về lâm sản ngoài gỗ

4

1.1. Vai trò của LSNG đối với kinh tế, xã hội, môt trường
1.1.1 Vai trò của LSNG đối với kinh tế



5

1.1.2 Vai trò của LSNG đối với xã hội

7

1.1.3 Vai trò của LSNG đối với môi trường

5

7

1.2. Cơ sở pháp lý cho bảo tồn và phát triển LSNG

8

1.2.1. Những điều, khoản, mục chính trong Luật Đa dạng sinh học có liên
quan về bảo tồn đa dạng sinh học. 9
1.2.2. Luật Đa dạng sinh học 9
1.2.3. những điều, khoản, mục chính, nội dung trong Luật Đa dạng sinh học,
NĐ 32/2006- NĐ CP
27
1.2.4. những điều, khoản, mục chính, nội dung trong Luật Đa dạng sinh học,
NĐ 06/2019- NĐ-CP. 34
1.3. Mô tả 10 loài cây LSNG thuộc nhóm quý, hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam
2007( hoặc 10 loài cây thuốc cần bảo tồn) 41
2. Hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và trồng một loài cây LSNG

48


50
3. KÊT LUẬN

53

4. TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện cả nước có khoảng 25 triệu người dân có cuộc sống liên quan đến rừng.
Trong đó, LSNG gắn bó với khoảng hơn ba triệu đồng bào các dân tộc thiểu số ở
vùng sâu, vùng xa, vùng cao sống bên trong hoặc gần các khu rừng tự nhiên. Về


nhu cầu sản xuất trong nước, LSNG đang trở thành nguồn nguyên liệu hữu ích cho
nhiều làng nghề, như các làng nghề mây tre đan, các cơ sở sản xuất thuốc đông
dược và chế biến nông sản thực phẩm. Còn với thị trường nước ngoài, hiện đã có
hơn 40 loại LSNG có giá trị xuất khẩu cao, như: tinh dầu tràm, ba kích, sa nhân,
song mây, quả trám, hạt dẻ, nhựa mủ trôm, thông nhựa, sâm, tam thất, nấm hương,
thảo quả…Theo Phó Tổng Cục trưởng lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Phạm Văn Ðiển, thực tế hiện nay, đóng góp của LSNG còn thấp hơn rất
nhiều so với tiềm năng. Năm 2017, giá trị xuất khẩu LSNG mới đạt 330 triệu USD;
năm 2018, con số này khoảng 470 triệu USD, trong khi giá trị tiềm năng của
LSNG và gỗ được đánh giá là xấp xỉ nhau. Cây LSNG hiện cũng được đánh giá là
rất đa dạng (gồm khoảng 4.000 loài cây làm dược liệu, 500 loài cung cấp tinh dầu,
hơn 200 loài tre nứa và khoảng 30 loài song mây...), nhiều loại mang giá trị kinh tế
cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Năm 2018, giá
trị kim ngạch xuất khẩu lâm sản của cả nước đạt gần 9,4 tỷ USD, trong đó đóng
góp của ngành gỗ đạt 8,9 tỷ USD, còn lại là các loại LSNG. Năm 2019, cả nước
phấn đấu đạt tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ, lâm sản đạt từ 10,8 đến 11 tỷ
USD, trong đó sản phẩm LSNG đạt khoảng 600 triệu USD.

Lâm sản ngoài gỗ đóng một vai trò rất quan trọng trong sinh kế của người
nghèo ở nông thôn. Chúng là nguồn lương thực, thực phẩm, dượu liệu, vật liệu xây
dựng và thu nhập cho đại đa số người dân. Việc tiếp cận với tài nguyên rừng, đặc
biệt các cây từ lâm sản ngoài gỗ giúp các hộ dân đa dạng hóa sinh kế của họ và
giảm khả năng hứng chịu những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp do thời tiết xấu,
biến đổi khí hậu làm mất mùa, tạo thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó lâm sản
ngoài gỗ còn là một bộ phận chức năng quan trọng của hệ sinh thái, tính đa dạng
sinh học, nguồn gen quý,... mất đi các loài lâm sản ngoài gỗ sẽ dẫn đến mất đa
dạng sinh học, nguồn gen, cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn, chất lượng
cuộc sống suy giảm, biến đổi khí hậu, thiên tai và nhiều vấn đề khác xảy ra. Tình
trạng các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị này đang có xu hướng suy thoái do việc
khai thác quá mức, khai thác triệt để thu mua ồ ạt với khối lượng lớn, liên tục trong
nhiều năm gần đây đã dấn đến việc các loài thực vật nói chung và cây lâm sản
ngoài gỗ cũng mất đi do thiếu môi trường sống,... Ý thức của người dân trong việc
khai thác còn hạn chế như việc khai thác triệt để, kể cả cây nhỏ, cây mới tái sinh
dẫn đến các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao ngày càng mất đi dần dần. Mặt
khác do sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại lâm sản ngoài gỗ


đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng. Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác
nhau mà một số loại lâm sản ngoài gỗ đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của
rừng. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai
thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quý giá
này.
Thực tiễn trong nhiều năm qua cho thấy, phát triển lâm sản ngoài gỗ đã góp
phần tạo việc làm, cải thiện sinh kế cho một bộ phận cư dân sống dựa vào rừng,
đặc biệt đối với cộng đồng địa phương miền núi và người dân tộc thiểu số có đời
sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Lâm sản ngoài gỗ được sử dụng trong nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội như dược liệu, trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công
mỹ nghệ, thực phẩm… Do vậy, chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, là nguồn

sống hàng triệu người dân nông thôn miền núi. Đồng thời, lâm sản ngoài gỗ còn là
yếu tố đầu vào, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, gắn liền với sự sinh tồn và
phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, góp phần giải quyết việc làm, tăng
thu nhập và cải thiện đời sống của người dân miền núi. Lâm sản ngoài gỗ không
những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu
có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng. Đã từ lâu, lâm sản ngoài gỗ
được sử dụng đa mục đích trongnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược
liệu, đồ trang sức, đồ giadụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng
đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của người dân.
Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ được sử dụng cho sản xuất và đời sống của
người dân. Hàng trăm nghìn tấn tre nứa được sử dụng trong ngành chế biến
bột và giấy, hàng chục nghìn tấn cây thuốc được sử dụng mỗi năm… Lâm sản
ngoài gỗ còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ.
Lâm sản nguồn gỗ bên cạnh những giá trị sử dụng còn gắn liền với những nét văn
hóa độc đáo của các dân tộc miền núi, có giá trị về cả mặt tinh thần và tâm linh.
Cuộc sống hiện đại hơn nhu cầu con người trong xã hội cần sử dụng nhiều cây
thuốc, lương thực , thực phẩm, cảnh quan đẹp,... thì nguồn cung cấp chủ yếu đến từ
nguồn lâm sản ngoài gỗ nên việc bảo tồn và phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ có
ý nghĩa rất quan trọng đối với kinh tế, xã hội, môi trường.
Từ đó những vấn đề trên là cơ sở để tôi thực hiện chuyên đề nhằm đưa ra
một số đề xuất, giải pháp trong công tác bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ.
1.Giới thiệu chung về tài nguyên lâm sản ngoài gỗ.


Việt Nam nằm ở Đông-Nam lục địa Châu Á, có đường biên giới trên đất liền
khoảng 3.700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài 3.260
km. Phần lãnh thổ đất liền của Việt Nam trải dài từ 80°30’đến 230°24’ vĩ Bắc,
mang tính chất của một bán đảo với điểm cực Bắc là chòm Lũng Cú thuộc cao
nguyên Đồng Văn, điểm cực Nam là xóm Rạch Tàu thuộc tỉnh Cà Mau. Các đảo
của Việt Nam trải dài từ Trường Sa đến Vịnh Bắc Bộ, với những hệ sinh thái dặc

thù như Phú Quốc, Côn Đảo, Hoàng Sa, Hạ Long, Bái Tử Long, v.v…Bắc Việt
Nam, từ Đèo Hải Vân trở ra Bắc, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió
mùa Đông Nam Á: gió mùa đông bắc mang theo không khí lạnh từng đợt từ tháng
10 đến tháng 4 năm sau và gió mùa đông nam đưa tới những đợt không khí nóng
ẩm từ tháng 4 đến tháng 10. Từ Hải Vân trở vào Nam nhiệt độ quanh năm nóng với
hai mùa nắng mưa, đặc trưng của khí hậu nhiệt đới. Tuy nhiên, ở cả hai miền đều
có những dãy núi cao, hình thành những hệ sinh thái khác biệt vùng thấp cùng vĩ
độ. Những đặc điểm khí hậu và địa hình đó đã tạo nên một Việt Nam giàu tính đa
dạng sinh vật. Hiện nay các nhà thực vật học đã thống kê được trên 12.000 loài
cây, trong đó 7.000 loài đã được mô tả, 5.000 loài còn chưa được biết công dụng,
phần lớn là các loài cây dưới tán rừng không cho gỗ. Trong số những loài đã biết
có 113 loài cây cho chất thơm; 800 loài cho tannin; 93 loài chứa chất làm thuốc
nhuộm; 458 loài có tinh dầu; 473 loài chứa dầu và 1863 loài cây dược liệu.
Việt Nam có khoảng 10% tổng số những loài thực vật được biết trên Thế giới. Có
những loài động thực vật từ trước tới nay chưa được biết đến mới được phát hiện ở
Trường Sơn. Chỉ trong các năm 1992-1998 đã phát hiện thêm nhiều loài thú mới ở
Bắc Trường Sơn: Mang lớn, Sao la, Mang Trường sơn, Bò sừng xoắn Tây nguyên.
Mới phát hiện thêm 50 loài cây thuốc quí, như Amomum longiligulara, Rauwolfia
vomitoria, Tetrapanax papyrifera… Các nhà thực vật học đã xác định khoảng 4050% thực vật rừng Việt Nam có nguồn gốc Ấn Độ, Malai, Indonesia, Trung hoa,…
di cư đến. Sự phong phú về loài của thực vật rừng Việt Nam rất cao: nhiều họ có
trên 100 loài, như Phong lan có 901 loài; Thầu dầu có 333 loài; Cà phê có 286 loài;
Cánh bướm có 290 loài… Nhiều họ thực vật ôn đới cũng được thấy ở Việt Nam
như Hồ Đào, Du, Liễu, Dẻ… Có tới 8 họ cây Lá kim với 18 chi, 39 loài, một số
loài đặc hữu, một số loài hiếm như: Thông lá dẹt (Ducampopinus krempfi), Thông
5 lá (Pinus dalatensis), Thủy tùng (Glyptostrobus pensilis), Thông đỏ (Taxus
baccata).


Hiện nay trên thới giới đã đưa ra một số khái niệm định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ
như sau:

Lâm sản ngoài gỗ(LSNG) là: “Tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng
được khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của loài người.
LSNG bao gồm: thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, nhựa mủ,
tamin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dại(các sản phẩm và động vật
sống), chất đốt và các nguyên liệu thô, song mây, tre, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho
sợi” (De. Beer, 1989)
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm: "Tất cả các sản phẩm sinh vật (trừ gỗ công nghiệp, gỗ
làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được
dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội. Việc
sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm...
thuộc về lĩnh vực phục vụ của rừng" ( Wickens, 1991).
Theo một định nghĩa khác về LSNG là: "Tất cả sản phẩm và dịch vụ không phải là
gỗ sử dụng vào mục đích thương mại, công nghiệp và nhu cầu sống thu được từ
rừng và sinh khỏi của nó mà có thể được khai thúc mới cách bên vững có nghĩa là
được khai thác từ hệ sinh thái rừng với số lượng và cách thức sao cho không làm
thay đổi các chức năng sản xuất cơ bản của rừng"(FAO, 1992).
“Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật(trừ gỗ) và
các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ các kiểu sử dụng đất tương tự rừng” (FAO,
1995).
Tóm lại “ Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật
và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất
tương tự rừng, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó”.
Về phân loại lâm sản ngoài gỗ trên thế giới được phân loại thành 6 nhóm chính:
- Các sản phẩm có sợi: Tre nứa; song mây; lá, thân có sợi và các loại cỏ.
- Sản phẩm làm thực phẩm . ƒ Các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi,
rễ , củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và nấm. ƒ Các sản phẩm
nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn
được, trứng và côn trùng.
- Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật.



-

Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, tanin và thuốc
nhuộm, dầu béo và tinh dầu.
- Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ tằm, động
vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa
cánh kiến đỏ.
- Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ)
Còn ở Việt Nam hiện nay để phù hợp với tùy điều kiện của thể từng địa phương đã
phân loại thành như sau:
- Sản phẩm có sợi, bao gồm: tre nứa, mây song, các loại lá, thân, vỏ có sợi và cỏ.
- Sản phẩm dùng làm thực phẩm: ƒ Nguồn gốc từ thực vật: thân, chồi, củ, rễ, lá,
hoa, quả, gia vị, hạt có dầu, nấm ăn. ƒ Nguồn gốc từ động vật rừng: mật ong, thịt
thú rừng, cá trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và các loại côn trùng.
- Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm: ƒ Thuốc có nguồn gốc thực vật ƒ Cây có độc
tính ƒ Cây làm mỹ phẩm
- Các sản phẩm chiết xuất: ƒ Tinh dầu ƒ Dầu béo ƒ Nhựa và nhựa dầu ƒ Dầu
trong chai cục ƒ Gôm ƒ Ta-nanh và thuốc nhuộm
- Động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc. ƒ Động
vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ...
- Các sản phẩm khác: ƒ Cây cảnh, ƒ Lá để gói thức ăn và hàng hóa ... Tuy nhiên,
đối với từng loài cụ thể việc phân loại không cố định mà biến đổi theo địa phương
và thời gian vì công dụng của lâm sản có sự thay đổi, ví dụ: Quế có thể xếp vào
dược liệu nhưng cũng được xếp vào gia vị... cũng như nhiều sản phẩm có thể được
phân vào các nhóm khác nhau tuỳ từng nơi, từng lúc…
1.1. Vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với kinh tế, xã hội, môi trường.
1.1.1 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với kinh tế
Hiện nay ở Việt Nam đã thống kê có gần 4.000 loài cây có giá trị cung cấp nguyên
liệu làm thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe cho con người, 216 loài tre trúc

và 30 loài song mây có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thủ công
mỹ nghệ. Ngoài ra, còn nhiều loài LSNG quý hiếm khác có giá trị kinh tế, mang lại
thu nhập khá cao cho người dân địa phương, kể cả các loài động vật, thực vật và vi


sinh vật. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì hiện nay có ít nhất 150 mặt
hàng LSNG đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại như: mật ong, nấm,
các loại hương liệu, sâm, dầu, nhựa, song, mây, tre, trúc… Vào những năm cuối
của thế kỷ trước, người ta đã ước tính tổng giá trị thương mại quốc tế riêng của các
loại LSNG hàng năm đạt khoảng 5-11 tỷ USD, nên LSNG còn là nguồn thu nhập
thường xuyên, góp phần làm gia tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân
vùng sâu vùng xa, những người sống ở gần rừng và làm nghề rừng, góp phần quan
trọng trong việc phát triển kinh tế bền vững gắn với công tác bảo vệ và phát triển
rừng. Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên cung cấp cho con người giá trị kinh tế
cao, góp phần phát triển nền kinh tế của đất nước. Theo ông Phạm Văn Điển Phó
Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp : “Nhu cầu về LSNG cũng rất lớn. Nước ta
có khoảng 25 triệu người dân có sinh kế liên quan đến rừng. LSNG là tiềm năng
đặc biệt đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng cao, nơi có gần 10% dân số là người
nghèo và 3 triệu người dân tộc thiểu số sinh sống bên trong hoặc gần các khu rừng
tự nhiên (10,2 triệu hecta). LSNG đang là nguồn nguyên liệu lớn cho nhiều làng
nghề trên cả nước, như: các làng nghề mây tre đan; các cơ sở sản xuất thuốc Đông
y; các cơ sở chế biến măng, nấm, mộc nhĩ, hương, thực phẩm. Hơn 40 loại LSNG
có giá trị xuất khẩu cao, với nhu cầu ngày càng lớn như: Tinh dầu tràm, Ba kích,
nhựa mủ trôm, thông nhựa, sâm, tam thất, sa nhân, song mây, quả trám, hạt dẻ,
nấm hương, thảo quả.” Do đó, LSNG đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
từ đó từng bước ổn định đời sống người dân.
1.1.2 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với xã hội.
Lâm sản ngoài gỗ cung cấp lương thực thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu, ... cho
nền kinh tế góp phần làm ổn định đời sống người dân, góp phần thay đổi nhận thức
của người dân đối với tài nguyên thực vật rừng, giảm tệ nạn xã hội, tạo việc làm

tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo,... Nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
còn gắn với những nét phong tục tập quán của người dân, nét văn hóa - ẩm thực,
còn là nhiều bài thuốc cổ truyền gắn liền với đời sống của người dân.
Nhận thức được tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ nhà nước đã ban hành một
số văn bản và luật nhằm quản lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên này.
1.1.2 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với môi trường.


Ngoài tài nguyên lâm sản ngoài gỗ có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường,
là nguồn tài nguyên sinh vật quan trọng trong hệ sinh thái, góp phần bảo vệ tài
nguyên sinh vật khác, có ý nghĩa sinh thái, điều hòa khí hậu, giảm thiểu thiên tai,
điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn và rửa trôi, lũ lụt,hạn hán, ... Nâng cao tính
đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái, lâm sản ngoài gỗ có khả năng phục
hồi, góp phần bảo vệ môi trường ổn định đời sống người dân. Do vậy, việc phát
triển lâm sản ngoài gỗ sẽ góp phần khôi phục, nâng cao độ che phủ của rừng, bảo
tồn đa dạng sinh học, nguồn gen quý, đồng thời phát triển lâm sản ngoài gỗ sẽ giúp
bảo tồn các loài đang nguy cấp, quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam. Bên cạnh đó
lâm sản ngoài gỗ còn là nguồn thực phẩm quan trọng, là dượu liệu, nguyên liệu,...
cho nền kinh tế đất nước, là nhân tố bảo tồn rừng tự nhiên. Phát triển lâm sản ngoài
gỗ giúp nâng cao cuộc sống con người nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay.
1.2. Cơ sở pháp lý cho bảo tồn và phát triển LSNG
Nhằm phát huy tiềm năng phát triển lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam Đảng và Nhà
nước đang có những văn bản luật chỉ đạo và hướng dẫn nhằm bảo tồn và phát triển
bền vững đa dạng sinh học, tài nguyên lâm sản ngoài gỗ quý, hiếm.
Tóm tắt những điều, khoản, mục chính, nội dung trong Luật Đa dạng sinh
học, NĐ 32/2006- NĐ CPvà NĐ 06/2019- NĐ CP có liên quan tới bảo tồn đa dạng
sinh học, các loài LSNG quý, hiếm.

1.2.1. Tóm tắt những điều, khoản, mục chính, nội dung trong Luật Đa dạng
sinh học có liên quan về bảo tồn đa dạng sinh học, các loài lâm sản ngoài gỗ

quý, hiếm.
Luật Đa dạng sinh học

Điều 3, khoản 1: Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự
nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường


xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo
của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền.
Điều 4. Nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học
1. Bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của Nhà nước và mọitổ chức, cá nhân.
2. Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học;
giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm
nghèo.
3. Bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ.
4. Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải
chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước
với lợi ích của tổ chức, cá nhân.
5. Bảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật
biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học.
Điều 7. Những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học
1. Săn bắt, đánh bắt, khai thác loài hoang dã trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
của khu bảo tồn, trừ việc vì mục đích nghiên cứu khoa học; lấn chiếm đất đai, phá
hoại cảnh quan, hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên, nuôi trồng các loài ngoại lai xâm
hại trong khu bảo tồn.
2. Xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn,
trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng công trình, nhà ở

trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn.
3. Điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản; chăn nuôi gia súc, gia cầm
quy mô trang trại, nuôi trồng thuỷ sản quy mô công nghiệp; cư trú trái phép, gây ô
nhiễm môi trường trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh
thái của khu bảo tồn.
4. Săn bắt, đánh bắt, khai thác bộ phận cơ thể, giết, tiêu thụ, vận chuyển, mua, bán
trái phép loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;


quảng cáo, tiếp thị, tiêu thụ trái phép sản phẩm có nguồn gốc từ loài thuộc Danh
mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
5. Nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo trái phép loài động vật,
thực vật hoang dã thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
6. Nhập khẩu, phóng thích trái phép sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của
sinh vật biến đổi gen.
7. Nhập khẩu, phát triển loài ngoại lai xâm hại.
8. Tiếp cận trái phép nguồn gen thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ.
9. Chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng đất trong khu bảo tồn.
Điều 16. Khu bảo tồn, phân cấp khu bảo tồn.
Điều 17, khoản 2: Vườn quốc gia
2. Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài
thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
Điều 18, khoản 3: Khu dự trữ thiên nhiên
3. Khu dự trữ thiên nhiên cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo tồn các hệ sinh thái
tự nhiên trên địa bàn.
Điều 19, khoản 2 mục a và khoản 3: Khu bảo tồn loài - sinh cảnh
2. Khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp quốc gia phải có các tiêu chí chủ yếu sau đây:
a) Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài

thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
3. Khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng
sinh học của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo tồn các loài
hoang dã trên địa bàn.
Điều 20, khoản 3: Khu bảo vệ cảnh quan


3. Khu bảo vệ cảnh quan cấp tỉnh là khu thuộc quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích bảo vệ cảnh quan trên
địa bàn.
Điều 29. Quyền và trách nhiệmcủa Ban quản lý, tổ chức được giao quản lý
khu bảo tồn
Ban quản lý khu bảo tồn, tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn có các quyền và
trách nhiệm sau đây:
1. Bảo tồn đa dạng sinh học theo quy định của Luật này và quy chế quản lý khu
bảo tồn;
2. Xây dựng, trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức
thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư phục hồi hệ sinh thái tự nhiên trong
khu bảo tồn;
3. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, thu thập nguồn gen, mẫu vật di truyền;
theo dõi, tổ chức thu thập thông tin, số liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu và lập báo cáo
hiện trạng đa dạng sinh học của khu bảo tồn; có biện pháp phòng, trừ dịch bệnh
trong khu bảo tồn;
4. Kinh doanh, liên doanh trong lĩnh vực du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học,
nghỉ dưỡng và các hoạt động dịch vụ khác trong khu bảo tồn theo quy định của
pháp luật;
5. Phối hợp với lực lượng kiểm lâm, cảnh sát môi trường, cảnh sát phòng cháy,
chữa cháy và chính quyền địa phươngtrong việc bảo tồn đa dạng sinh học trong
khu bảo tồn;
6. Được chia sẻ lợi ích từ hoạt động tiếp cận nguồn gen thuộc phạm vi khu bảo tồn;

7. Quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 30. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp
trong khu bảo tồn
1. Hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn có các quyền và
nghĩa vụ sau đây:


a) Khai thác nguồn lợi hợp pháp trong khu bảo tồn theo quy định của Luật này, quy
chế quản lý khu bảo tồn và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Tham gia, hưởng lợi ích từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong khu bảo tồn;
c) Hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ, bồi thường, tái định cưtheo quy định của pháp
luật;
d) Thực hiện quy chế quản lý khu bảo tồn;
đ) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Chính phủ quy định cụ thể việc thực hiện Điều này.
Điều 31.Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp trong
khu bảo tồn
Tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn có các quyền và nghĩa
vụ sau đây:
1. Khai thác nguồn lợi hợp pháp trong khu bảo tồn theo quy định của Luật này, quy
chế quản lý khu bảo tồn và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
2. Tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen và các hoạt động
hợp pháp khác trong khu bảo tồn theo quy định của pháp luật;
3. Thực hiện quy chế quản lý khu bảo tồn;
4. Tiến hành các hoạt động khác theo quy định của pháp luật;
5. Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 37. Loài được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ
1. Loài được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo

vệ bao gồm:
a) Loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm;


b) Giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý, hiếm.
2. Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý, bảo vệ loài
thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; ban hành Danh
mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Điều 38. Đề nghị đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ
1. Căn cứ vào quy định tại Điều 37 của Luật này, tổ chức, cá nhân sau đây có
quyền đề nghị loài được đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ:
a) Tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài, dự án điều tra, nghiên cứu về loài sinh vật ở
Việt Nam;
b) Tổ chức, cá nhân được giao quản lý rừng, khu bảo tồn, vùng đất ngập nước, biển
và hệ sinh thái tự nhiên khác;
c) Hội, hiệp hội và tổ chức khác về khoa học và công nghệ, môi trường.
2. Đề nghị đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ phải được lập thành hồ sơ gửi bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để tổ
chức thẩm định theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này.
3. Hồ sơ đề nghị đưa vào hoặc đưa ra khỏiDanh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ gồm có:
a) Tên phổ thông, tên bản địa, tên khoa học của loài được đề nghị;
b) Vùng phân bố, số lượng cá thể ước tính, điều kiện sống và tình trạng nơi sinh
sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài được đề nghị;
c) Các đặc tính cơ bản, tính đặc hữu, giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh
thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hoá - lịch sử của loài được đề nghị;
d) Mức độ bị đe dọa tuyệt chủng của loài được đề nghị;
đ) Chế độ quản lý, bảo vệ và yêu cầu đặc thù khác;



e) Kết quả tự đánh giá và đề nghị việc đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Điều 39. Thẩm định hồ sơ đề nghị đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ
1. Bộ, cơ quan ngang bộ sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ phải tổ chức Hội đồng
thẩm định hồ sơ đề nghị đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường để lập Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trình Chính phủ quyết định.
2. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục thẩm định hồ sơ đề nghị đưa vào
hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Điều 40. Quyết định loài được đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy
cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ
1. Chính phủ quyết định loài được đưa vào hoặc đưa ra khỏi Danh mục loài nguy
cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ với các nội dung chính sau đây:
a) Tên loài;
b) Đặc tính cơ bản của loài;
c) Chế độ quản lý, bảo vệ đặc thù.
2. Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ phải được công bố công
khai trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Định kỳ 3 năm một lần hoặc khi có nhu cầu, loài thuộc Danh mục loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ phải được điều tra, đánh giá quần thể để sửa đổi, bổ
sung.
Điều 41. Bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ
1. Khu vực có loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 của Luật nàysinh sống tự nhiên thường xuyên
hoặc theo mùa phải được điều tra, đánh giá để lập dự án thành lập khu bảo tồn.



2. Nhà nước thành lập hoặc giao cho tổ chức, cá nhân thành lập cơ sở bảo tồn đa
dạng sinh học để bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ.
3. Việc đưa loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vào
nuôi, trồng tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học và việc thả loài thuộc Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ từ cơ sở cứu hộ vào nơi sinh sống tự
nhiên của chúng phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận bằng văn
bản.
4. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền,trình tự, thủ tục đưa loài thuộc Danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ vào cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học
hoặc thả vào nơi sinh sống tự nhiên của chúng.
Điều 43. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở bảo tồn đa
dạng sinh học
1. Tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học có các quyền sau đây:
a) Hưởng chính sách, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước theo quy định của pháp
luật;
b) Tiếp nhận, thực hiện dự án hỗ trợ từ tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá
nhân nước ngoài;
c) Hưởng các khoản thu từ hoạt động du lịch và các hoạt động khác của cơ sở bảo
tồn đa dạng sinh học theo quy định của pháp luật;
đ) Nuôi, trồng, nuôi sinh sản, cứu hộ loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý,
hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc
hữu; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền;
e) Trao đổi, tặng cho loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ phục vụ mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, du lịch
sinh thái theo quy định của pháp luật;
g) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học có các nghĩa vụ sau
đây:



a) Bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền;
b) Đăng ký, khai báo nguồn gốc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Có biện pháp phòng dịch, chế độ chăm sóc, chữa bệnh cho các loài tại cơ sở của
mình;
d) Tháng 12 hằng năm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình trạng loài thuộc
Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại cơ sở của mình;
e) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 44. Loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã được khai thác có
điều kiện trong tự nhiên
Điều 45. Nuôi, trồng loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu
tiên bảo vệ
1. Loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được
nuôi, trồng tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ mục đích bảo tồn đa dạng
sinh học, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái theo quy định của Luật này.
2. Việc nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng, cấy nhân tạo một số loài thuộc
Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại cơ sở nuôi sinh sản,
nuôi sinh trưởng và trồng, cấy nhân tạo phục vụ mục đích thương mại được thực
hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 46. Trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, tặng cho, lưu giữ, vận chuyển
các loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và mẫu
vật di truyền,sản phẩm của chúng
Việc trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, tặng cho, lưu giữ, vận chuyển loài
thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và mẫu vật di truyền
của chúng phục vụ mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, du
lịch sinh thái; việc trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, tặng cho, vận chuyển
một số loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và các



sản phẩm của chúng phục vụ mục đích thương mại được thực hiện theo quy định
cụ thể của Chính phủ.

Điều 47. Cứu hộ loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên
bảo vệ
1. Cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bị mất
nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương, bị bệnh phải được đưa vào cơ sở cứu hộ
để cứu chữa, nuôi dưỡng, chăm sóc và thả lại nơi sinh sống tự nhiên của chúng.
2. Tổ chức, cá nhân phát hiện cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương hoặc bị bệnh
có trách nhiệm báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở cứu hộ nơi gần
nhất. Sau khi nhận được thông tin, Ủy ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo
với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc báo cơ sở cứu hộ nơi
gần nhất.
3. Cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
sau khi được cứu hộ trở lại trạng thái bình thường được xem xét thả lại nơi
sinh sống tự nhiên của chúng. Trường hợp cá thể loài thuộc Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bị mất nơi sinh sống tự nhiên thì
được xem xétđưa vào nuôi, trồng tại cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp .
4. Chính phủ quy định cụ thể việc cứu hộ loài hoang dã thuộc Danh mục loài nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Điều 49. Bảo vệ loài vi sinh vật và nấm đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe doạ
tuyệt chủng
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang
bộ có liên quan tổ chức điều tra, đánh giá, thu thập, bảo quản loài vi sinh vật và
nấm đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng để đưa vào Danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.



2. Việc tiếp cận nguồn gen loài vi sinh vật và nấm đặc hữu hoặc có giá trị đang bị
đe dọa tuyệt chủng được thực hiện theo quy định tại Mục 1 và Mục 2 Chương V
của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
1. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức việc
lưu giữ và bảo quản lâu dài mẫu vật di truyền của loài thuộc Danh mục loài nguy
cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài nhập khẩu phục vụ công tác nghiên cứu,
nhân giống, lai tạo giống, ứng dụng và phát triển nguồn gen.
2. Tổ chức, cá nhân phát hiện, lưu giữ mẫu vật di truyền của loài thuộc Danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đã bị tuyệt chủng trong tự nhiên có
trách nhiệm báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Sau khi nhận được thông tin, Ủy ban
nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo ngay với cơ quan chuyên môn về tài
nguyên và môi trường của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để có biện pháp xử lý.
3. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lưu giữ và bảo quản lâu dài
mẫu vật di truyền để hình thành ngân hàng gen phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh
học và phát triển kinh tế - xã hội.
Điều 69. Hợp tác quốc tế và việc thực hiện điều ước quốc tế về đa dạng sinh
học
1. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết thực hiện điều ước quốc
tế về đa dạng sinh học mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và
mở rộng hợp tác về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học với các nước,
vùng lãnh thổ, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
2. Hợp tác quốc tế về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học được thực
hiện trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, vì mục đích bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, bảo
đảm cân bằng sinh thái ở Việt Nam và trên trái đất.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên
quan nghiên cứu, đề xuất việc đàm phán, ký, gia nhập điều ước quốc tế về đa dạng
sinh học.



4. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân Việt Nam, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện các chương
trình, dự án hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học.
1.2.3. Tóm tắt những điều, khoản, mục chính, nội dung trong NĐ 32/2006NĐ-CP có liên quan tới các loài lâm sản ngoài gỗ quý, hiếm.
Nghị định 32/2006-NĐ-CP về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm có liên quan tới các loài lâm sản ngoài gỗ quý, hiếm:
Điều 5, khoản 3: Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm :
3. Nghiêm cấm những hành vi sau đây:
a) Khai thác thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi nhốt, giết
mổ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trái quy định tại Nghị định này và quy định
hiện hành của pháp luật.
b) Vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tàng trữ, xuất khẩu,
nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trái với quy định tại
Nghị định này và quy định hiện hành của pháp luật.
Điều 6. Khai thác thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm từ :
1. Khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm I:
Thực vật rừng, động vật rừng Nhóm I chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu
khoa học (kể cả để tạo nguồn giống ban đầu phục vụ cho nuôi sinh sản, trồng cấy
nhân tạo), quan hệ hợp tác quốc tế.
Việc khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm I không được làm ảnh hưởng
tiêu cực đến việc bảo tồn các loài đó trong tự nhiên và phải có phương án được Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.
2. Khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm II:
a) Khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm II trong các khu rừng đặc dụng:
- Chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học (kể cả để tạo nguồn giống
ban đầu phục vụ cho nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo), quan hệ hợp tác quốc tế.



- Việc khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm II trong các khu rừng đặc dụng
không được làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn các loài đó và phải có
phương án được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.
b) Khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm II ngoài các khu rừng đặc dụng:
- Thực vật rừng Nhóm II A ngoài các khu rừng đặc dụng chỉ được khai thác theo
quy định tại Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác, do Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn ban hành.
- Động vật rừng Nhóm II B ngoài các khu rừng đặc dụng chỉ được khai thác vì mục
đích nghiên cứu khoa học (kể cả để tạo nguồn giống ban đầu phục vụ nuôi sinh
sản), quan hệ hợp tác quốc tế.
Việc khai thác động vật rừng Nhóm II B ngoài các khu rừng đặc dụng không được
làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn của các loài đó trong tự nhiên và phải có
phương án được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt đối
với những khu rừng do các tổ chức trực thuộc Trung ương quản lý hoặc được Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt đối với những khu rừng do các tổ chức, cá nhân
thuộc địa phương quản lý.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn thủ tục, trình tự để phê duyệt phương án khai thác thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm từ tự nhiên.
Điều 7. Vận chuyển, cất giữ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
từ tự nhiên và sản phẩm của chúng:
Thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng được
khai thác từ tự nhiên, khi vận chuyển, cất giữ phải theo các quy định sau:
1. Có đầy đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc khai thác hợp pháp theo quy định tại
Điều 6 Nghị định này, các giấy tờ khác theo quy định hiện hành của pháp luật về
xử lý tang vật vi phạm (đối với trường hợp thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm và sản phẩm của chúng được xử lý tịch thu trong các vụ vi phạm hành
chính hoặc vụ án hình sự).



2. Khi vận chuyển động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng ra
ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có Giấy phép vận chuyển
đặc biệt do cơ quan kiểm lâm cấp tỉnh cấp.
3. Khi vận chuyển thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng phải
thực hiện theo quy định của Nhà nước về kiểm tra, kiểm soát lâm sản. Riêng gỗ
Nhóm I A và Nhóm II A khai thác từ rừng tự nhiên trong nước, ngoài các thủ tục
quy định tại khoản 1 Điều này còn có dấu búa kiểm lâm theo quy định về quy chế
quản lý búa kiểm lâm.
Điều 8. Phát triển thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm:
1. Hoạt động trồng cấy nhân tạo thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nuôi sinh sản,
nuôi sinh trưởng động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được thực hiện theo quy định
của pháp luật về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội
từ biển, quá cảnh, trồng cấy nhân tạo, nuôi sinh sản các loài thực vật hoang dã,
động vật hoang dã nguy cấp.
2. Khai thác, vận chuyển, cất giữ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm được nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo và sản phẩm của chúng phải có giấy
tờ chứng minh nguồn gốc theo quy định của pháp luật về xuất khẩu, nhập khẩu, tái
xuất khẩu, quá cảnh, nhập nội từ biển, trồng cấy nhân tạo, nuôi sinh sản các loài
thực vật hoang dã, động vật hoang dã nguy cấp.
Điều 9. Chế biến, kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm và sản phẩm của chúng:
1. Nghiêm cấm chế biến, kinh doanh thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I
A, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I B và Nhóm II B từ tự nhiên và sản
phẩm của chúng vì mục đích thương mại (trừ các trường hợp quy định tại khoản 2
Điều này).
2. Được phép chế biến, kinh doanh vì mục đích thương mại đối với các đối tượng
sau:
- Các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng có nguồn
gốc nuôi sinh sản; các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm II B là tang
vật xử lý tịch thu theo quy định hiện hành của Nhà nước, không còn khả năng cứu

hộ, thả lại môi trường.


- Thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I A là tang vật xử lý tịch thu theo quy
định hiện hành của Nhà nước; thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm II A từ tự
nhiên, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có nguồn gốc trồng cấy nhân tạo.
Tổ chức, cá nhân chế biến kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm vì mục đích thương mại phải bảo đảm các quy định sau:
a) Có đăng ký kinh doanh về chế biến, kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng và
sản phẩm của chúng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
b) Thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng có
nguồn gốc hợp pháp theo quy định tại các Điều 6, 7 và 8 Nghị định này.
c) Mở sổ theo dõi nhập, xuất thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và
sản phẩm của chúng theo quy định thống nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn và chịu sự giám sát, kiểm tra của cơ quan kiểm lâm theo quy định hiện
hành của pháp luật.
b) Thực vật, động vật sống tạm giữ được cơ quan kiểm dịch xác nhận là bị bệnh có
nguy cơ gây thành dịch phải tiêu huỷ ngay theo các quy định hiện hành của pháp
luật.
1.2.3. Tóm tắt những điều, khoản, mục chính, nội dung trong nghị định NĐ
06/2019- NĐ-CP có liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, các loài lâm sản
ngoài gỗ nguy cấp, quý hiếm.
NGHỊ ĐỊNH
VỀ QUẢN LÝ THỰC VẬT RỪNG, ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ,
HIẾM VÀ THỰC THI CÔNG ƯỚC VỀ BUÔN BÁN QUỐC TẾ CÁC LOÀI
ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT HOANG DÃ NGUY CẤP
Điều 5. Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
1. Hoạt động săn, bắn, bắt, khai thác, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, chế biến, vận
chuyển, buôn bán các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm không
được ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của loài đó trong tự

nhiên.


2. Mọi hoạt động săn, bắn, bắt, khai thác, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán, chế biến, quảng cáo, trưng bày, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất,
tạm xuất tái nhập mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm phải được quản lý, đảm bảo nguồn gốc hợp pháp.
3. Khu vực sinh cảnh sống thường xuyên, tập trung của các loài thực vật rừng,
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được nghiên cứu làm cơ sở để thành lập các
khu rừng đặc dụng.
4. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, xây dựng công trình, điều
tra, thăm dò, nghiên cứu, tham quan, du lịch và các hoạt động khác trong các diện
tích rừng có thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải thực hiện các
quy định tại Nghị định này và quy định pháp luật khác có liên quan.
Điều 9. Khai thác, nuôi, trồng, chế biến, kinh doanh, quảng cáo, vận chuyển, xuất
khẩu mẫu vật thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
1. Khai thác; nuôi, trồng; chế biến, kinh doanh, quảng cáo, trưng bày; xuất khẩu;
vận chuyển, cất giữ mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm các loài Nhóm I thực hiện theo quy định tại Nghị định này đối với các loài
thuộc Phụ lục I CITES.
2. Khai thác; nuôi, trồng; chế biến, kinh doanh, quảng cáo, trưng bày; xuất khẩu;
vận chuyển, cất giữ mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm các loài Nhóm II thực hiện theo quy định tại Nghị định này đối với các loài
thuộc Phụ lục II CITES.
3. Miễn trừ giấy phép CITES nhập khẩu trong thành phần hồ sơ đề nghị cấp giấy
phép xuất khẩu mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Nhóm I không thuộc Phụ lục I CITES.

2.3. Mô tả 10 loài cây LSNG thuộc nhóm quý, hiếm trong Sách Đỏ Việt
Nam 2007( hoặc 10 loài cây thuốc cần bảo tồn):

1. Tên phổ thông: Song mật
Tên khoa học: Calamus platyacanthus Warb. Ex Becc.


Họ: Cau (Areaceae)
Đặc điểm nhận biết: Cây mọc thành cụm thưa, đơn tính khác gốc. Thân leo, dài
30 - 40 m (có thể dài đến 100 m), đường kính đến 8 - 10 cm (cả bẹ lá). Bẹ lá rất
dài, bao kín thân khí sinh, trên bẹ có nhiều gai dẹt màu vàng dài 8 - 10 cm, gốc
rộng 1,8 - 2 mm, gai mọc lật ngược về phía gốc; lá có khuỷu; thìa lìa ở lá non hình
ống, có lông hung, gốc có gai, khi già bị rách, có lông cứng; lá xẻ lông chim rất
sâu, dài 1,5 - 2,5 cm; thuỳ lá hình bầu dục, không cuống, dài 40 cm, rộng 6 - 8 cm,
mặt trên của thuỳ lá có nhiều gai mảnh, mép có gai nhỏ, đỉnh có túm lông, thuỳ lá
mọc thành cụm 2 - 6, đỉnh lá mang 4 - 7 lá chét, 2 lá chét ở đỉnh đính nhau ở gốc;
sống lá kéo dài thành roi dài 1,5 m có nhiều gai mập thường mọc thành cụm 5 - 10
gai dính nhau ở gốc.

Cụm hoa đực: mo hình dải, dài hơn 1m; mỗi mo mang nhiều bông nhỏ mọc ngay
trên lá bắc cấp 3 dài 2 - 2,5 cm, mang 14 - 17 hoa đực xếp thành 2 d•y; hoa mẫu 3,
lá đài 3, cánh hoa 3, nhị 6. Cụm hoa cái: mo hình dải dài 1 - 2,5 m, mang 15 bông
nhỏ (chuỳ); lá bắc hình ống dài 20 cm, miệng dẹt, màu xanh đạm, có gai rải rác
trên mặt; chuỳ dính nhay trên miệng lá bắc cấp 1 dài 30 - 70 cm mang nhiều bông
chét, đầu tận cùng bởi một đuôi có gai; lá bắc cấp 2 hình phễu, có gai; bông chét
dài 8 - 12 cm mang 14 - 32 hoa cái; đế hoa hình đấu. Quả hình trứng, dài 15 - 22
mm, rộng 8 - 14 mm; đỉnh quả có mũ hình nón dài 4 mm; vỏ quả có 18 hàng vảy


×