Đề 04: Bất cập, hạn chế trong các qui định của pháp luật hiện hành về trình
tự, thủ tục phá sản doanh nghiệp - Một số kiến nghị và giải pháp.
A.
MỞ ĐẦU
Hiện nay, tại nhiều quốc gia có nền kinh tế lớn mạnh, phá sản doanh nghiệp
là hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại khách quan trong tiến trình lịch sử nền kinh
tế. Tương tự như vậy, đối với nền kinh tế thị trường như ở Việt Nam, hiện tượng
này cũng không phải là hiếm. Có thể nhận định rằng đây là sản phẩm khách
quan của quá trình cạnh tranh, của quá trình đào thải và sự chọn lọc tự nhiên:
các chủ thể kinh doanh làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả dẫn đến mất khả năng
thanh toán, tất yếu phải chấm dứt sự tồn tại của mình qua việc bị tuyên bố phá
sản và điều đó đồng nghĩa với việc chỉ có các doanh nghiệp biết tận dụng thời
cơ, năm bắt cơ hội cũng như hoạt động thực sự có hiệu quả mới có thể tiếp tục
tồn tại trong nền kinh tế. Phá sản không những có vai trò thanh lọc thị trường, cơ
cấu lại nền kinh tế, làm cho kinh tế thị trường trở nên đúng với bản chất của nó.
Mặt khác, luật phá sản còn giúp các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi hoạt động
kinh doanh của mình.
Trong điều kiện ngày nay, pháp luật các nước trên thế giới luôn cải tiến
không ngừng và ngày càng chú trọng hơn trong quy định về thủ tục phá sản
doanh nghiệp. Không nằm ngoài xu hướng chung này, pháp luật nước ta cũng đã
có những điều chỉnh cần thiết đối với thủ tục phá sản doanh nghiệp lâm vào tình
trạng mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan khác nhau nên vẫn còn tồn tại nhiều lỗ hổng pháp lý về trình tự thủ tục
phá sản doanh nghiệp. Chính vì thực tế đã và đang diễn ra như vậy, những quy
định của pháp luật Việt Nam về thủ tục phá sản doanh nghiệp mất khả năng
thanh toán đang được không chỉ các doanh nghiệp mà cả người tiêu dùng hết
sức quan tâm. Điều đó là lý do để sinh viên lựa chọn chủ đề bài tập lớn: “Bất
cập, hạn chế trong các qui định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục
phá sản doanh nghiệp - Một số kiến nghị và giải pháp.”
1
B.
NỘI DUNG
I.
Lý luận chung về thủ tục phá sản doanh nghiệp
1. Khái niệm phá sản
Sau khi thành lập, bất kể ai cũng muốn doanh nghiệp của mình hoạt động,
làm ăn có hiệu quả, nhưng vì rất nhiều lí do mà nhiều doanh nghiệp, làm ăn thua
lỗ, không thực hiện được mục tiêu kinh doanh, mất khả năng thanh toán các
khoản nợ và lâm vào tình trạng phá sản. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều
không hề mong muốn bị phá sản nhưng đây lại là điều phổ biến trong nền kinh
tế thị trường. Vì vậy pháp luật có quy định tại khoản 2, điều 4, Luật phá sản
2014:“Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh
toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Như vậy, phá sản
là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp lâm vào tình trạng: mất khả năng thanh
toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Từ đây có thể thấy,
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn đã phá sản, doanh nghiệp chỉ
bị coi là phá sản khi có quyết định của Tòa án.
Quy định này so với quy định của Luật phá sản 2004 thì tiêu chí xác định
tình trạng phá sản đã được quy định theo hướng ngắn gọn, đơn giản và đi vào
bản chất mà không căn cứ vào việc doanh nghiệp không thanh toán được các
khoản nợ đến hạn và không căn cứ vào yêu cầu của chủ nợ. Luật Phá sản 2014
không còn dùng khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”, hay “không có khả
năng thanh toán được” như trước mà dùng khái niệm “mất khả năng thanh toán”
và “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ” cho thấy, Luật Phá sản 2014
không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh doanh nghiệp
không có khả năng thanh toán bằng bảng cân đối tài chính... Như vậy, chỉ cần
xác định là có khoản nợ và đến thời điểm tòa án quyết định việc mở thủ tục phá
sản mà doanh nghiệp vẫn không thanh toán là tòa án có thể ra quyết định mở thủ
tục phá sản. Quy định này là bước tiến của Luật phá sản 2014, phù hợp với
thông lệ chung trên thế giới tạo điều kiện cho việc sớm mở thủ tục phá sản cũng
như khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2
Khái niệm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Theo quy định tại khoản 1, điều 4, Luật Phá sản 2014: “Doanh nghiệp, hợp
2.
tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh
toán.”. Như vậy, chỉ khi tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán mới được coi là ở trong tình trạng phá sản. Hơn nữa,
nhà lập pháp đã quy định một giai đoạn chờ là ba tháng kể từ ngày khoản nợ liên
quan đến hạn, qua đó tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp thanh toán nợ và giảm áp
lực “đe dọa” nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía chủ nợ.
Đó là phương diện pháp lý, về phương diện lý luận, khi nghiên cứu dấu
hiệu mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp cần chú ý đến các đặc điểm như
sau:
Thứ nhất, mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp hoàn
toàn cạn kiệt tài sản. Doanh nghiệp có thể còn rất nhiều tài sản nhưng tài sản đó
không bán được nên doanh nghiệp không có tiền để thanh toán các khoản nợ.
Thứ hai, mất khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp
không thể thanh toán nợ mà nó còn thể hiện doanh nghiệp đang lâm vào tình
trạng khó khăn, tài chính tuyệt vọng, không có lối thoát, trừ phi có sự can thiệp
của Tòa án hoặc sự thông cảm của chủ nợ.
Thứ ba, đối với doanh nghiệp tư nhân, trong hoạt động sản xuất kinh
doanh có giao kết hợp đồng mà sau đó phát sinh ra các khoản nợ thì những
khoản nợ này được coi là cơ sở để đánh giá tình trạng phá sản của doanh nghiệp.
Nhưng cũng cần phân biệt với các khoản nợ do chủ doanh nghiệp tư nhân xác
lập trên cơ sở những hợp đồng phục vụ cho sinh hoạt cá nhân hoặc gia đình họ.
Thứ tư, pháp luật không nhất thiết quy định cụ thể mất khả năng thanh
toán một khoản nợ bao nhiêu thì lâm vào tình trạng phá sản, bởi tình hình tài
chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau.
Thứ năm, bản chất của việc mất khả năng thanh toán không hẳn trùng với
biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không.
3.
Vai trò của luật phá sản
3
Phá sản là kết quả của sự chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền kinh tế, và
nó cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với nền kinh tế - xã hội. Luật Phá
sản ra đời như một công cụ giúp Nhà nước can thiệp vào hiện tượng này nhằm
hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của phá
sản. Vai trò của phá sản được thể hiện qua những nội dung chủ yếu sau:
- Bảo vệ quyền lợi của chủ nợ
Luật phá sản giúp bảo vệ các quyền lợi về tài sản của chủ nợ, đảm bảo sự
bình đẳng giữa các chủ nợ trong việc đòi nợ. Các chủ nợ không có quyền đòi nợ
một cách riêng lẻ mà đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá
sản. Các chủ nợ sẽ được chia phần tài sản còn lại của doanh nghiệp theo thứ tự
phân chia tài sản theo luật quy định.
- Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp
Luật phá sản có nhiều quy định tạo điều kiện cho doanh nghiệp khắc phục
khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh, chỉ khi doanh nghiệp không còn khả
năng cứu vãn thì mới tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Phá sản còn là cách để
giúp người kinh doanh giải thoát khỏi các khoản nợ và sau một thời gian, họ có
thể bắt đầu lại hoạt động kinh doanh mới khi có cơ hội.
- Bảo vệ quyền lợi của người lao động
Bởi vì những người lao động là người bị ảnh hưởng trực tiếp khi doanh
nghiệp phá sản (bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập) nên Luật phá sản quan
tâm bảo vệ lợi ích của họ qua nhiều quy định: người lao động được quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền được tham gia vào thủ tục phá sản,
quyền được ưu tiên thanh toán khoản nợ lương trước các khoản nợ khác của
doanh nghiệp,…
- Tái tổ chức lại doanh nghiệp và cơ cấu lại nền kinh tế
Phá sản luôn kéo theo những ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế, nhưng mặt
khác, phá sản cũng giúp loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, tạo động lực thúc
4
đẩy những doanh nghiệp khác phải hoạt động tích cực, có hiệu quả để không bị
đào thải trên thị trường. Những doanh nghiệp trụ vững trong nền kinh tế thị
trường là minh chứng cho những chiến lược phát triển đúng đắn qua đó cơ cấu
lại nền kinh tế theo đúng quỹ đạo của nó.
- Pháp luật phá sản phần bảo vệ trật tự kỉ cương trong xã hội
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng
nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản. Như vậy nếu không
có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản theo một trật
tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai
người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự,
gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với doanh nghiệp phá sản, giữa chủ nợ với nhau.
Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ
và doanh nghiệp phá sản và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp
phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với
nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội.
II.
Bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về
trình tự thủ tục phá sản doanh nghiệp
Luật Phá sản năm 2014 được Quốc hội thông qua trên cơ sở kế thừa những
điểm tích cực, tiến bộ của Luật Phá sản năm 2004, đồng thời có nhiều sửa đổi,
bổ sung nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về phá sản, phù hợp với điều kiện
thực tiễn của đất nước và quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định
Luật Phá sản năm 2014 cũng cho thấy, một số quy định còn chưa rõ ràng, thiếu
cụ thể, chưa bao quát toàn diện những phát sinh trong thực tiễn… cần được
hướng dẫn thi hành một cách cụ thể để việc áp dụng pháp luật về phá sản được
thống nhất, hiệu quả.
1.
Về việc từ chối tham gia giải quyết phá sản của Quản tài viên
5
Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì: “Quản tài
viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản”.
Khoản 1 Điều 45 Luật Phá sản năm 2014 quy định: “1. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có trách
nhiệm chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản”.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định này lại phát sinh vướng mắc: Quản
tài viên được chỉ định có văn bản từ chối tham gia vụ phá sản vì nhiều lý do: vụ
phá sản này quá phức tạp hoặc do Quản tài viên không có điều kiện tham gia…
Vấn đề này xảy ra trong thực tiễn làm cho các Thẩm phán lúng túng trong xử lý
tình huống, đồng thời, việc trì hoãn này sẽ khiến cho một số trường hợp giải
quyết phá sản trở lên rắc rối hơn vì doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản sẽ
nhân cơ hội đó để tẩu tán tài sản…. Tuy nhiên, Luật Phá sản 2014 và các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật Phá sản có liên quan không có quy định nào bắt
buộc các Quản tài viên phải tham gia vụ phá sản khi được chỉ định, nên họ hoàn
toàn có quyền từ chối trong trường hợp này. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình giải quyết phá sản cũng như chất lượng công việc của mỗi Thẩm phán.
2.
Về những biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh
Khoản 2 Điều 88 Luật Phá sản 2014 quy định các biện pháp phục hồi hoạt
động kinh doanh cho doanh nghiệp gồm: Huy động vốn; Giảm nợ, miễn nợ,
hoãn nợ; Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; Đổi mới công nghệ sản xuất;
Tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; Bán cổ
phần cho chủ nợ và những người khác; Bán hoặc cho thuê tài sản; Các biện pháp
khác không trái quy định của pháp luật. Những giải pháp này đa phần nghiêng
về nhóm các giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp hơn là các giải pháp tài chính.
Thực tế, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến vấn đề
tài chính hơn là vấn đề pháp lý. Có doanh nghiệp không thanh toán được nợ đến
hạn khi chủ nợ có yêu cầu là do hoạt động kinh doanh bị thua lỗ song cũng có
6
doanh nghiệp việc không thanh toán được nợ đến hạn chỉ là hiện tượng nhất
thời, vì lý do nào đó doanh nghiệp đã không đủ lượng tiền trong quỹ để thanh
toán các khoản nợ đến hạn.
3.
Về vấn đề định giá lại tài sản
Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản 2014: “Việc định giá lại
tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của
Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”. Khoản 2 Điều 17 Nghị định
số 22/2015/NĐ-CP quy định nếu phát hiện Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý,
thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật
về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, Chấp hành viên yêu
cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá
lại tài sản, trừ trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 và Khoản 2 Điều 18 của Nghị định này.
Trong khi đó, Điều 99 Luật Thi hành án dân sự quy định việc định giá lại
tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau: Chấp hành viên có vi
phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả
định giá tài sản; Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công
khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần
và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay
tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
Như vậy, chủ thể được quyền yêu cầu định giá lại theo Luật thi hành án
dân sự có bao gồm đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án)
tuy nhiên tại Luật Phá sản 2014 không quy định quyền yêu cầu định giá lại của
những chủ nợ (người được thi hành án). Điều này có khả năng làm ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Do đó cũng cần xem
xét để quy định thống nhất hơn về vấn đề này đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp cho người được thi hành án.
7
4.
Về thời hạn ra quyết định thi hành án
Luật Phá sản 2014 và Luật Thi hành án dân sự đều quy định thẩm quyền tổ
chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án là của Cơ quan Thi hành
án dân sự. Về thời hạn ra quyết định thi hành án tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi
hành án dân sự quy định thời hạn ra quyết định thi hành án đối với quyết định
tuyên bố phá sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Tuy
nhiên, tại khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản 2014 quy định: “Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, cơ quan thi hành án
dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành”. Như vậy, thời hạn để
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố
phá sản của Luật Thi hành án dân sự và Luật Phá sản 2014 là không thống nhất
với nhau.
III.
Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật phá sản
Từ những phân tích trên đây về những hạn chế, bất cập trong quy định của
pháp luật về trình tự, thủ tục phá sản doanh nghiệp, sinh viên xin đưa ra một số
kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật như sau:
Một là, trường hợp Quản tài viên từ chối tham gia giải quyết phá sản.
Trong trường hợp này, để giúp cho việc giải quyết vụ phá sản được thuận lợi và
mang lại hiệu quả cao, thì các Thẩm phán giải quyết vụ phá sản cần căn cứ vào
danh sách các Quản tài viên do Sở Tư pháp của các địa phương cung cấp, trên
cơ sở các căn cứ chỉ định Quản tài viên nêu tại khoản 2 Điều 45 Luật Phá sản
năm 2014 để lựa chọn ra một Quản tài viên có đầy đủ các yếu tố phù hợp tham
gia vụ phá sản đó. Đồng thời, cần có sự trao đổi, thống nhất với Quản tài viên đó
trước khi ra quyết định chỉ định Quản tài viên để không xảy ra các tình huống
phát sinh như nêu ở trên.
Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp kể cả đã thực hiện các bước như
phân tích ở trên, Quản tài viên đã nhận lời tham gia vụ phá sản. Nhưng khi có
quyết định chỉ định thì Quản tài viên lại có ý kiến từ chối tham gia, bởi không có
8
quy định nào của pháp luật cấm điều này. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ
quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.
Hai là, nội dung phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cần
xem xét vấn đề giải quyết tài chính hơn là vấn đề pháp lý bởi xuất phát từ thực
tế, các khoản nợ chính là lý do doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Muốn
vậy, các quy định của Luật phá sản phải có điểm nhìn thực tế hơn, hiệu quả hơn
nên bổ sung các giải pháp tài chính trong nội dung phục hồi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản. Quy định của Luật phá sản cần linh hoạt, mềm dẻo hơn,
có tính thực tiễn để hạn chế sự máy móc, cứng nhắc khó thực hiện.
Ba là, đối với quyền yêu cầu định giá lại của đương sự, đặc biệt là chủ nợ.
Thiết nghĩ, các nhà làm luật cần bổ sung thêm quyền yêu cầu định giá lại tài sản
cho chủ nợ vào Luật Phá sản hoặc văn bản hướng dẫn kèm theo, nhằm khắc
phục sự chồng chéo, bất cập giữa các văn bản pháp luật, tạo sự đồng bộ giữa các
quy định của Luật Phá sản, Luật Thi hành án dân sự và những văn bản pháp luật
khác liên quan đến lĩnh vực phá sản. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các
ngành, tổ chức, cá nhân phối hợp giải quyết tốt việc phá sản của các doanh
nghiệp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho mọi tổ chức, cá nhân.
Bốn là, đối với thời hạn ra quyết định thi hành án không thống nhất giữa
Điều 120 Luật Phá sản 2014 và Điều 36 Luật thi hành án dân sự. Giải pháp đưa
ra là sửa đổi một trong hai điều luật để quy định chung một thời hạn duy nhất
cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành.
9
C.
KẾT LUẬN
Hiện nay, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ ngoại giao cũng như tham
gia vào rất nhiều diễn đàn kinh tế. Điều đó có nghĩa là thị trường kinh tế có sự
gia nhập của các nền kinh tế lớn và phát triển nên không tránh khỏi quy luật
cạnh tranh khốc liệt. Trong khi phần lớn doanh nghiệp của nước ta là doanh
nghiệp vừa và nhỏ, thiếu kinh nghiệm quản lý, năng lực tài chính hạn hẹp nên
sức cạnh tranh còn kém. Đó là thách thức đặt ra với các doanh nghiệp nội địa.
Thủ tục phá sản là một trong những thủ tục cơ bản và quan trọng trong hệ
thống pháp luật về doanh nghiệp nói riêng và trong hệ thống pháp luật Việt Nam
nói chung. Việc tuyên bố phá sản một doanh nghiệp sẽ gây ra những hậu quả bất
lợi cho xã hội và trực tiếp tác động xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản
thân các chủ nợ, con nợ, người lao động. Song vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ ở
nước ta. Vì vậy, để phù hợp với bối cảnh hiện nay, các nhà làm luật cần nghiên
cứu và hoàn thiện những quy định của pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thủ tục phá sản nói chung. Hơn thế
nữa, pháp luật phá sản và pháp luật thi hành án cũng cần thiết phải có sự thống
nhất hơn nữa nhằm khắc phục sự chồng chéo, bất cập giữa các văn bản pháp
luật, tạo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật Phá sản, Luật Thi hành án dân
sự và những văn bản pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực phá sản.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại tập II, Nxb
Công an Nhân dân, 2013.
2. Luật phá sản 2014
3. Luật phá sản 2004
4. Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014).
5. Nghị định 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 Quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý
tài sản.
6. Phạm Nga, Một số vướng mắc khi áp dụng Luật phá sản năm 2014 và đề
xuất, kiến nghị, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, 13/06/2018.
7. Website:
11
MỤC LỤC
12