1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão
với sự xuất hiện của nhiều ngành khoa học mới đặc biệt là sự bùng nổ của
công nghệ thông tin làm cho khối lượng tri thức tăng lên một cách nhanh chóng.
Điều đó đã đặt ra cho nghề dạy học một yêu cầu mới không chỉ dạy học kiến
thức mà quan trọng hơn là dạy cho học sinh cách học và tự học. Xuất phát từ
yêu cầu thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã và đang tiến hành đổi mới toàn diện về
giáo dục ở các cấp học trong đó có THPT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
đào tạo. Sự đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như: đổi mới mục tiêu,
nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá. Trong
đó đổi mới phương pháp dạy học được đặt lên hàng đầu. Vì vậy, phương pháp
dạy học tích cực ngày càng được chú trọng và trở nên phổ biến.
Tuy nhiên, các bài dạy sinh học sử dụng trong nhà trường phổ thông hiện
nay còn nặng về kiến thức lí thuyết, nghèo nàn về kiến thức thực tiễn, chưa chú
trọng đến việc phát huy khả năng tư duy sáng tạo, lập kế hoạch, giải quyết vấn
đề trong học tập sinh học và thực tiễn đời sống, cũng như chưa chú trọng đến
việc phát triển năng lực tư duy sinh học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
của học sinh. Trước tình hình đó, môn Sinh học phải đổi mới phương pháp dạy
học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những
yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế.
Trong quá trình giảng dạy môn sinh học THPT Đặng Thai Mai, tôi nhận
thấy đa phần học sinh đều cho rằng môn Sinh học thường là khô khan, khó
hiểu. Bên cạnh những học sinh vui thích, đam mê với việc học tập thì có một bộ
phận không nhỏ các em không thích học, chán học. Tình trạng chán học do mất
hứng thú học này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của các em nói
riêng và chất lượng giáo dục ở bậc THPT nói chung. Vấn đề đặt ra là giáo viên
phải không ngừng tìm tòi mọi phương pháp, cách thức để khơi dậy sự hứng thú,
nhiệt tình học tập của học sinh nếu không tiết dạy sẽ trở nên nhàm chán, khó có
được sự thành công.
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có vai trò quan
trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con
người tham gia vào quá trình hoạt động đó. Trong học tập, hứng thú có vai trò
hết sức quan trọng, thực tế cho thấy hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ
lệ thuận với kết quả học tập của các em. Trong đó, cách thức “Liên hệ thực tế
khi giới thiệu bài giảng mới” là một trong những phương pháp dạy học tích
cực, có thể tạo cho học sinh bất ngờ và kích thích hứng thú. Đó có thể là một
câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn
gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập. Nếu
chúng ta được đọc những câu mở đầu chứa đựng nhiều âm thanh, hình ảnh hay
gợi nhiều vấn đề khác nhau, kích thích sự tò mò tìm hiểu xem những phần tiếp
theo sẽ có điều gì mới thì chắc chắn sự theo dõi sẽ không chỉ dừng lại ở đó.
1
Trong một giờ học cũng vậy, nếu ngay từ phần đặt vấn đề giáo viên đã tạo ra
hứng thú, vui tươi cho học sinh thì chắc chắn trong những phút tiếp theo các em
sẽ hào hứng, phấn chấn và nhiệt tình hơn với những hoạt động do giáo viên tổ
chức. [2]
Chính vì lý do đó, tôi xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Tạo hứng thú
học tập môn Sinh học bằng cách liên hệ thực tế khi giới thiệu bài mới ở một
số bài trong chương trình Sinh học 12” ở trường THPT nhằm góp phần thực
hiện việc đổi mới phương pháp dạy học Sinh học theo hướng tăng cường hoạt
động nhận thức tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn, hoàn thành mục tiêu môn học.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một hệ thống các hiện tượng sinh học thực tiễn có thể vận
dụng vào bài giảng trong chương trình Sinh học 12.
Vận dụng hệ thống các hiện tượng sinh học thực tiễn vào giới thiệu bài mới
ở trường THPT Đặng Thai Mai nhằm phát huy tính tích cực, hứng thú học tập
của học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học Sinh học theo hướng tăng
cường hoạt động nhận thức chủ động, sáng tạo của học sinh, nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các hiện tượng sinh học thực tiễn tạo hứng thú học
tập cho học sinh ở một số bài trong chương trình Sinh học 12.
Phạm vi nghiên cứu: Nội dung chương trình Sinh học 12 tại các lớp:
12A6, 12 A7, của trường THPT Đặng Thai Mai.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên việc sử dụng các phương pháp: Nghiên
cứu tư liệu và sản phẩm hoạt động sư phạm; Phương pháp quan sát thực tế:
quan sát các thắc mắc của học sinh khi quan sát hiện tượng; Phương pháp hỏi
đáp: trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh về những vấn đề liên quan đến nội
dung đề tài; Phương pháp thống kê, phân tích số liệu.
2
2. Nội Dung
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong ngành giáo dục, chúng ta đều biết rằng tất cả các môn học
trong nhà trường ít nhiều đều liên quan với nhau, cùng hỗ trợ nhau trong việc
phát triển kiến thức, kĩ năng cho học sinh. Trong bối cảnh hiện nay ngành giáo
dục đang hướng tới việc đào tạo ra những con người toàn diện, hiểu biết về
nhiều mặt do đó việc khai thác mối liên hệ giữa các bộ môn càng cần phải được
phát huy. Bộ môn sinh học không chỉ liên quan mật thiết với các bộ môn thuộc
khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa... mà còn gắn bó với các bộ môn thuộc
khoa học xã hội như Văn, Giáo dục công dân...Vấn đề đặt ra là chúng ta cần
khai thác mối liên hệ đó như thế nào, đảm bảo tính tích hợp trong quá trình dạy
học làm sao để nâng cao hiệu quả của từng tiết dạy.
Mặt khác, ngoài hệ thống tri thức mang tính khoa học được thể hiện
trong sách giáo khoa, các tài liệu khác, tri thức bộ môn còn được thể hiện rất
nhiều ở hệ thống kinh nghiệm mà cha ông chúng ta qua các thế hệ đã đúc kết
trong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Đây là những kinh nghiệm được đúc
kết trong đời sống và quá trình sản xuất, được truyền từ đời này sang đời khác
giúp mọi người hiểu được thực tế của cuộc sống; các hiện tượng xảy ra liên
quan đến kiến thức sinh học và thực tế sản xuất. Đó cũng là những câu truyền
miệng rất dễ nhớ, dễ thuộc với hàm ý cô đọng và sâu sắc mà trong quá trình
giảng dạy bộ môn Sinh học có thể lồng ghép một số câu tục ngữ, thành ngữ vào
trong một số nội dung của bài học trong chương trình Sinh học THPT rất hợp lí
và thuận lợi. Thế nhưng trên thực tế việc vận dụng hệ thống kinh nghiệm này
trong dạy và học bộ môn còn ít được quan tâm. Có rất nhiều câu tục ngữ, thành
ngữ khi đọc lên đã giúp học sinh hiểu ngay giá trị thực tiễn nên giáo viên có thể
sử dụng để đặt vấn đề hay để minh họa cho kiến thức cần giải quyết trong bài
học. Nhiều câu chỉ nêu lên những hiện tượng mà việc giải thích cần phải có tài
liệu hỗ trợ và sự hướng dẫn tổ chức học tập của giáo viên thì học sinh mới hiểu
một cách sâu sắc. [2]
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thực trạng dạy và học môn Sinh học tại trường THPT Đặng Thai
Mai
2.2.1.1 Thuận lợi
Những năm gần đây, chủ trương đổi mới phương pháp giáo dục đã được
triển khai sâu rộng, bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định. Giáo viên
đã có ý thức đa dạng hóa các phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh, phần nào hạn chế cách giảng dạy thụ động, theo lối tiếp nhận
một chiều. Chất lượng học tập môn Sinh học của học sinh đang có chiều hướng
đi lên. Đặc biệt, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích tạo điều
kiện cho giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để nâng cao chất
lượng học tập cho học sinh rất được nhà trường quan tâm, chú trọng phần nào
giúp giáo viên những điều kiện thuận lợi trong giảng dạy.
3
Trong quá trình giảng dạy thực tế môn Sinh học, giáo viên đều cố gắng
thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực
của học sinh thông qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương
pháp giải quyết vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế
trong bài giảng…. Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học
như thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học sinh học.
Học sinh trường THPT Đặng Thai Mai đa số các em đều ngoan,
được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập và có thư viện với các đầu
sách để các em tham khảo. Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát,
giải thích một số hiện tượng trong cuộc sống và suy nghĩ trả lời các câu hỏi do
giáo viên đặt ra, tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong quá trình
lĩnh hội kiến thức.
2.2.1.2 Khó khăn
Mặc dù giáo viên đã có nhiều cố gắng trong đổi mới phương pháp dạy
học, chất lượng học tập bộ môn có chiều hướng đi lên nhưng nhìn chung hiệu
quả chưa cao. Chương trình Sinh học 12 còn khá dài, nặng về lí thuyết. Thực tế
giảng dạy cho thấy vẫn tồn tại phương pháp truyền thụ kiến thức có sẵn, giáo
viên lên chỉ giảng giải, thuyết trình. Trong từng tiết học, học sinh còn thụ động
nhiều, chỉ ngồi nghe – chép là chính, không khí lớp học trôi qua nặng nề và
nhàm chán.
Đối tượng các em là học sinh cuối cấp nên thường các em chú trọng vào
những môn chính để thi theo nguyện vọng như Toán,Văn, Ngoại ngữ… Vì vậy,
nhiều em xem nhẹ bộ môn, không đi sâu vào học tập hoặc học lấy lệ. Mặt khác,
do đầu vào ban đầu thấp, cho nên khả năng vận dụng kiến thức để lý giải các
tượng liên quan đến đối với học sinh còn khó khăn.
Do đó, để khắc phục các nhược điểm trên và để nâng cao khả năng vận
dụng lý thuyết vào thực tiễn, để tạo hứng thú trong việc học môn Sinh học thì
việc liên hệ thực tế trong quá trình giảng dạy là cần thiết. Tuy nhiên, để vận
dụng tốt đề tài này vào dạy học môn Sinh học lớp 12 đòi hỏi người giáo viên
phải am hiểu kho tàng ca dao tục ngữ, biết cách kể chuyện hài và chịu khó tìm
tòi, sưu tầm thêm các kinh nghiệm dân gian cũng như việc lồng ghép các kiến
thức có liên quan vào bài giảng một cách thật tự nhiên.
2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Bài tập thực tiễn
- Việc lồng ghép các kiến thức thực tiễn vào trong quá trình dạy và học,
trước hết tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho học
sinh sự hứng thú, hăng say trong học tập.
- Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích
cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng
kiến thức vào cuộc sống.
- Giúp cho học sinh có được những hiểu biết về hệ tự nhiên và hoạt động
của nó, tác động của nó đối với cuộc sống của con người.
4
- Học sinh nắm được ảnh hưởng của những hoạt động của con người lên hệ
tự nhiên. Từ đó, học sinh ý thức được hoạt động của bản thân trong cuộc sống,
Đặc biệt là đối với vấn đề môi trường.
- Xây dựng cho học sinh những kĩ năng quan sát, thu nhập thông tin và
phân tích thông tin, dần hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Phát triển kĩ năng nghiên cứu thực tiễn và kĩ năng tư duy để giải thích các
hiện tượng thực tiễn, luôn chủ động trong cuộc sống.
- Nuôi dưỡng nhận thức và các quan niệm đúng đắn về các hiện tượng
trong tự nhiên và cuộc sống.
- Phát triển sự đánh giá thẫm mĩ.
- Bài tập về các hiện tượng tự nhiên làm cho học sinh thấy các quá trình
sinh học luôn xảy ra xung quanh ta. Giải thích được các hiện tượng tự nhiên,
học sinh sẽ yêu thích môn Sinh học hơn.
2.3.2 Sử dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy
Với đặc điểm đa dạng và phong phú của kiến thức liên môn, việc truyền
đạt cho học sinh những kiến thức thực tiễn có thể sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau, thông qua nhiều hình thức khác nhau, có thể đưa vào khi giảng bài
mới thông qua các bài hát, câu thơ, câu chuyện hài, các hình ảnh thực tế. Đặc
biệt là tổ chức các hoạt động ngoại khóa như các cuộc thi, các câu lạc bộ Sinh
học,….
2.3.3 Quy trình thiết kế hệ thống các bài hát, câu thơ, câu chuyện hài, các
hình ảnh thực tế theo hướng gắn với đời sống thực tiễn
2.3.3.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức
Với những định hướng đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn Sinh học ở
trường THPT, khi xây dựng hệ thống bài tập Sinh học theo hướng gắn với đời
sống thực tiễn, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức không chỉ có ý nghĩa về
đơn thuần về mặt sinh học mà còn gắn liền với thực tiễn, với đời sống của cá
nhân và cộng đồng, phát huy được năng lực khoa học, năng lực phát hiện và
giải quyết vấn đề của học sinh nhưng không quá khó, quá trừu tượng, làm mất
đi bản chất sinh học.
2.3.3.2 Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức
Đơn vị kiến thức lựa chọn khi thiết kế bài tập theo hướng gắn với đời
sống thực tiễn cần thực hiện được mục tiêu giáo dục là định hướng phát triển
năng lực bao gồm (kiến thức, kĩ năng, thái độ - tình cảm) của môn Sinh học nói
riêng và mục tiêu giáo dục ở trường THPT nói chung.
2.3.3.3 Kiểm tra thử
Thử nghiệm áp dụng kiến thức liên môn Sinh học đã thiết kế trên đối
tượng học sinh thực nghiệm để kiểm tra hệ về tính chính xác, khoa học, thực tế
của kiến thức Sinh học cũng như độ khó, độ phân biệt, tính khả thi, khả năng áp
dụng của bài tập.
2.3.3.4 Chỉnh sửa
Thay đổi, chỉnh sửa nội dung, số liệu, tình huống ... trong bài tập sau khi
đã cho kiểm tra thử sao cho hệ thống bài tập có tính chính xác, khoa học về mặt
5
kiến thức, kĩ năng, có giá trị về mặt thực tế và phù hợp với đối tượng học sinh,
với mục tiêu kiểm tra - đánh giá, mục tiêu giáo dục của môn Sinh học ở trường
THPT.
2.3.3.5 Hoàn thiện hệ thống câu hỏi
Sắp xếp, hoàn thiện hệ thống câu hỏi một cách khoa học.
2.3.4 Vận dụng cách thức “Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài mới ở một số
bài trong chương trình Sinh học 12 ở trường THPT”
“Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới” - Cách nêu vấn đề này có
thể tạo cho học sinh bất ngờ. Đó có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn
đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan
tâm của học sinh trong quá trình học tập. Nếu chúng ta được đọc những câu mở
đầu chứa đựng nhiều âm thanh, hình ảnh hay gợi nhiều vấn đề khác nhau, kích
thích sự tò mò tìm hiểu xem những phần tiếp theo sẽ có điều gì mới thì chắc
chắn sự theo dõi sẽ không chỉ dừng lại ở đó. Trong một giờ học cũng vậy, nếu
ngay từ phần đặt vấn đề giáo viên đã tạo ra hứng thú, vui tươi cho học sinh thì
chắc chắn trong nhữngphút tiếp theo các em sẽ hào hứng, phấn chấn và nhiệt
tình hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.
Sau đây là một số biện pháp để tạo hứng thú học tập môn Sinh học
bằng cách liên hệ thực tế khi giới thiệu bài mới:
2.3.4.1 Mở đầu bằng một bài hát
Ví dụ: Khi mở đầu bài 8 “QUY LUẬT PHÂN LY CỦA MENĐEN”,
giáo viên có thể bắt nhịp cả lớp hát bài: Cả nhà thương nhau: Ba thương con
vì con giống mẹ, mẹ thương con vì con giống ba. Cả nhà ta cùng yêu thương
nhau. Xa là nhớ, gần nhau là cười.
Sau đó, giáo viên đặt vấn đề “Tại sao con lại mang những đặc điểm
giống ba và giống mẹ? Di truyền học gọi hiện tượng đó là gì? Chúng ta có thể
tìm hiểu qua nội dung bài học hôm nay”. [1]
2.3.4.2 Mở đầu bằng một câu chuyện vui
Ví dụ 1: Khi mở đầu bài 9 “QUY LUẬT PHÂN LY ĐỘC LẬP CỦA
MENĐEN”, giáo viên kể cho học sinh nghe câu chuyện vui: Hai chàng sinh
viên nói chuyện với nhau [2]
Sinh viên 1: Đố cậu, Bao Công mà lấy Bạch Tuyết thì sinh ra con như
thế nào?
Sinh viên 2: Tớ chịu thôi! Khó quá!
Sinh viên 1: Dễ thế mà cậu không biết, nếu Bao Công mà lấy Bạch Tuyết
thì sẽ sinh ra Lọ Lem.
Giao viên dẫn dắt tiếp: “Về mặt di truyền học thì câu trả lời của cậu sinh
viên 1 có đúng không? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung của bài hôm nay”
Ví dụ 2: Khi dạy bài “ĐỘT BIẾN GEN”, giáo viên có thể kể câu
chuyện hài hước:
Giáo viên: Có một người đàn ông da trắng đến truyền đạo ở một đảo nhỏ
châu Phi. Sau một thời gian, vợ người thủ lĩnh da đen sinh ra một đứa con da
trắng. Viên thủ lĩnh tức giận chạy tới lều của người da trắng, hét lên:
6
- Ở đây chỉ có mi là người da trắng, ta sẽ trừng trị ngươi!
Nhà truyền giáo thanh minh:
- Ngay trên đảo này, có một bầy cừu trắng, vậy mà lại có duy nhất một
con cừu đen. Ông nghĩ sao?
Người thủ lĩnh suy nghĩ rồi dịu giọng:
- Vậy thì ta sẽ bỏ qua chuyện đứa trẻ da trắng, còn anh không được nói
với ai về con cừu đen kia nhé! [2]
Giáo viên dẫn dắt tiếp: “Vậy tại sao lại có hiện tượng trên. Để hiểu được
hiện tượng trong câu chuyện trên, chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung của bài
hôm nay”.
2.3.4.3 Mở đầu bằng một đoạn thơ
Ví dụ 1: Khi dạy về bài “NGUỒN GỐC CỦA SỰ SỐNG”, giáo viên có
thể liên hệ thực tế khi sử dụng đoạn thơ
“Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời còn thương”
(Trích Văn tế thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du)
Giáo viên đặt vấn đề : “Thế “ma trơi” là gì vậy? Các nhà văn tưởng
tượng ra chăng? Không phải, “ma trơi” quả là có thật. Nếu các em có dịp đi
qua các nghĩa trang vào ban đêm thì các em sẽ thấy tại một số ngôi mộ tỏa ra
những ngọn lửa màu xanh lãng đãng lập lòe mà dân gian thường gọi là “ma
trơi”. Bài học ngày hôm nay sẽ giúp các em hiểu được hiện tượng này”.
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là: Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa
địa càng tăng thêm sự mê tính dị đoan.
Ví dụ 2: Khi giới thiệu bài “CÁC BẰNG CHỨNG TIẾN HÓA”, giáo
viên có thể sử dụng đoạn thơ:
“Giải phẫu xương tới nội quan
Thể thức cấu tạo hoàn toàn giống nhau
"Lông mao - có vú - thai rau
Cơ quan thoái hoá từ lâu hao mòn
Phổi sinh: đến độ vuông tròn
Lặp lại chủng loại Phôi còn khe mang
Có đuôi - nhiều vú xếp hàng
Hiện tượng lại giống, rõ ràng mười mươi.
Phân biệt động vật với người
Động vật bẻ-cắn cành tươi để dùng
Công cụ sẵn có chung chung
Con người chế tạp giáo-cung-vại-bình
Tạo điều kiện sống cho mình
Giảm bớt lệ thuộc khi tình thế nguy.
Tiếng nói - trừu tượng - tư duy
7
Nâng dần khái niệm,
Phát huy giống nòi”.[2]
(“Chứng minh người có nguồn gốc động vật” – Thơ vui Sinh học)
Giáo viên dẫn dắt tiếp: “Vậy để chứng minh con người có nguồn gốc từ động
vật phải dựa trên những bằng chứng nào? Để trả lời câu hỏi trên chúng ta
cùng tìm hiểu qua nội dung của bài hôm nay”.
Ví dụ 3: Khi giới thiệu bài 13 “ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG
ĐẾN SỰ BIỂU HIỆN GEN”, giáo viên liên hệ thực tế khi mở bài như sau:
“GEN cùng tương tác
Với MÔI TRƯỜNG bình thường
Thành KIỂU HÌNH dễ thương
Trái đất thêm tươi đẹp.
TẬP HỢP CÁC KIỂU HÌNH
Của cùng một kiểu gen
Tuỳ môi trường thân quen
Gọi là MỨC PHẢN ỨNG.
KIỂU HÌNH cũng có thể
Thay đổi theo môi trường
MỀM DẺO thật thân thương
Ta gọi là THƯỜNG BIẾN.
Kiểu gen không thay đổi
Chỉ THAY ĐỔI KIỂU HÌNH
Giúp THÍCH NGHI thật nhanh.
Gián tiếp cho TIẾN HÓA”.[2]
Giáo viên dẫn dắt tiếp: “Qua bài thơ em hãy cho biết sự biểu hiện của
kiểu gen chịu ảnh hưởng của yếu tố nào? Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung
của bài hôm nay”.
2.3.4.4 Mở đầu bằng một số hình ảnh
Ví dụ 1 : Khi mở đầu bài 6 – ĐỘT BIẾN NHIỄM SẮC THỂ, giáo viên có thể
cho học sinh xem 1 số hình ảnh thực tế như sau:
[2]
8
[2]
[2]
Giáo viên dẫn dắt: “Vậy nguyên nhân nào gây ra hiện tượng trên. Để
biết được nguyên nhân gây ra hiện tượng trên, chúng ta cùng tìm hiểu qua nội
dung của bài hôm nay”.
9
Ví dụ 2 : Khi mở đầu bài 4– ĐỘT BIẾN GEN, giáo viên có thể cho học sinh
xem 1 số hình ảnh thực tế như sau:
[2]
Giáo viên dẫn dắt: “Qua hình ảnh các em vừa quan sát, em hãy cho biết
nguyên nhân gây ra những hiện tượng trên”.[1]
Giáo viên dẫn dắt tiếp: “Đó là hiện tượng đột biến gen - Nội dung của bài học
hôm nay”.
Ví dụ 3 : Khi giới thiệu bài “SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NHIỀU GEN VÀ TÍNH
ĐA HIỆU CỦA GEN”, giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh thực tế
như sau:
10
[2]
[2]
Giáo viên dẫn dắt: “Qua hình ảnh các em vừa quan sát, em hãy cho biết
nguyên nhân gây ra những hiện tượng trên”.
Giáo viên dẫn dắt tiếp: “Để giải thích được hiện tượng trên , chúng ta cùng
tìm hiểu qua bài học hôm nay”.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
11
Sau khi áp dụng một số biện pháp để tạo hứng thú học tập môn Sinh học
bằng cách liên hệ thực tế khi giới thiệu bài mới vào các tiết dạy, tôi thấy đã đạt
được kết quả khả quan:
+ Lớp học sinh động, sôi nổi, giúp nâng cao hứng thú học tập của các em.
+ Chất lượng bài giảng được nâng lên rõ rệt: học sinh dễ tiếp thu và nhớ
bài lâu hơn.
+ Giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập.
+ Phát triển năng lực chú ý, óc tò mò khoa học.
Khi tôi chưa áp dụng đề tài này thì thấy tỉ lệ học sinh yêu thích bộ môn
Sinh học rất ít, các em chưa húng thú khi học bài mới, từ đó dẫn đến kết quả
học tập không cao.
Các bài kiểm tra giúp các em không còn thấy chán nản khi làm bài mà tỏ
ra thích thú, tự tin và mạnh dạn hơn, từ đó điểm số được nâng lên. Cụ thể như
bảng sau:
Lớp
Bảng: Điểm kiểm tra học kỳ II
Lớp đối chứng
Lớp thực nghiệm
12A7
12A6
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
%
lượng
%
2
5.4
11
29,73
Khá
14
37.8
15
40,54
Trung
bình
13
35.1
8
21,62
Yếu
8
11.7
3
11,11
Tổng
37
100
37
100
Học lực
Số lượng
Giỏi
Trên đây là những công việc tôi đã làm để hoàn thành đề tài. Tôi hi
vọng, đề tài này có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng
dạy học môn sinh học ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay
12
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân tôi đã áp dụng tại trường
THPT Đặng Thai Mai. Qua thực nghiệm, tôi thấy kết quả học tập của học sinh
được nâng lên, góp phần nâng cao chất lượng dạy ở bộ môn. Với bản thân qua
quá trình áp dụng tôi rút ra một số bài học nhỏ sau:
Việc đưa tục ngữ, thành ngữ, câu truyện hài, một số hình ảnh thực tế vào
bộ môn Sinh học ngoài việc tạo hứng thú, kích thích tinh thần chủ động học tập
của học sinh thì xét về mặt xã hội đây còn là biện pháp góp phần gìn giữ và
phát huy một di sản văn hóa mà ông cha ta để lại.
Khi sử dụng tục ngữ, thành ngữ, bài hát, câu truyện hài vào bài dạy giáo
viên cần chú ý một số điểm:
+ Việc lựa chọn các câu tục ngữ, thành ngữ, bài hát, câu chuyện hài phải
phù hợp với nội dung từng bài học.
+ Về cách sử dụng, ngoài liên hệ thực tế khi giới thiệu bài mới, giáo viên
có thể lồng ghép vào nội dung của bài học hoặc có thể sử dụng trong phần củng
cố bài học.
+ Việc khai thác chỉ muốn liên hệ về mặt sinh học thì chỉ cần khai thác
nghĩa đen, tuy nhiên để đảm bảo tính giáo dục trong dạy học chúng ta nên kết
hợp với việc giải thích cả nghĩa bóng.
Xã hội ngày càng phát triển, văn hóa bên ngoài du nhập vào Việt
Nam ngày càng nhiều, văn học truyền miệng phần nào mai một đi trong thế hệ
trẻ. Do đó đây cũng chính là việc chúng ta góp công, góp sức trong việc bảo tồn
nền văn hóa dân tộc.
Trong đề tài này, tôi đã đề cập đến một số vấn đề xung quanh cuộc sống,
có ý nghĩa thực tiễn trong sản xuất và sinh hoạt, thậm chí có thể gặp, tiếp xúc
hàng ngày. Tôi hi vọng đây là vấn đề được nhiều giáo viên cũng như học sinh
quan tâm.
Với mục đích nghiên cứu của đề tài là áp dụng cho sinh học 12 từ đó phát
triển rộng ra cho lớp 10 và lớp 11. Với sự cố gắng của bản thân và đồng nghiệp
tôi tin chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao.
3.2. Kiến nghị và đề xuất
Để phát huy được tính đa dạng và những tác dụng tích cực của đề tài
“Tạo hứng thú học tập môn Sinh học bằng cách liên hệ thực tế khi giới thiệu
bài mới ở một số bài trong chương trình Sinh học 12” ở trường THPT có
hiệu quả hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh khi sử
dụng cách thức này, tôi xin có một số kiến nghị và đề xuất với Sở GD & ĐT
như sau:
- Do ý tưởng của Sáng kiến mới áp dụng được một số bài trong sinh học
12 do dó mong các đồng nghiệp tiếp tục hoàn thiện cho tất cả các bài sinh học
12 và cũng như toàn bộ chương trình Sinh học 10 và chương trình Sinh học 11.
13
-Trong đề tài không thể tránh được các thiếu sót, rất mong được sự quan
tâm, đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp để đề tài của tôi
được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết:
Nguyễn Thị Phương
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên sinh học 12, NXB Giáo dục.
2. Nguồn internet.
15
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Phương
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên, Trường THPT Đặng Thai Mai
TT
Tên đề tài SKKN
1.
“Sử dụng
bài tập để
giảng dạy Sinh học 10 ở
trường THPT”
“Xây dựng bài tập gắn với
thực tiễn theo hướng tiếp
cận PISA trong dạy học
chương1- Thành phần
hóa học của tế bào- Sinh
học 10, nhằm nâng cao
hứng thú học tập cho học
sinh ở trường THPT”
Cấp đánh
giá xếp loại
Kết quả
đánh giá
xếp loại
Năm học đánh
giá xếp loại
(A, B, hoặc C)
2.
Sở Giáo Dục
Và Đào Tạo
B
2006- 2007
Sở Giáo Dục
Và Đào Tạo
B
2016- 2017
16
MỤC LỤC…………………………………………………………………Trang
1. MỞ ĐẦU………………………………………………………………….1
1.1 Lí do chọn đề tài…………………………………………………………1
1.2 Mục đích nghiên cứu ……………………………………………………2
1.3 Đối tượng nghiên cứu …………………………………………………...2
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………..2
2. NỘI DUNG ………………………………………………………………3
2.1 Cơ sở lí luận ……………………………………………………………..3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm………..,….3
2.3 Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề………………………………….4
2.3.1 Bài tập thực tiễn………………………………………………………..4
2.3.2 Sử dụng kiến thức liên môn……………………………………………5
2.3.3 Quy trình thiết kế hệ thống các bài hát, câu thơ, câu chuyện………….5
hài, các hình ảnh thực tế theo hướng gắn với đời sống thực tiễn.
2.3.4 Vận dụng cách thức “Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài mới ở một
số bài trong chương trình Sinh học 12 ở trường THPT” ……………………6
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm…………………………………...11
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………………..13
3.1 Kết luận………………………………………………………………….13
3.2 Kiến nghị………………………………………………………………...13
TÀI LIỆU THAM KHẢO.……………………………………….………..15
17