1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.1.1.Mấy năm gần đây đề thi tất cả các môn nói chung và đề thi môn Ngữ văn nói
riêng liên tục được thay đổi,hoàn thiện,hướng tới chuẩn hóa theo khung ma trận
đề;đáp ứng được việc kiểm tra,đánh giá, xếp loại một cách đúng nhất trình độ,năng
lực học tập của hoc sinh.Theo dõi đề thi Ngữ văn mấy năm gần đây tôi thấy có rất
nhiều thay đổi.Thay đổi trước tiên và dễ nhận thấy là thời gian thi,chẳng hạn đề thi
từ trước năm 2013 thời gian thi trong vòng 150 phút,năm 2014 thời gian thi giảm
xuống 120,từ năm 2015-2016 thời gian thi lại điều chỉnh lên là 180 phút,từ năm
2017 đến nay thời gian co lại 120 phút .Thời gian thay đổi kéo theo nội dung đề thi
cũng có sự thay đổi rõ rệt.Chẳng hạn các đề thi trước năm 2013 có hai phần:phần
chung cho tất cả các thí sinh và phần riêng(phần tự chọn).Từ năm 2014 đề thi có
hai phần đọc hiểu và làm văn.Đề thi trước năm 2017 nhìn chung còn quá ôm
đồm,kiểm tra nhiều kiến thức của người học.Có cả đề thi dành cho các thí sinh
thuộc các ban khác nhau.Nhưng từ năm 2017 thời lượng giảm xuống còn 120
phút,nên đề thi cũng tập trung vào những vấn đề trọng tâm,đặc biệt phần đọc hiểu
và phần làm văn câu kiểm tra kiến thức nghị luận xã hội ngày càng chuẩn
hóa.Thay đổi lớn nhất của đề thi là phần đọc hiểu và phần làm văn nghị luận xã
hội.Phần văn nghị luận xã hội không còn là bài văn mà thay vào đó là đoạn văn với
dung lượng 200 chữ,nội dung được lấy từ một vấn đề có ý nghĩa phần đọc
hiểu.Thực tế đi chấm thi THPT quốc gia mấy mấy năm gần đây đặc biệt là năm đầu
tiên thay đổi yêu cầu từ viết bài văn sang viết đoạn văn học sinh vẫn còn nhầm lẫn
nhiều.Theo thống kê trong quá trình đi chấm thi THPT quốc gia của bản thân tôi tại
cụm chấm thi THPT Hàm Rồng,Thanh Hóa năm 2017,tỉ lệ học sinh viết sang kiểu
bài văn vẫn chiếm gần 50%,điều đáng nói là ngay cả học sinh học tốt môn văn vẫn
làm nhầm sang bài văn. Năm 2018 tình trạng này được khắc phục dần,tuy nhiên
vẫn còn một số học sinh vẫn làm sang bài viết văn.Đó mới chỉ riêng yêu cầu về
hình thức của bài làm chưa nói đến phần nội dung.Phần nội dung nhìn chung trong
quá trình đi chấm bài thi THPT quốc gia,thực tế ôn thi cho học sinh khối 12 tôi
nhận thấy các em rất yếu kĩ năng xác định yêu cầu đề,tìm ý,viết đoạn.Đa số đoạn
văn các em viết một cách tùy hứng,thường nghĩ gì thì viết vậy.Thậm chí các em
không có thói quen tìm ý gạch ý ra giấy nháp mà thường đọc đề xong nghĩ gì viết
luôn vào bài làm.Vì thế điểm của phần này ít em đạt được điểm tối đa.Phổ điểm
chủ yếu mà các em đạt được chỉ đạt từ 0,25-1,25đ/2,0 điểm.Điểm từ 1,5-2,0 điểm
rất ít.
1.1.2.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có lẽ bởi từ trước tới nay ở tât cả các
cấp học văn nghị luận xã hội chưa được quan tâm nhiều.Lí do đầu tiên là xuất phát
từ việc ra đề thi,trước đây đề thi chỉ tập trung kiểm tra kiến thức phần tiếng việt,văn
học sử,văn học nước ngoài, văn nghị luận văn học.Còn nghị luận xã hội chưa được
chú trọng.Xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu bày tỏ quan điểm cá nhân của con
người trước các vấn đề chính trị,xã hội,đời sống ngày càng cao.Vì thế việc trang bị
cho các em kĩ năng nghị luận xã hội là rất cần thiết.
1
Nhận thức được tầm quan trọng của văn nghị luận trong nhà trường nói
chung, cấp THPT nói riêng nên từ năm 2009, Bộ GD & ĐT đã quy định: Ở kỳ thi
tốt nghiệp THPT và kỳ thi đại học, trong môn ngữ văn sẽ có một câu hỏi (2 hoặc 3
điểm) thuộc phần thi bắt buộc, yêu cầu vận dụng kiến thức về đời sống xã hội để
viết bài văn hoặc đoạn văn nghị luận xã hội về :
-Hoặc là một tư tưởng đạo lí.
-Hoặc là một hiện tượng của đời sống xã hội.
-Hoặc là một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học.
Như vậy, làm văn nghị luận xã hội đã trở thành một bộ phận không thể thiếu
trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh các cấp. Vì vậy, rèn luyện cách làm
văn nghị luận xã hội là một đòi hỏi cấp bách đối với học sinh bậc THPT. Cũng từ
đó, một đòi hỏi cấp bách đối với giáo viên dạy văn ở bậc THPT là phải nhanh
chóng tìm ra và xác lập một phương pháp, một cách thức dạy –học có hiệu quả kỹ
năng làm văn nghị luận xã hội.
Thực ra, nghị luận xã hội là một kiểu bài không mới nhưng vài năm trở lại
đây mới chính thức có mặt trong cấu trúc đề thi. Với nghị luận văn học, vấn đề nghị
luận thường giới hạn trong phạm vi tác phẩm văn học đã được quy định trong
hướng dẫn ôn tập thì vấn đề nghị luận của văn nghị luận xã hội lại vô cùng đa dạng
và phong phú, rất khó có thể lường trước yêu cầu nghị luận sẽ hướng vào vấn đề xã
hội gì. Vì lẽ đó mà dạy học “tủ” với văn nghị luận xã hội là không thể và tất nhiên
cũng không nên.
Mặt khác, nếu như các tài liệu về nghị luận văn học rất dễ tìm thì tài liệu về
văn nghị luận xã hội trong nhà trường hiện nay lại rất khan hiếm…
Tính đến nay cũng đã 9 năm, kể từ khi Bộ GD & ĐT đổi mới trong việc ra đề
thi môn văn của kỳ thi tốt nghiệp THPT và ĐH-CĐ bằng việc đưa vào một câu nghị
luận xã hội chiếm đến 3 điểm trong phần thi bắt buộc (năm 2009),từ năm 2017 là 2
điểm. Song thực tế, thí sinh làm tốt câu này chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Theo
PGS-TS Đoàn Lê Giang- Trưởng khoa Văn học và ngôn ngữ trường ĐH Khoa học
xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh cũng nhận định: “Số học sinh làm tốt ở câu
nghị luận xã hội không nhiều. Vì tại trường phổ thông các em còn quá lệ thuộc vào
cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy sáng tạo (...) Một điều đặc biệt quan trọng nữa là
các em phải có kỹ năng làm bài, trình bày thế nào để thể hiện được quan điểm cá
nhân mà lại hợp lí”. (Theo nguồn tin của Mỹ Quyên, đăng trên Thanh niên online,
ngày 17/04/2012 ).
Từ thực tế đó,là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ôn thi THPT Quốc
gia cho học sinh khối 12 Trường THPT Hoằng Hóa 4,tôi nhận thấy trong quá trình
ôn tập để giúp học sinh có kết quả cao nhất trong kì thi săp tới việc cần thiết bây
giờ phải trang bị cho các em “ Bí quyết giúp học sinh làm tốt phần nghị luận xã
hội trong bài thi Ngữ văn THPT Quốc gia ”. Đó là lí do khiến tôi mạnh dạn viết
sáng kiến kinh nghiệm này.Với mong muốn góp một phần nào giúp học sinh trong
trường làm tốt hơn bài làm văn nghị luận.Và,quan trọng hơn là thông qua việc
2
nghiên cứu đề tài này, tôi rất mong nhận được sự góp ý bổ sung từ các đồng nghiệp
để chúng ta cùng nhau dạy tốt hơn- cũng là giúp học sinh làm tốt bài thi của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những phương pháp, biện pháp dạy học trong quá trình ôn thi THPT
Quốc gia.
Góp phần phát triển nâng cao hiệu quả viết đoạn văn nghị luận xã hội cho HS.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
HS THPT đặc biệt HS lớp 12.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi dự kiến sẽ sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
1.4.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tài liệu, lý luận
khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối
tượng. Sau đó tổng hợp từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra
một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về vấn đề nghiên cứu.
1.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Để nắm được thực trạng vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có
hệ thống, đảm bảo tính chính xác, khách quan, chúng tôi tiến hành điều tra bằng
phiếu đối với GV và HS. Kết quả điều tra là căn cứ chủ yếu để xây dựng các biện
pháp nâng cao chất lượng hoạt động dạy - tự học.
1.4.3. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành thu thập thông tin về quá trình tự học ở trường THPT để nắm được
thực trạng dạy và học hiện nay dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói. Đưa
ra những câu hỏi theo một chương trình được định sẵn trên những cơ sở đề tài đã
đưa ra.
1.4.4. Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT theo phương án đã soạn thảo,
nhằm khẳng định tính khả thi của việc lựa chọn phương pháp dạy học, các biện
pháp sư phạm đã sử dụng với mục đích bồi dưỡng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
xã hội cho HS.
3
2. PHẦN NỘI DUNG:
2.1.Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu:
2.1.1.Xuất phát từ đặc trưng bài văn nghị luận, đoạn văn nghị luận.
2.1.1.1.Văn nghị luận là gì?
Để hiểu được khái niệm đoạn “Văn nghị luận”, trước hết chúng ta phải giúp
học sinh nắm được khái niệm “nghị luận”, “văn nghị luận” ?
Nghị luận: là bàn bạc, đánh giá, bày tỏ thái độ (đồng tình/phản đối; khen/chê
…) của mình trước một vấn đề nào đó.
Văn Nghị luận: là một thể loại văn học dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để
bàn luận về một vấn đề nào đó (xã hội, chính trị, văn học …) nhằm tranh luận,
thuyết phục, bác bỏ, khẳng định, phủ nhận…giúp người đọc hiểu rõ vấn đề nêu ra.
Văn nghị luận: là một loại văn phổ biến sử dụng trong nhà trường hiện
nay. Văn nghị luận có tính khoa học, và đòi hỏi tư duy cao nhất nhằm kiểm tra khả
năng phân tích, tổng hợp và tư duy khoa học của học sinh mà -vẫn đánh giá được ở
học sinh khả năng diễn đạt và cảm thụ.
Một yếu tố làm nên sức hấp dẫn lớn của bài văn nghị luận chính là học sinh
phải bộc lộ được những quan niệm, tư tưởng của mình một cách rõ ràng trước một
vấn đề nghị luận cũng là muốn chia sẻ nhận thức, thuyết phục người đọc tin tưởng
vào tính đúng đắn, khách quan của những quan niệm tư tưởng đó . Để làm được
điều đó, học sinh trước hết phải nắm chắc được những đặc trưng về mặt kết cấu
của thể văn nghị luận.
2.1.1.2.Đoạn văn nghị luận:Vừa là một phân đoạn của văn bản nghị luận về nội
dung ( dựa trên cơ sở logic ngữ nghĩa) vừa là sự phân đoạn của văn bản nghị luận
về hình thức ( dựa trên dấu hiệu hình thức thể hiện văn bản).
Về mặt nội dung, đoạn văn nghị luận là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất
định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng.
Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với
nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò
chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu văn bản,
các đoạn thân bài của văn bản ( các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành
các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn
có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình
thức của đoạn có một kết cấu nhất định.
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện
ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấm
xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết;
mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa và viết lùi
vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.
2.1.2.Những đặc trưng về mặt kết cấu của đoạn văn nghị luận:
4
Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn có kết
cấu phổ biến: quy nạp, diễn dịch, tổng phân hợp; bên cạnh đó là đoạn văn có kết cấu
so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giả thiết, hỗn hợp,…
Đoạn diễn dịch.
Đoạn diễn dịch là một đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát
đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai ý tưởng chủ đề, mang ý nghĩa minh hoạ,
cụ thể. Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh,
phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận
của người viết.
Ví dụ: Đoạn văn diễn dịch, nội dung nói về cá tính sáng tạo trong sáng tác thơ:
“ Sáng tác thơ là một công việc rất đặc biệt, rất khó khăn, đòi hỏi người
nghệ sĩ phải hình thành một cá tính sáng tạo(1).Tuy vậy, theo Xuân Diệu - tuyệt
nhiên không nên thổi phồng cái cá biệt, cái độc đáo ấy lên một cách quá đáng(2).
Điêù ấy không hợp với thơ và không phải phẩm chất của người làm thơ chân
chính(3). Hãy sáng tác thơ một cách tự nhiên, bình dị, phải đấu tranh để cải thiện
cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa(4) .Trong khi sáng tác
nhà thơ không thể cứ chăm chăm: mình phải ghi dấu ấn của mình vào trong bài thơ
này, tập thơ nọ(5). Chính trong quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc
cảm tràn đầy, có thể nhà thơ sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên,
nhà thơ sẽ biểu hiện được cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”(6)..
Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là câu chủ
đề. Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề. Đây là đoạn
văn giải thích có kết cấu diễn dịch.
Đoạn quy nạp.
Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thể nhằm
hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được trình bày bằng thao tác
minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung.
Đoạn tổng phân hợp.
Đoạn văn tổng phân hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở
đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn
là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển được
thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc
nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định
thêm giá trị của vấn đề.
Ví dụ: Đoạn văn tổng phân hợp, nội dung nói về đạo lí uống nước nhớ nguồn:
5
“ Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người(1). Hiện nay trên khắp đất nước
ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những bà
mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng(2). Đảng và Nhà nước cùng
toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách(3). Thương binh
được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh
hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc
tận tình(4). Rồi những cuộc hành quân về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội,
những nghĩa trang liệt sĩ đẹp đẽ với đài Tổ quốc ghi công sừng sững, uy nghiêm,
luôn nhắc nhở mọi người, mọi thế hệ hãy nhớ ơn các liệt sĩ đã hi sinh anh dũng vì
độc lập, tự do…(5)Không thể nào kể hết những biểu hiện sinh động, phong phú của
đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta(6). Đạo lí này là nền tảng vững vàng
để xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp(7).
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn gốm bảy câu:
- Câu đầu (tổng): Nêu lên nhận định khái quát về đạo làm người, đó là lòng biết ơn.
- Năm câu tiếp ( phân): Phân tích để chứng minh biểu hiện của đạo lí uống nước
nhớ nguồn.
- Câu cuối (hợp): Khẳng định vai trò của đạo lí uống nước nhớ nguồn đối với việc
xây dựng xã hội.
Đây là đoạn văn chứng minh có kết cấu tổng phân hợp.
Đoạn so sánh
So sánh tương đồng.
Đoạn so sánh tương đồng là đoạn văn có sự so sánh tương tự nhau dựa trên
một ý tưởng: so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạn văn,… có nội dung
tương tự nội dung đang nói đến.
Ví dụ : Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về câu thơ kết trong bài “ Nghe
tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh:
Ngày trước tổ tiên ta có câu: “ Có công mài sắt có ngày nên kim”(1). Cụ
Nguyễn Bá Học , một nho sĩ đầu thế kỉ XX cũng viết: “Đường đi không khó vì ngăn
sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(2). Sau này, vào đầu những
năm 40, giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng
đã đề cập tới tính kiên nhẫn, chấp nhận gian lao qua bài thơ “ Nghe tiếng giã
gạo”, trong đó có câu: “ Gian nan rèn luyện mới thành công”(3). Câu thơ thể hiện
phẩm chất tốt đẹp, ý chí của Hồ Chí Minh đồng thời còn là châm ngôn rèn luyện
cho mỗi chúng ta(4).
Mô hình đoạn văn: Câu nói của tổ tiên, câu nói của Nguyễn Bá Học (câu 1,2) có
nội dung tương đương với nội dung câu thơ của Hồ Chí Minh (4). Đây là đoạn văn
6
mở bài của đề bài giải thích câu thơ trích trong bài “ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ
Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng.
So sánh tương phản.
Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về nội
dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống,…
tương phản nhau.
Ví dụ: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về việc học hành :
Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở
thành kẻ có tài, có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề nghĩ tới việc rèn
luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con
người( 1). Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành
người vô lễ, có hại cho xã hội(2). Đối với những người ấy, chúng ta cần giúp họ
hiểu rõ lời dạy của cổ nhân: “ Tiên học lễ, hậu học văn”( 3).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học: học để
làm người. Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ý tưởng. Nội
dung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau đó dẫn đến nội
dung chính của ý tưởng. Đây là đoạn văn mở bài, giải thích câu nói của Khổng Tử “
Tiên học lễ, hậu học văn”.
Đoạn nhân quả
Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước trình bày nguyên nhân, phần sau trình bày
kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề,…
Ví dụ : Đoạn văn nhân quả, nội dung nói tới lời khuyên về lòng biết ơn của
con cái với cha mẹ trong một bài ca dao:
Núi Thái Sơn là núi cao nhất, đồ sộ nhất, vững chãi nhất ở Trung Quốc,
cũng như tình cha mạnh mẽ, vững chắc(1). Chính người đã dạy dỗ hướng cho ta về
lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc sống(2). Và thông qua
hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhất, dạt dào
mãi chẳng bao giờ cạn, ta cảm nhận ró được tình yêu của mẹ mới thật ngọt ngào,
vô tận và trong lành biết bao nhiêu(3). Từ những hình ảnh cụ thể ấy mà ta có thể
thấy được ý nghĩa trừu tượng về công cha nghĩa mẹ(4). Công ơn đó, ân nghĩa đó to
lớn sâu nặng xiết bao; chính vì vậy mà chỉ có những hình tượng to lớn bất diệt của
thiên nhiên kì vĩ mới sánh bằng(5).Vì thế mà người xưa mới khuyên nhủ chúng ta
phải làm tròn chữ hiếu, để bù đắp phần nào nỗi cực nhọc, cay đắng của cha mẹ đã
phải trải qua vì ta”(6).
7
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích ý nghĩa câu ca dao. Sáu câu
trên giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của hình ảnh trong câu ca dao, nêu nguyên
nhân. Câu 6 là kết luận về lời khuyên, nêu kết quả.
Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần. Phần đầu nêu kết quả, phần sau nêu nguyên
nhân.
Đoạn vấn đáp.
Đoạn văn vấn đáp là đoạn văn có kết cấu hai phần, phần đầu nêu câu hỏi,
phần sau trả lời câu hỏi. Nội dung hỏi đáp chính là chủ đề của đoạn văn. Trong kiểu
kết cấu này, phần sau có thể để người đọc tự trả lời.
Đoạn móc xích.
Đoạn văn có mô hình kết câu móc xích là đoạn văn mà ý các câu gối đầu lên
nhau, đan xen nhau và được thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ ở câu
trước trong câu sau.
Ví dụ: Đoạn văn móc xích, nội dung nói về vấn đề trồng cây xanh để bảo về môi
trường sống:
Muốn làm nhà thì phải có gỗ. Muốn có gỗ thì phải trồng cây gây rừng. Trồng
cây gây rừng thì phải coi trọng chăm sóc, bảo vệ để có nhiều cây xanh bóng mát.
Nhiều cây xanh bóng mát thì cảnh quan thiên nhiên đẹp, đất nước có hoa thơm trái
ngọt bốn mùa, có nhiều lâm thổ sản để xuất khẩu. Nước sẽ mạnh, dân sẽ giàu, môi
trường sống được bảo vệ.
Mô hình đoạn văn: Các ý gối nhau để thể hiện chủ đề về môi trường sống. Các từ
ngữ được lặp lại: gỗ, trồng cây gây rừng, cây xanh bóng mát.
2.1.3. Những đặc trưng về ngôn ngữ, lời văn trong văn nghị luận:
Tất cả chúng ta đều hiểu rằng: Sức mạnh lôi cuốn của bài làm văn nghị luận
đối với người đọc không chỉ ở chỗ “viết cái gì ?” mà quan trọng còn là “Viết như
thế nào ?” ; “bằng thái độ, tình cảm ra sao ?” Bởi vậy, khi viết bài, học sinh nhất
thiết phải nắm được một số đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, lời văn trong văn nghị
luận.
Thứ nhất: Ngôn ngữ, lời văn của bài văn,đoạn văn nghị luận cần chuẩn xác,
trong sáng, thể hiện rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết.Và như vậy cũng
có nghĩa là khi viết bài, học sinh phải biết cân nhắc từ cách dùng từ đến cách ngắt
câu để không chỉ diễn tả “đúng” mà còn phải là “trúng” bản chất của đối tượng,
“trúng” với điều mình muốn nói.
Thứ hai: Giọng văn phải làm sao phù hợp với vấn đề nghị luận, với nội dung
bài viết, nhiều khi như có hình, có khối và giàu nhịp điệu.
8
Thật vậy, viết văn cũng giống như giao tiếp trong đời sống, khi nên hài hước,
khi cần trữ tình cảm thương và ngược lại. Đặc biệt, cũng không nên lầm rung cảm
nơi lời văn qua các câu cảm thán, qua những lời “hô to, gọi giật” theo kiểu : “chao
ôi!...” ; “đẹp làm sao…” ; “hay biết bao nhiêu…”. Bởi nếu lạm dụng một cách
ngây thơ, nếu “ngụy trang” cho tâm hồn nghèo nàn của mình theo kiểu ấy, bài văn
sẽ trở nên sáo rỗng, lắm lúc buồn cười. Bởi rung cảm phải thật sự xuất phát tự đáy
lòng, từ sự “vỡ lẽ” của chính người viết , khi đó tự nó sẽ toát lên trong ý tứ, trong
giọng điệu bài văn mà người đọc không khó để nhận ra.
Văn nghị luận là văn nói lí, nhưng xét cho kĩ, nó không bao giờ chỉ thuần
tuý là nói lí, bởi trong lí có tình- có tình cảm của người viết, tình cảm đối với người
đọc, tình cảm đối với vấn đề đem bàn. Bởi vậy, văn nghị luận cũng có màu sắc tu
từ, nếu biết diễn đạt một cách hình ảnh, trong sáng, tránh lối viết văn “sáo” … nhất
định sẽ tăng thêm hiệu quả thuyết phục cho bài làm văn.
2.1.4.Xuất phát từ đặc trưng của dẫn chứng khi viết đoạn văn nghị luận xã hội.
“Nghị luận xã hội” là thể loại rất đặc biệt.Nó bàn đến các vấn đề của đời
sống xã hội như : kinh tế, chính trị, văn hóa, triết học… chẳng hạn như : Bàn về
vấn đề “cho và nhận trong cuộc sống”; “học để chung sống”; “An toàn giao
thông là hạnh phúc của mọi người”; “Giờ trái đất”…
Sức thuyết phục của đoạn văn nghị luận nói riêng và bài văn nghị luận nói
chung là hệ thống lập luận.Để cho hệ thống luận trở nên hấp dẫn,giàu hình ảnh cần
phải biết đưa dẫn chứng cho phù hơp.Tuy nhiên, chúng ta có thể huy động tư liệu
từ đâu để làm dẫn chứng cho bài làm văn nghị luận xã hội là nỗi niềm băn khoăn
của không ít học sinh?
Thực ra, dẫn chứng có thể lấy từ nhiều nguồn trong đời sống. Song, giáo
viên nên định hướng cho học sinh lấy dẫn chứng trước hết phải ưu tiên cho hệ
thống dẫn chứng đã và đang xảy ra trong thực tế đời sống. Đây cũng là cách thể
hiện sự hiểu biết về các vấn đề xã hội của học sinh- Vốn được coi như một lợi thế
giúp bài văn nghị luận xã hội đạt điểm cao.
Và tất nhiên, chúng ta cũng không loại trừ dẫn chứng từ trong tác phẩm văn
học. Bởi lẽ, văn học- dù hư cấu (ở một số thể loại) thì cũng vẫn là bức tranh đời
sống, phản ánh đời sống và quan niệm, cách đánh giá của người sáng tác trước hiện
thực đời sống. Nhưng khi vận dụng dẫn chứng từ tác phẩm văn học, giáo viên cần
lưu ý học sinh xác định liều lượng, mức độ phù hợp khi vận dụng dẫn chứng văn
học. Ví dụ: Khi bàn luận về vấn đề liên quan đến ý chí và nghị lực của con người
trong cuộc sống, chúng ta có thể hướng dẫn học sinh trích dẫn những câu tục ngữ
như :
-“Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”
Hoặc câu ca dao:
-“Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai”
Hoặc có thể lấy tấm gương nghị lực sống, tinh thần vươn lên của nhân vật
TNú trong tác phẩm “Rừng Xà Nu”- Nguyễn Trung Thành.
9
Tuy vậy,chúng ta cũng cần hết sức tránh một sai lầm ở chỗ đồng nhất sự việc,
nhân vật trong tác phẩm với sự việc, nhân vật ngoài đời sống. Ví dụ: cũng là bàn
luận về vấn đề liên quan đến ý chí và nghị lực của con người thì nhất thiết học sinh
không được lấy nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến trong truyện ngắn “Chí Phèo”Nam Cao làm dẫn chứng minh hoạ cho các tệ nạn xã hội hiện nay…
Nói như vậy là khi bài văn,đoạn văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn
chứng thực tế và ưu tiên hàng đầu cho dẫn chứng thực tế. Cần hết sức tránh tình
trạng bài viết chỉ là những lí lẽ suông (không có dẫn chứng). Nhưng cũng không
nên lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận.
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1.Hướng ra đề nghị luận xã hội trong kỳ tuyển sinh các cấp những năm gần
đây.
Thực tế tuyển sinh các cấp trong những năm gần đây cho thấy, hầu như tất
cả những câu hỏi của đề thi thuộc phần nghị luận xã hội đều gắn với những vấn đề
“nóng” của đời sống xã hội, có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục
và tính thời sự cao…
Những vấn đề đặt ra để nghị luận không phải là những vấn đề phức tạp, lớn
lao chỉ là một trong những khía cạnh của đạo đức, tư tưởng, tình cảm,hiện tượng,sự
kiên…gắn liền với cuộc sống, với học tập, rèn luyện đạo đức, phương pháp nhận
thức… của một học sinh THPT.
Chúng ta không thể phủ nhận đề bài nghị luận xã hội khá phong phú và đa
dạng. Sự phong phú và đa dạng ấy thể hiện ở cả nội dung nghị luận cũng như dạng
thức đề thi.
Hai năm gần đây cụ thể từ năm 2017 cách ra đề thi phần nghị luận xã hội chỉ
co lại là một đoạn văn chỉ 200 chữ,và vấn đề nghị luận cũng chỉ cụ thể ở một khía
cạnh.
Chẳng hạn
Đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn năm 2017 câu 1 phần làm văn(Nghị
luận xã hội):
Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu,anh chị hãy viết đoạn văn(Khoảng
200 chữ)trình bày suy nghĩ về “ý nghĩa của sự thấu cảm” trong cuộc sống.
Đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn năm 2018 câu 1 phần làm văn(Nghị
luận xã hội):
Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu,anh /chị hãy viết đoạn văn(Khoảng
200 chữ)trình bày suy nghĩ về “sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước” của mỗi
cá nhân trong cuộc sống hiện nay.
Với tất cả những lí do trên, giáo viên và học sinh cần tránh cách dạy- học
“tủ” , đoán “mò” nội dung nghị luận. Điều quan trọng là giáo viên phải giúp học
sinh nắm được kỹ năng- Nắm được các bước cơ bản khi viết đoạn văn nghị luận xã
hội. Đó cũng là trình tự lập luận trong khi viết mà học sinh cần nắm vững để vận
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo với những yêu cầu cụ thể.
10
2.2.2.Sự khác biệt trong yêu cầu về dung lượng của đề thi THPT Quốc gia môn
Ngữ văn.
Một điều rất dễ nhận thấy trong đề thi môn ngữ văn qua kỳ THPT quốc gia :
Nếu trong yêu cầu của phần thi nghị luận văn học không có quy định về dung
lượng bài viết mà thường chỉ dừng lại ở yêu cầu về nội dung và thao tác nghị luận.
Chẳng hạn: Anh (chị) hãy phân tích nhân vật Mị và Aphủ trong “Vợ chồng Aphủ”Tô Hoài để làm nổi bật giá trị nhân đạo mới mẻ của thiên truyện. – Nghĩa là học
sinh được “thoải mái tung bút” mà chẳng cần bận tâm đến số trang(dung lượng bài
viết) đã vượt quá quy định hay chưa. Trong khi phần thi nghị luận xã hội lại thường
quy định rất rõ ràng yêu cầu này. Bởi vậy, Có thể khẳng định dung lượng bài viết
đúng và đủ theo yêu cầu của đề ra cũng là một phương diện “ăn điểm” cho viết
đoạn văn, bài làm văn nghị luận xã hội.
Và nếu dung lượng của phần nghị luận xã hội trong kỳ thi THPT quốc gia
hiện nay là đoạn văn 200 chữ.Vì vậy, học sinh cần phải biết chọn lựa vấn đề trọng
tâm mà đề yêu cầu để viết, phải bằng những trải nghiệm của bản thân, trình bày
những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ… của mình về các vấn
đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) .
Tất nhiên, trước một vốn kiến thức phong phú, sâu sắc của bản thân về đời
sống xã hội- Nhưng cũng trước một quy định khá rõ ràng về dung lượng bài viết
200 chữ… Học sinh không thể không băn khoăn đi tìm cho mình một cách viết phù
hợp cho phần thi nghị luận xã hội.
2.2.3. Đối với giáo viên
Từ trước tới giờ,việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận ở trường phổ
thông còn nhiều ngộ nhận, chưa quan tâm đúng mực, đặc biệt trong quá trình giảng
dạy nhiều GV có thái độ xem nhẹ, thậm chí bỏ qua chúng.Nguyên nhân của tình
trạng này là do phân phối chương trình môn Ngữ văn THPT không có bài riêng về
kĩ năng viết đoạn văn nghị luận.Việc dạy kĩ năng này phụ thuộc vào từng giáo
viên.Chủ yếu được kết hợp,lồng ghép trong quá trình dạy ôn và dạy các bài làm
văn nghị luận.Hai năm trở lại đây do đề thi có sự thay đổi,chuyển từ viết bài văn
sang viết đoạn văn 200 chữ,nên trong quá trình ôn thi GV mới chú trọng đến rèn kĩ
năng viết đoạn văn cho học sinh.
2.2.4.. Đối với học sinh.
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học công nghệ, đa số HS chỉ
muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kinh tế, kĩ thuật,... HS ít có hứng thú với
môn văn, các em cho rằng không học văn vẫn biết đọc, biết viết, học văn không
thiết thực, nhưng đổi lại nếu các em không học các môn khoa học tự nhiên thì coi
như là học kém, nếu em nào theo học các môn khoa học xã hội thì bị coi nhẹ.
Vì lí do trên nên thực tế khi ôn thi THPT quốc gia cho học sinh tôi thấy đa số
các em rất lười suy nghĩ,lười viết bài.Việc nắm kiến thức kĩ năng về đoạn văn còn
khá mơ hồ.Nhiều em không nhớ kiến thức về đoạn văn,không biết cách trình bày
một đoạn văn như thế nào.Các em viết tùy tiện nghĩ gì viết đấy,viết theo kiểu chống
đối,qua loa.kết quả điểm bài thi thấp.
11
2.3. Bí quyết giúp học sinh làm tốt phần nghị luận xã hội trong kì thi THPT
Quốc gia.
2.3.1.Thường xuyên tích luỹ thông tin:
Văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức
thật 100% và rất thực tế với cuộc sống hằng ngày. Vì vậy người viết bài rất cần sự
tinh tế và nắm bắt thông tin nhanh chóng. Một trong những “Bí quyết” đầu tiên là
học sinh phải thường xuyên phải tích luỹ thông tin, có sự hiểu biết về những vấn đề
đang diễn ra trong cuộc sống xung quanh bằng cách đọc sách báo, tài liệu,tìm kiếm
thông tin trên internet,các trang mạng có uy tín,quan sát trải nghiệm trong cuộc
sống…
Trong thời đại bùng nổ thông tin, có nhiều cách giáo viên hướng dẫn học sinh
tiếp cận, tìm hiểu thời sự. Song cần thiết nhất với mỗi học sinh là cuốn sổ ghi chép,
tích luỹ thông tin, kiến thức- Những gì các em đọc được, hoặc tận mắt nhìn thấy,
các em cần và nên ghi lại để có dịp sử dụng (Chú ý phải ghi nguồn gốc, xuất xứ
thông tin để chú thích khi trích dẫn).
Bản thân quá trình ghi chép đã là một loạt thao tác tư duy: Mô tả, phân tích,
tổng hợp… Ghi chép là một động tác cần thiết, không nên ỷ vào khả năng của trí
nhớ. Khi đã được ghi chép, thì những hiểu biết thức tế đó sẽ thẩm thấu chúng ta,
trở thành kiến thức xã hội của ta, đến khi sử dụng vào bài nghị luận, những hiểu
biết đó sẽ được tái hiện một cách nhuần nhuyễn, thuyết phục.
2.3.2.Có thái độ bình tĩnh khi nhận đề bài và thận trọng phân tích đề:
Cầm đề trên tay, các em đừng vội làm ngay, hãy hãy dành ít phút đọc đi đọc
lại yêu cầu của đề đồng thời lưu ý gạch chân những từ, cụm từ quan trọng có ý
nghĩa như “con mắt” của đề bài để phân tích yêu cầu của đề, sau đó lập dàn ý cho
bài viết.
Ví dụ: Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu,anh chị hãy viết đoạn
văn(Khoảng 200 chữ)trình bày suy nghĩ về “ý nghĩa của sự thấu cảm” trong cuộc
sống.(Đề thi THPT Quốc gia năm 2017)
Không những vậy, việc gạch dưới những cụm từ chính của đề bài cũng là
một cách giúp các em “tự nhắc mình” phải bám sát yêu cầu của đề trong lúc làm
bài và không bị lan man ý tứ, câu chữ cũng sẽ lưu loát hơn.
2.3.3.Ghi nhớ cách viết đoạn nghị luận xã hội.
Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội cần sự ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn
phải đầy đủ ý và không khô khan. Muốn vậy bạn cần gạch ra ý cụ thể trước khi đặt
bút làm bài. Và dàn ý cũng phải đầy đủ 3 phần . Cụ thể các phần như sau:
Phần mở đoạn:
- Dẫn dắt nêu chủ đề của đoạn văn cần viết.
Thân đoạn: (Phần thân đoạn có nhiều luận cứ- tuỳ thuộc vào từng vấn đề
nghị luận cụ thể. Song nhìn chung phải làm đầy đủ và làm tốt các luận cứ).
-Giải thích ngắn gọn chủ đề của đoạn.Ví dụ ở đề thi THPT quốc gia năm
2017 học sinh giải thích ngắn gọn “thấu cảm” là gì?
12
-Bàn luận làm sáng tỏ chủ đề của đoạn. Ví dụ ở đề thi THPT quốc gia
năm 2017 học sinh bàn luận “ý nghĩa” của sự thấu cảm trong cuộc sống.
Phần kết đoạn:Khái quát chủ dề đoạn văn.
2.3.4. Khéo léo lồng ghép, đưa dẫn chứng khi viết đoạn văn:
Bài nghị luận nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng không thể thiếu dẫn
chứng. Nguồn dẫn chứng lấy từ đâu, chúng ta đã biết .Nhưng khi sử dụng dẫn
chứng, giáo viên nên lưu ý với học sinh một số vấn đề sau:
-Thứ nhất: Không nên quá tham lam đưa thật nhiều dẫn chứng.
-Thứ hai: Không nên đưa quá ít dẫn chứng làm cho những lí lẽ của chúng ta
trở nên khô khan, thiếu thực tế, thiếu sức thuyết phục.
-Thứ ba: Đưa dẫn chứng vừa đủ. Cùng với việc nêu dẫn chứng, học sinh
cũng cần chú ý phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ hơn luận điểm, luận cứ của bài
viết.
Với mức độ phân tích dẫn chứng này, chúng ta cũng cần lưu ý học sinh nên
tuỳ từng tình huống mà thực hiện, nhưng dù thế nào cũng không nên sa đà, cũng
đừng sơ sài qua loa.
2.3.5. Chú ý đầu tư cho ý thể hiện quan điểm chủ quan của người viết.
Những ý thể hiện quan điểm chủ quan của người viết như bàn luận, đánh giá
vấn đề nghị luận; ý nghĩa của vấn đề nghị luận … Đây là những ý thể hiện đậm nét
tư chất, năng lực, hiểu biết, trình độ nghị luận xã hội của người làm bài.
Nếu chúng ta biết cách đầu tư thoả đáng cho những ý này, bài làm của ta sẽ
thể hiện chiều sâu của trí tuệ, sẽ được nâng tầm và đương nhiên là được điểm cao.
2.3.6. Một số lưu ý khác:
- Thứ nhất: Sau khi viết xong đoạn văn, các em phải giành ít phút để đọc và
sửa chữa, bổ sung, hoàn chỉnh bài làm.
- Thứ hai: Dù làm gì, các em cũng đừng quên yếu tố thời gian và quy định
về dung lượng của bài viết.Đề thi hiện nay điểm phần viết đoạn là 2 điểm vì vậy
các em dành khoảng thời gian 20-25 /120 phút cho phần viết đoạn nghị luận xã hội.
Tất cả những điều đó, dù nhỏ nhưng cũng là một trong những yếu tố quan trọng
góp phần làm nên thành công chung của bài thi.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Để đánh giá về kết quả thực nghiệm dựa trên các số liệu cụ thể, chúng tôi tiến
hành tập hợp điểm số các phiếu kiểm tra của HS ở cùng một lớp học với hai thời
điểm để tiến hành đối chứng, qua đó thấy được tính khả thi của đề tài đó là thời
điểm: trước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài sau đó lập thành bảng
thống kê, phân loại kết quả. Kết quả phân loại được sắp xếp như sau:
Năm học 2018- 2019, sau khi trao đổi với đồng nghiệp, tôi đã vận dụng đề tài “
Bí quyết giúp học sinh làm tốt phần nghị luận xã hội trong kì thi THPT Quốc
gia ”, kết quả thu được có nhiều khả quan, cụ thể như sau:
13
Sĩ
số
Đối
tượng
Lớp
S
Tỉ
ố
lệ
Số Tỉ
HS % HS lệ%
48
12A3
12A7
Xếp loại
Điểm từ Điểm từ Điểm từ Điểm
1,75 -2,0 1,0-1,25 0,5-0,75
dưới 0,5
Số
HS
Tỉ
lệ
%
Thực
nghiệm 3
6.2 20
41,
6
23
48
Không
thực
nghiệm
Thực
nghiệm
10
37,
5
19
47,
5
40
4
15
Tỉ
Số
lệ
HS
%
2
2
Điểm 0
Tỉ
Số
lệ
HS
%
4,2
0
0
5
0
0
Không
thực
nghiệm
Qua thực tế dạy và ôn thi THPT tôi thấy áp dụng được những điều như tôi đã
trình bày thì kết quả bài viết của các em được tốt hơn,số lượng học sinh đạt điểm
gần tối đa tăng lên đáng kể.
14
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Trên đây chúng tôi đã trình bày vấn đề tài “ Bí quyết giúp học sinh làm
tốt phần nghị luận xã hội trong bài thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn ”. Đề tài
được viết xuất phát từ yêu cầu thực tế trong quá trình ôn thi cho HS khối 12 hai
năm trở lại đây. Mặc dù phạm vi đề cập chưa lớn, đối tượng học sinh chưa đa dạng,
nhưng hi vọng đề tài này đã góp chất lượng kì thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn
được nâng lên.
3.2. Với mục tiêu nâng cao chất lượng bài thi môn Ngữ Văn, “ Bí quyết giúp
học sinh làm tốt phần nghị luận xã hội trong bài thi THPT Quốc gia môn Ngữ
văn” đã giúp học sinh có kĩ năng tốt khi làm bài,đạt kết quả cao trong các bài kiểm
tra,đánh giá,thi cử.
Vì vậy, chúng tôi có một số đề xuất, kiến nghị sau:
- Nhà trường và GV cần quan tâm tới việc giáo dục động cơ và thái độ học tập
cho học HS.
-Rèn luyện tinh thần tự giác học tập,chăm chỉ rèn luyện,thực hiện việc ôn tập
nghiêm túc,có chất lượng.
- Thay đổi cách kiểm tra đánh giá,trân trọng những thành quả học tập của HS.
-Tổ chức thêm các buổi thảo luận chuyên đề,trao đổi kinh nghiệm giữa các
đồng nghiệp để nâng cao hiệu quả ôn tập cho HS.
-Trang bị thêm các phòng học bộ môn,phòng thực hành để trong quá trình dạy
học giáo viên và học sinh có thể tương tác,phát huy được hiệu quả dạy và học.
Trên đây là một số kinh nghiệm và đề xuất của chúng tôi xin được chia sẻ
cùng đồng nghiệp. Rất mong được sự trao đổi, góp ý để chúng tôi hoàn thiện ở
các đề tài tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hoằng Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Nguyễn Thị Thủy
15