Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

Một số biện pháp nhằm tăng hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho HS khi dạy bài ai đã đặt tên cho dòng sông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (282.84 KB, 24 trang )

I. MỞ ĐẦU:
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong cuộc sống, ai cũng cần đến tri thức. Đặc biệt, HS cần phải học tập,
phải chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại để phát triển trí tuệ, hoàn thiện bản
thân; bồi dưỡng và phát triển nhân cách của chính mình. Một triết gia đã nói
“Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học”.
Như vậy có thể thấy rầng niềm yêu thích, sự say mê làm nên động lực thúc đẩy,
nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của HS nói riêng, của mỗi
người nói chung. Vì thế với cương vị là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển
hoat động học tập và chiếm lĩnh kiến thức của HS, người GV phải luôn học hỏi
trau dồi kiến thức cũng như phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao độ tính
tích cực chủ động sáng tạo của người học. Khơi gợi niềm hứng thú, sự say mê học
tập cho HS luôn là niềm quan tâm hàng đầu của người GV.
Ngữ văn là một môn học thú vị nhưng HS bây giờ luôn không thích học
văn, ngại học văn vì các em phần lớn đều cho rằng môn này khó; cần phải có
năng khiếu để cảm thụ văn chương. Thực tế cho thấy những năm gần đây học
sinh đều chọn các môn học tự nhiên vừa có nhiều trường để lựa chọn, dễ xin việc
mức thu nhập lại cao, rất ít HS lựa chọn học các môn xã hội. Nhiều GV dạy văn
nhận thấy trong giờ Ngữ văn các em thường không tập trung, có tâm lí ngại học
văn, hoặc học một cách đối phó: để có điểm, để không phải thi lại, để thi tốt
nghiệp...Còn những HS thực sự say mê và yêu môn văn thì rất ít.
Đứng trước vấn đề này, tôi đã phải nỗ lực cố gắng thay đổi các phương pháp
và các kỹ thuật dạy học để là tăng cường hứng thú, thu hút và “lôi kéo” HS đến
với môn văn của mình (6). Cụ thể là tôi đã mạnh dạn áp dụng vào bài bút kí “Ai
đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ngữ văn 12, tập 1).
Đây là một trong những bài rất khó, không thú vị đối với HS đặc biệt là HS
trường tôi.Sau áp dụng vào thực tế giảng dạy của mình trong, tôi thấycó hiệu quả
đáng kể. Tôi xin được chia sẻ cùng đồng nghiệp sáng kiến kinh nghiệm “Một số
biện pháp nhằm tăng hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho HS khi dạy
bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường”, Ngữ văn
12 THPT.


2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Khơi dậy sự hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập cho HS khi học bài bút
kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” nói riêng, thể loại kí nói chung.
- Phát huy tính tích cực, tự giác, tự học của HS trong học tập nói chung và
trong môn Ngữ văn nói riêng.
- Kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc trong các hoạt động
nhóm của HS.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Ngữ văn của HS lớp 12 trong
nhà trường.
1


- Rèn luyện cho HS một số kỹ năng sống cần thiết, giúp các em vững vàng,
tự tin bước vào đời.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Học sinh các lớp 12A1, 12A4, 12A5 trường THPT Triệu Sơn 6.
+ Lớp 12A4, 12A5 là lớp thực nghiệm.
+ Lớp 12A1 là lớp đối chứng.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu các tài liệu, sách, các chuyên đề về PPDH, KTDH tích cực...
để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp điều tra:
Thực hiện tại lớp 12A1, 12A4 và 12A5 trường THPT Triệu Sơn 6.
- Phương pháp quan sát:
Quan sát hoạt động học của HS lớp 12A1, 12A4, 12A5 trong môn Ngữ
văn.
- Phương pháp thống kê toán học:
Lập bảng thống kê, phân tích, xử lí số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề
chính xác, khoa học.

- Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn, trò chuyện với HS 3 lớp 12A1, 12A4, 12A5.
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
Theo dõi hoạt động học của HS nhằm tìm hiểu kỹ về mức độ hứng thú đối
với bộ môn Ngữ văn, sự tích cực, chủ động trong học tập và các kỹ năng được
biểu hiện của các em.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm:
Xem xét những thành quả của hoạt động thực tiễn để rút ra những kinh
nghiệm bổ ích trong dạy học.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá:
Nhằm xác định mức độ hiểu biết về kiến thức, kỹ năng, khả năng vận dụng
của HS để đánh giá về hiệu quả của các KTDH được áp dụng trong bài dạy.

2


II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1.1.

Hứng thú và vai trò của hứng thú trong học tập

Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2002, định nghĩa
“hứng thú là sự ham thích” (1).
Luật Giáo dục năm 2005, điều 28.2 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. (2)
Rõ ràng khi có được sự say mê hứng thú trong bất kì công việc gì con

người sẽ làm việc có hiệu quả hơn, thành công hơn. Hứng thú còn có tác dụng
chống lại sự mệt mỏi, giảm căng thẳng. HS cũng vậy, khi có hứng thú các em sẽ
kiên trì tìm hiểu nội dung bài học, làm bài tập; hăng hái trả lời câu hỏi của GV,
nhận xét bổ sung câu trả lời của bạn, chủ động nêu câu hỏi, đưa ra những thắc
mắc để các bạn cùng trả lời, thầy cô giải thích thấu đáo.
Bất kì môn học nào cũng cần phải có hứng thú thì HS mới có thể tiếp cận
bài học một cách tốt nhất. Đặc biệt với môn Ngữ văn, một môn học thiên nhiều
về cảm xúc và tâm hồn, thì tạo sự hứng thú cho HS là một trong những điều đầu
tiên GV cần làm.Vì vậy khi lên lớp, GV không phải chỉ truyền tải kiến thức mà
quan trọng hơn chính là phải không ngừng tìm tòi đổi mới các phương pháp dạy
học để tạo hứng thú cho các em (4). Có như vậy mới phát huy được tính tích cực
chủ động, độc lập sáng tạo của HS đúng như định hướng giáo dục hiện nay.
1.2.

Phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học tích cực (3)

1.2.1. Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học (PPDH) là cách thức, là con đường hoạt động chung
giữa GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích
dạy học. Theo quan niệm hiện nay, PPDH là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của
GV nhằm tổ chức họat động nhận thức và hoạt động thực hành của HS, dẫn tới
việc lĩnh hội vững chắc nội dung bài học, hình thành thế giới quan và phát triển
năng lực nhận thức của HS. Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình
tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức. Để làm được điều đó thì người GV cần phải có
những PPDH học tích cực. Việc dạy học theo những PPDH tích cực là vấn đề
thật cần thiết và đáng quan tâm hiện nay.

3



PPDH tích cực được hiểu là PPDH phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của người học. Có nhiều PPDH tích cực nhưng PPDH thường được các GV
sử dụng nhiều là phương pháp hoạt động nhóm (5).
1.2.2. Kĩ thuật dạy học:
Kỹ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của
GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình
dạy học. Hay nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học, tổ chức hoạt
động giáo dưỡng để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy.
Các KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH. Trong mỗi PPDH có
nhiều KTDH khác nhau. Có những KTDH chung, có những KTDH đặc thù của
từng PPDH.
KTDH tích cực là những KTDH có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy
sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo
và sự cộng tác làm việc của HS.
Năng lực sử dụng các KTDH khác nhau trong từng GV và nó được xem là
rất quan trọng đối với người đứng lớp, nhất là trong bối cảnh đổi mới PPDH học
hiện nay ở nhà trường phổ thông. Rèn luyện để nâng cao năng lực này là một
nhiệm vụ, một vấn đề thật cần thiết của mỗi GV, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng
cao chất lượng dạy và học ở nhà trường.
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN:
Trường THPT Triệu Sơn 6 được thành lập không lâu. Trường đóng trên
địa bàn xã Dân Lực của huyện Triệu Sơn, rất gần với trường THPT Triệu Sơn 1
và trường THPT Triệu Sơn 4 là những trường có bề dày lịch sử lâu đời. Chính vì
thế chất lượng đầu vào của HS trong trường là rất thấp, tỉ lệ HS yếu còn ở mức
cao. Nhiều em HS rất lười học và đặc biệt là không có hứng thú với bộ môn Ngữ
văn. Các em thường xuyên không chuẩn bị bài ở nhà, không làm bài tập đầy đủ;
trên lớp các em lại không tập trung suy nghĩ, cho nên không nắm vững được nội
dung bài học. Đa số HS chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như
trình bày), còn những câu hỏi tổng hợp yêu cầu phải tư duy… thì còn rất auk túng
khi trả lời hoặc trả lời mang tính chất chung chung.

Qua các lần kiểm tra đối với lớp 12A1, 12A4 và 12A5, tôi có sử dụng một
số PPDH thông thường, chủ yếu HS khá giỏi tham gia học tập, số HS yếu ít có
cơ hội tham gia hoạt động. Chính vì thế nên việc học tập thường ít hứng thú, nội
dung đơn điệu, GV ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân.
Đầu năm học 2017 – 2018, tôi tiến hành khảo sát tình hình học tập của HS
lớp 12A1 (42HS), 12A4 (40 HS), 12A5 (43HS) và đã thu được kết quả như sau:
Nội dung
Chú ý nghe
giảng

Thường xuyên

Đôi khi

Không

12A1

12A4

12A5

12A1

12A4

12A5

12A1


12A4

12A5

16

14

17

25

24

22

11

12

14
4


15
13
4
26
Tham gia trả 12
3

5
22
25
lời câu hỏi
6
7
4
2
31
Nhận xét ý
3
3
20
36
kiến của bạn
16
14
13
16
10
Tự giác làm
17
15
9
15
bài tập
-> Kết quả kiểm tra trên cho thấy: mức độ chú ý nghe giảng còn hạn chế.
HS tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn HS chưa tự
giác làm bài tập. Đồng thời, ở nhiều HS hoạt động giao tiếp, kỹ năng sống rất
hạn chế, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong các giờ học, không dám

tranh luận nhất là với GV, chưa có thói quen hợp tác trong học tập đã ảnh hưởng
rất không tốt đến kết quả học tập của HS. Có nhiều nguyên nhân cho những hạn
chế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do PPDH, KTDH của GV chưa kích
thích được sự hứng, sự tích cực chủ động học tập của HS.
Kết quả hai kỳ khảo sát chất lượng đầu năm và giữa học kỳ 1 ở 3 lớp kết
quả môn Ngữ văn đạt được như sau:
Khảo
sát
Đầu
năm
Giữa
kỳ 1

Lớp
12A1
12A4
12A5
12A1
12A4
12A5

Giỏi
SL TL
%
0
0
0
0
0
0

0
0
0
0
0
0

Khá
SL TL%
01
02
03
03
06
05

2
5
7
7
15
12

TB
SL TL
%
07
17
12
30

11
25
10
24
17
42
19
44

Yếu
SL TL
%
20
49
23
58
24
56
20
48
15
38
17
39

Kém
SL
TL
%
14

32
03
7
05
12
09
21
02
5
02
5

Từ thực tế trên, tôi đã tìm đọc tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, đầu tư thời
gian, chuẩn bị các phương tiện, thiết bị dạy học để vận dụng vào thực tiễn giảng
dạy bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường một
số PPDH và KTDH tích cực nhằm mục đích phát triển tư duy, khơi gợi hứng
thú, nâng cao hiệu quả học tập môn Ngữ văn cho HS. Rất mong nhận được sự
góp ý, xây dựng của các bạn đồng nghiệp để vận dụng có hiệu quả hơn SKKN
trong bài học này nói riêng, trong thể kí và trong cả chương trình Ngữ văn
THPT nói chung.
3. CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ÁP DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ:
Thể kí nói chung và bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng
Phủ Ngọc Tường là một tác phẩm hay trong chương trình Ngữ văn 12, nhưng
thực tế dạy học tác phẩm này gặp không ít những khó khăn, vướng mắc. Từ trước
đến nay, các em được học nhiều tác phẩm văn xuôi tự sự nên việc đọc – hiểu, ghi
nhớ của các em đã thành thói quen là hay dựa vào cốt truyện, tình tiết, sự việc,
nhân vật… Đến khi gặp một tác phẩm văn xuôi giàu chất trữ tình, các em sẽ khó
cảm nhận và ghi nhớ nội dung tác phẩm. Chính vì thế hầu hết các em HS ở các
5



khóa trước tôi từng dạy đều không thích học tác phẩm này hoặc chỉ học qua loa,
đối phó. Trong năm học này, tôi đã sử dụng linh hoạt các PPDH, các KTDH tích
cực vào từng phần của bài dạy này để nâng cao chất lượng học tập, khơi gợi hứng
thú, phát huy tính tích cực chủ động của HS.
Theo phân phối chương trình, bài học này được dạy trong 2 tiết. Các PPDH
và KTDH nêu trong SKKN này có thể không sử dụng hết tất cả trong bài dạy của
một lớp mà phải căn cứ vào đặc điểm HS của từng lớp dạy để áp dụng cho phù
hợp, đạt hiệu quả tốt nhất mà không làm mất đi đặc trưng của một giờ học văn.
Cụ thể như sau:
3.1. Dùng kênh âm nhạc kết hợp hình ảnh để tạo tâm thế và lôi cuốn
HS trong hoạt động giới thiệu bài mới.
Giới thiệu bài mới là một hoạt động rất cần thiết mỗi khi bắt đầu một bài
học mới. Thời gian dành cho phần này thường không nhiều (khoảng từ 1 đến 5
phút) nhưng lại không thể thiếu vì giới thiệu bài sẽ tạo tâm thế, sự hứng thú
bước đầu cho HS khi tiếp cận bài học. Nó cũng giống như quảng cáo, nếu giới
thiệu hay thì sẽ thu hút được sự chú ý, kích thích được trí tò mò của HS.
Với bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường tôi đã
lựa chọn sử dụng bài hát “Huế thương” của nhạc sĩ An Thuyên hoặc bài hát
“Tiếng sông Hương” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Khi giai điệu ngọt ngào và
ca từ của những bài hát này cất lên cùng những hình ảnh về xứ Huế thơ mộng, về
sông Hương, về người con gái Huế với sắc áo tím mộng mơ… xuất hiện sẽ thu
hút được sự chú ý của HS về đối tượng mà nội dung bài học hướng tới.
(Ảnh minh họa)

Đối với HS không phải ai cũng đã từng được một lần đến Huế, chưa từng
được thấy sông Hương, khi nghe lời bài hát cùng những hình ảnh về Huế sẽ tạo
được ấn tượng ban đầu, kích thích sự tò mò tìm hiểu về Huế về dòng sông
Hương.

3.2.

Sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm để hướng dẫn HS đọc –
hiểu văn bản
6


PPDH theo nhóm là một trong những PPDH phát huy tính tích cực của
HS. Trong đó, HS của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời
gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân
công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và
đánh giá trước lớp.
Trong phần đọc – hiểu văn bản, để hướng dẫn HS tìm hiểu về hình tượng
sông Hương, tôi lựa chọn kỹ thuật các mảnh ghép (ở tiết 1) và kỹ thuật khăn phủ
bàn (ở tiết 2) trong PPDH theo nhóm.
3.2.1. Sử dụng kỹ thuật các mảnh ghép hướng dẫn HS tìm hiểu về sông
Hương ở góc độ tự nhiên (3)
Kỹ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết
hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm mục tiêu:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm.
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ nhận thức
hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn
thành nhiệm vụ ở vòng 2 với mức độ cao hơn).
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.
 Cách tiến hành

Kỹ thuật mảnh ghép được tiến hành qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1. “Nhóm chuyên gia” : Lớp học được chia thành các nhóm, mỗi
nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu sâu 1 phần nội dung học tập khác nhau

nhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau. Sau 1 thời gian nhất định thảo luận,
mỗi thành viên trong nhóm đều nắm vững và trình bày được kết quả của nhóm
cho các bạn ở nhóm khác.
- Giai đoạn 2. “Nhóm mảnh ghép”: auk hi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn
1, mỗi HS ở các “nhóm chuyên gia” khác nhau lại tập hợp lại thành nhóm mới là
“nhóm mảnh ghép”. Và “nhóm mảnh ghép” nhận được một nhiệm vụ mới,
nhiệm vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu
từ các “nhóm chuyên gia” thành một “bức tranh” tổng thể.
Vận dụng cụ thể: Tìm hiểu về hình tượng sông Hương ở góc độ tự nhiên.
 Mục tiêu:
7


- Thấy được ở góc độ tự nhiên từ thượng nguồn đến biển, sông Hương là
người con gái đẹp, thủy chung trong tình yêu.
- Thấy được sự tài hoa, uyên bác, trí tưởng tượng, sự liên tưởng phong phú,
độc đáo của HPNT về sông Hương, về xứ Huế.
- Cảm nhận được tình yêu thiết tha, sâu nặng của HPNT đối với sông
Hương, với xứ Huế.
Bước 1: Giao nhiệm vụ:
* Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên gia”:
- GV: + Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 10 HS, vị trí ngồi được đánh số từ
1,2,3 4 để hình thành “nhóm mảnh ghép” ở giai đoạn 2.
+ Trong nhóm cử 01 nhóm trưởng điều hành chung, 01 thư kí để ghi
chép, 01 người liên lạc với giáo viên khi cần.
+ Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm:
 Nhóm 1: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở thượng nguồn.
 Nhóm 2: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế.
 Nhóm 3: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở trong auk thành phố Huế.
 Nhóm 4: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương khi từ biệt Huế ra biển.

- HS: + Ổn định vị trí nhóm được phân công
+ Nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian 7 phút.
* Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”:
- GV: + Yêu cầu HS mang số giống nhau ở các “nhóm chuyên gia” tập hợp
lại thành nhóm mới là “nhóm mảnh ghép”.
+ Nhiệm vụ của các nhóm: Tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương ở góc độ
tự nhiên từ thượng nguồn đến khi từ biệt Huế ra biển.
- HS: + Ổn định vị trí theo nhóm mới.
+ Nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian 10 phút.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
- HS làm việc theo nhóm được phân công; ghi nội dung thảo luận vào giấy A0.
(ảnh minh họa)

Học sinh làm việc theo
“nhóm chuyên gia”

Học sinh làm việc theo
“nhóm mảnh ghép”

- GV quan sát, hỗ trợ
8


Bước 3: Báo cáo, thảo luận, trao đổi:
- GV yêu cầu đại diện nhóm lên trình bày trong 1-2 phút.
- HS: + Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận.
+ Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, bổ sung.
(ảnh minh họa)

HS “nhóm mảnh ghép” trình bày kết quả của nhóm


Bước 4: Chốt kiến thức của hoạt động.
- GV nhận xét kết đánh giá kết quả hoạt động của 4 nhóm.
- GV dùng máy chiếu để chốt kiến thức trọng tâm qua sơ đồ tư duy.
 Nhận xét:
Qua áp dụng kỹ thuật các mảnh ghép trong hoạt động này tôi nhận thấy kỹ
thuật này tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú. HS được tham gia vào các nhiệm
vụ khác nhau với các mức độ yêu cầu khác nhau. Kỹ thuật các mảnh ghép đòi hỏi
HS phải tích cực, nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thành
vai trò, trách nhiệm của mình. Nhờ đó đã hình thành ở HS tính chủ động, năng
động, linh hoạt, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong học tập. Đồng thời
cũng hình thành ở HS các kỹ năng sống như: KN nhận thức, KN giao tiếp, KN
trình bày, KN hợp tác, KN giải quyết vấn đề, KN đảm nhận trách nhiệm …
3.2.2. Sử dụng kỹ thuật “khăn phủ bàn” để hướng dẫn HS tìm hiểu hình
tượng sông Hương trong chiều sâu lịch sử văn hóa dân tộc (3)
Đây là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa
hoạt động cá nhân và nhóm nhằm:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh.
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh.
 Cách tiến hành:
- Chia học sinh thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0.
9


- Trên giấy A0 chia thành các phần gồm phần chính giữa và các phần xung
quanh. Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm. Mỗi
người ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh.
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ
trả lời câu hỏi theo cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy

của mình trên tờ A0.
- Trên cơ sở ý kiến của mỗi cá nhân học sinh thảo luận nhóm, thống nhất ý
kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “khăn phủ bàn”.
Vận dụng cụ thể: Tìm hiểu về hình tượng sông Hương trong chiều
sâu lịch sử - văn hóa dân tộc
 Mục tiêu:
- Thấy được trong chiều sâu lịch sử - văn hóa dân tộc, sông Hương là một
người con gái:
+ Anh dũng kiên cường trong lịch sử.
+ Tài hoa, sáng tạo trong âm nhạc và văn hóa.
+ Lặng lẽ, kín đáo, khiêm nhường trong cuộc đời thường.
 Đây cũng chính là những phẩm chất, những vẻ đẹp của con người xứ Huế.
- Cảm nhận được tình yêu, niềm tự hào của HPNT đối với sông Hương, với
xứ Huế, với đất nước.
- Thấy được ngòi bút mê đắm, tài hoa, uyên bác của HPNT.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
YÊU CẦU CẦN ĐẠT
Tiết 2:
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN.
Bước 1: Tạo tâm thế học tập
1.Hình tượng sông Hương:
- Gv giới thiệu tranh vẽ về sông
a. Sông Hương – dòng sông tự nhiên:
Hương của em Trương Thị Quỳnh
b. Sông Hương trong chiều sâu lịch
Anh – Lớp 12A4
sử - văn hóa dân tộc.
* S.H trong chiều sâu l/s dân tộc:
Bước 2: Giao nhiệm vụ:
- S.H là một nhân chứng của l/s:

Sử dụng kỹ thuật khăn phủ bàn.
+ S.H “đã sống hết những TK vinh
quang… qua những TK trung đại”.
- GV:
+ “TK 18 nó vẻ vang… Nguyễn Huệ”.
+ Chia lớp thành 4 nhóm
+ “nó sống hết l/s bi tráng… khởi nghĩa”.
+ Cử nhóm trưởng, thư kí, người - S.H là một người con gái anh auk:
liên lạc với giáo viên khi cần…
+ S.H từng có tên Linh Giang, “dòng
+ Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm: sông viễn châu…bảo vệ biên giới phía
nam của Tổ quốc Đại Việt”.
Nhóm 1: Tìm hiểu vẻ đẹp của S.H
+ “vẻ vang đi vào thời đại CMT8 với
trong chiều sâu l/s dân tộc.
nhũng chiến công rung chuyển”.
+ “L/s Đảng đã ghi … cho Tổ quốc”.
- S.H là một người công dân có trách
10


Nhóm 2: Tìm hiểu vẻ đẹp của S.H
trong cuộc đời thường.
Nhóm 3: Tìm hiểu vẻ đẹp của S.H
trong chiều sâu văn hóa Huế.
Nhóm 4: Tìm hiểu vẻ đẹp của S.H
trong huyền thoại và t/y của
người dân xứ Huế.
- HS nhận nhiệm vụ.
Bước 3: Thảo luận nhóm.

- HS ghi lại ý kiến riêng vào phần
ghi ý kiến cá nhân của tờ giấy A 0
(5 phút)
- Thảo luận nhóm và ghi ý kiến đã
thống nhất vào giữa tờ giấy A0 (5
phút)
- GV quan sát, hỗ trợ.
Bước 4: Trình bày, nhận xét.
- Đại diện nhóm trình bày kết quả
thảo luận trong 1 phút.
- Các nhóm khác theo dõi, nhận
xét, bổ sung.
Bước 5: GV định hướng, chốt nội
dung trọng tâm.
- GV: dùng máy chiếu chiếu những
nội dung kiến thức đã chuẩn bị trên
các slide.
- GV củng cố, khắc sâu kiến thức về
hình tượng S.H bằng sơ đồ tư duy.
- GV hỏi: Em có nhận xét gì về
nghệ thuật khắc họa hình tượng
S.H của nhà văn HPNT?

- GV hỏi: Tại sao HPNT lại khắc
họa S.H với những vẻ đẹp, những

nhiệm sâu sắc đối với đất nước: “khi nghe
lời kêu gọi… dịu dàng của đất nước”.
* S.H trong cuộc đời thường:
- S.H trong l/s là một người con gái anh

dũng, kiên cường.
- Trở lại c/đ thường, S.H là “người con
gái dịu dàng của đất nước”.
- Màu sương khói trên S.H:
+ là một màu tím ẩn hiện như sắc áo
cưới của người Huế xưa.
+ giống như “tấm voan huyền ảo của tự
nhiên ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông”.
->S.H hiện lên như một người con gái kín
đáo, khiêm nhường.
* S.H trong chiều sâu văn hóa Huế:
- S.H “người mẹ phù sa của một vùng văn
hóa xứ sở”.
- S.H – dòng sông âm nhạc:
+ “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”
+ “toàn bộ nền âm nhạc…sinh thành
trên mặt nước của dòng sông này”.
+ “Ndu … bản đàn… cuộc đời Kiều”.
+ Bản nhạc Tứ đại cảnh.
- S.H – dòng sông thi ca: S.H độc đáo
trong c/h của các thi nhân.
+ Tản Đà: thay màu bất ngờ
+ BHTQ: bóng chiều bảng lảng, nỗi
quan hoài vạn cổ.
+ CBQ: hùng tráng.
+ Tố Hữu: Vẻ đẹp rất Kiều, sức mạnh
phục sinh.
*S.H trong huyền thoại và t/y của người
dân xứ Huế.
- Huyền thoại về các tên gọi của S.H.

- “Người làng Thành Trung… vì yêu quý
con sông xinh đẹp… nước thơm tho mãi”.
 Nhận xét:
- S.H được HPNT khắc họa tỉ mỉ, sinh
động ở nhiều góc độ: tự nhiên, lịch sử, văn
hóa…
- Bằng sự so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, sự liên
tưởng, tưởng tượng phong phú, vốn kiến
thức uyên bác, ngòi bút tài hoa, S.H hiện
lên như một người con gái đẹp: chung thủy
11


phẩm chất ấy? Tình cảm của nvăn trong t/y, a/h trong l/s, tài hoa trong v/hóa,
với S.H, với xứ Huế?
dịu dàng trong đời thường.
-> Khắc họa vẻ đẹp của S.H, HPNT ngợi ca
vẻ đẹp, phẩm chất của con người xừ Huế.
-> Niềm tự hào, tình yêu thiết tha của t/g
đối với dòng sông và con người Huế; đối
với đất nước.
(ảnh minh họa)

HS thảo luận theo kỹ thuật khăn phủ bàn
(ảnh minh họa)

HS trình bày kết quả
thảo luận nhóm

 Nhận xét:


 Nhận xét:
Qua áp dụng kỹ thuật “khăn phủ bàn” trong hoạt động này tôi nhận thấy:
Kỹ thuật “khăn phủ bàn” đòi hỏi tất cả các thành viên trong nhóm phải làm việc
cá nhân và viết ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm để thống nhất nội
dung. Như vậy, trong cuộc thảo luận nhóm, các thành viên có cơ hội chia sẻ ý
kiến, tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực. Nhờ vậy
mà tiết tiết học sôi nổi, hào hứng hơn; hiệu quả học tập của HS được nâng lên.
Mặt khác, sử dụng kỹ thuật này cũng góp phần phát triển các kỹ năng sống cho
12


HS như KN nhận thức, KN tự học, KN giao tiếp, KN trình bày, KN hợp tác, KN
giải quyết vấn đề, KN thể hiện sự tự tin… (6)
3.3. Tích hợp kiến thức liên môn làm phong phú nội dung bài dạy
Để bài học phong phú, lôi cuốn và hấp dẫn đối với HS, GV cần vận dụng
tích hợp các kiến thức liên môn có liên quan đến bài học. Việc tích hợp kiến
thức liên môn sẽ giúp HS hiểu biết được nhiều hơn và có hệ thống hơn. Bên
cạnh đó HS hứng thú với những tiết học hơn, dễ hiểu và hiểu sâu nội dung bài
học. Đặc biệt các em sẽ có những chuyển biến rõ rệt trong khả năng vận dụng
kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn.
Trong bài dạy này, tôi đã tích hợp với các kiến thức môn học sau:
 Môn Địa lý:
- Khi giới thiệu về sông Hương, tôi cho HS quan sát bản đồ sông ngòi Việt
Nam để HS nắm được vị trí địa lý của sông Hương trên bản đồ sông ngòi
Việt Nam trong quan hệ đối sánh với các con sông khác.
- Trước khi hướng dẫn HS tìm hiểu về sông Hương ở góc độ tự nhiên, tôi
cho HS quan sát bản đồ thủy trình của sông Hương để HS có cái nhìn khái
quát về dòng chảy của con sông từ thượng nguồn cho đến khi chảy ra biển
cả. Từ đó các em lần theo những câu văn giàu hình ảnh và cảm xúc của

Hoàng Phủ Ngọc Tường tái hiện lại thủy trình của Hương giang, khắc sâu
thêm ấn tượng về dòng sông này.
 Kiến thức văn hóa đời sống:
Khi hướng dẫn HS tìm hiểu sông Hương trong chiều sâu lịch sử văn hóa
dân tộc, nói sông Hương là dòng sông âm nhạc, tôi cho HS xem video clip
nhã nhạc cung đình Huế trên sông Hương. Đây là kiệt tác truyền khẩu và
phi vật thể nhân loại của Huế đã được UNESCO công nhận năm 2003. (7)
 Môn Lịch sử:
Khi nói sông Hương là dòng sông lịch sử, cùng với những câu văn của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi tích hợp thêm lịch sử Huế để HS có ấn tượng
thêm về sông Hương ở góc độ này.
- Thế kỉ XVIII kinh thành Phú Xuân gắn với tên tuổi của người anh hùng
Nguyễn Huệ
- Thế kỉ XIX với máu của các cuộc khởi nghĩa
- Cách mạng tháng Tám với những chiến công rung chuyển
- Kháng chiến chống Mĩ: Mậu Thân năm 1968
 Môn GDCD:
- HS liên hệ trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên.

13


- Lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và bảo vệ
đất nước.
3.4. Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy và kỹ thuật phòng tranh để củng cố,
khắc sâu nội dung kiến thức của bài học
Sau mỗi phần của bài học hoặc học xong nội dung bài học, GV cần tiến
hành bước tiểu kết, tổng kết lại nội dung để củng cố, khắc sâu kiến thức cho HS.
Bước này rất cần thiết, giúp HS ghi nhớ được những nội dung chính của bài học.
Để tạo ấn tượng đồng thời khắc sâu kiến thức cho HS, ở bước này tôi sử dụng

kỹ thuật sơ đồ tư duy và kỹ thuật phòng tranh.
3.4.1. Kĩ thuật sơ đồ tư duy:
Sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp
người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một
cách dễ dàng. Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu
quả.
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng
được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên
phạm vi sâu rộng. Tính hấp dẫn của hình ảnh gây ra những kích thích mạnh trên
hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền. (3)
Sơ đồ tư duy sử dụng trong dạy học mang lại hiệu quả cao, phát triển tư
duy auk , khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu, thay cho ghi
nhớ dưới dạng thuộc auk, học “vẹt”. Đồng thời sơ đồ tư duy phù hợp với tâm
sinh lí học sinh, đơn giản, dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ
dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức.
 Vận dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy để củng cố, khắc sâu kiến thức từng
phần và toàn bộ nội dung bài học
 Sơ đồ tư duy về thủy trình của sông Hương
Dùng để tiểu kết phần tìm hiểu về sông Hương ở góc độ tự nhiên
(Ảnh minh họa)

 Sơ đồ tư duy về hình tượng sông Hương
Dùng để tiểu kết nội dung sau khi tìm hiểu xong về hình tượng sông Hương

14


(Ảnh minh họa)


15


 Sơ đồ tư duy củng cố nội dung bài học

(ảnh minh họa)
3.4.2. Kỹ thuật phòng tranh
Đây là một trong những KTDH tích cực. Kỹ thuật này phù hợp cho cả
hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm (3)
Cách tiến hành:
- Mỗi thành viên trong lớp hoặc mõi nhóm phác họa ý tưởng về cách giải
quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như
một triển lãm tranh.
- Cả lớp đi xem triển lãm và có thể cho ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
- Cuối cùng tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương
án tối ưu.
Trong bài dạy này, tôi kết hợp kỹ thuật phòng tranh và kỹ thuật sơ đồ tư
duy để củng cố, khắc sâu kiến thức cho HS. Tôi chia lớp thành 10 nhóm, mỗi
nhóm 4 đến 5 HS và giao nhiệm vụ cho các nhóm vẽ sơ đồ tư duy tổng kết nội
dung của cả bài đã học. Tiết học ngày hôm sau sẽ “triển lãm” cho cả lớp cùng
xem và nhận xét.
Để khuyến khích thêm HS, GV có thể đánh giá và cho điểm nhóm làm tốt.
 Nhận xét:
Sau mỗi phần, mỗi bài học về một tác phẩm văn học, thì việc tiểu kết, tổng
kết và củng cố lại nội dung của bài là một hoạt động quan trọng không thể thiếu.
Trong phần này tôi auk kỹ thuật sơ đồ tư duy và kỹ thuật phòng tranh để giúp
HS ghi nhớ, khắc sâu kiến thức và thấy hiệu quả rất tốt đối với HS. Các em rất
hào hứng, chú ý theo dõi và cách nhóm hoàn thành công việc rất tốt. Nhiều sơ
đồ tư duy các em vẽ rất đẹp, rất khoa học. Đây cũng là cách tôi gợi ý cho các em
tự tổng hợp, ghi nhớ nội dung mỗi bài học một cách hệ thống nhất, nhanh nhất

và khoa học nhất.
Sơ đồ tư duy của các nhóm học sinh lớp 12A4, 12A5
(ảnh minh họa)

4. HIỆU QUẢ CÚA SKKN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, VỚI
BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG:
Trong quá trình dạy bài học này, áp dụng các giải pháp đã nêu trên ở các
lớp 12A4 và 12A5. Kết quả cho thấy HS dần làm quen với các KTDH mới.
Trong giờ học các em đã chú ý hơn, hào hứng, sôi nổi thảo luận, tranh luận
khiến cho giờ học trở nên hứng thú, tích cực hơn. Các em ghi nhớ nội dung bài
16


học sâu hơn, có em còn thể hiện được năng khiếu hội họa vẽ tranh về sông
Hương. Đồng thời thông qua bài học này, tôi cũng đã khơi gợi được cho các em
sự hứng thú, yêu thích hơn đối với môn học.
Kỳ thi cuối học kỳ 1 nhóm văn thống nhất lấy bài “Ai đã đặt tên cho
dòng sông?” để ra đề nghị luận văn học, kết quả điểm cuối kỳ 1 lớp 12A4, 12A5
đạt cao hơn lớp 12A1. Cụ thể:
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
Khảo
Lớp
SL TL SL TL% SL TL SL TL
SL
TL
sát

%
%
%
%
12A1
1
2
09
21
24
58
6
14
02
5
Cuối
12A4
9
23 16
40
12
30
3
7
0
0
HK 1
12A5
8
19 19

44
14
33
2
4
0
0
Đa số các em đã biết cách vận dụng sơ đồ tư duy để ghi nhớ nội dung kiến
thức của bài học trên và trong các bài học khác, ở các môn học khác nên chất
lượng học tập cuối năm của lớp được nâng lên đáng kể. Số HS Khá, Giỏi tăng
lên, giảm tỉ lệ HS Yếu, Kém.
Cuối năm học 2017 – 2018 tôi tiến hành một cuộc khảo sát kiểm tra đối
chứng với lúc chưa sử dụng các giải pháp trên. Kết quả đạt được như sau: Số HS
thường xuyên chú ý nghe giảng, tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn
và tự giác làm bài tập của lớp 12A4, 12A5 đạt hơn 87% cao hơn rất nhiều so với
lớp 12A1 (42%). Các em đã rất tích cực, chủ động, hứng thú và tự giác trong
quá trình học tập nên thành tích học tập đã được nâng lên rõ rệt. HS có hứng thú
và thích học môn Ngữ văn hơn.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
1. KẾT LUẬN:
Qua quá trình nghiên cứu, điều tra, thử nghiệm, khảo sát thực tế đề tài đã
được thực hiện và đã đạt một số kết quả:
- Sử dụng các giải pháp đã nêu trong SKKN vào bài dạy “Ai đã đặt tên cho
dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nâng cao chất lượng dạy học.
- Kích thích sự phát triển tư duy lô gic, rèn luyện nhiều kỹ năng sống bổ ích cho HS.
- Khơi gợi hứng thú, kích thích, bồi dưỡng tình yêu đối với môn văn.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác dạy học nói chung và môn Ngữ
văn nói riêng.
Tuy nhiên đề tài vẫn có những hạn chế: Phạm vi đề tài chỉ thực hiện trong
bài dạy “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của HPNT. Vì vậy, hướng phát triển

tiếp tục của đề tài sẽ là: vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy học môn
Ngữ văn THPT ở cả 3 khối lớp 10, 11, 12.
2. KIẾN NGHỊ:
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, tôi có một số kiến nghị sau:
17


- Khi vận dụng các PPDH và KTDH cần có sự hỗ trợ tích cực về cơ sở vật
chất, trang thiết bị từ phía nhà trường.
- Các tổ nhóm chuyên môn cần tích cực nghiên cứu các kỹ thuật dạy học tích
cực để vận dụng một cách thành thạo và có hiệu quả vào quá trình dạy học.
- Cần phải có sự kết hợp đồng bộ của tất cả các giáo viên trong trường để HS
có thể nắm vững các thao tác của các kỹ thuật dạy học.
- Giáo viên cần liên tục trao đổi, thảo luận củng cố thêm kiến thức và phương
pháp trong quá trình giảng dạy để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả dạy học.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do trình độ và thời gian nghiên cứu có
hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được những đóng góp
của đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 5 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết:

Hoàng Thị Thu Hà

18



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2002
2. Luật giáo dục năm 2005
3. Modul THPT 18: Phương pháp dạy học tích cực
4. Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường, NXB Giáo
dục năm 2001.
5. Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học – Bộ giáo
dục và đào tạo theo Dự án Việt – Bỉ. NXB Đại học sư phạm.
6. Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT (Tài liệu dành
cho giáo viên).
7. Nguồn internet

19


MỤC LỤC
NỘI DUNG

I. MỞ ĐẦU

Trang
1

1. Lí do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu


1

3. Đối tượng nghiên cứu

2

4. Phương pháp nghiên cứu

2

II . NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

3

1. Cơ sở lý luận

3

1.1.

Hứng thú và vai trò của hứng thú trong học tập

3

1.2.

Phương pháp dạt học và kỹ thuật dạy học tích cực

3


2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN

3

3. Các SKKN đã áp dụng để giải quyết vấn đề

5

3.1.
Dùng kênh âm nhạc kết hợp hình ảnh để tạo tâm thế và lôi
cuốn HS trong hoạt động giới thiệu bài mới

6

3.2.
Sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm để hướng dẫn
HS đọc – hiểu văn bản

6

3.3.
Tích hợp kiến thức liên môn làm phong phú nội dung bài
dạy

13

3.4.
Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy và kỹ thuật phòng tranh để
củng cố, khắc sâu kiến thức


14

4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động dạy học, với bản thân,
đồng nghiệp và nhà trường.

20

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.

20

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO

21


22


23


24




×