Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

CHỨC NĂNG SINH LÝ VÀ BỆNH LÝ TẠNG TÂM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.46 KB, 16 trang )

TẠNG TÂM
Mục tiêu
1. Trình bày được các chức năng sinh lý của tạng tâm
2. Trình bày được mối quan hệ của tạng Tâm với hình, khiếu, chí, dịch
3. Trình bày được các hội chứng bệnh lý của tạng tâm.
Nội dung
1.

Khái niệm cơ bản

Ngũ tạng bao gồm tâm, can, tỳ, phế, thận. Trong học thuyết kinh lạc, tâm bào
lạc được xếp vào tạng, hợp thành 6 kinh âm trong cơ thể. Trong học thuyết tạng
phủ thì tâm bào lạc được xếp phụ với tâm. Chức năng sinh lý của ngũ tạng là hóa
sinh và tàng trữ sinh khí, có mối quan hệ chặt chẽ với lục phủ và các khiếu hình
thành nên hệ thống chức năng đặc thù của ngũ tạng; trong đó chức năng sinh lý
tạng tâm có tác dụng chi phối (thống trị) các tạng khác.
Hệ thống của tâm bao gồm tâm, tiểu trường, mặt, lưỡi. Trong ngũ hành, tâm
thuộc hỏa; trong âm dương của ngũ tạng thì tâm thuộc tạng dương trong dương.
Tâm chủ huyết mạch, chủ thần chí, là đại chủ của tạng phủ, chi phối về sinh mệnh,
cho nên tâ, được coi là “quân chủ chi quan”. Tâm quan hệ với tứ thời thì tương ứng
với mùa hạ.
Tâm nằm bên trái của lồng ngực, trên cơ hoành, giữa 2 lá phối, phía trước cột
sống. hệ thống của tâm liên thông với mạch. Bên ngoài của tâm có tâm bào lạc bảo
vệ.
Tâm khai khiếu ra lưỡi, quan hệ biểu lý với tiểu trường.
2. Chức năng sinh lý tạng tâm
2.1. Tâm chủ huyết mạch
Huyết nghĩa là huyết dịch, mạch là mạch đạo. mạch là phủ của huyết và là
đường vận hành của huyết nên gọi là mạch đạo.
Tâm chủ huyết và có tác dụng thúc đẩy huyết dịch vận hành trong mạch đạo.
Tạng tâm và mạch liên thông và có quan hệ mật thiết với nhau. Tâm không ngừng


co bóp đưa huyết dịch vận hành khắp cơ thể và là động lực thúc đẩy huyết dịch
tuần hoàn. Tâm, mạch và huyết hình thành một hệ thộng mật thiết, tương đối độc
lập trong đó tâm đóng vai trò chủ đạo.


Tạng tâm có nhịp đập theo quy luật nên mạch cũng có nhịp theo quy luật gọi
là nhịp mạch. Thông qua sờ mạch vùng thốn khẩu để tổng hợp hình tượng mạch về
hình thái, qui luật, cường độ, tốc độ gọi là mạch tượng. Đó là một trong những căn
cứ giúp thầy thuốc phân tích sự thịnh suy của khí huyết toàn thân, trạng thái hoạt
động của tạng phủ để giúp chẩn đoán bệnh tật. Khi chức năng của tạng tâm và các
tạng phủ bất thường sẽ làm cho mạch tượng bất thường.
Dương khí tạng tâm sung túc, huyết dịch đầy đủ, mạch đạo thông lợi là điều
kiện cơ bản để tâm chủ huyết mạch. Một trong ba vấn đề tâm- mạch- huyết dịch
phát sinh bất thường đều gây nên bất thường trong việc vận hành huyết dịch.
Chức năng sinh lý của tâm chủ huyết mạch bao gồm:
- Tâm co bóp làm huyết dịch vận hành không ngừng, đưa chất dinh dưỡng
đi nuôi cơ thể từ đó duy trì hoạt động bình thường của cơ thể.
- Tâm sinh huyết và làm cho huyết dịch không ngừng được bổ sung. Vị, tiểu
trường tiếp thu chuyển hóa các chát ăn uống, phân biệt thanh trọc để tỳ chủ
vận hóa mà sinh ra các chất tinh vi. Các chất dinh dưỡng được tỳ
thawngtans lên phế, tại phế được thay cũ đổi mới rồi rót về tâm mạch và
nhờ tác dụng hóa đỏ của kinh tâm chuyển thành huyết dịch. Vì thế có
thuyết nói “tâm sinh huyết” “huyết sinh ở tâm”.
- Chức năng tâm chủ huyết mạch bình thường: biểu hiện chính là sắc mặt
hồng nhuận và tươi sáng, chất lưỡi hồng nhạt và tư nhuận, mạch tượng hòa
hoãn, có lực, cảm giác thư thái ở lồng ngực…
Nếu chức năng chủ huyết mạch của tạng tâm rối loạn: thay đổi về sắc mặt,
chất lưỡi, mạch tượng và cảm giác trong lồng ngực. Nếu tâm khí, tâm dương bất
túc hoặc huyết dịch hao tổn hoặc mạch lạc không thông lợi sẽ làm cho huyết dịch
lưu thông không tốt hoặc mạch đập rỗng làm sắc mặt tối, tím, mạch tế nhược…

Nếu nặng làm cản trở lưu thông huyết dịch gây sắc mặt ám tím, môi lưỡi xanh tím,
đau tức hoặc đau nhói vùng trước tim, mạch xúc, mạch kết, mạch đại, mạch sáp…
2.2. Tâm tàng thần
Tâm tàng thần (tam chủ thần minh, tâm chủ thần chí) có nghĩa là tâm chi phối
toàn bộ hoạt động sinh lý và hoạt động tinh thần, ý thức và tư duy của con người.
Hàm nghĩa của thần gồm:
+ Chức năng và quy luật vận động, biến hóa của vật chất trong tự nhiên.


+ Biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động sống của cơ thể; tức là hình tượng của
cơ thể hoặc gọi là “hình chứng”; bao gồm từ biểu lộ sắc mặt, ánh mặt, đáp ứng
ngôn ngữ, tư duy, ý thức, hoạt động của chi thể… đều thuộc phạm trù của thần.
Đây là nghĩa rộng của thần, cũng chính là nọi dung vọng chẩn của YHCT.
+ Hoạt động tinh thần của con người (nghĩa hẹp của thần) bao gồm ý thức, tư
duy và hoạt động tình chí.
Tinh khí là căn bản cấu thành nên hình thể con người, vì vậy tinh khí là cơ sở
vật chất sản sinh nên thần. Thần do tinh khí tiên thiên hóa sinh. Thần được sản sinh
ngay sau khi tinh âm - dương của bố mẹ kết hợp để hình thành nên thai nhi. Ngay
sau khi sinh ra (trong quá trình cơ thể phát triển) thần tất yếu phải dựa vào sự nuôi
dưỡng của tinh khí hậu thiên; thần tồn tại cùng với sự phát sinh, phát dục, phát
triển và tiêu vong của cơ thể. Tâm tàng thần tức là tâm chỉ đạo toàn bộ hoạt động
sống của cơ thể.
Tóm lại, thần là sản vật vận động của thế giới vật chất, nó không phải là dạng
phi vật chất. Thần chính là chức năng mà hình thể, động thái, sắc trạch... của con
người biểu hiện trong quá trình sống.
Tác dụng sinh lý của tâm tàng thần bao gồm:
+ Chủ về việc “nhiệm vật”: “nhiệm” nghĩa là tiếp thu, đảm nhiệm, gánh vác;
“vật” nghĩa là sự vật của thế giới khách quan. Tâm chủ thần minh là tiếp thu, xử lý,
phản ánh sự vật và tin tức cùa thế giới khách quan; từ đó thể hiện tác dụng sinh lý
về ý thức, tư duy và hoạt động tình chí. Tâm có “nhiệm vật” được thì cơ thể mới có

thể sản sinh được hoạt động tinh thần, mới phán đoán và xử lý được mọi sự vật và
tin tức trong thế giới khách quan.
+ Chi đạo toàn bộ hoạt động sống của cơ thể: hoạt động tinh thần của con
người bao gồm ý thức, tư duy và hoạt động tình chí; không chỉ là một bộ phận
trọng yếu trong hoạt động sống mà còn ảnh hường, chỉ đạo các phối hợp và cân
bằng của toàn bộ các chức năng sinh lý toàn thân. Vì vậy, tâm chủ thần minh là vấn
đề cốt lõi nhất trong việc chỉ đạo hoạt động sống toàn thân. Có thể nói tâm là chúa
tể mà mọi tạng phủ, tổ chức khác của cơ thể đều phải tuân theo mệnh lệnh từ tâm;
từ đó, cơ thể mới có thể phối hợp thống nhất các hoạt động sống bình thường được.
Tâm chủ thần minh và tâm chủ huyết mạch có quan hệ mật thiết với nhau.
Tâm chủ huyết mạch làm huyết được đưa đi nuôi khắp cơ thể, bao gồm cả vật chất
thiết yếu cung cấp cho hoạt động sống của tâm (tức là tâm huyết sẽ nuôi dưỡng
được tâm thần). Huyết dịch thuộc phạm trù của tinh và là cơ sở vật chất của hoạt


động tình chí- đồng thời, tâm chủ thần chí và chi phối toàn bộ hoạt động sống; cho
nên, chức năng tâm chủ huyết mạch cũng chịu sự chỉ đạo của tâm thần. Vì thế,
chức năng tâm chủ thần minh và tâm chủ huyết mạch ảnh hưởng tương hỗ với
nhau.
Theo quan điểm chỉnh thể của y học cổ truyền thì toàn bộ hoạt động tinh thần
về ý thức, tư duy và tình chí đều phàn ánh chức năng sinh lý của tạng phủ. Thần
được chia thành năm loại, đồng thời phụ thuộc vào năm tạng tương ứng như: tâm
tàng thần, phế tàng phách tức là các hoạt động không chịu sự chi phối của ý thức,
thuộc về bản năng (như cảm giác linh hoạt, tai thính, măt tinh, động tác tay chân
chính xác), được hình thành từ tiên thiên; can tàng hồn tức là xuất hiện các hoạt
động ý thức tư duy phàn ứng nhanh, là hoạt động tinh thần có ý thức hình thành ở
hậu thiên; tỳ tàng ý tức là ý niệm, lo toan; thận tàng chí tức là chí hướng kiên
định. Các hoạt động tinh thần của con người, tuy phụ thuộc vào ngũ tạng nhưng
chủ yếu vẫn quy thuộc vào chức năng sinh lý của tâm chủ thần chí.
- Hoạt động về ý thức, tư duy, tình chí của con người thuộc chức năng sinh

lý cùa đại não và là phản ánh của đại não với thế giới bên ngoài. Nhưng
Học thuyết Tạng phủ đưa các hoạt động tinh thần này không chỉ quy nạp
thuộc về ngũ tạng mà còn chủ yếu quy thuộc vào chức năng sinh lý của
tâm. Tâm thần luận của y học cô truyền luôn luôn chỉ đạo thực tiễn trên
lâm sàng. Một số chứng bệnh của tâm như: chứng tâm hỏa cang thịnh,
chứng đàm hỏa nhiễu tâm, chứng đàm mê tâm khiếu... thì ngoài những
triệu chứng rối loạn huyết mạch ra còn có những biến đổi thất thường về
phương diện tình chí; từ đó, khi điều trị ngoài việc thanh tả tâm hỏa, điều
đàm khai khiếu ra còn cần dùng các vị thuốc nhập kinh tâm để an thần thì
sẽ thu được hiệu quả trong điều trị.
- Chức năng chủ thần chí của tâm bình thường thì tinh thần hưng phấn, tình
chí trong sáng, tư duy mẫn tiệp, đáp ứng tin tức đối với ngoại cảnh linh
hoạt. Ngược lại, chức năng chủ thần chí bất thường thì sẽ xuất hiện tình
trạng tinh thần, ý thức, tư duy... bất thường (như là mất ngủ, hay mê, bứt
rứt không yên, thậm chí rối loạn ngôn ngữ, phản ứng chậm chạp, có thể
hôn mê); ngoài ra, có thể làm ảnh hưởng đến các tạng phù khác và thậm
chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
3. Đặc trưng sinh lý của tạng tâm
3.1. Tạng tâm
Tâm là dương tạng, là thái dương trong dương, chủ về dương khí. Dương khí
của tâm có tác dụng ôn chiếu và thúc đẩy để duy trì tuần hoàn huyết dịch bình


thường, đồng thời làm cho tâm thần hưng phấn, từ đó duy trì được hoạt động sống
của cơ thể. Khí dương nhiệt của tâm không chỉ duy trì được chức năng sinh lý của
tâm mà còn có tác dụng ôn dưỡng toàn thân. Việc tiêu hoá và vận chuyển thức ăn
của tỳ vị, tác dụng ôn chiếu và khí hóa của thận dương, trao đổi thủy dịch toàn thân
và điều tiết bài tiết mồ hôi... đêu dựa vào tác dụng ôn chiếu và thúc đẩy của tâm
khí.
Tâm khí liên quan với tiết khí mùa Hạ. Con người và giới tự nhiên là một

chỉnh thể thống nhất. Những thay đổi về âm dương tiêu trưởng trong bốn mùa của
giới tự nhiên với hệ thống hoạt động chức năng của ngũ tạng là có mối liên hệ
tương hỗ.
Tâm là dương tạng và chủ dương khí. Mùa Hạ lấy hỏa nhiệt làm chủ, trong
cơ thể tương ứng với thái dương trong dương của tâm. Tâm khí tương ứng với hạ
khí tức là muôn nói dương khí của tâm vượng thịnh nhất và chức năng của tâm
mạnh nhất vào mùa Hạ. Hiểu được đặc tính sinh lý này của tâm giúp cho hiểu được
sinh lý - bệnh lý của tâm và cũng hiểu được mối quan hệ giữa bệnh lý với thời tiết.
Ngoài ra, tâm có quan hệ với: phương Nam, nhiệt, hỏa, vị đắng, sắc đỏ.
Ví dụ: hoàng liên có vị đắng (nhập tâm) nên có tác dụng để thanh tả tâm hỏa.
3.2. Tâm bào lạc
Tâm bào lạc (gọi đơn giản là tâm bào) là màng ngoài của tạng tâm và là tổ
chức ngoại vi của tạng tâm. Ngoài ra, tâm bào còn có mạch lạc thông hành khí
huyết nên gọi là tâm bào lạc.
Chức năng sinh lý: do tâm bào lạc là tổ chức ngoại vi của tâm nên có tác dụng
bảo vệ tạng tâm khi tâm bị nhiễm tà khí. Học thuyết Tạng tượng cho rằng, tâm là
chúa tể của các cơ quan nên không thể để tà khí xâm phạm. Vì thế, khi ngoại tà
muôn xâm nhập vào tâm thì đâu tiên phải xâm nhập vào tâm bào lạc, lâm sàng sẽ
thấy các biểu hiện rối loạn của thần chí. Ví dụ: trong ngoại cảm nhiệt bệnh, trường
hợp do ôn nhiệt nội hãm gây chứng đàm trọc bưng bít tâm bào thì có các triệu
chứng như sốt cao, rối loạn ngôn ngữ, hôn mê. Trên thực tế, chứng bệnh xuất hiện
khi tâm bào nhiễm tà cũng giống như chứng bệnh ở tâm nên khi biện chứng và
điều trị cũng tương đối giống nhau.
3.3. Quan hệ giữa tâm vói hình, khiếu, chí, dịch
Tâm biểu hiện ra mặt (kỳ hoa tại diện): tâm chủ huyết mạch mà huyết mạch
cung cấp lên vùng đầu mặt rất phong phú nên khi tâm khí sung túc, huyết mạch


tràn đầy thì sắc mặt hồng nhuận, tươi và sáng bóng. Nếu tâm khí bất túc, tâm huyết
hao hư thì sắc mặt không tươi. Tâm mạch ứ trệ thì sắc mặt xanh tím.

Tâm khai khiếu ra lưỡi.
Tâm quan hệ với tình chí là vui mừng, tức là chức năng sinh lý cùa tâm có
quan hệ với vui mừng. Vui mừng nói chung là phản ứng lành tính; nhưng nếu vui
mừng quá độ sẽ làm tâm thần phân tán, giảm khả năng tập trung chú ý.
Tâm quan hệ với dịch là mồ hôi: tâm và mồ hôi có quan hệ mật thiết. Ra mồ
hôi là phản ứng để hạ nhiệt độ và ra mồ hôi còn liên quan đến trạng thái tinh thần
(do tinh thần bị kích thích hoặc do hoảng sợ). Do tâm là đại chủ của ngũ tạng và
lục phủ, chỉ đạo hoạt động tình chí tinh thần nên vì tình chí tinh thần mà gây ra mồ
hôi thì đều liên quan trực tiếp đến tâm, do đó còn gọi mồ hôi là dịch của tâm.
4.

Các hội chứng bệnh lý tạng tâm

Tâm ở trong ngực, có tâm bào lạc bào vệ bên ngoài. Kinh tâm liên lạc với tiểu
trường và có quan hệ biểu lý với nhau.
Chức năng sinh lý chủ yếu: tâm chủ huyết mạch, tâm tàng thần; tiểu trường
chủ về thu nạp, hóa sinh và phân biệt thanh trọc.
Bệnh của tâm thì diễn biến bệnh lý chủ yếu là rối loạn chức năng tâm chủ
huyết mạch, tâm chủ thần chí; cho nên, bệnh của tâm thường thấy hồi hộp trống
ngực, bứt rứt, đau vùng trước tim, mất ngủ, ngủ hay quên, lơ mơ, nói nhảm, loét
miệng lưỡi, mạch kết đại...
Bệnh của tiểu trường thì diễn biến bệnh lý chủ yếu là rối loạn chức năng phân
thanh biệt trọc; cho nên, bệnh của tiểu trường thường thấy tiểu tiện sẫm màu, tiểu
tiện khó, tiểu tiện ra máu...
4.1. Tâm khí hư
Khái niệm: chứng tâm khí hư là các chứng biểu hiện do tâm khí bất túc, suy
giảm khả năng thúc đẩy gây nên.
Lâm sàng: hồi hộp trống ngực, tức ngực, hụt hơi, mệt mòi, vận động bệnh
tăng lên, tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng nhợt, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch
nhược.



Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm khí hư đo bệnh lâu ngày, cơ thể hư
nhược, hoặc do tiên thiên bâm tô bất túc, hoặc do người già tạng khí hư suy, hoặc
do bệnh nặng làm tổn thương chính khí.
Tâm khí bât túc làm cho chức năng thúc đẩy tâm mạch kém gây nên hồi hộp
trống ngực, khi vận động nhẹ thì gây kinh quý, vận động mạnh sẽ gây chính xung
Tâm nằm ở trong ngực, khi tâm khí hao hư làm cho tông khí vận chuyển bị trở
ngại, khí cơ không thông gây nên cảm giác ngột ngạt, tức ngực. Tâm thần không
được nuôi dưỡng nên thấy mệt mỏi, uể oải. Vận động làm hao khí, nên khi sau hoạt
động sẽ làm cho các chứng nặng lên. Mồ hôi là dịch của tâm, tâm khí hư nên tâm
dịch bất cố làm ngoại tiết gây nên tự ra mồ hôi. Tâm khí hư suy không thể đưa
huyết lên trên cho nên thấy sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch
nhược.
Pháp điều trị: bổ tâm khí.
Phương thuốc: Dưỡng tâm thang
Hoàng kỳ

15g

Bạch linh

10g

Phục thần

10g

Viễn chí


06g

Táo nhân

10g

Ngũ vị tử

06g

Bá tử nhân

10g

Xuyên khung

12g

Đương quy 12g

Bán hạ

10g

Nhân sâm

06g

Các vị thuốc trên gia sinh khương 03 lát, đại táo 03 quả, sắc uống.
4.2. Tâm dương hư

Khái niệm: chứng tâm dương hư là các chứng biểu hiện do tâm dương hư suy
rối loạn ôn vận, hư hàn nội sinh gây nên.
Lâm sàng: hồi hộp trống ngực, cảm giác tức nghẹt trong ngực hoặc đau tức
vùng trước tim, môi và lưỡi xanh tím, hụt hơi, tự ra mồ hôi, sợ lạnh, chân tay lạnh
sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm trì vô lực
hoặc mạch vi tế hoặc kết đại.
Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm dương hư là do tâm khí hư tiến triển
thêm làm âm hàn nội sinh.
Tâm dương không hưng phấn, chức năng khua động rối loạn làm nhịp tim thất
thường gây nên hồi hộp trống ngực. Dương hư hàn thịnh làm hàn ngưng, kinh
mạch khí huyết không thông, nếu nhẹ thây tức ngực và hụt hơi, nêu nặng thấy môi


lưỡi xanh tím và đau ngực. Tâm dương hư suy, vệ ngoại bất cố gây nên tự ra mồ
hôi.
Dương khí hao hư không thể ôn ấm được cơ thế làm cho sợ lạnh, chân và tay
lạnh. Tâm dương suy không thể đưa huyết dịch lên nuôi dưỡng được vùng đầu mặt
gây ra sắc mặt trắng bệch. Chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm trì vô
lực hoặc mạch vi tế... đều là biểu hiện của dương hư hàn thịnh. Dương hư hàn
ngưng làm cho mạch khí không được liên tục gây nên mạch kết đại.
Pháp điều trị: ôn tâm dương.
Phương thuốc: Bảo nguyên thang
Nhân sâm

05g

Cam thảo

l0g


Hoàng kỳ

20g

Nhục quế

05g

Các vị thuốc trên sắc uống.
4.3. Tâm dương bạo thoát
Khái niệm: chứng tâm dương bạo thoát là các chứng biểu hiện do tâm dương
cực suy, dương khí bạo thoát gây nên.
Lâm sàng: trên cơ sở chứng tâm dương hư, đột nhiên thấy mồ hôi lạnh ra đầm
đìa, chân tay lạnh ngắt, hơi thở yếu, sắc mặt trắng bệch hoặc đau tức ngực dữ dội,
sắc mặt và môi xanh tím, nếu nặng thì tinh thần lơ mơ, hôn mê, chất lưỡi nhợt hoặc
nhợt tím, mạch vi tế muốn tuyệt.
Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm dương bạo thoát là dựa trên cơ sở tâm
dương hư suy hoặc tâm mạch ứ trệ làm cho tâm dương bạo thoát.
Dương suy không thể nhiếp tân làm cho mồ hôi lạnh ra đầm đìa không dứt.
Khí thuận theo tân thoát làm cho chi thể không được dương khí ôn ấm gây nên tứ
chi lạnh ngắt. Dương hư không vận chuyển được huyết nên mặt và lưỡi không
được nuôi dưỡng đầy đủ làm cho sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhợt hoặc tím nhợt.
Dương khí bạo thoát, tông khí bị thất thoát nên không thể giúp phế quản hô hấp
gây nên hơi thở yếu. Tâm dương hư suy, hàn ngưng ở kinh mạch làm tâm mạch ứ
trệ không thông gây nên đau nhói vùng trước tim, đau dữ dội, sắc mặt và môi xanh
tím. Dương khí thoát ra ngoài, tâm thần không được nuôi dưỡng, thần tán mà
không tụ được làm cho tinh thần mơ hồ, lơ mơ, thậm chí hôn mê. Mạch vi tế muốn
tuyệt là chứng dương khí cực hư mà vong thoát ra ngoài.



Pháp điều trị: hồi dương cố thoát.
Phương thuốc: Sâm phụ thang gia vị
Phụ từ chế 15- 20g

Sinh khương

5 lát Nhân sâm

15g

Các vị trên gia cam thảo l0g, xuyên khung 12g, sắc uống ngày 01 thang.
4.4. Tâm mạch trệ tắc
Khái niệm: chứng tâm mạch trệ tắc là các chứng biểu hiện do huyết ứ, đàm
trệ, hàn ngưng, khí trệ làm bế tắc tâm mạch gây nên.
- Lâm sàng: triệu chứng chung trong chứng tâm mạch trệ tắc là hồi hộp trống
ngực, đau tức ngực từng cơn, đau lan ra sau vai hoặc lan dọc theo mặt trong cánh
tay, lúc đau lúc ngừng. Biểu hiện lâm sàng tùy theo nguyên nhân gây trệ tắc:
+ Huyết ứ tâm mạch: đau như dao cứa, đau cố định, chất lười ám tím hoặc
thấy ban điểm ứ huyết, mạch tế sáp hoặc kết đại.
+ Khí trệ tâm mạch đau mà căng tức hai bên mạng sườn, khi xuất
hiện cơn đau đều có liên quan chặt đến rối loạn về tình chí, thích thở dài,
mạch huyền.
+ Đàm trệ tâm mạch: đau ngực âm ỉ, người bệu trệ, khạc đờm nhiều, mình
mẩy nặng nề, rêu lưỡi trắng nhớp, mạch trầm hoạt hoặc trầm sáp.
+ Hàn ngưng tâm mạch đau dữ dội đột ngột, gặp lạnh đau tăng, sợ lạnh, chân
tay lạnh, chườm ấm dễ chịu, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì hoặc trầm
khẩn.
- Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm mạch do tuổi cao sức yếu, tâm khí
suy giảm, hoặc do ăn nhiều chất béo ngọt làm đàm trọc ngưng tụ, ứ trệ ở tâm
mạch, hoặc do ngoại cảm hàn tà làm ngưng trệ tâm mạch, hoặc do tình chí ức uất

làm khí trệ trong ngực.
Tâm khí hoặc tâm dương hao hư, tâm không được nuôi dưỡng làm nhịp tim
thất thường gây hồi hộp trống ngực. Tâm huyết ứ trệ, tâm mạch không thông gây
đau trước tim, lúc đau lúc ngừng. Kinh thủ thiếu âm tâm chạy ra hõm nách rồi đi
xuống ngón tay út nên thấy đau lan ra sau vai hoặc theo dọc mặt trong cánh tay,
cẳng tay. Chứng này thường là bản hư tiêu thực.


Huyết ứ tâm mạch có đặc điểm là đau dữ dội, kèm theo các triệu chứng của ứ
huyết nội trệ như chất lưỡi ám tím hoặc có ban điểm ứ huyết, mạch tế sáp hoặc kết
đại.
Đàm trệ tâm mạch có đặc điểm là tức nặng ngực, kèm theo chứng đàm trọc
nội thịnh như người bệu trệ, dòm nhiều, mình mẩy nặng nề, rêu lưỡi trắng nhớp,
mạch trầm hoạt.
Hàn ngưng tâm mạch có đặc điểm đau dữ dội, khởi phát đột ngột, ấm nóng thì
dễ chịu; kèm theo các chứng hàn tà nội thịnh như sợ lạnh, chân và tay lạnh, chất
lưỡi nhợt rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn.
Khí trệ tâm mạch có đặc điểm đau căng tức, kèm theo chứng khí cơ uất trệ
như phát bệnh thường liên quan đến rối loạn tình chí, căng tức mạng sườn, thích
thờ dài, mạch huyền
Pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ.
Phương thuốc: nếu huyết ứ thì dùng Huyết phủ trục ứ thang; nêu khí trệ thì
dùng Sài hồ sơ can tán; nếu đàm trệ thì dùng Qua lâu giới bạch bạch tửu thang,
hàn ngưng thì nên dùng Qua lâu giới bạch bạch tửu thang.
+ Huyết phủ trục ứ thang (Y lâm cài thác):
Đào nhân

10g

Hồng hoa


10g

Đương quy 12g

Sinh địa

12g

Xuyên khung

12g

Xích thược lOg

Ngưu tất

12g

Cát cánh

06g

Sài hồ

Chi xác

06g

Cam thảo


08g

12g

Các vị thuốc ưên sác uống, ngày 01 thang.
+ Sài hồ sơ can tán (Cảnh nhạc toàn thư):
Sài hồ

12g

Xuyên khung 12g
Thược dược 15g

Hương phụ

10g

Chi xác

10g

Cam thảo

10g

Trần bì

10g



Các vị thuốc trên sắc uống, uống thuốc trước khi ăn.
+ Qua lâu giới bạch bán hạ thang (Kim quỹ yếu lược):
Qua lâu

12g

Giới bạch

l0g

Bán hạ

l0g

Bạch tửu vừa đủ

+ Qua lâu giới bạch bạch tửu thang (Kim quỹ yếu lược):
Qua lâu

12g

Giới bạch

10g

Bạch tửu vừa đủ

Các vị thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.
4.5. Tâm huyết hư

Khái niệm: chứng tâm huyết hư là các chứng biểu hiện do tâm huyết bất túc
tâm không được nuôi dưỡng gây nên.
Lâm sàng: hồi hộp trống ngực, mất ngủ, ngủ hay mê, hay quên, chóng mặt,
sắc mặt trăng nhợt hoặc ám vàng, không tươi nhuận, môi và lưỡi nhợt, mạch tế
nhược.
Phân tích; nguyên nhân bệnh do bệnh lâu ngày tổn thương âm huyết hoặc do
mất máu nhiêu hoặc do tình chí không được như ý làm khí hỏa nội uất gây hao tổn
âm huyết gây nên.
Huyết thuộc âm, tâm là tạng âm. Huyết bất túc làm cho tâm không được nuôi
dưỡng mà gây nên hồi hộp trống ngực. Huyết không dưỡng tâm, thần không yên
tĩnh gây mất ngủ, ngủ hay mê. Huyết hư không thế nuôi dưỡng được đầu mặt gây
nên chóng mặt, hay quên, sắc mặt trắng nhợt hoặc ám vàng, môi và lưỡi tím nhợt.
Huyết hư không sung thịnh ở mạch đạo gây nên mạch tế nhược.
Pháp điều trị: bổ tâm huyết.
Phương thuốc: Tứ vật thang (Tiên thụ lý phương tục đoạn bí phương)
Bạch thược 15g

Xuyên khung

12g

Thục địa

Đương quy

12g

12g

Các vị thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.

4.6. Tâm âm hư


Khái niệm: chứng tâm âm hư là các chứng biểu hiện do tâm âm hao hư, hư
nhiệt nội nhiễu gây nên.
Lâm sàng: hồi hộp trống ngực, bứt rứt, mất ngủ, ngủ hay mê, lòng bàn chân
và bàn tay nóng, sốt nóng từng cơn, ra mồ hôi trộm, hai gò má đỏ, họng khô, chất
lưỡi hồng khô, rêu lưỡi ít, mạch tế sác.
Phân tích: nguyên nhân gây bệnh do lo lắng, buồn phiền, mệt mỏi thái quá
gây hao tổn tâm âm; hoặc do nhiệt bệnh, bệnh lâu ngày làm hao thương âm dịch
gây nên.
Tâm âm bất túc làm tâm không được nuôi dưỡng nên tâm động không yên,
gây nên hồi hộp trống ngực. Tâm âm hư, tâm thần không được nuôi dưỡng, hư
nhiệt nhiễu loạn tâm gây nên tâm thần không yên gây bứt rứt, mất ngủ, ngủ hay
mê. Âm hư không khống chế được dương gây dương vượng, hư nhiệt nội sinh cho
nên thấy sốt nóng từng cơn, ra mồ hôi trộm, hai gò má đỏ, họng khô. Chất lưỡi
hồng khô, rêu lưỡi ít, mạch tế sác là biểu hiện chứng âm hư nội nhiệt.
Pháp điều trị: bổ âm dưỡng huyết, an thần.
Phương thuốc: Bổ tâm đan
Sinh địa

120g

Ngũ vị từ

30g

Mạch môn

30g


Đương quy

30g

Cát cánh

15g

Viễn chí

15g

Thiên môn

30g

Đan sâm

15g

Huyền sâm

15g

Phục thần

15g

Hoàng liên


09g

Nhân sâm

15g

Táo nhân sao 30g

Bá từ nhân

30g

Các vị thuốc trên tán bột mịn rồi hoàn với mật ong thành viên 06 - 09g, dùng
chu sa làm áo.
Hoặc dùng bài Thiên vương bổ tâm đan (Hiệu chú phụ nhân lương phương):
Sinh địa
Huyền sâm
Cát cánh
Thiên môn
Táo nhân

120g
15g
15g
30g
30g

Nhân sâm
Bạch linh

Ngũ vị từ
Mạch môn

15g
15g
30g
30g

Đan sâm
Viễn chí
Đương quy
Bá từ nhân

15g
15g
30g
30g


Các vị thuốc trên tán bột mịn, hoàn viên với mật, dùng chu sa làm áo. uống
với nước sắc trúc diệp, mồi lần 06 - 09g.
4.7. Tâm hỏa cang thịnh
Khái niệm: chứng tâm hòa cang thịnh là các chứng biểu hiện do tâm hỏa tích
thịnh, nhiệt nhiễu tâm thần gây nên.
Lâm sàng: bứt rứt, ngủ không yên, mặt đò, miệng khát, đại tiện táo bón, tiểu
tiện sắc vàng; hoặc thấy loét lưỡi; hoặc thấy nôn ra máu, chảy máu cam, mụn nhọt
ờ ngoài da, tiểu buốt nóng đau; nếu nặng thấy vật vã, nói nhảm , hôn mê...; chất
lưỡi thon gọn hồng, rêu lưỡi vàng khô, mạch sác có lực.
Phân tích: nguyên nhân bệnh do ngoại tà hóa hỏa nhập lý, hoặc tình chí uất
kết làm khí uất hóa hỏa; hoặc do nghiện rượu và ăn nhiều chất cay nóng gây nên

hỏa nội sinh; hoặc do ăn nhiều chất béo ngọt lâu ngày hóa nhiệt sinh hỏa.
Tâm ở trong lồng ngực, thuộc hỏa nên khi tà khí nhập tâm rất dễ hóa hỏa.
Tâm chủ thần minh, hỏa nhiệt nội tích nhiễu loạn tâm thần gây bứt rứt, ngủ không
yên, nặng thì vật vã, hôn mê, nói nhảm. Hỏa tà thương tân gây khát nước, đại tiện
táo bón tiểu tiện vàng sẫm. Tâm khai khiếu ở lưỡi, vinh nhuận ra mặt. Tâm hỏa
theo kinh mạch bốc lên trên gây mặt đỏ, loét miệng lưỡi. Tâm chủ huyết mạch, tâm
hỏa tích thịnh, huyết nhiệt vong hành cho nên thấy nôn ra máu, chảy máu cam.
Tâm di nhiệt xuống tiểu trường gây tiểu tiện màu hồng sẫm, tiểu buốt đau và khó
đi. Chất lưỡi thon gọn hồng, rêu lưỡi vàng, mạch sác có lực đều là chứng tâm hỏa
nội thịnh.
Pháp điều trị: tả tâm hỏa, tư tâm âm.
Phương thuốc: Đạo xích tán (Tiểu nhi dược chứng trực quyết)
Sinh địa

12g

Đạm trúc diệp

05g

Sinh cam thảo

1 0g

Mộc thông

15g

Các vị thuốc trên gia: Liên tử tâm 10g, Mạch môn 12g, Bạch mao căn 30g ,
sắc uống.

4.8. Đàm mê tâm thần
Khái niệm: chứng đàm mê tâm thần là các chứng biểu hiện do đàm trọc bưng
bít tâm thần làm nhiễu loạn thần chí gây nên.


Lâm sàng: tinh thần ức uất, không tinh táo, cử chỉ thất thường, nói lảm nhảm;
hoặc đột nhiên hôn mê, sùi bọt mép, thở khò khè; hoặc sắc mặt ám trệ, đầy tức
bụng, buồn nôn, ý thức lơ mơ, không nhận ra người thân; rêu lưỡi trắng nhớp,
mạch hoạt.
Phân tích: nguyên nhân bệnh do thấp trọc sinh đàm; hoặc do tình chí không
được như ý làm khí uất thành đàm, đàm và khí hồ kết bưng bít tâm khiếu. Chứng
này thường gặp ở các bệnh điên cuồng, động kinh hoặc các giai đoạn bệnh nguy
hiểm khác.
Bệnh điên cuồng do can khí uất kết, khí uất đàm ngưng, đàm khí kết hợp
bưng bít tâm thần làm ngu ngơ, tinh thần ức uất, lãnh đạm, nói lẩm bẩm, cử chỉ
thất thường. Động kinh do can phong hiệp đàm, bưng bít tâm khiếu gây đột nhiên
ngã, không nhận ra người thân, sùi bọt mép, thở khò khè. Nếu thấp trọc lâu ngày
thành đàm, đàm trệ ở trung tiêu nên thanh dương không thăng, trọc khí tràn lên
trên gây sắc mặt ám trệ, vị không hòa giáng nên vị khí thượng nghịch gây đầy
bụng, buồn nôn; đàm trọc bưng bít tâm khiếu làm ý thức mơ hồ, không nhận ra
người thân. Rêu lưỡi trắng nhớp, mạch huyền hoạt là chứng của đàm trọc nội thịnh.
Pháp điều trị: điều đàm khai khiếu.
Phương thuốc: Tô hợp hương hoàn hợp Đạo đàm thang.
+ Tô hợp hương hoàn (Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương):
Tô hợp hương 30g

Đàn hương

60g


Tất bát

60g

An tức hương 60g

Nhũ hương

30g

Kha tử

60g

Xạ hương

60g

Hương phụ

60g

Bạch truật

60g

Đinh hương

60g


Long não

30g

Tê giác

60g

Trầm hương

60g

Mộc hương

60g

Chu sa

60g

Các vị thuốc trên tán bột mịn, luyện mật ong làm viên, mỗi lần uống 08g.
+ Đạo đàm thang (Trọng đính sản thị tế sinh phương):
Thiên nam tinh

l0g

Chỉ thực

Cam thảo chích


6g

Bán hạ chế 10g

Sinh khương

4g

Làm thang sắc uống

l0g

Phục linh

10g

Trần bì

10g


4.9. Đàm hỏa nhiễu thần
Khái niệm: chứng đàm hỏa nhiễu thần là các chứng biểu hiện do đàm hỏa nội
thịnh, nhiễu loạn tâm thần gây nên.
Lâm sàng: sốt, tiếng thở thô, mặt hồng đỏ, mắt đỏ, vật vã kích thích, nói
nhảm, táo bón, tiểu tiện vàng; hoặc tức ngực, tiếng thở khò khè, đờm vàng dính,
bứt rứt, mất ngủ, nếu nặng thấy kích thích, cuồng loạn, đánh người, ném đồ vật,
nói năng linh tinh, khóc cười vô nguyên cớ; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhớp,
mạch hoạt sác.
Phân tích: nguyên nhân bệnh do thất tình uất kết, khí uất hóa hỏa hun đốt tân

thành đàm; hoặc do ngoại cảm nhiệt tà, hun đốt tân thành đàm làm đàm hỏa nhiễu
loạn tâm thần.
Chứng đàm hòa nhiễu loạn tâm thần phân ra ngoại cảm và nội thương. Ngoại
cảm nhiệt bệnh, tà nhiệt tích bên trong gây nên sốt, tiếng thở thô, sắc mặt hồng đỏ,
mắt đỏ, đại tiện táo, tiểu tiện vàng; đàm hỏa nhiễu loạn tâm thần gây kích thích, nói
nhảm; tà nhiệt hun đốt tân dịch, đàm trệ khí đạo gây nên tức ngực, khạc đờm vàng
dính, thờ khò khè. Nội thương tạp bệnh làm đàm hỏa nội nhiễu tâm thần: nếu nhẹ
thấy bứt rứt, mất ngủ; nếu nặng thấy tâm thần cuồng loạn, nói lảm nhảm, khóc
cười vô duyên cớ. Hỏa thuộc dương, dương chủ về động nên khi phát bệnh sẽ thấy
biểu hiện: nói lảm nhảm, đánh mắng người khác, ném đồ vật. Chất lưỡi hồng, rêu
lưỡi vàng nhớp, mạch hoạt sác là chứng của đàm hỏa nội thịnh.
Pháp trị: thanh tâm điều đàm.
Phương thuốc: Mông thạch cổn đàm hoàn
Mông thạch
15g
Thiên trúc hoàng 15g

Thiên ma
Đởm tinh

30g
30g

Phòng phong 09g
Toàn yết
15g

Sinh cam thảo

Ba đậu


12g

Xạ hương

09g

0,06g

Hùng hoàng
09g Bạch phụ tử 18g
Các vị thuốc trên tán bột mịn, hòa với trúc lịch, sau đó tán thật mịn. Căn cứ
tình hình bệnh tật mà dùng liều thích hợp.
4.10.Ứ trệ não lạc
Khái niệm: chứng ứ trệ não lạc là các chứng biểu hiện do ứ huyết trở trệ não
lạc gay đau đâu, chóng mặt lâu ngày không hết.


Lâm sàng: đau đầu, chóng mặt lâu ngày, đau đầu có tính chất cố định, đau như
châm chích; hoặc đột nhiên thấy bất tỉnh, liệt nửa người; hoặc thấy hồi hộp, mất
ngủ, hay quên; hoặc sau chấn thương vùng đầu không nhận ra ngươi thân, sắc mặt
không tươi nhuận, chất lưỡi ám tím, hoặc thấy ban điểm ứ huyết, mạch tế sáp.
Phân tích: chứng này thường do chấn thương vùng đầu hoặc do bệnh lâu ngày
nhập lạc làm cho ứ huyết nội đình, trở trệ não lạc gây nên.
Ứ huyêt trở trệ mạch não nên bất thông tắc thống gây đau đầu như châm
chích, đau đầu cố định. Nếu huyết uất ở não, bưng bít thanh khiếu gây đột nhiên
bất tỉnh, không nhận ra người nhà; mạch lạc không thông làm khí huyết không
vượng thịnh gây liệt nửa người. Khí huyết ứ trệ không đưa lên thanh khiếu gây
chóng mặt từng cơn. ứ huyết lâu ngày, huyết mới không được sinh làm tâm thần
không được nuôi dưỡng gây hồi hộp trống ngực, mất ngủ, hay quên, sắc mặt không

tươi nhuận, chất lưỡi ám tím hoặc có ban điểm ứ huyết, mạch tế sáp là thuộc chứng
ứ huyết nội trệ.
Pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ, tức phong thông lạc.
Phương thuốc: Thông khiếu hoạt huyết thang (Y lâm cải thác)
Xích thược12g
Hồng hoa 10g

Xuyên khung 12g
Đào nhân
06g
Hành già
03 cọng Sinh khương 10g

Đại táo
05 quả Xạ hương
0,15g
Hoàng từu
Các vị thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.

01 cốc



×