Sở giáo dục & đào tạo thanh hoá.
Tr-ờng thpt hoằng hoá 4.
*** ...
Sáng kiến kinh nghiệm
đề tài: một số kinh nghiệm ra đề bài, xây dựng đáp án,
biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã hội lớp 12.
Họ và tên: lê xuân toàn
Giáo viên Tr-ờng THPT Hoằng Hoá 4.
1
Năm học: 2010- 2011.
Phần một.
I. Đặt vấn đề:
Về kiểu bài nghị luận xã hội, Bộ giáo dục và Đào tạo đã quy định trong cấu
trúc đề thi 2010. Theo đó học sinh phải vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để
viết bài nghị luận xã hội ngắn( khoảng 600 từ). Có hai dạng bài cụ thể là:
- Nghị luận về một t- t-ởng đạo lý.
- Nghị luận về một hiện t-ợng đời sống.
Thầy giáo và học sinh cần bám vào quy định trên để định h-ớng ôn tập và làm
bài cho hiệu quả. Điều rất cần lơu ý là dung l-ợng bài viết dành cho các bài kiểm
tra trên lớp, thi tốt nghiệp THPT khoảng 400 từ; các kỳ thi đại học và cao đẳng
khoảng 600 từ. Vấn đề nghi luận xã hội ra đề trên lớp là do giáo viên chọn những
đề nào thích hợp ra cho học sinh làm, chắc chắn là độ khó không cao còn đề thi ở
kỳ thi tốt nghiệp THPT thì độ khó sẽ cao hơn và ở kỳ thi đại học và cao đẳng
chắc chắn sẽ khó hơn và phức tạp hơn nhiều để đáp ứng yêu cầu của kỳ thi tuyển.
Ơ kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của chính bản thân,
trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình
về các vấn đề xã hội từ đó rút ra đ-ợc bài học( nhận thức và hành động) cho bản
thân. Để làm tốt kiểu bài này, học sinh không chỉ vận dụng những thao tác cơ
bản của bài văn nghị luận( nh- giải thích, phân tích, chớng minh, bình luận, so
sánh, bác bỏ) mà còn phải trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội. Bài
làm văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế. Càn tránh tình
trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng bỏ qua các b-ớc đi
khác của quá trình lập luận.
Giáo viên và học học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh
giá, bàn luận rút ra bài học cho bản thân. Thực tế cho thấy, nhiều học sinh mới
2
chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vốn đ-ợc coi
là phần trọng tâm của bài văn nghị luận.
Cũng giống nh- các kiểu bài nghị luận văn học, ở các kỳ thi tuyển đại học và
cao đẳng, thi tốt nghiệp THPT thầy giáo và học sinh cần chú ý cách làm bài đối
với dạng đề nghị luận tổng hợp về t- t-ởng đạo lý ( th-ờng trái ng-ợc nhau,
chẳng hạn: quyền lợi và nghĩa vụ, danh và thực, cho và nhận, trung thực và giả
dối). Với dạng đề này, giáo viên cần rèn luyện kỹ năng tổng hợp, xâu chuỗi
đánh giá vấn đề.
Một vấn đề nữa cần phải thấy rằng: trình độ về tri thức xã hội của ng-ời học
sinh ngày càng nâng cao, qua đài báo, mạng và các ph-ơng tiện thông tin khác
các em, nắm bắt các vấn đề xã hội nhạy bén hơn. Tuy nhiên, các vấn đê về đạo lý
xã hội cũng rất phức tạp nên giáo viên trong quá trình dạy, ra đề và trả bài kiểm
tra cần định h-ớng thanh lọc những kiến thức có ý nghĩa tích cực đối với xã hội
còn những vấn đề tiêu cực phản nhân văn cần loại trừ.
Việc ra đề bài nghị luận xã hội, giáo viên cần chú ý những điểm nóng, những
thông tin thời sự cập nhật mà mọi ng-ời đang quan tâm. Khi tham gia làm những
đề bài này, sẽ tạo hứng thú cho học sinh. Học sinh sẽ đ-ợc bày tỏ chia sẻ và bàn
luận một cách sôi nổi dân chủ. Giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống, sáng tạo
bày tỏ những chính kiến của mình, những vấn đề mà mình hằng quan tâm. Quá
trình làm bài nghị luận xã hội góp phần rất quan trọng trong việc bồi d-ỡng kỹ
năng sống và rèn luyện phẩm chất đạo đức cho ng-ời học sinh.
Kiến thức xã hội rất rộng lớn, bởi vậy, yêu cầu học sinh phải luôn nỗ lực học
tập, nắm bắt cuộc sống thì mới giải quyết các vấn đề xã hội một cách thấu đáo và
thuyết phục.
Học sinh phải biết cách trình bày vốn hiểu biết đó một cách khoa học, lập luận
chặt chẽ đúng đắn, lý lẽ sắc sảo hợp tình hợp lý, lời văn trau chuốt co giản hài
hoà, dẫn chứng đ-a ra vừa tiêu biểu vừa có giá trị thuyết phục cao.
3
Xuất phát từ những vấn đề trên, là một giáo viên dạy THPT đã có trên 20 năm,
qua những kinh nghiệm đúc rút đ-ợc từ thực tế giảng dạy, quá trình nỗ lực học
hỏi của bản thân, tôi mạnh dạn viết những vấn đề về Một số kinh nghiệm ra đề
bài, xây dựng đáp án, biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã hội lớp 12.
II. Thực trạng về cách tổ chức ra đề bài nghị luận xã hội.
Qua thực tế giảng dạy ở hai lớp 12 C1 và 12 C10, và trao đổi chuyên môn, dự
giờ trong tổ về việc ra đề kiểm tra, xây dựng đáp án, biểu điểm, tìm hiểu kết quả
làm bài của học sinh, tôi thấy đ-ợc những vấn đề nh- sau:
- Trình độ giáo viên đều đạt chuẩn trở lên, một thạc sĩ, một đại học. Giáo án
soạn chi tiết, khoa học, đổi mới. Học sinh đa số chăm ngoan tích cực học tập.
- Các vấn đề xã hội thì rất phong phú nh-ng để ra một đề nghị luận xã hội hay,
khơi gợi hứng thú học sinh thì còn nhiều hạn chế. Đáp án đề bài nghị luận xã hội
thì còn chung chung, mang tính hình thức công vụ, đầu t- ch-a cao. Từ đó dẫn
đến thực trạng là biểu điểm còn chung chung, điểm trung bình chiếm trên 90%,
điểm khá giỏi ít và điểm yếu kém lại càng hạn chế hơn, ch-a đánh giá chính xác,
phân loại đ-ợc học sinh. Bài viết của học sinh th-ờng rơi vào tình trạng khô
khan, viết các ý chung chung, diễn đạt rời rạc, lủng củng, lộn xộn. Ng-ời chấm
th-ờng gặp các bài viết na ná nh- nhau, nhàm chán, đơn điệu. Một phần nữa là
do kiến thức xã hội của một bộ phận học sinh còn quá nghèo nàn nên trình bày
cách hiểu nhầm lẫn, sai lệch một cách tai hại. Kỹ năng diễn đạt yếu nên bài văn
hệ thống lộn xộn, bố cục không rõ ràng.
Đây là kết quả theo dõi hoạt động của học sinh hai lớp 12C1 và 12C10 của
tr-ờng THPT hoằng hoá4 năm học 2010- 2011:
- Mức độ hứng thú làm bài:
+ 20hs/100 hs = 20% hs thích thú làm bài.
+ 40hs/100hs = 40% hs biết cách làm bài ở mức độ trung bình.
4
+ 20hs/100hs = 20% hs làm bài cầm chừng.
+ 20hs/100hs = 20% hs không biết cách làm, chán nản.
- Mức độ kiến thức:
+ 30hs/100hs = 30% hs hiểu biết xã hội cao.
+ 40hs/ 100hs = 40% hs hiểu biết xã hội ở mức độ trung bình.
+ 30 hs/100 hs = 30% hs hiểu biết xã hội ở mức độ yếu.
- Mức độ diễn đạt:
+ 20hs/100hs = 20% khá, giỏi.
+ 50hs/100hhs = 50% TB.
+ 30hs/100hs = 30%hs yếu, kém.
Kết quả trên là do giáo viên ch-a quyết liệt trong việc phát huy tính tích cực chủ
động trong học sinh, yêu cầu học sinh tự giác học tập nắm vững kiến thức và kỹ
năng làm bàinghị luận xã hội.
Phần hai.
Các biện pháp:
Xây dựng đề bài đáp án biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã hội đòi hỏi
giáo viên vừa có kiến thức xã hội phong phú vữa có kinh nghiệm ra đề bài hay có
ý nghĩa xã hội, khơi gợi sự hứng thú cho học sinh tránh khô cứng giáo điều. Xây
dựng đáp án chi tiết, khoa học có h-ớng mở để phát huy tính tích cực sáng tạo
cho học sinh để phân loại đ-ợc học sinh. Biểu điểm phải chính xác, chi tiết,
mạnh dạn cho cho điểm 9,10; nh-ng dứt khoát không nhân nh-ợng, sẵn sàng cho
những bài điểm kém 1, 2.
Sau đây là một số đề bài, đáp án, biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã hội
lớp 12 mà tôi đã xây dựng đ-ợc trong quá trình giảng dạy. Bài nghị luận xã hội
đ-ợc xây dựng khung điểm 3 điểm.
5
1.Đề bài 1:
Hãy viết một bài nghị luận với nhan đề: Nói nhiều- một căn bệnh khó chữa.
Gợi ý đáp án, biểu điểm:
1. Về kĩ năng: Đây là dạng đề mở học sinh có thể trònh bày theo cách hiểu của
mình d-ới nhiều góc độ khác nhau.
Bài viết cần đảm bảo kết hợp nhiều những thao tác: giải thích, chứng minh, phân
tích, bình luận, cảm nghĩLời văn mạch lạc, sáng sủa, lập luận chặt chẽ, dẫn
chứng chính xác, tiêu biểu, thuyết phục, bố cục rõ ràng.
2. Về kiến thức:
a. Giải thích tại sao nối nhiều lại đ-ợc coi là bệnh? ( 1 điểm).
Một sự việc, hiện t-ợng nói đi nói lại nhiều lần tạo cảm giác khó chịu cho ng-ời
khác. nói nhiều mà không có hiệu quả bằng nói ít. Vì cứ sợ ng-ời ta ch-a hiểu ý
mình, hoặc cố nhấn mạnh một vấn đề gì đó nên nói nhiều lần. Khi nói nhiều làm
ng-ời ta tiêu hao năng l-ợng, khi im lặng ng-ời ta tích luỹ đ-ợc năng l-ợng.
Năng l-ợng cần cho sự phát triển trí tuệ để làm việc có ích. Nói nhiều đến nỗi sau
đó không nhớ đ-ợc là mình nói những gì thì đã trở thành bệnh.
b. Tác hại của nói nhiều: (1,5 điểm)
- Bệnh từ miệng đ-a vào, tai vạ từ miệng đ-a ra.
- Nói nhiều làm mất thì giờ của bản thân mình và của ng-ời khác, nhất là tập
thể.
- Nói nhiều còn gây mất đoàn kết ở tập thể, gây mất tình cảm gia đình; vợ
hoặc chồng nói nhiều dễ xảy ra xô xát tan vỡ gia đình. Những ng-ời làm công tác
quản lý, lãnh đạo mắc bệnh nói nhiều làm ảnh h-ởng không nhỏ đến thì giờ của
mọi ng-ời.
c. Cách khắc phục, liên hệ mở rộng:(0,5 điểm).
- Nên nói những gì cần thiết, có tác dụng.
- Cần suy nghĩ kỹ càng trước khi nói. Người xưa vẫn dạy: uốn lưỡi bảy lần
trước khi nói.
6
- Phải biết dành thời gian để nhìn lại mình và lắng nghe ng-ời khác nói. Ham
học hỏi, khiêm tốn tự sửa mình: cần làm nhiều hơn nói.
- Luôn rèn luyện bản thân lời nói luôn đi đôi với việc làm, nói ít làm nhiều, lấy
hành động thực tế kiểm nghiệm lý thuyết. Không ngừng t- duy sáng tạo trong
công việc. Mạnh dạn đấu tranh với hiện t-ợng nói nhiều làm ảnh h-ởng đến cộng
đồng.
2. Đề bài 2:
Sự tự tin của con ng-ời trong cuộc sống.
Gợi ý đáp án, biểu điểm:
1. Về kỹ năng: Là một đề bài mang tính chất đạo lý của con ng-ời và thuộc
dạng đề mở nên học sinh có thê trình bày một cách sáng tạo theo cách hiểu của
mình ở những vấn đề khác nhau.
Bài viêt phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác giải thích, chứng minh,
bình luận, phân tíchLời văn mạch lạc hấp dẫn; lập luận chặt chẽ, dẫn chứng
tiêu biểu thuyết phục; bố cục văn bản 3 phần rõ ràng.
2. Về nội dung:
a. Giải thích sơ l-ợc khái niệm tự tin là gì? (0,5 điểm) : Là tin t-ởng vào chính
bản thân mình, vào năng lực của mình. Đây là thái độ sống tích cực của mỗi
chúng ta.
b. Bàn luận về tự tin: (1 điểm).
- Những ng-ời có sự tự tin là th-ờng chủ động, bản lĩnh tr-ớc mọi tình huống
trong cuộc sống, luôn có ý thức khẳng định mình tr-ớc mọi ng-ời, tin ở khả năng
của chính mình.
- Sự tự tin giúp con ng-ời dể đi đến thành công hơn vì ng-ời tự tin có khả
năng giao tiếp tốt, có những quyết định nhạy bén, sáng suốt, hay nắm bắt đ-ợc cơ
hội cho mình. Thiếu tự tin là nguyên nhân của phần lớn thất bại.
- Cần phân biệt sự tự tin với tự cao tự đại. Để thành công, ng-ời có sự tự tin
cần có thái độ cầu tiến không ngừng học hỏi. Trái ng-ợc với tự tin là tự ti.
7
c. Mở rộng, chứng minh: (1 điểm).
- Phê phán những thái độ sống nhút nhát, không mạnh dạn, thiếu lòng tin ở
chính mình, không dám đảm nhận những công việc đ-ợc giao. Ng-ợc lại tự tin là
thái độ sống tự cao tự đại, kiêu căng tự phụ, coi th-ờng kỹ c-ơng phép n-ớc , cá
nhân hẹp hòi, chỉ biết mình mà không biết đến ng-ời khác. Ví dụ: một bạn học
sinh tự cao tự đại tr-ớc các bạn là ch-a ngoan, ch-a hoà nhập bạn bè, ng-ời học
sinh đó sẽ bị mọi ng-ời xa lánh. Một bạn học sinh nhút nhát sẽ trở nên mờ nhạt
và khó đạt kết quả cao trong học tập, không hoà nhập với bạn bè, dần dần bị xa
lánh.
d. Bài học nhận thức hành động: (0,5 điểm).
- Để có đ-ợc sự tự tin, cần trang bị đầy đủ kiến thức, tham gia các hoạt động
giao tiếp. Tích cực học tập và lao động, sáng tạo trong công việc, mạnh dạn đổi
mới trong công tác.
- Lạc quan vui vẻ trong mọi tình huống. Thắng không kiêu, bại không nản.
Vững vàng trong mọi tình huống. Đoàn kết với mọi ng-ời.
* L-u ý: ở những dạng đề bài này học sinh cần phải giải thích khái niệm, phân
tích, chứng minh, bình luận, bàn luận mở rộng, rút ra bài học nhận thức và hành
động cho bản thân.
3. Đề bài 3:
Viết văn bản ngắn không quá 600 từ trình bày ý kiến anh( chị) về câu nói sau
đây của nhà văn Nga Lép Tôn xTôi:
Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sốngmà hãy tự mình
làm nên cuộc sống.
Gợi ý đáp án và xây dựng biểu điểm:
1. Về kỹ năng làm bài: - Đây là một đề bài thuộc loại nghị luận xã hội về đạo
lý cuộc sống d-ới dạng đề mở nên học sinh có thể chủ động tìm hiểu theo nhiều
h-ớng khác nhau miễn sao bám sát vào yêu cầu của đề bài. Bài viết ngắn nh-ng
phải đầy đủ bố cục 3 phần; từ ngữ trong sáng giàu hình ảnh, văn phong trôi chảy;
8
không sai lỗi ngữ pháp và lỗi chính tả; lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục; luận
điểm, luận cứ rõ ràng mạch lạc; bài văn hấp dẫn
2. Về nội dung:
a. Giải thích câu nói( 0,5 điểm): - Quà tặng bất ngờ có thể hiểu theo cả nghĩa
cụ thể khái quát ( vật chất nh- tiền bạc, vàng, ngọc, nhà, đất; tinh thần nhtình yêu, hạnh phúc, những cơ hội may mắn bất ngờ.
- Nội dung ý nghĩa của câu nói: tác giả khuyên con ng-ời cần có thái độ sống
chủ động, có ý chí nghị lực v-ơn lên .
b. Bàn luận (1 điểm): Quà tặng bất ngờ mang lại niềm vui, sự hào hứng, hồi
hộp đợi chờ nh-ng không phải là lúc nào cũng có.
- Những ng-ời khi nhận đ-ợc quà bất ngờ: có tâm lý chờ đợi, ỷ lại, thụ động,
thậm chí phung phí những quà tặng ấy.
- Phê phán một số ng-ời thụ động, thiếu ý chí v-ơn lên, chỉ biết chờ đợi quà
tặng mà không tự mình làm nên của cải vật chất.
- Không thể phủ nhận những giá trị ý nghĩa của quà tặng bất ngờ mà cuộc sống
tốt đẹp đem lại cho con ng-ời. Vấn đề là biết tận dụng, trân trọng quà tặng ấy
nh- thế nào.
c. Bài học nhận thức, hành động (1 điểm): - Phải chủ động trang bị kiến thức,
rèn luyện cách sống bản lĩnh, có ý chí, dản dị, chăm chỉ, sáng tạo trong công việc
để có thể đón nhận những quà tặng kỳ diệu của cuộc sống do chính bản thân
mình làm nên.
* L-u ý: ở dạng đề này, vấn đề t- t-ởng đạo lý đ-ợc ẩn trong câu danh ngôn,
câu tục ngữ, ý nghĩa ẩn dụ, triết lý sâu sắccủa câu chuyện, của văn bản ngắn. Vì
thế, để đ-ợc rút ra đ-ợc vấn đề t- t-ởng đạo lý cần bàn luận cần chú ý:
- Giải thích từ ngữ ( nghĩa đen, nghĩa bóng), từ đó rút ra nội dung câu nói ( nếu
đề bài có dẫn câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ).
- Giải thích ý nghĩa câu chuyện, văn bản( nếu đề bài có dẫn ý nghĩa câu
chuyện, văn bản ngắn).
9
- Thông th-ờng, khi làm bài, học sinh chỉ chú ý đến tính chất đúng đắn của vấn
đề đ-ợc đ-a ranghị luận mà mà ít chú ý thao tác, bổ sung, bác bỏnhững khía
cạnh ch-a hoàn chỉnh của vấn đề. Chẳng hạn, khi trình bày suy nghĩ của bản thân
về câu nói: Đừng sống theo điều ta -ớc muốn, hãy sống theo điều ta có thể.
Học sinh ngoài việc khẳng định tính chất đúng đắn của lời khuyên ( sống thực tế,
biết bằng lòng với hiện tại, với nhỡng gì mình có) thì cần phải hiểu đ-ợc tầm
quan trọng của những khát vọng, -ớc mơ đối với con ng-ời trong cuộc sống.
- Một điều nữa cần l-u ý là không đ-ợc sa vào phân tích câu danh ngôn, ngạn
ngữ, tục ngữ, câu chuyện, văn bản nh- là một bài nghị luận văn học.
4. Đề bài 4:
Suy nghĩ về câu danh ngôn sau: Những người có tâm hồn cao thượng không
bao giờ cô đơn.
Gợi ý đáp án và xây dựng biểu điểm:
1. Về kỹ năng: Bài làm đ-ợc trình bày d-ới hình thức một bài nghị luận xã hội.
Ng-ời viết cần thể hiện đ-ợc những suy nghĩ, tình cảm và h-ớng hành động của
bản thân tr-ớc vấn đề bài đặt ra. Những suy nghĩ tình cảm và h-ớng hành động
của ng-ời viết là những cách suy nghĩ riêng, phù hợp với đạo đức, lối sống và
truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Luận điểm, luận cứ mạch lạc; lập luận chặt chẽ, giàu thuyết phục; bố cục ba
phần; hành văn sáng sủa, trôi chảy.
2. Về kiến thức: Học sinh cần xác định vấn đề nghị luận từ câu danh ngôn: ca
ngợi những con ng-ời có tâm hồn cao th-ợng, họ sẽ luôn luôn đ-ợc mọi ng-ời
trân trọng, yêu quý ủng hộ, nên không bao giờ cô đơn. Từ đó đặt ra vấn đề về
lối sống, văn hoá, hành vi ứng xử kêu gọi mọi ng-ời h-ớng tới những giá trị
nhân văn để xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Bài làm cần có các ý:
a. Giải thích: cao th-ợng là gì?( 0,5 điểm): Cao th-ợng mang hàm nghĩa rộng,
một số từ điển giải thích nh- sau: cái cao cả v-ợt hẳn lên những cái tầm th-ờng
10
nhỏ nhen về phẩm chất tinh thần. Cao th-ợng là lối sống đẹp. Cao th-ợng rất cần
thiết trong ứng xử giữa con ng-ời với con ng-ời.
- Ng-ời có tâm hồn cao th-ợng là ng-ời nh- thế nào? ( suy nghĩ, hành động,
việc làm vì mục đích tốt đẹp, vì cộng đồng, mang đến niềm vui, hạnh phúc cho
ng-ời khác). Ng-ời có lòng cao th-ợngcó đức hy sinh, có đạo đức, có ý chí, lòng
quả cảm, sống trung thực, luôn muốn mọi thứ tốt đẹp, có cái nhìn lạc quan, có
tấm lòng vị tha, khoan dung độ l-ợng, cao cả đoàn kết, biết chia sẻ nhau lúc khó
khăn hoạn nạn, biết chịu trách nhiệm phấn đấu, không đánh mất bản thân, vì
cộng đồng, sẵn sàng bảo vệ lẽ phải, trân trọng lịch sử, lắng nghe cái mới.
b. Dẫn chứng, minh hoạ và mở rộng liên hệ(1 điểm) : Cha mẹ chúng ta, những
ng-ời thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, thầy cô giáo, những ng-ời dám hy
sinh vì dân tộc nh- Hồ Chí Minh và các anh hùng dân tộc trong quá trình đấu
tranh dành độc lập tự do cho dân tộc; những câu chuyện cảm động xung quanh
ta.
c. Bàn luận vấn đề (1 điểm) : Ng-ời có tâm hồn cao th-ợng sẽ không bao giờ
cô đơn: vì chân lý luôn đứng về phía họ. Họ có thể chịu thiệt thòi, bị hiểu lầm
nh-ng họ luôn có niềm tin vào con ng-ời, vào cuộc sống và vào những điều tốt
đẹp nhất. Những điều họ mang tới cho ng-ời khác, cho cộng đồng vẫn luôn có
giá trị cao cả. Họ luôn là tấm g-ơng sáng cho mọi thế hệ noi theo trân trọng và ca
ngợi. Sống cao th-ợng đem lại nhiều giá trị.
- Thực tế xã hội vẫn còn nhiều ng-ời có lối sống ích kỷ, giả dối, lọc lừa, vô ơn,
vô đạo đức, bỏ mặc ng-ời gặp nạn mà không cứu giúp, dửng d-ng với ng-ời
nghèo, bạo hành với trẻ em, phụ nữ lối sống thiếu tính nhân văn ấy cần phê
phán.
- Liên hệ bản thân: luôn sống vì ng-ời khác, vì tập thể; rèn luyện tinh thần tự
giác, tự trọng, sáng tạo trong công việc, trung thực, thẳng thắn cũng là một trong
những đức tính của ng-ời cao th-ợng.
11
Trên đây là một số đề bài, đáp án, biểu điểm cho bài làm văn nghị luận lớp 12.
Giáo viên cần đầu t- cao về kiến thức và kỹ năng để có những đề hay, đáp án
biểu điểm khoa học để phân loại đ-ợc học sinh. Từ đó để biết cách rèn luyện học
sinh làm bài tốt hơn. Đồng thời trên lớp, giáo viên phải dày công rèn luyện kỹ
năng làm bài và cách huy động kiến thức xã hội cho học sinh. Lập dàn ý theo bố
cục; tìm ý, xây dựng luận điểm, luận cứ và lấy dẫn chứng
Phần ba
Kết quả và bài học kinh nghiệm.
1.Kết quả đạt đ-ợc:
Sau khi tiến hành ra đề, xây dựng đáp án và biểu điểm cho bài làm văn nghị
luận xã hội lớp 12 một cách chi tiết, khoa học; trong quá trình giảng dạy, rèn
luyện kỹ năng làm bài nghị luận cho các em, cụ thể ở hai lớp 12C1 và 12C10, tôi
thu đ-ợc những kết quả sau:
- Học sinh tham gia làm bài hứng thú, đầy đủ.
- Học sinh tích cực tìm tài liệu tham khảo, xử lý các thông tin trên mạng, ti vi,
báo chí
- Chất l-ợng bài làm của học sinh đ-ợc nâng lên một cách rõ rệt, kiến thức
đ-ợc khắc sâu. Đặc biệt là phát huy đ-ợc tính tích cực sáng tạo của học sinh.
- Trong quá trình chấm bài và trả bài cho học sinh, giáo viên luôn chú ý khắc
phục những tình huống xảy ra, những nh-ợc điểm th]ngf hay mắc phải khi làm
bài nghị luận xã hội nh-: viết chung chung, khô khan, thiếu sự uyển chuyển mềm
mại.
Kết quả cụ thể nh- sau:
a. Về hứng thú của học sinh:
- Mức độ rất hứng thú: 50hs/100hs = 50%hs.
12
- Mức độ hứng thú:
50hs/100hs = 50%hs.
b. Mức độ huy động kiến thức:
- Sự hiểu biết xã hội cao: 60hs/100hs= 60%hs.
- Sự hiểu biết tri thức xã hội khá và trung bình: 40hs/100hs = 40%hs.
c. Mức độ sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, lập luận:
- Khá, giỏi : 60hs/100hs = 60%hs.
- Trung bình: 40hs/100hs = 40%hs.
- Yếu kém : không.
d. Chất l-ợng chung:
- Điểm khá, giỏi: 70hs/100hs = 70%hs.
- Điểm trung bình: 30hs/100hs = 30%hs.
- Điểm yếu : không có.
2. Bài học kinh nghiệm:
Quá trình lên lớp, giáo viên quan sát, nắm vững chất l-ợng học sinh, phân loại
và ra đề phù hợp với chất l-ợng học sinh.
- Rèn luyện học sinh một cách bền bỉ để các em nắm vững kỹ năng làm tốt bài
nghị luận xã hội, xử lý các nguồn tri thức từ đời sống xã hội, huy động, lựa chọn
để đ-a vào bài làm.
- Để gây hứng thú cho học sinh làm bài, giáo viên cần dày công nghiên cớu ra
đề đạt các tiêu chuẩn: khoa học, vừa sức, hấp dẫn.
- Cho các em luyện tập nhiều dạng đề bài nghị luận xã hội để các em thành
thạo kỹ năng làm bài.
- Công tác coi thi nghiêm túc cũng là một hình thức rèn luyện các em tính tự
giác, ý thức tự trọng khi làm bài nghị luận xã hội.
- Trả bài cũng là một khâu rất quan trọng: phân tích đáp án kỹ l-ỡng, sát đúng;
biểu điểm khoa học, chính xác. Mạnh dạn cho điểm 9,10; đánh giá -u điểm
nh-ợc điểm một cách kỹ l-ỡng không né tránh. Đặc biệt chú ý các lỗi: dùng từ,
diễn đạt, lập luận
13
- Giáo viên tích cực tự học, tham khảo tài liệu, dự giờ, học hỏi rút kinh nghiệm
để học sinh làm bài nghị luận ngày càng tốt hơn
Kết luận:
Những kinh nghiệm trên đã áp dụng với học sinh ở tr-ờng tôi, kết quả đạt
đ-ợc rất khả quan, tôi và đồng nghiệp đã nhận thấy:
Cách ra đề bài hayayhaps dẫn, đáp án, biểu điểm cho bài làm văn nghị luận xã
hội khoa học là nội dung đổi mới về tổ chức dạy học ở tr-ờng THPT. Hoạt động
này đã thực sự có tác động mạnh mẽ đến nội dung giảng dạy môn ngữ văn khi có
sự đầu t- chiều sâu, tổ chức, h-ớng dẫn tận tình học sinh của giáo viên. Đây là
mục đích của tôi khi nghiên cớu đề tài này.
Đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đ-ợc sự bổ sung góp ý của
hội đồng xét duyệt Sáng kiến kinh nghiệm các cấp để Sáng kiến kinh nghiệm
đ-ợc hoàn thiện hơn.
Hoằng Hoá 4, ngày 25/5/2011.
Ng-ời viết :
Lê Xuân Toàn.
14
15