ĐẢNG ỦY
CHI BỘ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
***
BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU LỊCH SỬ TỈNH QUẢNG NGÃI
GIAI ĐOẠN 1930-2019
Họ và tên: .............................
Năm sinh: .........................
Chức vụ:
Chi bộ sinh hoạt:
Câu 1. Trình bày quá trình thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi và ý nghĩa
của sự kiện này ?
Trả lời: Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi được thành lập vào tháng 3 năm 1930 dưới
sự lãnh đạo của các đ/c tiền bối cách mạng của phong trào cách mạng người đứng
đầu được bầu ra trong khi thành lập là đồng chí Nguyễn Nghiêm, lãnh đạo các tầng
lớp nhân dân, các đoàn thể trở thành phong trào rộng lớn trong tỉnh và thành công
giành thắng lợi tạo cho nhân dân và giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp
trí thức thấy rõ được bản chất thâm độc của (Chủ nghĩa thực dân Chủ nghĩa đế
quốc) mà đưa đường lối của Đảng vào đúng thời điểm từ đó sự tiếp thu nhanh thấy
được sự tàn ác và nô lệ mà nhân dân ta chịu đựng. Đảng ta lãnh đạo đưa phong trào
Cách mạng vào thời cơ để giành lấy chính quyền, nhất là phong trào Xô Viết Nghệ
Tĩnh) từ đó lan rộng khắp trong tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó nổi lên là diễn ra ở Đức
Phổ ngày 08/101930 trong thời gian năm 1930-1931 có ......là rất quan trọng là làm
cho chính quyền của cơ sở quận huyện của địch bị tê liệt bọn giặc trong tỉnh Quảng
Ngãi nháo nhào, từ đó tỉnh ta được trung ương chỉ đạo là điểm tựa cho các tỉnh
miền trung.
Tuy nhiên trong những năm 1930 đến 1945 mặc bọn thực dân đàn áp cản trở
sự lãnh đạo của Đảng, cơ sở của Đảng, của Cách mạng bị tan vở và tổn thất các đ/c
lãnh đạo bị địch bắt giam cầm ở các nhà tù nhưng các đồng chí cũng giữ vững ý
chí kiên cường không khuất phục với kẻ thù, luôn có bản lĩnh chính trị rõ ràng, từ
đó dù bất cứ nơi nào cũng lãnh đạo các phong trào, lúc hoạt động bí mật, lúc hoạt
động công khai vẫn đảm bảo được đường lối chủ trương của Đảng vào quần chúng
nhân dân để đấu tranh giành thắng lợi . Tuy Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi ta sự chỉ đạo
của trên, có thời gian bị giáng đoạn nhưng Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã
vẫn động sáng suốt tạo đường lối của Đảng, khi có thời cơ phát động phong trào tổ
chức đấu tranh giành thắng lợi như cuộc khởi nghĩa Ba Tơ ngày 13/3/1945. Lịch sử
và Đảng ta đã sáng suốt tổ chức lực lượng vũ trang để hoạt động đó là đội du kích
Ba Tơ.
* Trong 9 năm chống Thực dân Pháp xâm lược Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã
lãnh đạo giành thắng lợi, sự sáng suốt của tập thể ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh đã
lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ « vừa kháng chiến, vừa kiến Quốc » Xây
dựng nền kinh tế tỉnh ta điều là tự cung tự cấp, nhiều cơ sở vật chất, con người để
chống thực dân Pháp giành lấy thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phải đương đầu với kẻ thù có tín
lực kính, Quốc phòng vững mạnh là một cường Quốc trên thế giới, trang bị hiện
đại nhưng các đồng chí trong ban chấp hành Đảng bộ, Tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo
nhân dân trải qua đấu tranh anh dũng hy sinh nhiều người, tổn thất nặng nề về của
cải nhưng Đảng bộ tỉnh các đồng chí đã lãnh đạo lái con thuyền vượt qua các cơn
sóng gió làm nên chiến công vĩ đại, những dấu mốc quan trọng lịch sử của nhân
dân tỉnh quảng Ngãi, mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Trà Bồng năm 1959 đánh dấu
bước phát triển của Đảng ta lãnh đạo và cũng là mở đầu của thời kỳ Cách mạng
miền nam, đó chiến lược lãnh đạo của Đảng ta là đấu tranh chính trị, kết hợp với
đấu tranh vũ trang, mở ra trong tỉnh như chiến thắng Ba Gia Vạn Tường 1965, làm
thất bại âm mưu (chiến tranh đặc biệt của Đến Quốc Mỹ » cùng với cả miền nam,
quân và dân Quảng Ngãi nổi dậy tấn công địch như Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ
phải vào đàm phán Hiệp Định Pa Ri công nhận độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh
2
thổ của nước ta. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi rút ra bài học kinh nghiệm từ Mẫu Thân
1968 là cơ sở cho sự lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh đến ngày 24 tháng 3 năm
1975 Tỉnh Quảng Ngãi hoàn toàn giải phóng. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng
Ngãi lãnh đạo nhân dân trong tỉnh , đem hết sức người sức của chi viện cho tuyền
tuyến để giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước là 30/4/1975, đưa cả đất nước
đi vào thời đại độc lập dân tộc, từng bước khắc phục hậu quả.
Tỉnh Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ dốc toàn tâm toàn ý khắc
phục hậu quả chiến tranh để lại là một thử thách cho sự lãnh đạo mà Đảng ta phải
sáng suốt lãnh đạo nhân dân Quảng Ngãi xây dựng theo con đường xã Hội Chủ
Nghĩa. « bỏ qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ Nghĩa » từ đó 1975 đến 2019 này
là một sự nổ lực xây dựng quê hương đến nay là một cuộc sống mà Bác Hồ đã để
lại cho chúng ta là làm cho « Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh »
mà Đảng ta lãnh đạo nhân dân Quảng Ngãi thực hiện được đây là mốc lịch sử của
thời đại mà trước đây bao nhiêu người yêu nước chống giặc mà không được bao
lâu, chỉ có thời đại Cách mạng thời đại « Bác Hồ » làm nên lịch sử cho dân tộc ta
được độc lập, tự do và sự lãnh đạo của các nhà cách Mạng mà dó là các đồng chí
lãnh đạo của Đảng ta trong 2 thời kỳ chống Pháp chống Mỹ đã giành thắng lợi
hoàn toàn.
* Đây là mốc lịch sử đánh dấu sự trưởng thành của cuộc Cách mạng xã hội
chủ nghĩa mà Đảng ta lãnh đạo nói chung, Đảng bộ Tỉnh Quảng Ngãi nói riêng,
đem lại giá trị lịch sử cho các thế hệ sau một sự kiện trong lịch sử mang tính giá trị
để cho con chán nâng cao trình độ góp phần vào xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trải qua 89 năm chiến đấu và khắc phục hạu quả để xây dựng đất nước đã làm
nên lịch sử hào hùng của dân tộc ta thực hiện trong thời đại phát triển của quân và
dân tỉnh Quảng Ngãi trên mọi lĩnh vực, nhất là hiện nay, thời đại công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước.
Về ý nghĩa của lãnh đạo Đảng tỉnh Quảng Ngãi.
3
* Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo quân và dân tỉnh Quảng Ngãi giành thắng
lợi trong 2 thời kháng chiến có tác động to lớn đến phong trào Cách mạng trong
Tỉnh, xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác phong trào Cách mạng vững
chắc phát động nhân dân đóng góp sức người sức của chống giặc ngoại xâm, giữ
vững được vai trò lãnh đạo đem lại kết quả tuyệt đối đó là giành thắng lợi, phải nói
lên các đồng chí lãnh đạo sáng suốt, đem hết sức mình và ý chí quyết tâm để nhân
dân các ngành đoàn thể tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo có ý nghĩa sâu sắc đối
với việc xây dựng cũng cố niềm tin quyết tâm của quân và dân tỉnh Quảng Ngãi.
Từ đó là sau ngày giải phóng 24/3/1975 bước vào khắc phục hậu quả chiến tranh
nhanh chóng đến 2019 quân và dân tỉnh Quảng Ngãi được sự lãnh đạo của Đảng
thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội Chủ Nghĩa vào bảo vệ vững cho Tổ Quốc là
nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi.
Câu 2: Từ khi thành lập đến 2019, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức
bao nhiêu kỳ đại hội ? nêu cụ thể thời gian tổ chức các Đại hội. Kể tên các
đồng chí Bí thư, quyền Bí thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ ?
Trả lời: Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi thành lập tháng 06-1930 đến 2019 đã tổ
chức 19 lần đại hội có 34 đ/c Bí thư, quyền Bí thư (Nghĩa Bình 4 đồng chí).
1. Đại hội đại biểu tỉnh đảng bộ lần thứ I.
Tháng 6/1930 (Ở Phổ Phong, huyện Đức Phổ) đồng chí Nguyễn Nghiêm được
bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
2. Đại hội lần thứ II (Tại xã Tịnh An – huyện Sơn Tịnh)
Tháng 06-1946 (Tại huyện Sơn tịnh) đ/c Nguyễn Hồng Châu được bầu làm Bí
thư -Tỉnh ủy.
3. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ III.
- Ngày 01/02/1949 (Ở xã Hành Đức huyện Nghĩa Hành ) Đ/c Trương Quang
Tuân được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
- Ngày 02/03/1950 (Ở xã Tịnh Sơn huyện Sơn Tịnh ) Đ/c Trần Văn An được
bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
4
4. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IV.
- Tháng 4 năm 1952 (Tại xã Đức Chánh huyện Mộ Đức ) Đ/c Phạm Xuân Hòa
được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
5. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ V.
- Tháng 02 năm 1960 (Tại xã Trà Trung huyện Trà Bồng) Đ/c Nguyễn Quang
Lâm (Tám Tú) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
6. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VI.
- Tháng 01 năm 1965 (Tại xã Ba Điền huyện Ba Tơ) Đ/c Trần Kiên được bầu
làm Bí thư Tỉnh ủy.
7. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VII.
-Tháng 10 năm 1968 (Tại xã Sơn Linh huyện Sơn Hà) Đ/c Phạm Thanh Biên
(tức Phạm Xuân Thưởng) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
8. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VIII.
-Tháng 11 năm 1970 (Tại Măng Xinh huyện Trà Bồng nay là Tây Trà ) Đ/c
Phạm Thanh Biên được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
9. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IX.
-Tháng 8 năm 1973 (Tại xã Nghĩa Lâm – Huyện Tư Nghĩa-) Đ/c Lê Tấn Tòa
(võ Hanh) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
* (Đại hội thứ 10 đến 13 là Nghĩa Bình)
14. Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV.
- Tháng 10 năm 1991 (Tại nhà văn hóa lao độngTỉnh Quảng Ngãi ) Đ/c Đỗ
Minh Toại được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
15. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XV.
-Tháng 05 năm 1996 (Tại Nhà văn hóa lao động Tỉnh Quảng Ngãi ) Đ/c Võ
Đức Huy được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
16. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI.
-Tháng 03 năm 2001 (Tại Nhà văn hóa lao động Tỉnh Quảng Ngãi ) Đ/c Võ
Đức Huy được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
5
17. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVII.
-Tháng 12 năm 2005 (Tại Hội trường Công an Tỉnh Quảng Ngãi ) Đ/c Hồ
Nghĩa Dũng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
18. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII.
-Tháng 09 năm 2010 (Tại Nhà văn hóa lao động Tỉnh Quảng Ngãi ) Đ/c
Nguyễn Hòa Bình được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
19. Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XIX.
-Tháng 10 năm 2015 (Tại Nhà văn hóa lao động Tỉnh Quảng Ngãi ) Đ/c Lê
Viết Chữ được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
Các đồng chí Bí Thư Tỉnh ủy qua các thời kỳ.
1/ Đồng chí Nguyễn Nghiêm Bí thư Tỉnh ủy tháng 3 /1930-4/1931
2/Đồng chí Phạm Thái Ất Bí thư Tỉnh ủy tháng 4/1931-7/1931
3/Đồng chí Võ Sĩ Bí thư Tỉnh ủy tháng 01/1932 đến giữa năm 1932
4/ Đồng chí Phạm Quy Bí thư Tỉnh ủy tháng 03/1933-1934
5/Đồng chí Phạm Xuân Hòa Bí thư Tỉnh ủy-1934 tháng 5/1935-1951-1953
Quyền Bí
thư từ 1954 -2/1955.
6/ Đồng chí Nguyễn Công Phương Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi cuối năm
1935-1936
6
7/ Đồng chí Phạm Trung Mưu Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi cuối năm 19361937
8/ Đồng chí Nguyễn Trí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi từ năm 1937-1938
9/ Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 3/19389/1939
10/ Đồng chí Nguyễn Chánh Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 9/193910/1939
11/ Đồng chí Võ Xuân Hào Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 4/1940-4/1941
12/ Đồng chí Huỳnh Tấn Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 5/1943-8/1943
13/ Đồng chí Trương Quang Giao - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 12/19449/1945.
14/ Đồng chí Trần Quý Hai - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 9/19452/1946.
15/ Đồng chí Huỳnh Viết - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 3-6/1946.
16/ Đồng chí Nguyễn Hồng Châu - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 6/19465/1947.
17/ Đồng chí Trương Quang Tuân - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 5/19479/1949.
18/ Đồng chí Trần Văn An quyền Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 9/1949
đến 1951.
19/Đồng chí Nguyễn Quang Lâm- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 10/195510/ 1960.
Sau đó nhập tỉnh làm Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình tháng 03/1978-12/1979.
20/ Đồng chí Phạm Thanh Biền - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 11/19601961 và tháng 4 năm 1965 -1971.
21/Đ/c Nguyễn Hữu Nghĩa - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 01/1962 đến
đầu 1964.
22/Đ/c Võ Phấn - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi năm 1946.
7
23/ Đ/c Trần Kiên- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 04/1965.
Sau đó làm Bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình tháng 12/1980-04/1982.
24/ Đ/c Lê Tấn Tỏa- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 10/1971-12/ 1975.
5/ Đ/c Đỗ Quang Thắng- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 06/1989-7/ 1991.
26/ Đ/c Võ Trọng Nguyễn- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 06/11- 1991.
27/ Đ/c Đỗ Minh Toại- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi từ năm 1991 đến năm 1996
28/ Đ/c Võ Đức Huy- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 05/1996 - 03/ 2002.
29/ Đ/c Hồ Nghĩa Dũng- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 9/2002-7/ 2006.
30/ Đ/c Phạm Đình Khối- quyền Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 07/2006-6/
2010
31/ Đ/c Nguyễn Hòa Bình- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 06/2010 - 8/
2011
32/ Đ/c Võ Văn Thưởng- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 08/2011 - 4/ 2014
33/ Đ/c Nguyễn Hòa Bình- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 04/2014 - 02/
2015
34/ Đ/c Lê Viết Chữ- Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi tháng 02/2015 - 2019
*Trên đây là thi tìm hiểu lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi qua các thời kỳ và
các kỳ đại hội từ 1930 và các đồng chí lãnh đạo.
Câu 3: Những thắng lợi tiêu biểu của phong trào cách mạng tỉnh Quảng
Ngãi giai đoạn 1930-1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi?
Trả lời: 1. Cuộc biểu tình chiếm huyện đường Đức Phổ
- Những thắng lợi tiêu biểu của phong trào Cách mạng của tỉnh Quảng Ngãi
năm 1930: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh
làm nức lòng quần chúng nhân dân, khiến cho thực dân, phong kiến phải run sợ.
Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Chính quyền thực dân, phong kiến thẳng tay đàn áp nhưng vẫn không ngăn
được tinh thần đấu tranh của dân chúng.
8
- Để “chia lửa” với Xô viết Nghệ - Tĩnh, Tỉnh ủy Quảng Ngãi phát động phong
trào đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến, đòi quyền tự do, dân chủ... Nhân
dân trong tỉnh Quảng Ngãi, nhất là người dân Đức Phổ đã nhiệt liệt hưởng ứng, với
đỉnh điểm là cuộc biểu tình chiếm huyện đường vào đêm mùng 7 rạng ngày
8.10.1930. Cuộc biểu tình do đồng chí Nguyễn Nghiêm – Bí thư đầu tiên của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ngãi trực tiếp chỉ đạo.
Phù điêu ghi nhớ sự kiện nhân dân Đức Phổ chiếm cứ huyện đường
ngày 8/9/1930.
- Nửa đêm ngày 7.10, dân chúng từ các nơi trong huyện tụ họp tại gò Cây Thị,
ở thôn Lộ Bàn, xã Phổ Ninh, tham dự míttinh. Đại diện Tỉnh ủy Quảng Ngãi lên
diễn đàn diễn thuyết vạch trần tội ác của thực dân, phong kiến, tuyên truyền đường
lối của Đảng và cổ vũ tinh thần quần chúng. Hơn 3.000 “người cùng khổ” chăm
chú lắng nghe, lòng tràn đầy nhiệt huyết. Sau đó, đoàn người mang gậy, dây thừng,
cơm gói, một số mang theo cờ đỏ búa liềm, hàng ngũ chỉnh tề tiến về huyện lỵ.
- Những người đi đầu phất cao cờ Đảng, tiếp đến là những người mang băng
rôn, biểu ngữ. Đoàn người tiến bước với tiếng hô: Tiến lên! Tới! Tới! lẫn trong
tiếng trống, mõ rộn ràng giữa đêm khuya. Đoàn người rầm rập bước chân, đầu
ngẩng cao nhìn về phía trước với khí thế hiên ngang. Những tiếng hô vang từ lồng
9
ngực bao năm bị đè nén tạo khí thế oai hùng. Gần sáng, đoàn người biểu tình tiến
đến huyện lỵ, dân chúng tham gia lên hơn 5.000 người. Quá hoảng sợ, tri huyện
Nguyễn Phan Lang và toàn bộ lại mục, lính tráng bỏ chạy khỏi huyện đường.
Những người biểu tình xông vào huyện đường đốt công văn, hồ sơ, ấn tín, giải
phóng tù nhân trong trại giam, rải truyền đơn... Cờ đỏ búa liềm tung bay trên ngọn
cây nhãn vào rạng sáng ngày 8.10.1930, thắp lên niềm tin vào tương lai tươi sáng
trong lòng dân Đức Phổ nói riêng và Quảng Ngãi nói chung.
2. Khởi nghĩa Ba Tơ:
- Lợi dụng thời cơ chính quyền Trung ương của Nhật còn chưa ổn định ở Đông
Dương, chính quyền địa phương của Nhật còn chưa tới Ba Tơ, chính
quyền Pháp thì bất ổn, tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ba Tơ đã lập ra
Ủy ban Khởi nghĩa, lãnh đạo quần chúng phá "căng" (nơi an trí tù chính trị) giành
chính quyền. Cuộc mít tinh được tổ chức tại sân trại giam đã biến thành cuộc biểu
tình kéo đi vây đồn Ba Tơ. Sĩ quan Pháp chỉ huy đồn bỏ chạy, quân lính đầu hàng.
Chính quyền cộng sản được thành lập, đội du kích Ba Tơ ra đời. Đây là đội quân
vũ trang cách mạng thoát ly đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương ở miền
----TrungTrung Kỳ. Đội quân du kích này đã hoạt động tốt và trở thành lực lượng
nòng cốt trong Cao trào kháng Nhật cứu nước 1945, xây dựng và phát triển các
chiến khu chống Nhật ở Quảng Ngãi.
10
-Chiều 11 tháng 3, hai cuộc mít tinh lớn do Việt Minh tổ chức tại sân vận động
Ba Tơ rồi biến thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy kéo đến đồn Ba Tơ. Các chỉ
huyPháp và một số lính bỏ đồn chạy trốn, chỉ còn lại người cai đồn và nhóm
lính khố xanh, khố đỏ. Sau khi bị quân khởi nghĩa bao vây, họ đều đầu hàng, quân
khởi nghĩa cướp được 17 súng, 15 thùng đạn và nhiều quân trang, quân dụng.
Ngày 12 tháng 3, Ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa tổ chức một cuộc mít tinh,
thành lập chính quyền mới. Ngày 14 tháng 3, đội du kích Ba Tơ chính thức được
thành lập. Tháng 4 năm 1945, đội du kích hoạt động ở một vùng của người
Thượng trên dãy núi Trường Sơn hiểm trở. Quân Nhật tìm cách truy lùng nhằm
tiêu diệt đội du kích đang còn trong thời kỳ trứng nước. Đội đã phải chịu đựng
nhiều gian khổ. Từ cán bộ đến chiến sĩ, ai nấy đều giữ trọn lời thề trong ngày thành
lập, quyết "hy sinh vì Tổ quốc". Trong hoàn cảnh gay go thiếu thốn, đội du kích Ba
Tơ vẫn đoàn kết và gắn bó với dân.
-Đầu tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cử Nguyễn Chánh làm chính trị
viên cùng với Phạm Kiệt và Nguyễn Đôn - những người trực tiếp lãnh đạo cuộc
khởi nghĩa - chỉ huy đội du kích. Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương cũng được
thành lập, do Nguyễn Chánh làm bí thư. Lúc này phong trào toàn tỉnh đã lên cao,
các tổ chức cứu quốc của toàn tỉnh đã có tới 11 vạn người, với khoảng 2.000 tay
súng, Tỉnh ủy quyết định đưa đội du kích về châu hoạt động làm nòng cốt cho việc
xây dựng 2 chiến khu ở trong châu: Chiến khu Bắc ở vùng Vĩnh Tuy (Sơn Tịnh) và
chiến khu Nam ở vùng Núi Lớn (Mộ Đức).
-Về Trung châu, các chiến sĩ du kích Ba Tơ tuyên truyền, vận động, tổ chức
quần chúng, huấn luyện cho các chiến sĩ tự vệ cứu quốc và du kích địa phương.
Đội du kích Ba Tơ trở thành trung tâm của cao trào kháng Nhật cứu nước ở miền
Trung Trung Bộ và là hạt nhân của các lực lượng vũ trang liên khu V sau này.
3. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh tháng 8 năm 1945
11
-Ở Quảng Ngãi, sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ vào ngày 11/3/1945,
hệ thống chính quyền của địch rơi vào khủng hoảng, bộ máy thống trị của thực dân
Pháp hầu như đã bị rệu rã.
-Trước tình hình đó, hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng vào cuối tháng 3 năm 1945 đề
ra nhiều chủ trương cấp bách. Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã ra kế hoạch phổ biến, tuyên
truyền Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941), chương trình
Điều lệ của Mặt trận Việt Minh và thư của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào
cả nước. Sau đó, tổ chức Việt Minh và Ủy ban Vận động cứu quốc các cấp nhanh
chóng được hình thành, phát triển trong toàn tỉnh.
-Bản chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" ngày 12/3/1945
của Thường vụ Trung ương Đảng được Tỉnh uỷ tiếp nhận, tạo không khí phấn
khởi, tin tưởng trong toàn Đảng bộ và quần chúng nhân dân. Sau khi nhận được tin
Hồng quân Liên Xô đã đánh bại phát-xít Nhật, trưa ngày 14/8/1945, tuy chưa nhận
được lệnh của Trung ương, nhưng Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã họp và
nhận định: Thời cơ khởi nghĩa đã đến, phải cấp tốc huy động quần chúng nổi dậy
vũ trang khởi nghĩa, đánh đổ toàn bộ chính quyền địch, giành chính quyền về tay
12
nhân dân. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhanh chóng ra hai Chỉ thị số 8 và số 9 gửi đến
các cấp bộ, các lực lượng vũ trang trong tỉnh.
-Đúng 16 giờ ngày 14/8, tiếng trống khởi nghĩa vang lên từ Thi Phổ Nhất (Mộ
Đức) nơi đóng cơ quan của Tỉnh uỷ, rồi nhanh chóng lan đến các nơi. Cơn bão táp
cách mạng đã bùng lên trong toàn tỉnh. Mệnh lệnh được truyền đến đâu thì lập tức
nhân dân các địa phương vũ trang gậy gộc cùng với các tổ chức tự vệ cứu quốc và
du kích cứu quốc dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng và Việt Minh vùng lên
khởi nghĩa.
-Từ chiều và đêm 14/8, hầu hết các làng, xã dọc đường Quốc lộ 1, các lực
lượng khởi nghĩa và nhân dân đã vùng dậy giành chính quyền. Riêng ở Thị xã
Quảng Ngãi, khởi nghĩa chưa kịp tiến hành bên trong nội thị nhưng ở bên ngoài
quần chúng nhân dân đã nổi dậy, các lực lượng cứu quốc ở ga xe lửa đã huy động
quần chúng chiếm ga và các vùng lân cận.
-Cho đến đêm 15/8 hầu hết các làng xã, phủ, tổng, huyện kể cả Thị xã Quảng
Ngãi và đảo Lý Sơn, nhân dân đã nổi dậy giành quyền làm chủ. Ngày 15/8/1945,
Tỉnh uỷ ra chỉ thị thành lập chính quyền cách mạng ở các làng, tổng, phủ, huyện,
tỉnh.
Ở Thị xã Quảng Ngãi trong đêm 15/8 lực lượng khởi nghĩa thu toàn bộ hồ sơ
của Sở mật thám; Bùi Trọng Lệ - Chánh Sở mật thám chạy trốn và bị bắt. Đến đêm
16/8, quân khởi nghĩa đánh chiếm dinh tỉnh trưởng và các cơ quan trực thuộc ngụy
quyền, kể cả kho bạc. Tỉnh trưởng Lương Trọng Hối phải giao toàn bộ ấn tín, tiền
bạc, vũ khí cho cách mạng. Lực lượng khởi nghĩa bắt giữ Lương Trọng Hối để liên
lạc, đàm phán với Nhật.
-Đến chiều ngày 25/8/1945, Việt Minh Quảng Ngãi và Nhật đã ký vào bản
giao ước theo ba điều kiện của cách mạng nêu ra: Quân Nhật không can thiệp vào
nội trị Việt Nam và các cuộc vận động quần chúng của Việt Minh; Việt Minh
không xâm phạm quân Nhật, dán yết thị và truyền đơn chống quân Nhật; quân
Nhật tuyệt đối không đánh nhân dân Việt Nam và quân đội Việt Nam, quân đội
13
Việt Nam hoặc nhân dân Việt Nam tự ý đánh quân Nhật thì quân Nhật sẽ kiên
quyết đối phó…
Đến rạng sáng ngày 30/8/1945, hàng chục vạn quần chúng từ khắp các địa
phương trong tỉnh kéo về tỉnh lỵ cùng quần chúng nhân dân ở Thị xã Quảng Ngãi
tham dự mít tinh chào mừng lễ ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lê
Trung Đình.
- Cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi đã
giành được thắng lợi to lớn chỉ trong 3 ngày. Đó là ngày hội lớn của nhân dân các
dân tộc, các tầng lớp, đặc biệt là đông đảo quần chúng lao động trong tỉnh vốn có
truyền thống yêu nước và cách mạng lâu đời.
-Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Quảng Ngãi, trong Cách mạng Tháng Tám
1945, lần đầu tiên nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nhất tề đứng lên đập tan toàn
bộ ách thống trị của bọn thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai tại địa phương, giành
lấy chính quyền về tay nhân dân và mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ nhân dân làm
chủ quê hương và vận mệnh của mình. Đó là thắng lợi vẻ vang, chói lọi và là một
trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và
nhân dân Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Thắng lợi to lớn đó là kết quả tất yếu của quá trình vận động cách mạng từ khi
Đảng bộ được thành lập, trải qua các cuộc tổng diễn tập. Đó là cao trào 1930-1931,
thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936-1939 và cao trào toàn dân nổi dậy giành chính
quyền 1939-1945.
-Trải qua 15 năm kiên trì đấu tranh cách mạng theo con đường của Đảng và
Bác Hồ, tuy ở xa sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương, nhưng Đảng bộ đã bám
chắc vào nghị quyết của Đảng, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đấu tranh cách
mạng, biết phát huy yếu tố truyền thống yêu nước, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể
để đề ra chủ trương, phương pháp và các hình thức tổ chức tập hợp lực lượng cũng
như các phương thức đấu tranh phù hợp với từng thời kỳ.
14
-Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ngãi diễn ra trong lúc quân Nhật chưa kịp
nhận lệnh đầu hàng, nên cuộc chiến đấu giữa ta và quân Nhật rất quyết liệt. Đó
cũng là một đặc trưng của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra ở Quảng Ngãi.
Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang cách mạng Quảng Ngãi đã
đoàn kết đứng lên giành chính quyền trong toàn tỉnh khá sớm, góp phần vào thắng
lợi chung của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành chính quyền trong
cả nước./.
4.Khởi nghĩa Trà Bồng và Miền Tây Quảng Ngãi:
-Đầu năm 1959, để xây dựng chính quyền bù nhìn tay sai hòng thực hiện âm
mưu phá hoại Hiệp định Geneva, chia cắt lâu dài nước ta, đế quốc Mỹ và tay sai
Ngô Đình Diệm ráo riết thực hiện chính sách "tố cộng diệt cộng", đưa ra Luật
10/59 trả thù những người kháng chiến cũ, chia cắt Đảng với dân, dìm phong trào
cách mạng trong bể máu. Chúng lấy Quảng Ngãi là một trọng điểm.
Trong bối cảnh ấy, tỉnh Quảng Ngãi kêu gọi nhân dân tham gia cách mạng.
Đặc biệt, thành lập các đơn vị vũ trang, chờ thời cơ khởi nghĩa Trà Bồng và miền
Tây Quảng Ngãi.
15
-Ngày 23/8/1959, địch điều quân lên Trà Bồng vây ráp cưỡng chế dân đi học
tập bầu cử. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã Trà Thuỷ, Trà Giang biểu tình
chống lại, sau đó rút vào rừng cắm chông, cài bẫy chống địch đàn áp. Địch tiến
hành khủng bố, đàn áp dã man đồng bào. Ngọn lửa căm thù như bùng cháy.
Mờ sáng ngày 28/8/1959, nhân dân và lực lượng thanh niên vũ trang các xã
Trà Phong, Trà Lãnh, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Khê nhất loạt nổi dậy, vây
diệt bọn cảnh sát ác ôn, uy hiếp tinh thần binh lính địch, vùng cao Trà Bồng bừng
bừng khí thế quật khởi. Đến chiều cùng ngày, nhân dân và lực lượng vũ trang tiến
công cơ quan ngụy quyền xã, tiêu trừ đến tận gốc quyền lực độc tài của Mỹ-Diệm
ở cơ sở, bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở bị đập tan.Tin Trà Bồng được giải phóng
đã lan nhanh khắp các huyện miền núi của tỉnh. Cả miền Tây Quảng Ngãi nhất tề
đứng lên giành chính quyền về tay cách mạng.
-Sau cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, nhân dân các dân
tộc ở Kon Tum, Đắk Lắk nổi dậy diệt ác, giành quyền. Khí thế của quần chúng
cách mạng đang nhen nhóm lại được thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng cổ
vũ, quân và dân ở các tỉnh Nam Trung Bộ nổi dậy đánh bại cuộc càn quét của địch.
Cuộc khởi nghĩa này đã mở đầu phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân miền
Nam, khơi thông dòng thác cách mạng miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu
nước.
-Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi giành thắng lợi đã mở ra
giai đoạn lịch sử mới về sự kết hợp bạo lực cách mạng của quần chúng dưới sự
lãnh đạo của Đảng với khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân
không những ở Quảng Ngãi mà cả Nam Trung bộ, có tác động trực tiếp đến cao
trào Đồng khởi ở miền Nam những năm 1959-1960.
-Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ngọn lửa tinh thần của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và
miền Tây Quảng Ngãi vẫn cháy sáng. Người dân nơi đây vẫn một lòng sắt son với
Đảng, với Bác Hồ, chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
16
-Bức tranh Trà Bồng đã sáng lên những gam màu tươi mới. Đồng bào đã bỏ
hẳn cuộc sống du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy để sống tập trung và đầu tư
phát triển kinh tế, khai thác tốt nhất tiềm năng thế mạnh của địa phương.
Trà Bồng đã phát huy thế mạnh về lâm nghiệp, ưu tiên trồng keo lá tràm và
quế, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi gia súc gia cầm.
-Cơ sở hạ tầng, giao thông được đầu tư xây dựng khang trang, đường nhựa
thông suốt từ huyện về đến xã. Tuyến đường Sông Trường-Trà Bồng-Bình Long,
tạo động lực to lớn trong việc thu hút đầu tư, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế, đảm bảo lưu thông hàng hoá, phát triển thương mại, phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân huyện Trà Bồng.
-Người dân nơi đây đã được sử dụng điện lưới quốc gia, đời sống tinh thần
được nâng lên rõ rệt. Hệ thống cửa hàng quốc doanh tiếp tục duy trì hoạt động có
hiệu quả. Sự nghiệp văn hoá xã hội có bước phát triển, trường học cơ bản được
kiên cố hóa, đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. An ninh quốc phòng luôn
được giữ vững.
5. Chiến thắng Ba Gia:
-Tháng 1/1965, tại xã Ba Điền, huyện Ba Tơ, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng
Ngãi hạ quyết tâm: Giải phóng toàn bộ nông thôn, bao vây thị xã và thị trấn, tiến
đến giải phóng toàn tỉnh. Quân và dân ta mở đợt hoạt động Xuân năm 1965, nhằm
tiêu hao và làm tan rã một bộ phận quân ngụy. Kết quả là, quân, dân Quảng Ngãi
đã giành và phát huy mạnh mẽ quyền chủ động trên chiến trường.
17
-Theo kế hoạch tác chiến, đêm 28 rạng sáng 29/5/1965, lực lượng vũ trang địa
phương huyện Sơn Tịnh tiến công vào 2 trung đội dân vệ ở "ấp chiến lược" Diên
Niên và một trung đội cộng hòa đóng ở Núi Chợ, Lộc Thọ, xã Tịnh Sơn. Sau 10
phút chiến đấu, quân địch ở đây bị tiêu diệt hoàn toàn.
-Ngày 30/5/1965, từ thị xã Quảng Ngãi, Chiến đoàn địch kéo lên xã Tịnh Hà
(Sơn Tịnh) và chia làm 2 cánh: Một cánh do tiểu đoàn 39 biệt động quân rẽ về phía
bắc Phước Lộc đi theo đường Lâm Lộc - Vĩnh Khánh lên chiếm đồi Chóp Nón,
hình thành thế bao vây phía sau đội hình của ta, một cánh do tiểu đoàn 2 (trung
đoàn 51) và tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến tiến theo đường số 5 Sơn Tịnh đi Sơn
Hà để làm rối loạn và phá vỡ thế bố trí chiến đấu của ta.
-14 giờ 40 phút, toàn bộ Chiến đoàn địch lọt vào đội hình chiến đấu của ta.
Lệnh xuất kích truyền xuống, từ các hướng, bộ đội ta xung phong, bao vây chia
cắt, cô lập 2 cánh quân địch, không cho chúng tập hợp sức mạnh của Chiến đoàn.
Tiểu đoàn biệt động của địch vừa lên chiếm điểm cao Chóp Nón, liền bị các
lực lượng của ta tiêu diệt. Cánh quân của tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 3 thủy quân lục
chiến bị lực lượng ta tiến công, phải dừng lại ở Phước Lộc (Tịnh Sơn).
-15 giờ 28 phút, hỏa lực ta tập trung bắn dồn dập vào Phước Lộc, địch ngoan
cố, dựa vào giao thông hào sẵn có để chống cự. Máy bay địch đến bắn phá, cứu
18
nguy cho bộ binh của chúng nhưng không hiệu quả. Đến 17 giờ, tiểu đoàn thủy
quân lục chiến bị quân ta tiêu diệt gần hết. Tiểu đoàn 2 cũng bị thiệt hại nặng.
-Không để cho địch có thời gian củng cố, quân ta nhanh chóng chuyển sang
đánh ban đêm. Mờ sáng 31/5/1965, bộ đội ta đồng loạt tập kích đánh dứt điểm số
quân còn lại ở điểm cao 47 và núi Chóp Nón. Chỉ trong 7 phút, số quân còn lại của
tiểu đoàn 3 thủy quân lục chiến bị quân ta đánh tan rã và bắt làm tù binh. Sau 42
giờ chiến đấu liên tục, toàn bộ Chiến đoàn hỗn hợp ngụy đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
- Chiến thắng Ba Gia thể hiện sự nhạy bén trong nghệ thuật chỉ huy, điều hành
chiến dịch của Bộ Tư lệnh Quân khu V và Tỉnh ủy Quảng Ngãi; thể hiện tinh thần
chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, linh hoạt của cán
bộ, chiến sĩ và nhân dân Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Chiến thắng Ba Gia mãi mãi đi
vào lịch sử của dân tộc ta như một chiến công chói lọi, hào hùng của nhân dân Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
6. Chiến Thắng Vạn Tường:
-Sau trận tiêu diệt quân Mỹ ở bến Tân Hy (Bình Đông, Bình Sơn), cục diện
tình hình trên chiến trường Quảng Ngãi chuyển hướng có lợi cho ta. Phong trào
“tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” dâng lên mạnh mẽ. Tháng 7/1965, lực lượng
vũ trang trên “vành đai diệt Mỹ” huyện Bình Sơn đã liên tiếp đánh bại 5 cuộc càn
quét của quân Mỹ-Ngụy khi chúng vượt sông Trà Bồng nống sang vùng giải phóng
của ta.
-Với thế chủ động đánh địch, các lực lượng Bộ đội địa phương và du kích
Bình Sơn đã kiên cường chiến đấu, đánh địch cả trên bộ, trên biển, tiêu diệt nhiều
xe bọc thép và xe quân sự của đối phương; bắt sống lính Mỹ, thu nhiều chiến lợi
phẩm.
Vào thời điểm mùa hè năm 1965, với các chiến thắng ở Bình Giã, Ba Gia.
Đông Xoài của quân giải phóng, chiến lược “ Chiến thắng đặc biệt” của Mỹ và tay
sai đã thất bại, không chấp nhận thất bại đó , với bản chất hiếu chiến, Mỹ liền thay
19
đổi chiến lược tiến hành chiến tranh cục bộ trực tiếp đưa quân viễn chinh và quân
các nước đồng minh vào tham chiến trên chiến trường miền nam với ưu thế quân
sự vượt trội, quân đông, được trang bị vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh, sức cơ động
nhanh, vừa vào miền Nam, Mỹ đã cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hành quân
“tìm diệt” , tiến quân vào đơn vị quân giải phóng của ta.
-Đêm 17/8/1965, hơn chục tàu chiến Mỹ từ ngoài khơi liên tục bắn đại bác vào
thôn Vạn Tường và các cao điểm xung quanh. Sáng 18/8/1965, sau các đợt pháo
kích và ném bom dữ dội, lực lượng lớn quân Mỹ gồm 4 tiểu đoàn lính thuỷ đánh
bộ, 1 tiểu đoàn xe tăng và xe bọc thép, 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 6 tàu đổ bộ và pháo
hạm cùng hàng trăm máy bay chiến đấu ồ ạt từ 4 hướng tiến quân vào Vạn Tường
với âm mưu tiêu diệt toàn bộ lực lượng của ta trong thời gian ngắn nhất. Nhưng ảo
tưởng ấy của quân địch bị phá sản hoàn toàn bởi Trung đoàn 1 cùng với quân dân
Vạn Tường đã bày sẵn kế hoạch và phương án sẵn sàng chiến đấu.
20
-Trước tình hình đó, toàn đơn vị thuộc trung đoàn 1 đã bình tĩnh phối hợp chặt
chẽ với dân quân du kích đánh trả quân địch. Kế hoạch tác chiến của trung đoàn là
cản chậm bước tiến của các cánh quân Mỹ hướng Bắc và Đông Nam, tập trung lực
lượng ở hướng Tây Nam dựa vào các hầm sâu và các vị trí chiến đấu ngụy trang
kiến đáo để diệt cánh quân đổ bộ bằng đường không.
-Từ chỗ bị bất ngờ, ta đã giành được thế chủ động tiến công. Các mũi tiến
công của quân địch đều vấp phải hệ thống bãi mìn, hố chông, vật cản khiến đội
hình địch bị dồn ứ và bị bộ đội ta vận động tới đánh hoặc dùng hỏa lực tiêu diệt.
Trận đánh kéo dài đến chiều tối ngày 18, địch bị đánh thiệt hại 4 đại đội. Lính
thủy đánh bộ Mỹ chẳng những không hợp điểm được tại thôn Vạn tường theo ý
định ban đầu, mà còn có nguy cơ bị sa lầy, bị diệt lớn. Hải quân Mỹ pháp kích dữ
dỗi hòng làm giảm áp lực của ta và dùng máy bay lên thẳng chở lực lượng dự bị từ
hạm đội đang đậu ngoài khơi đổ xuống Vạn Tường.
-Quân ta tiêu diệt 919 lính Mỹ; bắn cháy 22 xe tăng, xe bọc thép; bắn rơi 13
máy bay và phá hủy hoàn toàn nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Đây là đòn
đánh phủ đầu giáng đòn chí tử vào lính thuỷ đánh bộ Mỹ, một binh chủng được
xem là thiện chiến, tối tân của quân đội Mỹ lúc bấy giờ.
-Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, là mốc son chói lọi
phản ánh khí thế cách mạng tiến công, sự mưu trí, kiên cường, dũng cảm, tình đoàn
kết chiến đấu của quân và dân Quảng Ngãi với bộ đội chủ lực Quân khu 5. Nếu
như chiến thắng Ấp Bắc mở đầu cho cao trào diệt ngụy, thì chiến thắng Vạn Tường
lịch sử mở đầu cho cao trào diệt Mỹ. Chiến thắng Vạn Tường khẳng định quân và
dân ta có khả năng đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lăng, dù chúng có thể đông
quân, hùng hậu về vũ khí trang bị và khả năng cơ động nhanh.
-Cùng với chiến thắng Ba Gia, chiến thắng Vạn Tường đã để lại nhiều bài học
kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong đó nổi bật nhất là bài
học lớn về phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và sự kết hợp tác
chiến giữa bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương; giữa tiến công tiêu
21
diệt địch của lực lượng vũ trang với nổi dậy của quần chúng giành quyền làm chủ;
giữa tiêu diệt chủ lực địch với chống phá “bình định”; thể hiện tư duy nhạy bén
trong nghệ thuật chỉ huy, điều hành chiến dịch của Bộ Tư lệnh Quân khu 5; tinh
thần chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của cán
bộ, chiến sỹ và nhân dân Quảng Ngãi anh hùng. Chiến thắng Vạn Tường mãi mãi
đi vào lịch sử đất nước như một chiến công chói lọi của dân tộc Việt Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
7. Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968
-Cuối năm 1967, căn cứ diễn biến thực tế trên chiến trường, Bộ Chính trị chủ
trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào dịp Tết Mậu Thân năm
1968, nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.
-Quán triệt quyết tâm của Đảng, lực lượng An ninh Quảng Ngãi đã tích cực
chuẩn bị chu đáo về mọi mặt. Mỗi cán bộ, chiến sĩ đều nhận thức được cuộc chiến
đấu trước mắt vô cùng gian khổ, ác liệt và có thể phải hy sinh cả tính mạng nhưng
tất cả đều hướng về phía trước với quyết tâm “Tất cả để chiến thắng”, “Chính
quyền về tay nhân dân”.
-Cùng với khí thế tiến công cách mạng như vũ bão trên toàn miền Nam, đúng
02 giờ 30 phút, ngày 31/01/1968, quân và dân Quảng Ngãi đã đồng loạt nổ súng
tiến công vào khắp các sào huyệt, căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy mở màn cho cuộc
tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân trong toàn tỉnh. Đây là đòn đánh mạnh mẽ
đối với Mỹ, ngụy tại Quảng Ngãi nói riêng và miền Nam nói chung. Thắng lợi
Xuân Mậu Thân 1968 là đòn cảnh báo cho sự thất bại thảm hại của quân Mỹ và sự
sụp đổ không thể tránh khỏi của quân ngụy. Với thắng lợi này, quân và dân tỉnh
Quảng Ngãi cùng với quân dân cả nước đã đẩy chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
của Mỹ - ngụy đến bên bờ vực thẳm, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán Pa-ri
tìm giải pháp hòa bình ở Việt Nam. Về quân sự, chúng phải chấm dứt các chiến
dịch phản công mùa khô “tìm và diệt” hòng “bẻ gãy xương sống Việt cộng” để
22
quay về “quét trong, giữ ngoài” bảo vệ vùng hậu phương của chúng. Cục diện trên
các chiến trường đã thay đổi, tạo nên thế và lực mới cho cách mạng miền Nam.
-Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một dấu son tươi
thắm, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc cả về trình độ chính trị và khả năng chiến
đấu trong chống Mỹ, cứu nước của lực lượng Công an tỉnh Quảng Ngãi, là một nốt
nhạc trong bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần
cùng với toàn Đảng, toàn quân và dân tỉnh nhà làm nên trang sử vẻ vang.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử
dân tộc như một vầng dương với những dấu vết anh hùng bất tử của những chiến
công hiển hách, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu
để vận dụng, phát triển trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ
quốc:
Trước hết là nhờ sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và sáng suốt của Đảng Cộng
sản Việt Nam, trực tiếp là Tỉnh ủy và các cấp ủy địa phương.
23
-Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân
vững mạnh.
-Ngược dòng thời gian, ta nhận thấy trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng,
An ninh Quảng Ngãi luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, bám sát
mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng trong mỗi giai đoạn cách mạng để
phục vụ.
8. Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975:
Sau thất bại ở Buôn Mê Thuộc và Tây Nguyên, theo mệnh lệnh của Bộ Chỉ
huy tiền phương quân khu V và Ban Chỉ huy chiến dịch của Tỉnh, tức đêm 15 rạng
16/3/1975) ta chính thức nổ súng, đồng loạt tiến công vào các vị trí trọng điểm của
địch. Trước sự bao vây tấn công mạnh mẽ từ nhiều hướng của quân giải phóng,
đêm 16 rạng sáng ngày 17/3/1975, địch ở Sơn Hà hốt hoảng tháo chạy. Đến ngày
18/3/1975, địch ở Trà Bồng cũng vội vàng tháo chạy.
- Như vậy, sau ba ngày đêm, ở khu vực trọng điểm phía bắc Quảng Ngãi, ta đã
tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và giải phóng một mảng phía tây và đông
huyện Bình Sơn, chia cắt đoạn quốc lộ 1 từ Châu Ổ đi Dốc Sỏi, tạo ra thế bao vây,
uy hiếp chi khu quận lị Bình Sơn.
Ngày 23/3/1975, Tỉnh uỷ ra Chỉ thị : “Đẩy mạnh công kích và khởi nghĩa toàn
tỉnh, đánh đổ toàn bộ địch, giải phóng toàn bộ nông thôn, giải phóng thị trấn, thị
xã, giành chính quyền về tay nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giải phóng
toàn tỉnh”.
- Theo kế hoạch đã định, đúng 7 giờ 40 phút ngày 24/3/1975, ta bắt đầu bắn
pháo vào tiểu khu, ga Ông Bố, Xóm Xiếc (Nghĩa Hành), chi khu Sơn Tịnh, Nghĩa
Hành. Các lực lượng vũ trang của ta chiếm lĩnh, chia cắt các chốt, điểm đã định và
đoạn Quốc lộ 1 từ thị xã đi Chu Lai (Quảng Nam). Xe tăng quân giải phóng xuất
phát từ Hòn Bà xuống Xóm Xiếc, tiến về Nghĩa Điền, áp sát ven tây nam thị
xã. Trước sức tấn công của quân giải phóng, địch phải bỏ cứ điểm, chốt đèo Bình
24
Trung (Nghĩa Kỳ) rút chạy về thị xã. Kết hợp với tiến công của các lực lượng vũ
trang, quần chúng nổi dậy diệt ác, phá các khu dồn Xóm Xiếc, Phú Bình, Phước
Hậu (Nghĩa Hành), khu Bàu Giang, Đá Chẻ (Tư Nghĩa).
-Đến chiều 24/3/1975, tiểu đoàn 406 và lực lượng vũ trang huyện Tư Nghĩa
đánh chiếm quận lỵ Tư Nghĩa, sườn bảo vệ phía tây và nam thị xã bị hở. Địch ở thị
xã, quận lỵ Sơn Tịnh hoang mang, rối loạn tháo chạy ra biển, nhưng bị các lực
lượng vũ trang của ta chặn đường ra cửa Cổ Luỹ, buộc chúng phải quay về thị xã
tiếp tục tìm đường thoát thân.
-Sau khi kêu cứu Quân đoàn I chi viện không được, 12 giờ trưa ngày
24/3/1975, chuẩn tướng Trần Văn Nhật cùng bọn chỉ huy tiểu khu Quảng Ngãi
chạy trốn khỏi thị xã Quảng Ngãi bằng máy bay trực thăng. Đến chiều, bọn nguỵ
quân, nguỵ quyền ở các huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa đều kéo
nhau chạy về thị xã và đến 20 giờ ngày 24/3/1975 địch bắt đầu rút chạy khỏi thị
xã.
Đúng như dự định từ trước, khi phát hiện địch sắp tháo chạy về hướng Chu
Lai, vào lúc 23 giờ ngày 24/3, ta kịp thời bố trí trận địa dài 15km, bao vây, chia cắt
địch, ta tiêu diệt gần 600 tên và bắt sống trên 2.000 tên
25