Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Nâng cao ý thức giữ gìn, phát huy giá trị ca dao, tục ngữ dân tộc thái cho học sinh trường THPT thường xuân 2 qua cái nhìn so sánh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (299.02 KB, 21 trang )

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

1. Mở đầu

2

1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu

2
3
4

2. Nội dung của sáng kiến

4
5

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
5
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
6
nghiệm.
2.3. Một số giải pháp để giải quyết vấn đề
7
2.3.1. Nâng cao nhận thức về ca dao


7
2.3.2. Nâng cao nhận thức về tục ngữ
10
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
18
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
19
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
19
3.2. Đề nghị
19
LỜI CAM KẾT
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
21

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Thường Xuân là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa.
Đây là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Thanh và cũng “là một trong không
nhiều địa phương trên đất nước ta được xác định là nơi có mặt con người ngay
từ buổi bình minh” . Trong quá trình đấu tranh dựng bản lập mường, đồng bào
các dân tộc đã đồn kết, gắn bó với nhau tạo nên bề dày truyền thống lịch sử văn
hóa, lưu giữ những nét độc đáo với những lễ hội, phong tục tập quán, trò chơi,
điệu múa, tiếng nói, chữ viết … rất đặc sắc.
Thường Xuân có 3 dân tộc chủ yếu sinh sống, trong đó, dân tộc Thái

chiếm số lượng lớn nhất. Người Thái sinh sống và giao tiếp với nhau chủ yếu
bằng ngôn ngữ Thái (tiếng Thái). Tiếng Thái đơn thuần là những từ đơn âm tiết
và có cấu trúc khá giống tiếng Việt. Tiếng Thái có 5 thanh điệu: thanh cao, thanh
thấp, thanh khơng, thanh luyến lên, thanh luyến xuống. Chính nhờ có thanh
luyến đã khiến cho tiếng Thái trở nên giàu ngữ điệu, lên bổng xuống trầm uyển
chuyển, ấn tượng, dễ nghe và lơi cuốn.
Cùng với tiếng nói, chữ viết đóng một vai trò quan trọng trong q trình
phát triển của lồi người. Khi có chữ viết, người Thái đã lưu giữ được nhiều di
sản văn hóa của cha ơng. Ngôn ngữ Thái rất phong phú, phản ánh được mọi biểu
hiện của hiện thực khách quan và thế giới chủ quan (tư tưởng, tình cảm) của con
người. Theo cộng đồng dân tộc Thái thì có văn hóa nghĩa là biết nói, biết viết, sử
dụng thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, dân ca hợp ngữ cảnh và ngược lại. Bởi họ
cho rằng: “ngôn ngữ là sự gạn lọc tinh khiết của tư duy”.

Văn bản chữ Thái cô
2


Có ngơn ngữ, văn tự riêng nên người Thái đã xây dựng được một nền văn hóa
mang đậm bản sắc của riêng mình. Có thể coi đây là sự tổng kết quá trình tư duy
về tự nhiên, xã hội bằng hình tượng của nghệ thuật ngơn từ.
Văn học dân gian (sau đây viết tắt là VHDG) dân tộc Thái cấu tạo thành
ba nhóm cơ bản:
Thứ nhất: Các câu truyện thần thoại, phản ánh về bức tranh lịch sử hình
thành bản mường, trời đất, vũ trụ, con người của dân tộc Thái từ thuở sơ khai.
Thứ hai: Các câu truyện cổ tích thường có nội dung về cuộc đấu tranh
giữa những kẻ có quyền thế, ngồi mát ăn bát vàng và người lao động thấp cổ bé
họng... Và kết quả bao giờ cũng khẳng định sự toàn thắng của yếu tố thiện và
người lao động chăm chỉ.
Thứ ba: Thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ và ca dao, dân ca. Chính nhờ sự

phát triển của các thể loại này mà ngôn ngữ Thái mới thoát khỏi lớp từ vựng cơ
bản để vươn tới tri thức văn học.
Cũng như kho tàng văn hóa các dân tộc khác, tục ngữ, ca dao của dân tộc
Thái là một kho kinh nghiệm về lao động sản xuất, về các hiện tượng tự nhiên
và về đời sống tinh thần của con người. Qua đó, thể hiện thế giới quan, nhân
sinh quan, tư tưởng, tình cảm của người lao động Thái trên các bản mường. Nhà
thơ Xuân Diệu từng nói: "Trong những câu ca dao tự nghìn đời tổ tiên để lại ...
như có đất có nước, như có cát, có biển, như có mồ hơi người...". Khi ta sống
với cao dao thì một tên đất, tên làng, tên một thổ nghi (đặc sản), một nét cảnh
vật, một thoáng lịch sử, một điệu tâm hồn người đọc gợi lên trong đó cũng lay
động đến niềm yêu thương gắn bó với q hương, xứ sở, đồng bào. Bởi vì ca
dao, tục ngữ chính là đời sống tâm tư tình cảm của nhân dân lao động các miền,
các vùng, các địa phương được đúc kết từ nghìn đời nay. Chính vì thế, so sánh
tục ngữ, ca dao của người Thái với người Kinh, chúng ta sẽ tìm thấy ở đó có sự
tương đồng thú vị. Việc so sánh khơng chỉ giúp ta hiểu được đời sống tâm hồn,
tình cảm và quá trình lao động sản xuất của người dân lao động Thái và Kinh
mà còn cho ta thấy sự giống và khác nhau về nếp sống, nếp nghĩ, phong tục tập
quán, văn hóa… của hai dân tộc. Từ đó, có những phân tích, đánh giá và đặt ra
những vấn đề cần lý giải. Chính vì vậy, tơi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài Nâng
cao ý thức giữ gìn, phát huy giá trị ca dao, tục ngữ dân tộc Thái cho học sinh
trường THPT Thường Xuân 2 qua cái nhìn so sánh.
Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài, bài viết này xin chỉ trình bày những
kết quả bước đầu của việc so sánh. Cụ thể là tìm hiểu những nét tương đồng về
nội dung giữa tục ngữ, thành ngữ dân tộc Thái và thành ngữ, tục ngữ dân tộc
Kinh. Từ đó, hình thành nên một tư duy nhận thức mới cho học sinh về kho tàng
ca dao, tục ngữ, thành ngữ đặc sắc của dân tộc mình, góp phần lưu giữ, duy trì,
bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa tinh thần quý báu cho các thế hệ mai
sau.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua so sánh giữa thành ngữ, tục

ngữ của dân tộc Thái và thành ngữ, tục ngữ của dân dộc Kinh, giúp học sinh
3


nhận rõ sự tương đồng trong suy nghĩ, nhận thức, khám phá thế giới tự nhiên, xã
hội, con người của hai dân tộc. Đồng thời, các em sẽ thấy nét độc đáo, đặc sắc,
sự phong phú, giàu có của văn hóa, văn học dân tộc Thái. Từ đó, có ý thức giữ
gìn, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tinh thần q giá của dân tộc mình.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Trong phạm vi một đề tài nhỏ, tôi chỉ xin được tập trung vào vấn đề: so sánh
phạm vi ca dao, tục ngữ của dân tộc Thái và dân tộc Kinh cho học sinh THPT
Thường Xuân 2 để nâng cao nhận thức của học sinh trong việc giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc mình.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện thành công đề tài, tôi có sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu
- Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế, thu thập thông tin

4


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Tục ngữ, ca dao của dân tộc Thái rất phong phú, phản ánh nhiều phương
diện trong cuộc sống, thể hiện một cách sâu sắc vẻ đẹp trong tâm hồn và trí tuệ
của đồng bào Thái.
Nội dung và nghệ thuật của tục ngữ, ca dao Thái có nhiều điểm tương
đồng, gần gũi với tục ngữ, ca dao của người Việt nhưng vẫn có những nét riêng
trong cách nghĩ, cách nói, thể hiện ở lối diễn đạt mộc mạc, nơm na, hình ảnh so

sánh cụ thể, sinh động và không kém phần thú vị (sông Mã cạn bằng đĩa, sông
Chu cạn bằng đũa, sông gác lên mái núi, nước tràn vào mây, bông lúa tựa đuôi
chuột...).
Cũng như các thể loại VHDG khác tồn tại gắn với sinh hoạt văn hóa của
cộng đồng, tục ngữ của người Thái được vận dụng trong lời nói hàng ngày, vừa
cụ thể, sinh động, vừa mang tính trí tuệ và triết lý. Ca dao, dân ca có mặt trong
lời ru, diễn xướng, lễ hội, trong các lối hát đối đáp, giao duyên với nhiều đề tài
và nội dung phong phú.
Tục ngữ, ca dao nói riêng, VHDG của đồng bào Thái nói chung đều là tài
sản tinh thần quý báu trong kho tàng VHDG của các dân tộc anh em trên đất
nước Việt Nam. Để giữ gìn, bảo vệ vốn q đó, chúng ta cần tích cực sưu tầm,
học hỏi những thế hệ đi trước, tìm hiểu những cái hay cái đẹp cả về nội dung và
hình thức nghệ thuật, làm cho giá trị của chúng được lưu giữ, vận dụng và phổ
biến rộng rãi trong đời sống tinh thần của cộng đồng, góp phần tạo nên bản sắc
riêng của mỗi dân tộc.
Trong Nghị quyết TW9 khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu,
động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa được đặt ngang hàng với kinh
tế, chính trị, xã hội. Việt Nam cần phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, thống nhất trong sự đa dạng. Phải xây dựng nền văn hóa và con
người mới phát triển tồn diện, mang đặc trưng nền văn minh con Lạc cháu
Hồng, tạo nền tảng để năm 2020 nước ta trở thành nước cơng nghiệp phát triển.
Như vậy, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng
con người để phát triển văn hóa với những đặc tính cần thiết của nó là quan
điểm chỉ đạo đúng đắn, mạnh mẽ, quyết liệt của Đảng ta trong những năm gần
đây. Do đó, việc tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho học sinh hiểu biết, nắm
vững những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc là hết sức cần thiết; đặc biệt là
những giá trị văn hóa đặc sắc đó lại vơ cùng quan trọng trong việc hình thành và
phát triển nhân cách của thế hệ trẻ.

Với học sinh miền núi như học sinh trường THPT Thường Xuân 2, đại đa
số là con em dân tộc Thái. Đó là một điều kiện thuận lợi cho việc sưu tầm, học
tập, phát huy giá trị bản sắc của ca dao, tục ngữ nói riêng và VHDG nói chung.
Tuy nhiên, để làm được điều này cũng không phải là điều dễ dàng. Vì thời lượng
dành cho việc học ca dao, tục ngữ dân gian Thái khơng có trong chương trình
5


THPT. Chỉ khi lồng ghép vào trong các tiết học VHDG Việt Nam hoặc có buổi
ngoại khóa riêng biệt để học sinh tìm hiểu, sưu tầm, liên hệ, so sánh, đối chiếu
thì học sinh mới có cơ hội nắm bắt những thành tựu đặc sắc của văn học dân tộc
mình. Khi học sinh xác định đúng đắn ý nghĩa và trách nhiệm của bản thân trong
việc bảo tồn, gìn giữ, xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc ở thời đại hiện nay thì
đồng nghĩa với việc giáo viên đã góp phần nâng cao sự hiểu biết của các em về
giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1. Thực trạng khách quan:
Hiện nay, công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa còn nhiều bất cập.
Nguy cơ thất truyền, mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể và
sự xuống cấp của các di tích lịch sử vẫn còn ở mức báo động... Trong khi cuộc
sống xã hội ngày càng sơi động thì khơng gian dành cho các loại hình văn hóa
truyền thống ngày càng bị thu hẹp hoặc bị thay đổi. Giới trẻ hiện nay số đông
không hiểu hết giá trị của các di sản văn hóa; có xu hướng ưa chuộng những
hình thức nghệ thuật mới, hiện đại, ít quan tâm tìm hiểu cái hay, cái đẹp của
nghệ thuật dân tộc. Bởi vậy, trường học, nhất là các trường miền núi, việc giúp
cho học sinh được tiếp xúc với văn hóa, VHDG của dân tộc mình là điều hết sức
cần thiết và điều đó hồn tồn có thể làm được.
Khung chương trình THPT (cụ thể là chương trình lớp 10) dành cho
VHDG tương đối nhiều tiết nhưng lại khơng có tiết nào dành cho ca dao, tục
ngữ các dân tộc. Trong chương trình có một số đoạn trích học về VHDG các dân

tộc, đó là trích đoạn Chiến thắng Mtao Mxây (sử thi Đăm Săn), đoạn trích Lời
tiễn dặn (Truyện thơ Xớng chụ xon xao – Tiễn dặn người yêu). Nếu muốn giới
thiệu đến học sinh những giá trị độc đáo của ca dao, tục ngữ dân tộc mình thì chỉ
có thể lồng ghép vào trong các tiết học đó hoặc tổ chức một buổi ngoại khóa
riêng để thực hiện.
2.2.2. Thực trạng chủ quan:
Như trên đã nói, đại đa số học sinh trường THPT Thường Xuân 2 là học
sinh dân tộc Thái. Nhưng các em lại khơng được tìm hiểu về kho tàng ca dao,
tục ngữ phong phú, độc đáo của dân tộc mình trong chương trình THPT. Học
sinh hầu như khơng biết đến tên các tác phẩm văn học dân gian của dân tộc
mình cũng như tên các nhà sưu tầm, biên soạn mặc dù họ đang sinh sống và làm
việc tại địa phương. Hơn nữa, việc nhận thức rõ khái niệm văn hóa và các giá trị
cơ bản của văn hóa với những biểu hiện cụ thể trên các phương diện cụ thể của
nó khơng phải là điều dễ dàng. Bởi vì, các em ít được tiếp xúc với các giá trị văn
hóa hoặc có tiếp xúc nhưng chưa nhận diện được bản chất giá trị của nó.
Để góp phần khắc phục thực trạng trên, đồng thời, nhằm giúp các em có
được ít nhiều vốn hiểu biết về văn học dân gian của dân tộc mình (dân tộc Thái),
cụ thể là ca dao, tục ngữ, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Nâng cao ý thức giữ gìn,
phát huy giá trị ca dao, tục ngữ dân tộc Thái cho học sinh trường THPT
Thường Xuân 2 qua cái nhìn so sánh.
6


2.3. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
Phần thực trạng, đã khẳng định: việc giúp cho học sinh được tiếp xúc với
văn hóa, văn học dân gian của dân tộc mình (dân tộc Thái) là điều hết sức cần
thiết. Và thiết nghĩ, điều đó hồn tồn có thể làm được. Bản thân tôi là người
dân tộc Thái, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Q́ Ngọc Châu
Thường. Tơi u q hương mình, tơi tự hào về các giá trị văn hóa của dân tộc
mình, trong đó có giá trị đặc sắc của văn học dân gian. Vì lòng đam mê, vì ý

thức giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, tơi đã tham gia học lớp chữ Thái tại Trung
tâm giáo dục Thường Xuyên huyện Thường Xuân và đạt loại Giỏi. Trong suốt
khóa học, bản thân tôi không những biết, hiểu về chữ viết dân tộc mình mà còn
học được rất, rất nhiều điều thú vị từ ca dao, tục ngữ và các thể loại VHDG khác
của dân tộc Thái. Chính điều đó đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này với hi vọng
cung cấp cho học sinh của mình một vốn tri thức cần thiết về ca dao, tục ngữ của
dân tộc mình. Từ đó, giáo dục ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa đặc
sắc của dân tộc cho các em.
Với ý thức đó, tơi đã tìm hiểu, sưu tầm được một khối lượng ca dao, tục
ngữ dân tộc Thái tương đối lớn. Từ đó, khảo sát cả ca dao, tục ngữ dân tộc Kinh
để học sinh có cái nhìn đối chiếu. Từ cái nhìn so sánh, học sinh sẽ nhận diện
được sự giống và khác nhau về cách cảm, cách nghĩ, cách khám phá thế giới tự
nhiên, xã hội, con người… giữa hai dân tộc này.
Trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp ứng xử, người Thái qua
nhiều thế hệ đã tích lũy kinh nghiệm, tạo nên một nguồn tri thức phong phú, đó
là những câu tục ngữ, ca dao.
Đi sâu tìm hiểu ca dao, tục ngữ của người Thái với người Kinh, chúng ta
thấy có nhiều nét tương đồng. Sự tương đồng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực: từ
sản xuất đến đời sống, từ tư tưởng đến tình cảm, thế giới quan đến quan niệm
sống, quan niệm về giá trị đạo đức, nhân văn…
2.3.1. Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, giá trị của Ca dao.
Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn
xướng, được sáng tác nhằm diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của
nhân dân trong các mối quan hệ lứa đơi, gia đình, q hương, đất nước…
Ca dao có nhiều âm sắc, điệu hồn, lời thơ nên vô cùng phong phú. Có
những lời ca mang âm điệu buồn thương, xót xa khi cuộc sống còn nhiều đau
khổ, cay đắng; Có những lời ca mang tình cảm u thương, đằm thắm ân tình;
Lại cũng có những lời ca vui tươi, hài hước, dí dỏm mang tinh thần lạc quan của
người lao động.
Ca dao của dân tộc Thái cũng không nằm ngồi biểu hiện chung đó.

Trong SGK Ngữ văn 10 tập 1, học sinh được học cả 3 chùm ca dao với những
bài đặc sắc, tiêu biểu. Khi học những bài ca dao này, giáo viên có thể kết hợp
giới thiệu với các em những bài ca dao có nội dung tương tự của dân tộc Thái.
Học sinh sẽ nhận ra dân tộc Thái cũng có kho tàng VHDG phong phú, cũng có
những câu ca dao đặc sắc mà nếu khơng được giới thiệu, chắc chắn các em sẽ
không biết.
7


2.3.1.1. Những lời ca yêu thương tình nghĩa.
Trong kho tàng ca dao của người Thái và người Kinh, số lượng ca dao nói
về tình đồn kết gia đình, đồn kết cộng đồng khá phong phú. Qua đó thấy được
tinh thần đồn kết được xây dựng bản mường từ gia đình - tế bào của xã hội được người Thái và người Kinh rất coi trọng. Nó là bài học của con người qua
quá trình đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và chống kẻ thù để bảo vệ cuộc
sống bình yên. Vì thế, tình cảm gia đình là một tình cảm rất thiêng liêng, rất
đáng trân trọng.
Đó là tình cảm mẹ dành cho con qua lời ru yêu thương, tha thiết:
Nón sé nờ lực ới
Mè pảy hày chằng pộc á xày cày pà má hả
Mè pảy ná chằng pộc á mè pả đúc má hơ
(Hội văn nghệ dân gian, 2012 - Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa
dân tộc, Hà Nội)
(Ngủ ngoan nhé con ơi/Mẹ đi rẫy lấy trứng gà về đón/Mẹ đi ruộng bắt cá trê
đem về con ăn)
Đây cũng chính là tình cảm của người mẹ trong ca dao của người Việt:
Cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ còn đi cấy đồng sâu chưa về
Bắt được con trắm con trê
Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn
Đó là lời hứa thủy chung của đơi trai gái yêu nhau:

Mứa nhám lớ
Nắm Mà henh tò lẻ
Nắm Té henh tò thù
Pả bù dòn kí đảo
Háu còi báng cá
(Hội văn nghệ dân gian, 2012 - Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa dân
tộc, Hà Nội)
(Bao giờ nước sông Mã cạn bằng đĩa/ Nước sông Chu cạn bằng đũa/ Cá bu
nhảy đớp sao/ Thì ta hãy quên nhau)
Người Thái có cách nói, cách nghĩ với lối tư duy giàu hình ảnh, rất cụ thể, sinh
động và độc đáo. Sự so sánh rất dễ hình dung: Sông Mã cạn bằng đĩa, sông Chu
cạn bằng đũa… Cũng với nội dung tương tự, ca dao người Việt có bài:
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đơi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa thì cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
Đó còn là nỗi nhớ da diết trong tình u đơi lứa:
Háu cảy khá
Bưởn dù tắng hủa mí nghến lứm hùng
Mọc dù hủa ban lứm hun cảng phá
Đẹt hưn tếng ná mết cứn hùng lứm nón
8


(Hội văn nghệ dân gian, 2012 - Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa dân
tộc, Hà Nội)
(Ta xa nhau/Trăng trên đầu quên sáng/ Sương đầu bản quên giăng/Nắng tràn
nương anh chưa ngủ)
Nỗi nhớ da diết, khắc khoải, triền miên này được biểu hiện vô cùng phong phú
trong ca dao của người Việt:

Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hơm sánh với sao Mai chằng chằng
Mình ơi! có nhớ ta chăng?
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.
Ngoài ra, trong ca dao người Thái còn có rất nhiều bài nhắc đến tình bạn,
tình u đơi lứa, nỗi nhớ thương gắn với hình ảnh chiếc khăn, tấm áo:
“Ai dược á nóong mứa tằm hục máy, dược á nóong mứa xay hục phá, dược đay
la boc máy mứa tènh hướn chái”.
(Anh muốn đưa em về xe tơ dệt lụa, muốn đưa em về ngồi canh cửi dệt chăn,
muốn cùng em xây mái nhà hạnh phúc mai sau tươi đẹp).
Hay: Tả nghến tằm ngà món, tả nghến chón nhọt bỏn, cán ci ma léo pán yểu
cú ới; Cái chớ ní leo là cốn là pán, pớ cò xọc hả táng quang đỉ nờ, hơ mèn hủa
chở pán yểu nờ. (Nguồn Internet).
(Mặt trời sắp ngả ngọn dâu, sắp chạm ngọn khoai, ngọn chuối rồi bạn yêu ơi;
Chiều đến rồi giờ khắc này phải chia tay thôi, ai cũng tìm đường rộng thênh
thang, đi theo con đường mơ ước, nhưng đừng quên nhau bạn yêu quý nhé).
Tất cả những lời ca, câu hát đều thấm đẫm tình cảm yêu thương, nỗi
thương nhớ, gắn bó sâu nặng, lòng thủy chung ngàn vạn năm khơng qn… Đó
chính là tình cảm chân thành, mộc mạc, chân chất của người dân lao động Thái
từ thuở xa xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
2.3.1.2. Những lời than thân mang niềm xót xa, cay đắng
Ca dao Thái khơng chỉ là những lời yêu thương tình nghĩa mà còn là
những lời tâm sự tận cõi lòng được bật ra khi cuộc sống không được xuôi chèo
mát mái, khi đâu đó vẫn còn những nỗi đau khiến con người bị tổn thương.
Đó là lời trách móc khi đối phương khơng chung thủy, khơng gắn kết:
Ai bà nắm nng cổn cò đếch đăng sản hẻ thoi hàng
Ai bà nắm noóng cổn cò dàng đăng sản pối xờ hỉn
Xản xờ hỉn tấng phả nhắng lọt tấng cón
Xản xờ chón tố nói nhắng lọt tấng tổi
(Anh nói với em như đan chài sót mắt /Anh nói với em như đan sọt sót nan /Đan

thành sọt bỏ đá lọt cả hòn, bỏ con ton lọt cả đôi /Lời anh như giọt sương /Chưa
nắng đã tan…)
Hay: Mồng hển cúp, cúp pìn hau hướn / Mồng hển bưởn tấng đảo
Bướn đảo tang pìn mốn hau pha / Mồng hển la bọc máy tang cồng cúp cải
(Nhìn thấy nón /Nón xoay che khuất nhà /Nhìn thấy trăng /Trăng sao luồn vào
mây /Nhìn thấy lưng áo em /Em quay mặt khơng nhìn…)
Đó là những lời đau khổ, nuối tiếc khi duyên phận dở dang:
9


Ào tớng nắm, ai bò tam mồng mứa ná
Ào tớng xút tớng phá bò tam mồng mứa ban
Mồng hển quan hướn noóng
Ai bò tam ngằm họt chan mòn
Noóng đà mi hướn mí giao
(Nhớ bờ sơng anh khơng dám trơng bờ suối / Nhìn thấy cát, thấy cuội
Anh không dám nhìn bờ ruộng, bờ mương / Nhớ màn, thương chăn
Anh không dám nhìn lên nương em / Nhìn thấy nhà em, anh không dám nhớ
Anh tiếc thay em đã có chồng…)
(Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái – NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Lời than ấy nghe đau đó phảng phất tâm sự của chàng trai trong bài ca dao:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay…
Còn đây là lời tâm sự của một chàng trai và cũng là nỗi lòng của cô gái. Họ yêu
nhau nhưng cô gái phải theo chồng vì sự gả ép của cha mẹ:
Xẻ hénh ai phắn máy cư cảng kem / Nở cằm coóng tác bò lắc
Tì lớ náng ược tắc ược tải / Mè náng bò hơ
Tì lớ ơi mứng hay tò bơ / Mè xồn lẳng mứa

(Lòng anh định chặt một cây / Sao cây không ngã, gió lay sớm chiều
Nơi em đã trọn tình yêu / Mong sớm chẳng được, mong chiều cũng không.
Nơi em nước mắt ròng ròng/ Cha mẹ em ép, buộc lòng em theo)
Đó cũng là nỗi lòng của biết bao đôi trai gái trong xã hội phong kiến xưa dù yêu
thương tha thiết nhưng không đến được với nhau do sự cấm đốn của cha mẹ.
Họ khơng có quyền lựa chọn hạnh phúc cho riêng mình. Chính vì vậy, khi đến
tuổi yêu đương, họ mới lo lắng đến thế:
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi khơng n một bề.
Nói chung, qua sự khảo sát về mảng ca dao, chúng ta thấy ca dao người
Thái vô cùng phong phú, đa dạng, phản ánh được nhiều phương diện trong đời
sống của con người. Đặc biệt, thể hiện sâu sắc vẻ đẹp trong tâm hồn, tình cảm,
trí tuệ của đồng bào Thái. Đồng thời, chúng ta cũng nhận ra có sự tương đồng về
nội dung của ca dao Thái và ca dao của người Việt.
Nhìn vào những dẫn chứng đã nêu, chúng ta dễ dàng nhận thấy, ca dao
của người Thái cũng thể hiện những tình cảm yêu thương tình nghĩa và những
lời than thân với nhiều cung bậc tâm trạng của con người trong cuộc sống. Điểm
khác biệt của ca dao dân tộc Thái là ở cách nói, cách bộc lộ, thể hiện đời sống,
tâm tư tình cảm bằng lối diễn đạt mộc mạc, nơm na, giàu hình ảnh so sánh, sinh
động, thể hiện rất rõ lối nghĩ, lối tư duy của người dân tộc.
2.3.2. Nâng cao giá trị nhận thức về tục ngữ:
Trong kho tàng VHDG, tục ngữ là một thể loại vô cùng phong phú, đa
dạng. Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình
10


ảnh, vần, nhịp, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thường được dùng trong ngôn ngữ
giao tiếp hằng ngày của nhân dân.
Chính vì ngắn gọn, có vần, có nhịp nên dễ nhớ, dễ thuộc và đã trở thành câu nói
cửa miệng trong giao tiếp hàng ngày của nhân dân ta.

Nội dung của tục ngữ đồng bào Thái và đồng bào người Việt đều rất
phong phú, đa dạng.
2.3.2.1. Tục ngữ về lao động sản xuất:
Vì dân tộc ta là dân tộc thuần nông nghiệp nên mảng ca dao về nông
nghiệp vô cùng phong phú. Trong quá trình lao động sản xuất, người Thái đã có
nhiều kinh nghiệm thực tiễn trên lĩnh vực làm lúa nước, coi trọng những khâu
liên hoàn trong việc cấy trồng như nước, giống, phân. Họ khuyến khích phát
triển ruộng nước, hạn chế phát nương làm rẫy: "Hày tểm tả bàu pản na hời nói"
(Nương bao la khơng bằng ruộng nhà một thửa)
(Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn, Tục ngữ Thái Thanh Hóa, NXB Hội VHNT
Thanh Hóa).
Làm nương rẫy phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nếu năm nào mưa gió
thuận hòa thì năm đó được mùa, còn nếu năm nào thời tiết khắc nghiệt thì mất
mùa, cuộc sống bấp bênh. Mặt khác làm nương rẫy là phá rừng, huỷ hoại môi
sinh, môi trường ảnh hưởng đến đời sống con người, chỉ làm ruộng nước mới
chủ động, con người có thể áp dụng kỹ thuật, đưa năng suất sản lượng lên cao.
Do vậy, trong nhận thức, người Thái cho rằng dù nương rẫy rộng bao nhiêu cũng
không chắc ăn bằng một thửa ruộng con.
Ý thức làm ruộng còn được thể hiện thông qua việc lập mường, bản.
Hướng nhà của người Thái thường dựa lưng vào núi, mặt trước nhà quay ra
hướng sông suối hoặc cánh đồng để tận hưởng nguồn nước:
"Khau dù ná, pả dù nắm
Chàng ế chằng đay kí, non nghến tải giạc"
(Lúa ở dưới ruộng, cá ở dưới nước
Khéo làm thì có ăn, siêng nằm thì chết đói)
(Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn, Tục ngữ Thái Thanh Hóa, NXB Hội VHNT
Thanh Hóa).
Quan niệm, ý thức đó rất giống với người Kinh:
Có làm thì mới có ăn
Khơng dưng ai dễ đem phần đến cho

Do gắn bó lâu đời với nghề lúa nước nên trong kho tàng tri thức dân gian
Thái còn bảo lưu được nhiều kinh nghiệm liên quan đến nghề gieo trồng lúa
nước. Quá trình khai khẩn đất đai làm ruộng nước đã giúp người Thái rút ra
nhiều kinh nghiệm, chọn những nơi đất màu mỡ để sản xuất và sáng tạo ra ruộng
bậc thang. Từ lao động sáng tạo, người Thái tạo ra sự liên kết sức mạnh cộng
đồng, sức mạnh ấy có cội nguồn từ nhu cầu tạo ra nhiều lúa gạo để nuôi sống
con người: “Nhá ế hày pả khả / Nhá ế ná tỉn ban”
(Đừng làm rẫy cỏ tranh /Đừng làm ruộng đá sỏi)
Hay:
“Đẳm ná bưởn chiểng liếng mết ban
11


Đẳm ná bưởn xảm phắc lán tảng khau”
(Làm ruộng tháng giêng nuôi cả bản /Làm ruộng tháng ba rau bợ thay cơm)
Hoặc: “Khau đỉ dón ca, lực đỉ dón nu” (Lúa tốt nhờ mạ, con tốt nhờ sữa).
(Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn, Tục ngữ Thái Thanh Hóa, NXB Hội
VHNT Thanh Hóa).
Đây là mảng ít có sự tương đồng nhất trong kho tàng tục ngữ, thành ngữ
của người Thái và người Kinh. Bởi lẽ điều kiện tự nhiên cũng như tập quán canh
tác của người Thái khác người Kinh. Tuy nhiên, cùng trồng lúa nước, nên trong
kho kinh nghiệm sản xuất của người Thái, những câu nói về sản xuất lúa nước
rất giống với kinh nghiệm của người Kinh được đúc kết trong tục ngữ. Người
Thái ý thức rất rõ trong việc trồng lúa nước, thì yếu tố nước vơ cùng quan trọng:
- Mí nắm kí chằng mí đỉn dù (Có nước uống mới có đất ở)
- Ế ná mưởng đỉ / Đay khau tểm dỉa
(Làm ruộng mương phai tốt / Ắt có thóc đầy bồ đầy bịch)
- Bưởn xì á nắm ca / Bưởn ha á nắm ná
(Tháng tư giữ nước mạ / Tháng năm giữ nước ruộng)
(Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn, Tục ngữ Thái Thanh Hóa, NXB Hội

VHNT Thanh Hóa).
Với người Thái, nguồn nước tự nhiên rất quan trọng. Có nước là có sự
sống. Có nước là có thể cấy trồng. Trồng lúa nước lại càng không thể thiếu
nước. Những cánh đồng của người Thái được tạo nên bằng cách “dẫn thủy nhập
điền” đã đúc kết trong câu thành ngữ ngắn gọn: “mưởng, phải, lỉn, lái”. Có làm
mương, phai tốt thì cây lúa mới có nước, mới cho nhiều thóc gạo. Người Kinh
cũng đặt tầm quan trọng của nước lên hàng đầu trong quá trình canh tác:
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
Kinh nghiệm sản xuất của người Kinh thiên về cấy trồng, mùa vụ còn
kinh nghiệm sản xuất của người Thái ngoài việc trồng trọt, chăn ni, còn có
săn bắn, hái lượm, cách thức đi rừng, kinh nghiệm khai thác lâm sản…
2.3.2.2. Tục ngữ về kinh nghiệm sống
Vượt lên những kinh nghiệm thông thường được con người đúc rút qua
thực tiễn, thể hiện nhân sinh quan, mối quan hệ ứng xử giữa người với người,
tục ngữ Thái có những câu đậm tính triết lý, khái quát những quy luật của tự
nhiên, xã hội, thể hiện một trình độ tư duy cao, có tính biện chứng. Đọc những
câu sau, ta thấy cái nhìn của người Thái về thế giới không phải là bất biến, trái
lại, rất động:
- Không ai gặp xấu cả năm/ Không ai gặp tốt cả đời
- Người biết già / Rượu biết nhạt
- Người ta có gặp vận rủi/ Qua vận rủi rồi cũng phải tới vận may
Tuy thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh
lại gần nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn
thế giới với con mắt "vạn vật hữu linh". Tục ngữ Thái có câu:
Một cây to bằng cái đũa cũng có thần/Một miếng đất bằng cái quạt cũng có
chủ
12


Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh: Đất có thổ cơng, sơng có hà bá

Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật
triết lý: Hoa tàn hoa về cây / Hoa úa hoa về cành, cũng như người Kinh đã quan
niệm: Lá rụng về cội
Quan niệm của người Thái về khả năng của con người trong nhận thức thế giới
khách quan cũng rất gần với triết học hiện đại vì nó thừa nhận thế giới là vơ
cùng tận, nhận thức của con người về thế giới luôn hữu hạn:
Không ai nhìn thấy gáy / Không ai biết ngày tận
Những câu tục ngữ trên rất gần với quan niệm của Kinh qua các câu tục ngữ:
Không ai nắm tay được đến tới, gới tay được đến sáng
Nhìn cuộc sống theo quy luật nhân quả, người Thái có cái nhìn rất hướng thiện:
Làm lành ắt gặp phúc
Làm ác thể nào cũng gặp ác
Người khơng đáp thì ma cũng đáp
Quan niệm đó trùng với quan niệm của người Kinh: Ở hiền gặp lành, ở ác gặp
ác/Gieo gió gặt bão.
Qua những câu tục ngữ đúc rút kinh nghiệm về nhìn nhận, đánh giá con
người, có thể thấy người Thái cũng như người Kinh, đều nhìn nhận con người về
thể chất và nhân cách chính là sản phẩm của tự nhiên và môi trường xã hội. Cho
nên, trong việc chọn vợ gả chồng người Thái khuyên răn người ta phải chọn
dòng giống, nhìn vào gia phong:
- Lấy vợ trông mẹ vợ / Tậu trâu coi con đầu đàn
- Kén vợ, kén chồng không chỉ đi tìm gương mặt bề ngoài
Cũng giống như quan niệm của người Kinh:
- Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh
- Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu
Trong quan hệ ứng xử, người Thái cũng có cái nhìn tinh tế và sâu sắc:
́ng rượu đừng nói chuyện ruộng/ Ngủ với vợ (chồng) không nói chụn tình

Để con người sống có nghĩa, có tình, sống hướng thiện, trong kho tàng tục

ngữ của người Thái cũng như người Kinh, có nhiều câu đúc rút những kinh
nghiệm giáo dục con cháu. Trách nhiệm giáo dục con cháu thuộc về ông bà, cha
mẹ. Nếu như người Kinh quan niệm “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “con dại,
cái mang” thì người Thái cũng quan niệm “Con cháu gây tội ác, tất cả bậc cha
mẹ đều phải lo”. Việc đề cao giáo dục trong gia đình là bài học quý về giáo dục
mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Người Thái có những câu răn dạy:
Người già hãy bảo con cháu
Để quá thì chúng lớn khó bảo
Lúc quá thời dạy dỗ
Con cháu thành đần độn
Lớn lên tưởng mình cao bằng núi
Những đỉnh núi cao không vượt gối của người
13


Và người Kinh cũng có những câu tương tự:
́n cây từ lúc còn non/ Dạy con từ thưở còn thơ
Trong nền văn minh nông nghiệp, người Thái cũng như người Kinh rất trọng
kinh nghiệm. Tục ngữ Thái có câu:
Kẻ khơn ngoan nhà tạo không bằng người đi dạo khắp muôn
mường
Đi nhiều thấy nhiều điều khôn ngoan hơn mình
Và tương tự, người Kinh cũng quan niệm:
- Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
- Đi cho biết đó biết đây / Ở nhà với mẹ biết ngày nào khơn
Vì đề cao kinh nghiệm, nên người Thái cũng như người Kinh rất tơn trọng người
già. Gìa làng, trưởng bản ln là người có uy tín, được cộng đồng tơn sùng. Tục
ngữ Thái có câu:
Cây nhọn khơng bằng sắt cùn / Trẻ hiểu biết không bằng già quên
Cũng giống như quan niệm của người Kinh: Khơn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già

Có thể nói, người Thái có cả một kho tàng kinh nghiệm rất phong phú,
đúc rút từ cuộc sống xã hội, cho thấy cộng đồng người Thái có những mối quan
hệ xã hội khá phong phú ở trình độ xã hội đã được tổ chức cao.
2.3.2.3. Tục ngữ về ứng xử và những chuẩn mực đạo đức trong xã hội
Chúng ta biết rằng, tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là
bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất là vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục,
hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng tình
cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người Thái kết
tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái khuyên răn
con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết với nơi ăn,
trốn ở nơi mình sinh sống: Rời nơi ăn chốn ở mãi mãi rồi cũng thành ma
Bỏ nhà mất vò mẻ
Bỏ chốn mất nơi ăn
Bỏ bản mất cây ăn quả
Rời làng bỏ gốc trầu
(Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng, Luật tục Thái ở Việt Nam, NXB Văn hóa dân
tộc, Hà Nội).
Tương tự như vậy, người Kinh có câu: Ta về tắm nước ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Tinh thần đồn kết cộng đồng, mn người như một, tạo thành sức mạnh được
người Thái ví von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:
- Vỗ tay cần nhiều ngón
Bàn bạc cần nhiều người
- Khỏe một mình làm không được
Khôn một mình làm không xong
Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:
- Ngựa chạy có bày, chim bay có bạn
- Bầu ơi thương lấy bí cùng
14



Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Các nhà dân tộc học gọi người Thái là người của “nền văn minh thung
lũng”. Tục ngữ Thái có câu: Xa kí tòi phí, Táy kí tòi nắm (Xá ăn theo lửa, Thái
ăn theo nước). Vì thế, tục ngữ Thái có rất nhiều câu khuyên con người phải biết
chăm làm, không ngại việc:
- Phải lam lũ mới có / Phải chịu khó mới giầu
- Người dại nặng chân / Người khôn nhẹ bước
Tất cả mọi của cải trên đời đều từ bàn tay lao động của con người. Khơng có gì
tự dưng sẵn có: Của ngon ai cũng biết / Cớ cùng bạn làm lụng, nó khắc tới mình
Lao động còn khiến con người thêm hiểu biết, thơng minh, tài giỏi. Quan niệm
đó rất duy vật và có cơ sở khoa học:
Nhẫn được thành người khôn / Chăm được thành người tài
Tục ngữ người Kinh cũng khuyên con người chăm chỉ làm ăn:
- Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ mang phần đến cho
- Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ
Người Thái cho rằng nếu không lao động mà chỉ hưởng thụ thì của cải dẫu có
bao nhiêu cũng hết: Chẳng làm gì, gác chân ăn, mỏ vàng bằng trái núi cũng hết.
Người Kinh đúc kết điều này trong một câu tương tự: Miệng ăn núi lở.
Người Thái khuyên con cháu phải biết tự lực, chỉ có của cải do chính mình làm
ra mới đảm bảo cuộc sống được ổn định, bền vững:
Của cải từ tay chân làm ra là nguồn tuôn chảy
Của cải từ cha mẹ để lại là nước lũ cuốn đi
Còn người Kinh dặn dò con cháu: Của làm ra là của trong nhà
Của ông bà là của ngoài sân
Của phù vân có chân nó chạy
Khuyên con người phải biết chăm chỉ lao động, tiết kiệm, tục ngữ Thái
cũng dạy người ta không tham lam, trộm cắp: Không tham lam của cải / Đừng
trộm hái rau quả của vườn người. Cũng như tục ngữ của người Kinh: Đói cho

sạch, rách cho thơm
Người Thái đặc biệt coi trọng tình cảm gia đình và những quy ước đạo
đức trong phạm vi gia đình. Con cái ln ln phải vâng lời ông bà, cha mẹ,
không được hỗn hào làm cha mẹ phiền lòng:
- Đừng làm cho cha mẹ mếch lòng / Không thét mắng thốt những lời nặng tiếng
- Ơn mẹ dưỡng cha sinh / Nhọc nhằn ấy hơn cả trái núi lớn
Người Kinh cũng có những hình ảnh tương tự nói về cơng lao trời biển của mẹ
cha đối với con cái và nghĩa vụ của con cái đối với các đấng sinh thành:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Nếu người Thái cho rằng con người có tổ tơng như cây có gốc, chim có tổ, thì
người Kinh lại có thêm hình ảnh “sơng có nguồn” bên cạnh “cây có cội”:
15


Con người có cố có ông / Như cây có cội, như sông có nguồn
Trong những chuẩn mực về đạo đức, người Thái đặc biệt chú trọng đến
lời ăn tiếng nói. Cũng như người Kinh, quan niệm “lời nói, đọi máu”, nên răn
dạy con người cách ăn nói như thế nào cho phải. Vì thế, khơng có gì khó hiểu
khi trong tục ngữ, thành ngữ Thái, số câu khuyên bảo con người cẩn trọng trong
lời ăn tiếng nói khá nhiều. Người Thái kỵ nhất là nói dối:
Khơng ăn gian nói dối
Nhiều lần sẽ lụy thân
Đưa thân vào vòng tội lỗi
Và khẳng định: Đường dối trá tuy biết mọc mầm / Nhưng cũng có lúc phải tận
Người Kinh cũng có câu: Thật thà là cha quỷ quái để đề cao những lời nói thật,
lên án những kẻ hay dối trá. Nói dối hại thân vì nói dối khơng thể lừa người
được mãi. Những gì là sự thật sẽ nhanh chóng được phơi bày:

Nói dối người sẽ biết
Tiểu nhân có tai như tai nai;
Bậc tạo có tai hình ống tre, ống bương
Tục ngữ người Kinh có nhiều câu tương tự:
Ở đây tai vách mạch rừng
Có mồm thì nói xin đừng ba hoa
Tục ngữ Thái khuyên con người tránh xa những kẻ nịnh hót, cơ hội:
Đừng ăn nấm một chân
Đừng với theo những kẻ nịnh hót, mách qué
Không nên nghe lời xúc xiểm, bịa đặt
Bởi thế nên, nhiều câu tục ngữ của người Thái khẳng định con người cần phải
biết cách nói năng sao cho không cộc cằn, không mất lòng người khác, cũng
đừng tự phụ, huênh hoang… Nếu lời nói dễ nghe, sẽ làm đẹp lòng mọi người:
Thương nhau ở bát canh
Mến nhau ở lời nói
Tục ngữ của người Kinh diễn đạt điều ấy qua những câu ngắn gọn:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Cả người Thái và người Kinh đều dạy bảo con cháu phải suy nghĩ chín chắn
trước khi cất lời nói. Tục ngữ Thái có câu: Nói phải nghĩ / Bàn phải suy.
Còn tục ngữ người Kinh có câu Ăn có nhai, nói có nghĩ. Nói phải nghĩ, phải lựa
lời nhưng khơng được nói dối. Vì thế, nhiều khi lời nói thật lại vụng về nhưng
thà vụng về còn hơn nói dối.
Ngồi những quy định về lời ăn tiếng nói, tục ngữ Thái còn rất nhiều
những quy định khác gần gũi với những quy định chuẩn mực đạo đức của người
Kinh. Khuyên con người khơng nên so bì, tị nạnh, người Thái có câu:
- Xem núi này thì thấp / Nhìn núi nọ thì cao
- Bỏ chốn cũ sang nơi ở mới liên tiếp rồi cũng thành kẻ tôi đòi
Người Kinh cũng dạy con cháu bằng những hình ảnh tương tự thế:
- Đừng đứng núi này trông núi nọ

16


- Đừng tham bát bỏ mâm
Dạy con người ý tứ trong đi đứng, hành động, người Thái dặn dò:
Nhổ nước miếng phải nhìn khe sàn / Ngồi xổm nhìn khe đùi
Và người Kinh cũng vậy: Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
Trong đối nhân xử thế, người Thái tâm niệm:
Mình khinh người, người lại khinh mình
Ta nhường nhịn người, người nhường nhịn lại ta
Mình thương người, người lại thương mình
Người Kinh cũng đồng quan điểm ấy: Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước, hôm sau người
cười.
Trong giao tiếp hàng ngày, cộng đồng người Thái cũng chú ý và giáo dục cho
mọi người cái nên làm, cái không nên làm: "Bà phải ngằm/ Pảy phài nhéng
(Nói phải suy, Đi phải nhìn)
Phép lịch sự với khách đến nhà: "Khech tau hướn tỉ mả / Cu má hướn nhá hả
lực nói" (Khách đến nhà đừng đánh chó, Có bạn đến chớ đánh con).
(Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn, Tục ngữ Thái Thanh Hóa, XNB Hội VHNT
Thanh Hóa).
Đó là những bài học, cách ứng xử rất đẹp, rất hay của người Thái trong
cuộc sống.
2.3.2.4. Tục ngữ về khuyến học
Người Thái rất coi trọng việc học hành, tôn trọng thày giáo, cô giáo,
người đã dạy cho mình vào đời, đồng thời cũng khuyên mọi người phát huy tính
tự lực, tự cường khơng trơng chờ ỷ lại, thể hiện qua câu tục ngữ:
"Pò mè táy, bò qua xáy xỏn
Xáy xỏn bò pởn hủa chở hạc ngăm"
(Bố mẹ dạy không bằng thầy giáo dạy/ Thầy giáo dạy khơng bằng mình tự suy).

(Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn, Tục ngữ Thái Thanh Hóa, XNB Hội VHNT
Thanh Hóa).
Người Kinh có câu: Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.
Người Thái xác định việc học hành là việc lâu dài, học suốt đời, còn sống còn
phải học: "Học lắc học họt tải / Học lái học họt thau"
(Học khôn học đến khi chết / Học khéo học đến già)
Người Kinh cũng có câu tương tự: - Học chữ đến chết / Học nết đến già
- Học ăn học nói, học gói học mở.
Một mình nghĩ không tròn, một thân lo không được, vàng mười xếp chật
kho, chẳng biết liệu lo cũng bằng vàng rỉ. Học thày học bạn vô vạn phong lưu.
Làm người mà được khôn ngoan, cũng nhờ học tập mọi đàng mới hay, nghề gì
ta có trong tay mai sau rồi cũng có ngày có ích.
2.3.2.5. Ngun nhân của sự tương đồng.
Những nét tương đồng đó là kết quả của nhiều nguyên nhân: do sự tương
đồng về tự nhiên, điều kiện sống, trình độ canh tác, hoặc do sự tương đồng trong
cách cảm, cách nghĩ và ảnh lẫn nhau trong giao lưu văn hóa…Tuy nhiên, những
17


sự tương đồng này chỉ được đề cập ở phương diện nội dung, tư tưởng. Đi sâu
vào tìm hiểu, trong sự tương đồng vẫn có sự khác biệt, kể cả về nội dung cũng
như hình thức nghệ thuật. Đặc biệt là sự khác biệt trong cách nghĩ, cách nói,
cách diễn đạt với lối tư duy mộc mạc, giàu hình ảnh, rất sinh động, hấp dẫn và
không kém phần thú vị.
Những nét tương đồng đi cùng với sự khác biệt, vừa thể hiện nét chung về
văn hóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa phản ánh
bản sắc riêng trong văn hóa của mỗi dân tộc.
Ca dao, tục ngữ nói riêng và VHDG Thái nói chung là tài sản tinh thần
quý báu trong kho tang VH dân tộc. Để giữ gìn, phát huy giá trị quý gái đó, học
sinh cần tích cực sưu tầm, học hỏi thế hệ đi trước. Tìm hiểu những cái hay cái

đẹp cả về nội dung và hình thức nghệ thuật, làm cho giá trị đó được lưu giữ và
vận dụng phổ biến trong đời sống, góp phần tạo nên bản sắc riêng của dân tộc.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Thông qua các giờ học, một số kiến thức về văn học dân gian và tiếng
Việt đã học được tích hợp, củng cố và khắc sâu hơn. Đồng thời học sinh có điều
kiện liên hệ, so sánh với tục ngữ, ca dao của người Việt để thấy được những nét
giống và khác nhau trong cùng thể loại giữa các dân tộc, vùng miền.
Giờ học có khơng khí thoải mái, nhẹ nhàng, phấn khởi, không gây áp lực
nặng nề cho học sinh. Học sinh hứng thú vì lần đầu tiên các em được nghe nhiều
những câu tục ngữ, ca dao của dân tộc mình đến vậy. Và các em còn được so
sánh với ca dao, tục ngữ của người Việt nên rất hào hứng, say mê học tập.
Vì các em đại đa số là học sinh dân tộc Thái nên hiểu ngay nội dung của
các câu ca dao, tục ngữ được dẫn. Đồng thời, khi giải thích trong sự tương quan
so sánh với ca dao, tục ngữ của người Việt nên rất dễ hiểu, phù hợp với tư duy,
lối nghĩ, lối nói của các em. Vì thế, giờ học rất hiệu quả mà lại sơi nổi, hứng thú.
Nếu các em có thêm thời gian chắc chắn, các em sẽ trình bày được nhiều
hơn nữa các câu ca dao, tục ngữ của dân tộc mình. Vì thế, thiết nghĩ, nếu tổ chức
được mọt buổi ngoại khóa để học sinh tìm hiểu về ca dao, tục ngữ và các thể
loại VHDG khác của dân tộc Thái thì hiệu quả sẽ cao hơn.

18


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Thông qua những tiết học có sự lồng ghép với nội dung ca dao, tục ngữ
dân tộc Thái đã tạo ra được một không khí học tập sơi nổi, vui vẻ, thoải mái.
Học sinh được học, được khám phá kho tàng ca dao, tục ngữ vơ cùng phong phú
của dân tộc mình. Từ đó, các em có sự so sánh, đối chiếu để nhận ra nét tương
đồng và khác biệt về nội dung và hình thức nghệ thuật giữa ca dao, tục ngữ của

hai dân tộc. Dù đây mới chỉ là bước đầu, và so sánh sự giống nhau là chủ yếu
nhưng đã mang lại sự hứng thú cho học sinh. Các em có nhận thức sâu hơn, rộng
hơn về giá trị văn hóa của cha ơng, của dân tộc mình. Từ đó, các em sẽ có ý thức
sưu tầm, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo đó.
Tồn bộ những câu ca dao, tục ngữ được sưu tầm và liên hệ, so sánh đều
là những câu có nội dung gần gũi, thể hiện được tâm tư, tình cảm, nếp nghĩ, nếp
sống của con người, bộc lộ quan niệm sống, cách ứng xử của họ trước tự nhiên,
xã hội. Đặc biệt, nó gắn bó với khơng gian sinh hoạt văn hóa quen thuộc của học
sinh miền núi nói chung và học sinh trường THPT Thường Xuân 2 nói riêng.
Tuy nhiên, khi dạy theo hướng tích hợp này, đòi hỏi giáo viên phải có một
số hiểu biết nhất định về văn hóa, văn học dân gian của dân tộc Thái, có được
một số vốn nhất định về tục ngữ, ca dao dân tộc Thái. Ở một mức độ nào đó,
giáo viên phải biết được tiếng Thái để có thể hiểu và cùng học sinh dịch những
câu đã sưu tầm được từ tiếng Thái sang tiếng Việt một cách thuận lợi hơn.
Sau hi đã thử nghiệm ở một số lớp dạy, bản thân thấy giờ học rất hiệu
quả, vừa tạo được không khí học tập thoải mái, sơi nổi, vừa giúp học sinh có
thêm nhận thức mới về kho tàng ca dao, tục ngữ của dân tộc mình.
3.2. Kiến nghị, đề xuất:
Trên đây cũng mới chỉ là phương pháp đã vận dụng để giúp học sinh tìm
hiểu về tục ngữ, ca dao dân tộc Thái. Từ những kết quả đã thu được, tơi thấy
hồn tồn có thể đưa vào hoạt động ngoại khóa việc tìm hiểu ca dao, tục ngữ của
dân tộc Thái qua cái nhìn so sánh, đối chiếu với ca dao, tục ngữ dân tộc Kinh.
Đồng thời, có thể mở rộng ra các thể loại khác của văn học dân gian như truyện
cổ, truyện thơ, sử thi… của các dân tộc anh em.
Từ những vấn đề đã trình bày trên đây, bản thân tôi thấy rằng, đối với các
trường học ở địa bàn miền núi, nơi tập trung đông học sinh các dân tộc ít người
(kể cả THCS, THPT và BT THCS), ở những mức độ khác nhau, đều có thể đưa
văn học dân gian các dân tộc vào so sánh, đối chiếu trong quá trình học các tác
phẩm VHDG trong chương trình. Đặc biệt, nên tổ chức hoạt động ngoại khóa
nhằm làm phong phú thêm nội dung giảng dạy và học tập của môn Ngữ văn,

cung cấp cho học sinh những kiến thức nhất định về văn học dân gian các dân
tộc, rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, bồi dưỡng cho các em tình cảm yêu
mến, tự hào, ý thức trân trọng, giữ gìn và phát triển những giá trị tinh thần quý
19


báu của cha ơng, góp phần khẳng định bản sắc dân tộc trong bối cảnh giao lưu
và hội nhập.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2019
VỊ
Tơi xin cam đoan đây là SKKN của mình

viết, không sao chép của người khác.
Người thực hiện
Vi Thị Hà

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hội Văn nghệ dân gian (2012), Thơ ca nghi lễ dân tộc Thái, NXB Văn hóa
dân tộc, Hà Nội.
2. Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng (2012), Luật tục Thái ở Việt Nam, NXB Văn
hóa dân tộc, Hà Nội.
3. Hà Nam Ninh sưu tầm, biên soạn (2017), Tục ngữ Thái Thanh Hóa, NXB Hội
Văn học nghệ thuật Thanh Hóa.

21




×