Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2- 3
2
2. Mục đích nghiên cứu:
3
3. Đối tượng nghiên cứu:
3
4. Phương pháp nghiên cứu:
PHẦN II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
3
3-20
3
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
3. Kỹ thuật chạy 60m:
6
4. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.
12
5. Những kết quả đạt được:
19
6. Khả năng ứng dụng và triển khai.
PHẦN III. KẾT LUẬN
20
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
22
Trang 1
1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế đời sống của con người ở bất cứ thời điểm nào của xã hội chúng
ta đều cần đến sức khỏe, sức khỏe là vốn quý của con người và cũng vì thế, Chủ tịch
Hồ Chí Minh người đã khẳng định: ''TDTT là một công tác cách mạng như các công
tác cách mạng khác". Người còn kêu gọi: "Giữ gìn dân chủ xây dựng nước nhà việc
gì cũng cần có sức khỏe mới thực hiện thành công" (Năm 1946). Gần 15 năm sau
Người còn nhấn mạnh: "Muốn lao động sản xuất tốt công tác và học tập tốt thì cần
có sức khỏe". Khỏe để lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước mà Đảng và nhà nước đã xác định
Ngày nay một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của một
quốc gia trước hết đó là trình độ phát triển sức khỏe và thể chất của nguời dân, tính
phổ cập của phong trào TDTT quần chúng, trình độ TDTT nói chung và những kỷ lục
TDTT nói riêng. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng TDTT ngày càng có vị trí quan
trọng trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Giáo dục thể chất là một trong năm mặt giáo dục toàn diện; Chính vì vậy, trong
bất cứ cấp học nào chúng ta đều có môn học giáo dục thể chất. Giáo dục thể chất để
rèn luyện sức khỏe, khỏe để bảo vệ và xây dựng quê hương đất nước. Mặt khác giáo
dục thể chất là biện pháp tích cực nhất để rèn luyện sức khỏe cho các em. giáo dục
thể chất trường học giúp cho cơ thể các em phát triển cân đối và toàn diện tăng sức
đề kháng với các loại vi trùng gây bệnh và sự thay đổi bất thường của thời tiết....
Ngoài ra giáo dục thể chất còn có tác dụng phòng tránh một số bệnh thường xảy ra ở
lứa tưổi học sinh như cận thị, cong vẹo cột sống... Cũng qua giáo dục thể chất nhằm
tìm kiếm nhân tài cho quê hương đất nước. Chính vì lẽ đó mà theo kế hoạch của
Phòng, Sở, cứ 2 năm một lần, Bộ GD& ĐT cứ 4 năm một lần mà đặc biệt để chuẩn bị
cho Hội khỏe Phù Đổng đó thì các trường cứ mỗi năm tổ chức 1 lần trong trường học
nhằm tìm kiếm những hạt nhân tiêu biểu để tham gia có hiệu quả cao, để đưa phong
trào giáo dục thể chất của nhà trường THCS Thị Trấn nói riêng và Bá Thước nói
chung có vị trí cao. Trong sự phát triển đó hệ thống giáo dục thể chất trong bậc học
THCS chủ yếu là môn Điền kinh vì môn học này tác động rất tích cực trong phát
triển các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo, có tác
dụng tốt đến giáo dục năng lực thực hành, ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác tích cực
sáng tạo nỗ lực ý chí vượt qua khó khăn. Trong các hệ thống đó chạy 60m là một
trong những nội dung quan trọng của việc đánh giá tiêu chuẩn rèn luyện của các em
trong cấp học THCS. Mặt khác chạy 60m là hoạt động có chu kỳ, thực hiện từ xuất
phát, chạy lao, giữa quãng và về đích là sự kết hợp kỹ thuật hết sức quan trọng, phức
tạp khó thực hiện, như vậy người thực hiện không có khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo, cụ
thể cũng như chuẩn bị chưa tốt thì hiệu quả sẽ không cao.
Với nhiều năm kinh nghiệm trong dạy - học môn thể dục lớp 9 ở bậc THCS. và qua
các lần tham gia huấn luyện đội thi cấp Tỉnh, Hội khỏe Phù Đổng các cấp và là trọng
tài điền kinh cho khu vực Bắc Miền Trung, tôi thấy khi thực hiện chạy 60m một cách
chính xác nhuần nhuyễn các giai đoạn tốt thì sẽ có thành tích tốt. Trong 4 giai đoạn
2
đó có sự quan hệ mật thiết, móc xích với nhau, thúc đẩy cho nhau, ngược lại nếu
trong khi thực hiện nếu sai một giai đoạn sẽ dẫn đến phá vỡ kỹ thuật, thành tích đạt
được sẽ thấp. Từ kết quả của quá trình giảng dạy và những thành tích đã đạt được nên
tôi đã mạnh dạn áp dụng sáng kiến vào giảng dạy nên tôi chọn sáng kiến:
“Các giai đoạn và bài tập trong huấn luyện chạy 60m cho học sinh lớp 9”
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao thành tích tập luyện Thể dục thể thao trong trường THCS
nói chung và để bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng.
- Đẩy mạnh phong trào tập luyện TDTT hướng tới các cuộc thi HSG các cấp
- Nghiên cứu lựa chọn các bài tập của các bước để tập luyện cụ thể trong khi
huấn luyện chạy 60m cho HS THCS lứa tuổi 15 (khối 9).
3. Đối tượng nghiên cứu:
Sau khi xác định được mục đích nghiên cứu, căn cứ vào thời gian và chương
trình học tập của Bộ GD& ĐT; tôi tiến hành nghiên cứu các giai đoạn và bài tập
trong huấn luyện chạy 60m ở học sinh khối 9 Trường THCS Thị Trấn Cành Nàng
trong 2 năm 2014-2016
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tìm hiểu các nguyên nhân tìm ra các bài tập có
hiệu quả tốt nhất để sửa chữa, tôi đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu và tổng
hợp tư liệu liên quan đến đề tài nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy điền kinh nói
chung và chạy 60m trong trường THCS Thị Trấn Cành Nàng nói riêng, nhằm giải
quyết nhiệm vụ đề tài có tính ưu việt nhất.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Trong quá trình dạy học, nghiên cứu, huấn
luyện đội tuyển về nội dung chạy 60m ở lớp 9 trường THCS tôi nhận thấy sai lầm khi
huấn luyện làm ảnh hưởng đến thành tích của học sinh rất lớn.
- Phương pháp tọa đàm vấn đáp: Để tìm ra nguyên nhân mà khi huấn luyện mắc
phải trong khi học nội chạy 60m, tôi thấy sáng kiến này mang tính khoa học và thực
tiễn tôi đã sử dụng phương pháp này để phỏng vấn một số giáo viên có thâm niên, có
trình độ chuyên môn trong ngành giáo dục từ đó tìm ra vấn đề và giải quyết nó tốt
hơn.
- Phương pháp thực nghiêm sư phạm: Tôi đã dùng phương pháp này để tiến hành
thực nghiệm áp dụng một số bài tập đã được lựa chọn những sai lầm cơ bản nhất
trong chạy 60m ở lớp 9 bậc THCS trên cơ sở tư vấn cho đồng nghiệp thực nghiệm,
đối chiếu để tìm ra các bài tập phù hợp.
- Phương pháp thống kê tổng hợp: Để kết quả có độ chính xác cao tôi đã áp dụng
công cụ toán học thống kê để thống kê để cho kết quả chính xác khi đã tiến hành thực
nghiệm.
PHẦN II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN.
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí, tâm lí học
và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người, Tác dụng của giáo
dục thể chất là rất lớn, nó không ngừng đem lại sức khỏe cho học sinh mà còn góp
phần đào tạo con người phát triển toàn diện.
3
Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ quan cơ
thể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi. Sự tăng trưởng này
có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì. Giai đoạn lứa tuổi khác thì tố chất
thể lực phát triển khác, tức là trong cùng một lứa tuổi tố chất thể lực khác phát triển
thay đổi cũng không giống nhau.
Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định theo thứ tự
phát triển sau: Tố chất nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất bền và tố chất sức
mạnh.
* Tố chất sức nhanh:
Tố chất nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất mạnh, thời kì phát triển
tố chất nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở.
* Tố chất sức mạnh:
Sức mạnh là năng lực chống đỡ hoặc khắc phục sức cản bên ngoài nhờ những
nỗ lực của cơ bắp.
Đối với môn điền kinh chúng ta cần quan tâm đến sự phát triển sức mạnh tốc độ và
sức bền của người tập. Để phát triển sức mạnh tốc độ cần xen kẽ tập luyện đúng mức
với phương pháp dùng sức lớn nhất. Như vậy, trong quá trình cho học sinh tập luyện
môn điền kinh chúng ta cần đưa vào các bài tập phát triển sức mạnh bột phát của các
nhóm chi dưới, giúp cho việc về đích nhanh nhất.
* Tố chất sức bền
Sức bền là khả năng của cơ thể chống lại sự mệt mỏi trong một hoạt động nào
đó. Để phát triển sức bền cần cho HS luyện tập các bài tập từ nhỏ đến lớn theo hình
thức tăng dần và thông qua các môn thể thao như cầu lông, bóng chuyền , bóng rổ ..
Tóm lại, trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao nói chung và điền kinh
nói riêng, chúng ta cần căn cứ vào đặc điểm phát triển tố chất, đồng thời dùng các
phương pháp huấn luyện khoa học, xúc tiến cho việc phát triển tố chất thể lực của
người tập nói chung và học sinh nói riêng.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Về tâm lý học sinh lớp 9 đã hình thành thế giới quan tự ý thức, hình thành tính
cách, đó là tuổi lãng mạn ước mơ độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn đây là
tuổi thích được khen trước tập thể không thích chê trước tập thể, trí tuệ của học sinh
mang tính nhạy bén và phát triển đến mức độ tương đối tư duy nhất quán các em đã
có thái độ tự giác, tích cực, sáng tạo trong hoạt động, nhanh nhạy với cái mới, nhưng
suy luận triết lý chưa cao nên dẫn đến kết luận vội vàng thiếu chặt chẽ, thiếu cơ sở và
thiếu kinh nghiệm nên xa rời lý thuyết. Trí nhớ của các em thường không mang tính
máy móc khi học bài thường chú ý đến chủ đề và vạch ra cách thực hiện, xây dựng
khái niệm ghi nhớ một cách lôgic. Tư tưởng của các em phát triển mạnh biểu tượng
mang tính sáng tạo cao, các em đã có những ước mơ táo bạo và muốn thược hiện ước
mơ đó, ở lứa tuổi này hưng phấn lớn hơn ức chế, do đó các em tiếp thu cái mới rất
nhanh nhưng chóng chán nếu thành công dễ dẫn đến tự mãn điều đó hoàn toàn không
tốt cho học tập và thi đấu, tính tự ái thường xen vào trong học tập, chính vì thế nên
4
giáo viên cần ép buộc kết hợp với tự luyện, động viên, khuyến khích kịp thời dù cho
các em chỉ tiến bộ hơn trước một chút.
Ở lứa tuổi này các em đã có sự phát triển về thể lực cơ bản nhanh chức năng
sinh lý cũng phát triển theo, khả năng hoạt động của các bộ phận cơ thể cũng phát
triển theo. Xương bắt đầu đi vào ổn định, mặc dù vậy nhưng cột sống vẫn còn dễ bị
cong vẹo, nữ xương nhỏ hơn nam (tính tổng thể). Cơ dù phát triển muộn hơn xương
nhưng tính đàn hồi lại tăng nhanh, không đều chủ yếu là cơ nhỏ và cơ dài, hệ thần
kinh tiếp tục phát triển tạo điều kiện tốt cho hình thành các phản xạ nhanh chóng
hoàn thiện. Hệ tuần hoàn cũng bước đầu di vào hoàn thiện buồng tim cũng di vào
hoàn chỉnh lúc này mạch đập của nam khoảng 60 – 70 l/p của nữ khoảng 65 – 75 l/p.
Phản ứng của hệ tuần hoàn tương đối rõ nét tần số hô hấp không cách xa người lớn là
bao nhiêu tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức co dãn của lồng ngực ít mà
chủ yếu dựa vào cơ hoành. Hệ bài tiết hoạt động có hiệu quả đặc biệt là bài tiết qua
da chính vì thế mà phục hồi sau vận động rất nhanh, sự trao đổi chất tương đối hoàn
thiện cụ thể như sau.
+ Hệ thần kinh: Ở lứa tuổi này đã hoàn thiện về cấu trúc chức năng, sinh lí vận
đang phát triển mạnh. Quá trình hưng phấn vẫn chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế,
kích thước não và hành tủy đạt đến mức người trưởng thành. Hoạt động phân tích của
võ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện.
+ Hệ vận động: Lứa tuổi 14 - 15 hệ xương của các em đã cứng song vẫn đang
trong giai đoạn phát triển về chiều dài, xương ở giai đoạn này có tính đàn hồi rất tốt
vì chất keo trong xương chiếm tỷ lệ cao bắp thịt chiếm tỷ lệ nước nhiều, cơ bắp mạnh
dẻ chủ yếu phát triển về chiều dài cơ, do cơ bắp phát triển nên lực cơ tăng. Các nhóm
cơ nhỏ đã bắt đầu phát triển, các cơ co phát triển hơn các cơ duỗi. Do vậy ở lứa tuổi
này cần tập trung vào phát triển sức mạnh cho các em.
+ Hệ tuần hoàn: Tim của các em lứa tuổi này phát triển chậm hơn so với mạch
máu. Do đó cơ năng của tim chưa được vững vàng, cơ năng điều tiết hoạt động của
tim chưa được ổn định, sức co bóp còn yếu. Nếu hoạt động quá nhiều quá căng thẳng
sẽ dẫn đến nhanh mệt mỏi. Tập thể dục thường xuyên sẽ ảnh hưởng rõ ràng đến hệ
thống tuần hoàn, tim dần dần thích ứng và có khả năng chịu đựng với khối lượng làm
việc nặng nhọc. Nhưng trong quá trình tập luyện cần tôn trọng các nguyên tắc tăng
dần từ nhẹ đến nặng, không nên để các em hoạt động quá sức chịu đựng quá đột ngột.
+ Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi 14 - 15 phổi các em phát triển chưa đầy đủ các ngăn
các buồng, túi phổi đang còn nhỏ, các cơ thở còn chưa phát triển dung lượng phổi
còn nhỏ. Vì vậy khi hoạt động tần số thở của các em phải tăng lên nhiều dẫn đến
chóng mệt mỏi. Cho nên việc rèn luyện của các em không những phải phát triển toàn
diện mà còn chú ý tới phát triển các cơ thở, đồng thời dạy cho các em biết cách thở
sâu thở đúng như vậy mới có thể làm việc, hoạt động dược lâu bền.
Trong quá trình dạy học môn thể dục thực chất là rèn luyện kỹ năng sống, thái
độ, hành vi, phát triển thể lực, nâng cao sức khỏe phát huy thế mạnh của bản thân về
thể dục thể thao, biết vận dụng những cái đã học vào các hoạt động trong và ngoài
5
nhà trường. Để tìm và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, cho ngành GD Huyện Bá
Thước về nhân tài chạy cự li ngắn mà cụ thể là chạy 60m, muốn làm được điều đó
người giáo viên phải truyền thụ cho học sinh những khái niệm, hình thành các khái
niệm, kỹ năng, kỹ xảo, phối hợp nhuần nhuyễn các giai đoạn của chạy 60m.
Xuất phát từ yêu cầu chung nhằm nâng cao thành tích của học sinh và nâng cao
chất lượng dạy - học cũng như nâng cao thành tích trong thi đấu. Tôi đã tiến hành
một số giải pháp như: Dùng phiếu điều tra và thu thập thông tin về hiểu biết của học
sinh trong quá trình luyện tập chạy cự li ngắn 60m.
Phiếu điều tra:
1. Kỹ thuật chạy 60m gồm mấy giai đoạn?
a. 3
b.4
c.5
2. Tại sao nói giai đoạn chạy giữa quãng là giai đoạn quan trọng của chạy cự li
ngắn ?
3. Ở giai đoạn chạy giữa quãng, cặp tố chất thể lực nào là quan trọng nhất:
a. Tố chất sức nhanh, sức bền
b. Tố chất sức mạnh, sức bền
c. Tố chất sức nhanh, sức mạnh
Ngoài ra tôi còn sử dụng một phiếu học tập để đánh giá ý thức tập luyện của
học sinh và sự hiểu biết về phương pháp tập luyện của học sinh:
1. Em có tự tập nhảy xa thường xuyên tập chạy cự li ngắn ? Tập theo hình thức nào?
2. Một học sinh xuất phát không đúng kỹ thuật ,thành tích đạt được có cao không?
3. Một bạn chạy không đúng ô chạy thành tích có được tính không?
Kết quả cho thấy vốn hiểu biết của các em về bộ môn chạy cự li ngắn còn nhiều
hạn chế do các em không quan tâm đến luyện tập thể lực và quan tâm đến môn học,
đa số các em không biết được rằng rèn luyện thể thao kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
kết quả học tập cũng như sự phát triển của cơ thể. Khi tiến hành nghiên cứu học sinh
khối 9 gồm 59 em, tôi thu được kết quả như sau:
Kết quả điều tra giáo dục:
Bảng 01
STT
Nội dung
Thích tập
Không thích
tập
Bình
thường
Khó tập
1
Phiếu hỏi ý kiến
15,3%
33,9%
32,2%
18,6%
2
Trò chuyện
20,3%
27,1%
37,3%
15,3%
3
Kiểm tra trắc nghiệm
13,6%
37,3%
25,4%
23,7%
3. Kỹ thuật chạy 60m:
Chạy là phương pháp di chuyển tự nhiên của con người, là dạng phổ biến nhất
trong các bài tập thể lực và được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các môn thể thao.
6
Hình 1
Cũng như đi bộ, Chạy là một hoạt động có chu kỳ, mỗi chu kỳ gồm hai bước.
Nhưng chạy khác với đi bộ ở chỗ, trong một chu kỳ chạy có hai thời kỳ bay và trong
chạy: tốc độ, biên độ hoạt động lớn hơn đi bộ (Hình 1).
Chạy cự ly 60m được chia một cách quy ước thành 4 giai đoạn: xuất phát, chạy
lao sau xuất phát, chạy giữa quãng và về đích.
3. 1. Xuất phát .
Giai đoạn này bắt đầu từ khi vận động viên vào bàn đạp đến khi rời khỏi bàn
đạp. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tận dụng mọi khả năng để xuất phát nhanh và
đúng luật. Trong chạy 60m, để xuất phát được nhanh, phải dùng kỹ thuật xuất phát
thấp với bàn đạp. Xuất phát thấp giúp ta tận dụng được lực đạp sau để cơ thể xuất
phát nhanh.
Cách đóng bàn đạp
Hinhf
Hình 2
7
Trong thi đấu, kiểm tra sau khi đóng bàn đạp và thử xuất phát. Có 3 lệnh, kỹ
thuật sau mỗi lệnh như sau:
Hình 3
Theo hiệu lệnh “vào chỗ”, vận động viên chạy tiến ra trước hai bàn đạp, ngồi
xuống và chống tay về phía trước vạch xuất phát. Từ thư thế này, vận động viên
chuyển chân từ phía trước ra phía sau, lần lượt tỳ bàn chân lên mặt tựa bàn đạp trước
rồi đến bàn đạp sau. Hai mũi giầy chạy chạm mặt đường hoặc hai đinh đầu tiên tỳ
xuống mặt đường. Sau khi hạ gối sau xuống, vận động viên thu hai tay về và đặt
xuống sát sau vạch xuất phát (Hình3). Lúc này giữa ngón cái và các ngón còn lại để
sát nhau tạo thành vòm. Hai tay duỗi thẳng tự nhiên, chống tỳ trên đất ở độ rộng bằng
vai. Thân trên thẳng, đầu duỗi thẳng so với thân trên và trọng lượng cơ thể được phân
đều giữa hai tay, chân chống trước và đầu gối chân sau. Ở tư thế đó người chạy chú ý
nghe lệnh tiếp.
Theo lệnh “sẵn sàng”, vận động viên hơi duỗi chân, gối chân đặt sau tách khỏi mặt
đường làm trọng tâm hơi chuyển lên trên và ra trước. Lúc này, trọng lượng cơ thể dồn
trên hai tay và chân chống trước, hình chiếu của trọng tâm cơ thể trên đất phải cách
vạch xuất phát từ 15 – 20cm. Hai đế giầy tỳ sát vào mặt tựa bàn đạp, vùng hông nâng
cao hơn vai 10 – 20cm và lúc này hai cẳng chân gần như song song với nhau. Trong
tư thế “sẵn sàng”, điều cần lưu ý là không nên dồn trọng lượng cơ thể quá nhiều
xuống hai tay vì điều này làm ảnh hưởng xấu đến thời gian hoàn thành xuất phát thấp
(Hình4). Giữ nguyên tư thế đó và lập tức lao ra khi nghe lệnh xuất phát.
Hình 4
8
- Sau lệnh “Chạy!”–hoặc tiếng súng: Xuất phát được bắt đầu bằng đạp mạnh hai
chân. Hai tay rời mặt đường đánh so le với chân (vừa để giữ thăng bằng, vừa để hỗ
trợ lúc đạp sau của hai chân). Chân sau không đạp hết, mà mau chóng đưa về trước
để hoàn thành bước chạy thứ nhất. Chân phía trước phải đạp duỗi thẳng hết các khớp
rồi mới rời khỏi bàn đạp, đưa nhanh về trước để thực hiện và hoàn thành bước chạy
thứ hai. Khi đưa lăng, các mũi bàn chân không chúc xuống để không bị vấp ngã.
(Hình 5, hình 6)
Hình 5
Hình 6
Trong bước đầu tiên, góc đạp sau từ bàn đạp của những vận động viên chạy
ngắn cấp cao khoảng 42 - 500 , đùi chân lăng tạo với thân trên một góc gần 30 0. Tư
thế nêu trên giúp cho lực đạp đẩy cơ thể về trước nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi
cho đạp sau mạnh và giữ được độ nghiêng nói chung của cơ thể trong những bước
chạy đầu tiên.
3. 2. Giai đoạn chạy lao:
Giai đoạn này bắt đầu từ khi vận động viên rời khỏi bàn đạp tới khi chạy đạt tốc
độ cao nhất của mình. Nhiệm vụ của giai đoạn này là mau chóng đạt được tốc độ tối
đa để chuyển sang chạy giữa quãng.
9
Hình7
Tốc độ chạy lao sau xuất phát được tăng lên chủ yếu do tăng độ dài bước chạy
và một phần không nhiều do tăng tần số bước. Việc tăng độ dài bước chủ yếu đến
bước thứ tám – thứ mười (bướ c sau dài hơn bước trước từ 10 – 15cm), sau đó thì độ
dài bước được tăng ít hơn (4 – 8cm). Việc thay đổi độ dài bước đột ngột dưới hình
thức nhảy là không tốt vì làm mất đi nhịp điệu chạy.
Cùng với việc tăng tốc độ di chuyển của cơ thể, thời gian bay trên không tăng
lên và thời gian tiếp đất giảm đi (Hình 8)
Hình 8
3. 3. Giai đoạn chạy giữa quãng:
Tiếp sau chạy lao là chạy giữa quãng. Nhiệm vụ chủ yếu của chạy giữa quãng là
duy trì tốc độ cao đã đạt được ở kết thúc chạy lao (mà không phải tiếp tục tăng tốc độ
chạy). Trong giai đoạn này kỹ thuật chạy khá ổn định.
10
Khi chạy giữa quãng (cũng như chạy trên toàn cự li) việc thở vẫn tiến hành,
thậm chí cần thở tích cực hơn lúc bình thường. Tuy nhiên phải đảm bảo rằng việc thở
đó không làm rối loạn kỹ thuật và nhịp điệu chạy. Để tăng tốc độ chạy, có nhiều
người chủ động tăng nhịp thở, nhưng cũng có những người lại cố nhịn thở. Dù theo
cách nào cũng không được vì vậy làm rối loạn nhịp điệu chạy.
Nhìn chung, do đoạn chạy giữa quãng là dài so với các đoạn khác nên thành
tích chạy 60m phụ thuộc rất lớn vào thành tích ở đoạn chạy giữa quãng. Chạy giữa
quãng tốt là chạy được với tần số và độ dài bước lớn nhưng phù hợp với đặc điểm
mỗi người. Phối hợp nhuần nhuyễn giữa dùng sức và thả lỏng, đảm bảo cho cơ bắp
được hoạt động với hiệu suất cao nhất. Cần chạy nhẹ nhàng, thả lỏng không có các
động tác thừa (hình 9,10)
Hình 9
Hình 10
3.4. Giai đoạn chạy về đích:.
Chạy giữa quãng sang rút về đích. Tập trung hết sức lực để tăng tốc độ – chủ
yếu là bằng tăng tần số bước. Cố tăng độ ngả người về trước để tận dụng hiệu quả
đạp sau. Người chạy hoàn thành cự li 60m khi có một bộ phận của thân trên (trừ đầu)
chạm vào dây đích.(Hình 11)
Thực ra, động tác đánh đích chỉ có ý nghĩa khi cần phân thứ hạng giữa những
người có cùng thành tích. Bình thường chỉ là chạy qua đích.
11
Hình 11
Người ta còn áp dụng cả phương pháp vừa gập thân trên vừa xoay để một bên
vai chạm vào dây đích. Sau khi chạm dây đích, để khỏi ngã, vận động viên cần đặt
nhanh chân lăng xa về phía trước để giữ thăng bằng (Hình 12 ).
Hình 12
4. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.
4.1.Thực trạng.
- Thực trạng ở trường THCS Thị Trấn:
Trường THCS Thị Trấn Cành Nàng là một trường trung tâm Huyện Bá Thước và
cũng là trường chất lượng cao về văn hóa của Huyện. Là một trường còn gặp rất
nhiều khó khăn nhưng luôn phấn đấu là trường có phong trào thi đua dạy tốt – học
tốt, phong trào cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất phục vụ giảng
dạy, học tập ngày càng được áp dụng đầy đủ hơn.
Đặc biệt trong lĩnh vực thể dục thể thao: Đây là một mặt rất quan trọng của
giáo dục toàn diện của nhà trường. Trong nhiều năm gần đây thành tích thi đấu các
giải thể thao Hội khỏe Phù đổng cấp Huyện, nhà trường luôn có H/S đạt giải. Có
được điều đó là do nhà trường đã đầu tư cơ sở vật chất.
Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế:
+ Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc học giáo dục thể chất còn nhiều
thiếu thốn, kích thước sân bãi chưa đảm bảo cho việc giảng dạy và huấn luyện thể
dục thể thao nên không gây được hứng thú tập luyện cho học sinh, các tiết học, các
nội dung thường bị ngắt quãng bởi điều kiện thời tiết.
+ Việc bố trí các tiết học Thể Dục xen kẽ cùng với các môn học khác cũng làm
ảnh hưởng đến quá trình rèn luyện, học tập của học sinh. Vì học chung buổi với các
12
môn văn hóa khác, nên trang phục của các em học sinh chưa đúng với quy định. Học
xong tiết Thể Dục sau đó tiếp tục vào học các môn văn hóa khác, do đó không đảm
bảo vệ sinh thân thể. Bên cạnh đó là sự mệt mỏi do không đảm bảo thời gian nghỉ
ngơi hợp lý sau vận động, dẫn đến một số em vì lý do đó nên chưa nhiệt tình học tập
do vậy thành tích chưa cao.
+ Học sinh của trường phần lớn là học sinh thị trấn, các em thậm chí là phụ
huynh không quan tâm đến việc học các môn như Thể Dục, Nhạc, Họa...mà chỉ tập
trung vào các môn văn hóa như Toán, Lý, Văn ..... Vì vậy mà chất lượng ở bộ môn
Thể Dục chưa cao.
- Thực trạng ở trường THCS nói chung:
Qua nghiên cứu và tự tìm hiểu dự giờ dạy của giáo viên và một số giáo án giảng
dạy thể dục bộ môn Thể dục, tôi nhận thấy các giáo viên đã tuân thủ theo đúng
chương trình và phương pháp giảng dạy của THCS .Tuy nhiên giáo viên còn thiên về
giảng dạy cơ bản, còn ít sử dụng các bài tập và trò chơi phát triển tổng hợp các tố
chất thể lực cũng như gây hứng thú cho các em. Trong khi dạy học nội dung chạy
60m ở lớp 9 bậc THCS nhiều giáo viên đào sâu nghiên cứu về sai lầm mà học sinh
mắc phải hay các giải pháp mà chưa ai đưa ra các bài tập của các bước để tập luyện
cụ thể trong khi huấn luyện. Nên ở sáng kiến này tôi đã tìm ra các bài tập cho các
bước huấn luyện:
Bước 1. Giai đoạn ban đầu.
Xuất phát cao chạy 30m
Chạy tốc độ cao 30m
Xuất phát cao chạy 60m
Chạy 100m
Bước 2. Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
Chạy tăng tốc 30m
Chạy biến tốc 200m
Chạy lên dốc, chạy lên bậc cầu thang.
Bài tập đứng lên, ngồi xuống:
Bài tập bật nhảy đổi chân:
Bài tập phát triển cơ lưng cơ bụng:
Chạy bền:
Bài tập với tạ gánh 20 kg bật nhảy đổi chân:
Bước 3. Giai đoạn chuyên môn sâu.
Chạy trong các điều kiện như: Chạy lên dốc (4 0 - 80) chạy xuống dốc, chạy có
sử dụng sức kéo nhân tạo.
Chạy trên cát.
Chạy tăng tốc 30m
Chạy tốc độ 50m :
Chạy xuất phát thấp.
Chạy xuất phát thấp có dây chun 30m.
Chạy xuất phát thấp 120m :
Chạy 200m
Chạy 400m
Chạy đạp sau 60m.
Bật cóc 25m.
13
Bài tập về cơ lưng, cơ bụng, cơ gấp bàn chân, cơ gấp và duỗi cẳng chân, cơ
gấp và duỗi đùi .
Chạy việt dã 1500m.
Bước 4. Giai đoạn hoàn thiện thể thao.
Chạy 30m,50m, 100m xuất phát thấp:
Chạy 50m,100m, 200m, 400m:
Qua những bước với bài tập đó tôi và đồng nghiệp, nhóm chuyên môn gồm
có 3 người và nhờ 3 đồng nghiệp trường khác đã có cuộc vấn đáp cũng như phiếu
điều tra cho thấy kết quả như sau:
Bảng 02
T
Bước và bài tập của tường bước
Số người
TT
1
2
3
4
đồng ý
Bước 1. Giai đoạn ban đầu.
Xuất phát cao chạy 30m
Chạy
1 tốc độ cao 30m
Xuất phát cao chạy 60m
Chạy 100m
Bước 2. Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
Chạy tăng tốc 30m
Chạy biến tốc 200m
2 Chạy lên dốc, chạy lên bậc cầu thang.
6
Bài tập đứng lên, ngồi xuống:
Bài tập bật nhảy đổi chân:
Bài tập phát triển cơ lưng cơ bụng:
Chạy bền: Bài tập với tạ gánh 20 kg bật nhảy đổi chân:
Bước 3. Giai đoạn chuyên môn sâu.
Chạy trong các điều kiện như: Chạy lên dốc (4 0 - 80)
chạy xuống dốc, chạy có sử dụng sức kéo nhân tạo.
Chạy trên cát.
Chạy tăng tốc 30m
Chạy tốc độ 50m :
Chạy xuất phát thấp.
3 Chạy xuất phát thấp có dây chun 30m.
Chạy xuất phát thấp 120m :
Chạy 200m
Chạy 400m
Chạy đạp sau 60m.
Bật cóc 25m.
Bài tập về cơ lưng, cơ bụng, cơ gấp bàn chân, cơ gấp
và duỗi cẳng chân, cơ gấp và duỗi đùi .
Chạy việt dã 1500m.
Bước 4. Giai đoạn hoàn thiện thể thao.
4 Chạy 30m,50m, 100m xuất phát thấp:
Chạy 50m,100m, 200m, 400m:
6
Tỉ lệ
%
100%
100%
6
100%
6
100%
14
+ Qua hai bảng số liệu trên và quá trình công tác của bản thân (12 năm công tác)
theo ý kiến cuả tôi, cũng như nguyên lý của chạy 60m thì thành tích phụ thuộc vào
công thức
S là chiều dài quãng đường
S = v.t
v là tốc độ chạy.
t là thời gian
Cũng như vậy thì người tập phải biết phối hợp chặt chẽ các giai đoạn với nhau
trong khi thực hiện chúng ta cần t nhỏ. Mà t được tính theo công thức sau.
S
t=
t là thời gian
S là chiều dài quãng đường
v
v là tốc độ chạy.
Qua các yêu cầu đó bản thân tôi nhận định để nâng cao thành tích cho chạy
60m ở lớp 9 bậc THCS thì chúng ta cần giải quyết tốt các bước với bài tập trên thì
các em học sinh sẽ có thành tích tốt hơn.
4.2.Nguyên nhân:
4.2.1: Về phía giáo viên :
- Chưa nắm được yêu cầu về nội dung dạy.
- Khi huấn luyện giáo viên chưa chú ý mà chỉ ăn may vào năng khiếu của học
sinh.
- Chưa mang tính kế thừa lâu dài.
- Phương pháp lên lớp chưa phù hợp.
- Chưa có kinh nghiệm chọn vận động viên.
- Cách tiến hành chưa bài bản.
- Chưa phân biệt cần hình thành cho học sinh những cái gì trước.
- Chưa có kinh nghiệm trong huấn luyện.
4.2.2: Về phía học sinh:
- Học sinh THCS bắt đầu và đang bước vào thời kỳ dậy thì nên cơ thể các em
phát triển với tốc độ rất nhanh cả về hình thái, tố chất thể lực cũng như chức phận
của các hệ cơ quan trong cơ thể. Vì thế một số em đặc biệt là nữ thường e thẹn, rụt rè
khi luyện tập ảnh hưởng đến quá trình dạy – học.
- Đặc biệt chạy cự ly ngắn nói chung và chạy 60m nói riêng là nội dung luyện
tập tương đối đơn điệu mà đòi hỏi người học phải vận động nhiều làm học sinh dễ
nhàm chán và đôi lúc không đảm bảo lượng vận động cần thiết để phát triển các tố
chất thể lực.
- Đa số các em còn coi nhẹ việc luyện tập dẫn đến tình trạng học sinh không
đáp ứng được yêu cầu thể lực ngày càng tăng. Một phần do việc học các môn văn hóa
chiếm khá nhiều thời gian đặc biệt với trường THCS Thị Trấn là trường chất lượng
cao về văn hóa của Huyện thì việc luyện tập rất khó khăn.
4.3. Giải pháp:
15
4.3.1. Cơ sở để chọn các bước và bài tập trong huấn luyện chạy 60m :
+ Quy luật hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động: Đặc điểm của kỹ năng kỹ
xảo vận động là điều kiện tự động hóa đối với các động tác, kỹ năng là bước đầu hình
thành động tác, của quá trình dạy học và rèn luyện cần thiết, Kỹ năng động tác thể
hiện mức độ cao và các thành phần động tác chưa ổn định, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần
thì động tác càng trở nên thuần thục, sự phối hợp dần dần trở thành tự động hóa cũng
từ đó kỹ năng trở thành kỹ xảo. Trong thực hiện động tác không còn động tác thừa và
lúc này biểu hiện đặc điểm cao nhất của động tác, tiến tới tự động hóa cao của động
tác khi thực hiện động không còn sự tập trung và không suy nghĩ tính bền vững của
kỹ xảo vận động chỉ có giá trị khi kỹ thuật động tác đúng. Nếu không có các bước và
bài tập cụ thể cho từng bước để cho học sinh tự hình thành thì sau này rất khó khăn
cho việc huấn luyện và thành tích sẽ không được như ý muốn.
+ Để tiến hành quá trình giảng dạy khái niệm, kỹ năng kỹ xảo động tác của chạy 60m
cần giúp học sinh nắm vững các yếu lĩnh của động tác, theo tôi phải tuân theo bài tập
các bước và khi áp dụng cần các phương pháp dạy học đó là:
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp toán thống kê
- Phương pháp thị phạm kết hợp giảng giải.
- Phương pháp thực hiện động tác bổ trợ.
- Phương pháp trực quan (trực tiếp và gián tiếp).
- Phương pháp sửa sai (sửa sai đồng loạt và sửa sai cá nhân).
- Phương pháp phân chia.
- Phương pháp toàn bộ.
- Phương pháp trò chơi thi đấu.
- Phương pháp kiểm tra đánh giá
4.3.2. Các bước và các bài tập, lượng vận động trong huấn luyện chạy 60m:
4.3.2.1. Bước 1. Giai đoạn huấn luyện ban đầu.
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là phát triển thể lực toàn diện cho
các em học sinh, dạy cho các em những bài tập khác nhau, gây cho các em sự ham
thích về môn chạy ngắn. Trong giai đoạn huấn luyện ban đầu có các bài tập nhằm
phát triển tổng hợp các tố chất thể lực của học sinh. Tần số động tác là một trong
những chỉ số chủ yếu của tốc độ, vì vậy trong các buổi tập cần ưu tiên phát triển sức
nhanh, sức bền.
Cụ thể là các bài tập:
Bảng 03
TT
1
Tên bài tập
Xuất phát cao chạy 30m
Chỉ tiêu (giây)
Nam
5'0 – 4,5
Nữ
5,5 – 5,0
16
2
Chạy tốc độ cao 30m
4,5 – 4,0
5,0 – 4,5
3
Xuất phát cao chạy 60m
9,0 – 8,6
9,5 – 9,0
4
Chạy 100m
12,7 – 12,3
13,5 – 13,0
4.3.2.2. Bước 2. Giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu:
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là huấn luyện thể lực toàn diện, nâng
cao mức độ chịu đựng chung của cơ thể, tạo được vốn kỹ năng vận động, tăng tri
thức để hình thành những nền tảng ban đầu của tài năng thể thao. Đặc điểm của giai
đoạn này là sử dụng các phương tiện huấn luyện.
4.3.2.2.1. Huấn luyện tốc độ.
Có thể áp dụng các bài tập:
Bảng 04
TTT
Tên bài tập
Chỉ tiêu (giây)
Nam
Nữ
1
Chạy tăng tốc 30m
3,8 – 4,0
4,4 – 4,6
2
Chạy biến tốc 200m
4,4 – 4,0
5,2 – 4,5
3
100m nhanh, 100m chậm
9,0 – 8,8
9,3 - 125
4
Chạy bền:
1’30’’ – 1’45’’
1’32’’ - ’50’’
Ngoài ra, việc sử dụng những bài tập khác nhau trong những tình huống thay
đổi cũng rất hiệu quả. Có thể sử dụng các môn bóng (bóng đá, bóng rổ, bòng bàn) đòi
hỏi phải thể hiện sức nhanh, các bài tập với bóng nhồi (2 - 5 kg), nhảy xa với đà
ngắn.
4.3.2.2.2. Huấn luyện về thể lực.
Bảng 05
TTT
1
Tên bài tập
Chạy lên dốc, chạy lên bậc cầu thang.
Chỉ tiêu
Nam
35m – 45m
Nữ
30m – 35m
2
Bài tập đứng lên, ngồi xuống
30 lần
20 lần.
3
Bài tập bật nhảy đổi chân
30 lần
20 lần
4
Tập cơ bụng
30 lần
20 lần
5
Tập cơ lưng
30 lần
20 lần
20 lần
15 lần
6
Với tạ gánh 20 kg bật nhảy đổi chân
17
4.3.2.3. Bước 3. Giai đoạn chuyên môn hóa sâu:
Nhiệm vụ của giai đoạn là hoàn thiện về thể lực, kỹ thuật của vận động viên
chạy ngắn.
Đặc điểm của giai đoạn này là tính chuyên môn hoá được thể hiện rõ hơn. Tỷ
trọng huấn luyện chuyên môn về thể lực, kỹ thuật, tâm lý được tăng lên đáng kể.
Khối lượng và cường độ của các phương tiện chủ yếu tăng nhiều hơn so với giai
đoạn trước. Điều này diễn ra không chỉ do huấn luyện chung mà con do ưu tiên tăng
số lượng các bài tập huấn luyện chuyên môn và thi đấu.
4.3.2.3.1. Huấn luyện sức nhanh tốc độ.
Trong giai đoạn này, để huấn luyện sức nhanh nên sử dụng các bài tập
Bảng 06
TT
Tên bài tập
Chỉ tiêu
Nam
Nữ
1 Chạy trong các điều kiện khó khăn như 35m – 45m
chạy lên dốc (40 - 80).
1
30m – 35m
2 Chạy trong các điều kiện dễ dàng hơn 35m – 45m
(chạy xuống dốc, chạy có sử dụng sức
2
kéo nhân tạo ).
30m – 35m
3
Chạy trên cát.
35m – 45m
30m – 35m
4
Chạy tăng tốc 30m
3’’30 - 3’’35
l4’’35 – 4’’40
5
Chạy tốc độ 50m
5’’40 – 5’’45
6’’35 – 6’’40
6
Chạy xuất phát thấp
2lần
2 lần
7
Chạy xuất phát thấp có dây chun 30m
15 lần.
07 lần.
8
Chạy xuất phát thấp 120m
15’’3 –15’’5
16’’3 – 18’’5
9
Chạy 200m
25’’ – 25’’2
27’’ – 28’’2
10
Chạy 400m
60’’ – 63’’
67’’ – 69’’
4. 3.2.3.2. Huấn luyện thể lực.
Bảng 07
TT
Tên bài tập
Chỉ tiêu
Nam
Nữ
1
Chạy đạp sau 60m
3L x 15m
3L x 15m
2
Bật cóc
3L x 15m
3L x 15m
18
3
Bài tập về cơ lưng, cơ bụng, cơ
Mỗi bài
gấp bàn chân, cơ gấp và duỗi cẳng chân, tập: Nam 25 lần
cơ gấp và duỗi đùi
Mỗi bài
tập: Nữ 20 lần
4
Chạy việt dã
1500m.
1500m.
4.3.2.4. Bước 4. Giai đoạn hoàn thiện thể thao.
Nhiệm vụ của giai đoạn này là hoàn thiện về thể lực cũng như kỹ thuật trong
chạy cự ly ngắn để chuẩn bị cho vận động viên thi đấu.
Đặc điểm của giai đoạn này là trình độ chuyên môn của các vận động viên chạy
ngắn càng cao, lượng vận động trong huấn luyện tương ứng với thi đấu càng lớn và
việc tuân theo nguyên tắc thích hợp cùng nghiêm ngặt. Vì vậy chúng ta cần đặc biệt
thận trọng điều hoà mối quan hệ giữa khối lượng và cường độ của lượng vận động
trong huấn luyện.
Khối lượng chủ yếu của các bài tập trong giai đoạn này là nhằm nâng cao tốc
độ chạy cực đại và hoàn thiện chạy lao sau xuất phát được thể hiện trong giai đoạn
huấn luyện chuyên môn. Áp dụng các bài chạy đủ khối lượng, đủ cự ly như: Chạy
100m, 200m, 400m với toàn bộ kỹ thuật.
Bảng 08
TT
Tên bài tập
Chỉ tiêu
Nam
Nữ
1
Chạy 30m xuất phát thấp
3’’13 - 3’’18
3’’18 - 3’’22
2
Chạy 50m:
5”25 - 5”35
5”30 - 5”45
3
Chạy 100m.
12” - 12”2
12”6 - 13”01
4
Chạy 200m:
24” - 25”
25” - 25”3
5
Chạy 400m.
58” - 60”
6’’10 – 6’’40
* Với đặc thù đơn vị tôi là trường trung tâm Huyện, có cả học sinh con em thị
trấn và các xã lân cận nên tôi có dịp áp dụng vào hai đối tượng khác nhau. Trong
sáng kiến này tôi đã tiến hành thực nghiệm tại đơn vị qua thi đấu HKPĐ năm học
2014 - 2015 cũng như các lần HKPĐ các cấp trước đó tôi nhận thấy thành tích của
đơn vị tôi về chạy 60m không có nên tôi ấp ủ sáng kiến với đội tuyển điền kinh đặc
biệt là nội dung chạy 60m. năm học 2015 - 2016 ( tôi tìm hiểu và nêu cách giải
quyết) và tham gia HKPĐ cấp huyện thì cho thấy một số kết quả như sau.
5. Những kết quả đạt được:
*Kết giáo quả điều tra dục:
Bảng 9
STT
1
2
Nội dung
Phiếu hỏi ý kiến
Trò chuyện
Thích tập
30,5%
30,5%
Không thích
tập
15,3%
16,9%
Bình
thường
44,1%
45,8%
Khó tập
10, 1%
6,8%
19
3
Kiểm tra trắc nghiệm
28,8%
15,3%
47,4%
8,5%
* Trong thời gian áp dụng sáng kiến tại đơn vị tôi thấy có hiệu quả cao cụ thể
qua các giải như sau.
Qua HKPĐ huyện năm học 2015 - 2016 có các giải sau
Bảng10
TT
Họ và tên
Giải
Nội dung
1
Trịnh Thái Sơn
Giải nhì
60m
2
Bùi Thị Lụa
Giải nhì
60m
HKPĐ toàn Tỉnh năm học 2015-2016:
Bảng 11
TT
Họ và tên
Giải
Nội dung
1
Bùi Thị Anh
Giải nhất
Nhảy Xa
2
Bùi Văn Thành
Giải nhất
Nhảy Xa
Qua bảng tổng hợp cho ta thấy rõ hơn và thêm một lần nữa khẳng định là nếu
áp dụng “ Các giai đoạn và bài tập trong huấn luyện chạy 60m cho học sinh lớp 9 ”
chắc chắn hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo sớm hơn, có kết quả cao hơn về
giáo dục cũng như hoàn thành mục tiêu giáo dục môn học tốt hơn.
6. Khả năng ứng dụng và triển khai.
Theo bản thân tôi cùng đồng nghiệp trong nhóm bộ môn thì để áp dụng ý kiến của
tôi thì chẳng có sự tốn kém về kinh tế mà thành tích của học sinh lại nâng cao thành
tích một cách đáng kể, sáng kiến của bản thân tôi có thể áp dụng cho dạy học môn
chạy 60m ở lớp 9 bậc THCS.
Có thể triển khai trên phạm vi huyện vì khả năng ứng dụng cao mà đầu tư tinh
thần cũng như vật chất không đáng kể chỉ cần giáo vên chịu khó là có thể làm được.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Sau thời gian nghiên cứu và vận dụng vào thực tế xác định những bước và bài
tập cho huấn luyện chạy 60m cho học sinh lớp 9 ở bậc THCS và dựa trên cách huấn
luyện kỹ thuật chaỵ 60m, tôi còn áp dụng cho kỹ thuật chạy đà của nhảy xa.
Các bước và bài tập mà tôi đã nêu như ở trên để huấn luyện cho học sinh
trong khi tập luyện chạy 60m cho học sinh khối 9 ở bậc THCS theo ý kiến bản thân
là cần thiết hợp lý mang lại hiệu quả cao cho dạy học cũng như huấn luyện nội dung
chạy 60m cho học sinh lớp 9 ở bậc THCS hiện nay.
+ Kiến nghị đề xuất.
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên khi dạy cần chú ý đến sự học tập của học sinh để phát hiện những
học sinh có năng khiếu .
20
- GV gần gũi học sinh hơn nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của các em.
* Đối với các nhà quản lý giáo dục cần tham mưu với cơ quan cấp trên để tạo
điều kiện cho cơ sở vật chất đầy đủ hơn, chất lượng tốt hơn.
* Với Sở GD&ĐT:
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề để GV có dịp trao đổi, học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau.
- Mỗi năm một lần nên có kế hoạch thi HSG Thể Dục Thể Thao để tìm và huấn
luyện các tài năng về Thể Thao nói chung và các môn điền kinh nói riêng cho Tỉnh
nhà.
Trên đây là sáng kiến của tôi nhằm góp phần nâng cao được hiệu quả huấn
luyện chạy 60m cho học sinh lớp 9. Tôi hy vọng sẽ được đón nhận nhiều ý kiến góp ý
từ các đồng ngiệp và Hội đồng khoa học các cấp để sáng kiến thêm hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Bá Thước, ngày 25 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết
Hoàng Văn Luận
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tâm lý học thể dục thể thao
2.Y học thể dục thể thao
3.Sách giáo khoa thể dục lớp 8, 9
4.Toán học thống kê
5. Giải phẫu sinh lý người
6. Phương pháp dạy học tích cực TDTT
7.Chuẩn kiến thức kỹ năng
8.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên các chu kỳ
9. Dương Nghiệp Chí – Võ Đức Phùng – Phạm Văn Thụ, 1975, Sách điền kinh
dùng cho học sinh Đại học TDTT, NXB TDTT, Hà Nội.
10.Dương Nghiệp Chí – Nguyễn Kim Minh – Phạm Khắc Học, 1996, Sách điền
kinh dùng cho sinh viên Đại học TDTT, NXB TDTT, Hà Nội.
11. Lưu Quang Hiệp: Sinh lý học TDTT
12. Nguyễn Toán: Lý luận và phương pháp TDTT
13.Nguyễn Văn Quảng, 1995, Chương trình môn học điền kinh, NXB TDTT, Hà Nội.
14.Bộ môn Điền kinh, 2004, Giáo trình giảng dạy phổ tu điền kinh, Trường Đại học
Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.
Tên các SKKN đã đạt giải:
1. Một số phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong luyện tập chạy bền
- Giải B cấp Huyện , giải C cấp Tỉnh năm học 2009-2010
2. Cách sửa sai và nâng cao thành tích nhảy xa kiểu ngồi cho học sinh lớp 9 ở
trường THCS Thị Trấn Cành Nàng -Giải B cấp Huyện , giải C cấp Tỉnh năm học
2013-2014
22