Tải bản đầy đủ (.docx) (78 trang)

So sánh một số giống lúa thuần mới trong vụ xuân tại gia lâm, hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.38 MB, 78 trang )

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

“SO SÁNH MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LÚA THUẦN
MỚI
TRONG VỤ XUÂN 2019 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI”

Người hướng dẫn

: PGS. TS TRẦN VĂN QUANG

Bộ môn

: DI TRUYỀN VÀ CHỌN GIỐNG CÂY

TRỒNG
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ THU TRANG
Msv

: 601998

Lớp

: K60-GICT

Hà Nội, 2019



LỜI CẢM ƠN!
Trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu khóa luận tốt
nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quân tâm, giúp đỡ
của rất nhiều cá nhân và đơn vị thực tập.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo-PGS.TS
Trần Văn Quang– Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Thầy là người đã hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các anh, chị phòng Kỹ
thuật Nông Nghiệp – Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng – Học viện Nông
nghiệp Việt Nam trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn toàn thể các cán bộ công nhân viên của Viện Nghiên cứu
và Phát triển cây trồng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm việc
tại đây.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa, các Thầy Cô giáo trong
bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng – khoa Nông học đã tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn những người bạn đã cùng tôi học tập và lao động tại Viện
Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, những người đã sát cánh cùng tôi, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến gia đình,
bạn bè tôi đã luôn động viên, khích lệ và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2019
Sinh viên

TRẦN THỊ THU TRANG
MỤC LỤC

2

2


3

3


DANH MỤC BẢNG

4

4


DANH MỤC ĐỒ THỊ

5

5


PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong năm loại cây lương thực chính của
thế giới, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực Đông
Nam châu Á và châu Phi.
Đối với người Việt Nam, thì lúa là cây lương thực chính và đã được

truyền lại từ ông cha ta, từ sự tích bánh trưng, bánh dầy. Trước đây, việc sản
xuất lúa gạo chỉ nhằm giải quyết nạn đói, do sản lượng thấp lại đông dân, mặc
dù diện tích trồng lúa rất lớn (năm 2000, diện tích là 7.666 nghìn ha, với sản
lượng là 32.592 nghìn tấn), sau khi giải quyết được vấn đề sản lượng với việc
dư thừa lương thực thì ta đã có thể xuất khẩu đi các nước trên thế giới và Việt
Nam là nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới (sau Thái Lan). Nhưng ngày nay, với
tình hình kinh tế phát triển, nhu cầu của con người cũng nâng cao hơn khi mà
sản lượng lương thực đã dư thừa thì con người lại đòi hỏi kèm theo sản lượng
phải đi đôi với chất lượng, gạo phải thơm, phải dẻo, nhiều chất dinh dưỡng,….
và một trong những trung tâm nghiên cứu các gióng lúa nổi tiếng trong nước đã
cho ra nhiều giống lúa mới là Viện Ngiên cứu và Phát triển cây trồng.
Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam tập trung vào chọn tạo các giống lúa thuần để phục vụ
sản xuất. Để lựa chọn được các dòng, giống lúa thuần có triển vọng, chúng tôi
thực hiện đề tài “So sánh một số dòng, giống lúa thuần mới trong vụ Xuân
2019 tại Gia Lâm, Hà Nội”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm nông sinh học,
đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm bệnh của các dòng, giống lúa thuần mới được
chọn tạo trong điều kiện vụ Xuân 2019 tại Gia Lâm, Hà Nội.

6

6


- Tuyển chọn được một số dòng giống lúa thuần mới có triển vọng để
khảo nghiệm quốc gia và phát triển sản xuất.
1.2.2. Yêu cầu

-Theo dõi được đặc điểm sinh trưởng và phát triển, đặc điểm nông sinh
học, đặc điểm hình thái của các dòng, giống lúa mới.
- Đánh giá được tình hình nhiễm sâu bệnh hại của các dòng, giống lúa
thuần mới.
- Xác định được năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các
dòng, giống lúa thuần mới.
- Đánh giá chất lượng gạo, cơm của các dòng, giống lúa thuần mới.

7

7


PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là quốc gia có dân số tăng nhanh với hơn 95 triệu người hiện
nay và ước tính sẽ đạt 100 triệu người vào năm 2020. Trong khi đó 90% diện
tích đất là làm nông nghiệp, mà diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích
đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp. Do vậy, để đảm bảo an ninh lương
thực trong tương lai đòi hỏi phải thâm canh tăng vụ, giống lúa ngắn ngày, năng
suất cao, chất lượng tốt, kháng nhiều sâu bệnh, thích nghi với các điều kiện sinh
thái khác nhau.
Thực tế, trong những năm gần đây đã có nhiều giống lúa thuần được đưa
vào sản xuất như KD18, Q5, BT7, DT122… .Tuy nhiên các giống này có năng
suất không ổn định, nhiễm sâu bệnh và một số giống có chất lượng gạo chưa cao
(Tám Thơm, Bắc Thơm, Tám Xoan, Tám Hải Hậu, Tám Điện Biên…).
Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu, tìm ra các giống lúa thuần mới có năng
suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu. Nhằm đóng góp
một phần nhỏ bé vào việc tuyển chọn các giống lúa có năng suất cao, chất lượng

tốt, chống chịu tốt với dịch hại, phù hợp với điều kiện sinh thái và đặc biệt đáp
ứng được thị hiếu người tiêu dùng.
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Kể từ tháng 12, FAO đã nâng dự báo sản lượng lúa thế giới năm 2017
tăng 2,9 triệu tấn lên 759,6 triệu tấn (503,9 triệu tấn, cơ sở xay xát). Ở mức đó,
sản lượng toàn cầu sẽ vượt kỷ lục năm 2016 ở mức khiêm tốn 0,6%, tương
đương 4,5 triệu tấn. Thật vậy, nhiều quốc gia châu Á đã chứng kiến các hoạt
động trồng trọt bị gián đoạn do lũ lụt hoặc hạn hán trong chu kỳ trồng trọt chính
của họ. Mặc dù trong một vài trường hợp, điều kiện phát triển bình thường hơn
cho phép cây trồng thứ cấp bù đắp cho những thiếu hụt ban đầu, những thất bại
8

8


về thời tiết này có thể dẫn đến sản lượng châu Á chỉ tăng một lượng nhỏ (0,7%)
hàng năm lên 686,7 triệu tấn. Mùa vụ 2017 đã diễn ra thuận lợi hơn ở châu Mỹ
Latinh và vùng Caribbean, nơi thời tiết thuận lợi đã tăng sản lượng lên kỷ lục
mọi thời đại, dẫn đến sự phục hồi sản lượng 7% lên 28,0 triệu tấn. Ở Úc, nông
dân cũng phản ứng với lợi nhuận tích cực và tình hình cung cấp nước thoải mái
bằng cách trồng trebling. Ngược lại, triển vọng lợi nhuận giảm và thời tiết bất
lợi làm giảm sản lượng ở châu Âu và đặc biệt là Hoa Kỳ, nơi thu thập vụ mùa
nhỏ nhất trong 21 năm. Mặc dù cao hơn so với báo cáo trước đây, sản lượng lúa
ở châu Phi hiện cũng được nhìn thấy dưới mức cao nhất mọi thời đại năm 2016
ở mức 32,1 triệu tấn, do mưa thất thường làm giảm sản lượng ở phía đông và
phía nam của lục địa, bù đắp cho mức tăng ở Ai Cập và Tây Phi.
Mặc dù mô hình lượng mưa trong mùa hè ở bán cầu bắc sẽ đóng một vai
trò quan trọng trong việc xác định kích thước cuối cùng của cây trồng, giả sử
điều kiện phát triển bình thường, dự báo đầu tiên của FAO về sản xuất lúa gạo

năm 2018 cho thấy sản lượng toàn cầu tăng 10,3 triệu tấn lên mức cao mới
769,9 triệu tấn (510,6 triệu tấn, cơ sở xay xát). Dự báo tăng trưởng 1,4% dự
kiến sẽ dựa vào khu vực, để đáp ứng với những cải thiện về giá sản xuất và hỗ
trợ nhà nước đang diễn ra. Đây sẽ là trường hợp cụ thể ở châu Á, nơi trồng lúa
được nhìn thấy lấy lại đà trong mùa tới. Trong khu vực, mức tăng sản lượng
tuyệt đối lớn nhất được dự đoán sẽ liên quan đến Ấn Độ, mặc dù triển vọng ban
đầu cũng chỉ ra sự phục hồi sản xuất đáng kể ở Bangladesh, Sri Lanka và Việt
Nam cùng với lợi ích ở Indonesia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Malaysia,
Myanmar, Nepal, Philippines và Thái Lan. Kết hợp lại, những điều này sẽ bù
đắp nhiều hơn cho việc giảm đáng kể ở Trung Quốc (Đại lục), nơi các quan
chức đã tăng cường nỗ lực của họ để tránh nguồn cung dư thừa bằng cách
khuyến khích cắt giảm rừng trồng, và ở Afghanistan, Hàn Quốc và Cộng hòa
Hồi giáo Iran.

9

9


Sau đợt điều chỉnh tăng 1,8 triệu tấn kể từ tháng 12, giao dịch gạo quốc tế
trong năm 2018 hiện được chốt ở mức 47,6 triệu tấn. Mức này sẽ chỉ thấp hơn
1% so với mức cao nhất mọi thời đại của năm 2017, hiện ước tính khoảng 48,1
triệu tấn. Từ góc độ khu vực, giá quốc tế cao hơn và hàng tồn kho dồi dào được
tích lũy thông qua các vụ mùa tốt hoặc nhập khẩu lớn 2017 được dự đoán sẽ
làm giảm nhu cầu nhập khẩu ở châu Phi và châu Mỹ Latinh và Caribbean. Tuy
nhiên, việc giảm nhập khẩu ở các khu vực này chống lại triển vọng mua hàng
châu Á tăng lên mức cao thứ hai, vì các khách hàng châu Á quan trọng, cụ thể là
Indonesia và Philippines, tái diễn mua hàng quốc tế để bổ sung hàng tồn kho và
giảm áp lực đối với báo giá địa phương. Nhu cầu nhập khẩu cũng được dự báo
sẽ vẫn tương đối vững chắc ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu. Trong số các nhà cung

cấp, mức giảm xuất khẩu hàng năm lớn nhất được dự kiến liên quan đến Thái
Lan, có thể thấy lợi thế cạnh tranh của nó bị xói mòn bởi tính khả dụng chặt chẽ
hơn và đồng nội tệ mạnh. Tuy nhiên, xuất khẩu của Ấn Độ cũng có thể giảm bớt
phần nào, trong bối cảnh nhu cầu giảm từ những người mua truyền thống. Sự
thiếu hụt sản xuất được dự đoán tương tự sẽ làm suy yếu xuất khẩu của
Argentina, Hoa Kỳ và Uruguay, trong khi Úc, Brazil, Campuchia, Trung Quốc
(Đại lục), Ecuador, Guyana, Myanmar, Pakistan, Paraguay và Việt Nam đều sẽ
xuất khẩu nhiều hơn.

10

10


Việc sử dụng gạo thế giới được dự đoán sẽ tăng 1,1% trong năm 2017/18
lên 503,9 triệu tấn (cơ sở xay xát). Việc sử dụng thực phẩm tăng 1,3% lên 405,8
triệu tấn sẽ củng cố mức tăng trưởng này, trong khi khối lượng kết hợp dành cho
các mục đích sử dụng khác, bao gồm thức ăn, hạt giống, sử dụng công nghiệp
và tổn thất sau thu hoạch, vẫn không thay đổi so với năm trước. Dự báo đầu tiên
của FAO, chứng kiến việc sử dụng gạo thế giới mở rộng thêm 5,2 triệu tấn trong
năm 2018/19 để đạt 509,1 triệu tấn. Sử dụng thực phẩm một lần nữa được dự
đoán sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng này, làm lu mờ sự suy giảm trong sử dụng thức
ăn và công nghiệp. Nếu tính đến sự gia tăng dân số, mức tiêu thụ thực phẩm
bình quân đầu người trên toàn cầu sẽ vượt từ 53,7 kg trong năm 2017/18 lên
53,9 kg vào mùa tới.

Dự trữ gạo toàn cầu vào cuối mùa tiếp thị 2017/18 được thiết lập để tăng
1,1 phần trăm lên 170,9 triệu (cơ sở xay xát). Trung Quốc (Đại lục) vẫn dự kiến
sẽ chiếm phần lớn sự tăng trưởng này, mặc dù, trong số các nhà nhập khẩu,
hàng mang về cũng được nhìn thấy sự phục hồi đáng kể ở Bangladesh và Brazil,

nhiều hơn là bù đắp cho việc rút tiền ở Indonesia, Hàn Quốc, Ả Rập Saudi, Sri
Lanka và Cộng hòa Thống nhất Tanzania. Ngược lại, dự trữ của năm nhà xuất
khẩu lớn được dự báo sẽ ký hợp đồng cho mùa thứ tư liên tiếp, do việc cắt giảm
ở Thái Lan liên quan đến việc giải phóng nguồn cung từ kho dự trữ nhà nước và
11

11


giảm sản lượng mạnh ở Hoa Kỳ. Trong khi đó, triển vọng sơ bộ chỉ ra sản lượng
gạo toàn cầu vượt quá mức sử dụng trong vụ mùa sắp tới. Do đó, trữ lượng gạo
toàn cầu vào cuối năm 2018/19 năm hướng tới hướng tăng thứ ba liên tiếp, đạt
mức 172,9 triệu tấn. Mức này sẽ vượt 1,2% so với kỳ vọng 2017/18, đủ để giữ
tỷ lệ sử dụng chứng khoán thế giới ở mức 33,5% thoải mái.
Sau vài tháng ổn định, giá gạo quốc tế đã ổn định từ cuối năm 2016. Xu
hướng này vẫn tiếp tục không giảm trong năm 2018, như được phản ánh bởi Chỉ
số giá gạo FAO (2002-2004 = 100) tăng 4% kể từ tháng 12 mức giữa tháng 4 là
229 điểm, cao nhất kể từ tháng 11 năm 2014. Trong số các phân khúc thị trường
gạo lớn, mức tăng rõ rệt nhất có liên quan đến giá gạo Indica chất lượng thấp
hơn và cao hơn. Dựa trên các chỉ số tương ứng của họ, những chỉ số này đã tăng
thêm 8 đến 10% kể từ tháng 12, trong bối cảnh nhu cầu tăng từ người mua châu
Á, cũng như khả năng bị phá vỡ chặt chẽ ở Thái Lan. Sự thiếu hụt trong sản
xuất hương thơm của Thái Lan cũng đã duy trì mức tăng 2% của Chỉ số thơm
lên tới 221 điểm, trong khi mức tăng chỉ giới hạn ở mức khoảng 1% tại thị
trường Japonica, nơi nhu cầu vẫn chỉ giới hạn ở một số người mua Viễn Đông
thông thường. Từ góc độ hàng năm, Chỉ số giá gạo FAO trung bình đạt 227
điểm trong khoảng từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2018, tăng 17% so với mức
tương ứng một năm trước đó, phản ánh mức tăng giá trên tất cả các nguồn gốc
và phẩm chất chính.


12

12


Bảng 2.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới giai đoạn 2007
– 2016
STT

Năm

Diện tích
(Triệu ha)

Năng suất
(Tấn/ha)

Sản lượng
(Triệu tấn)

1

2007

155,31

4,23

656,56


2

2008

160,08

4,29

687,05

3

2009

157,79

4,35

685,66

4

2010

161,68

4,34

701,11


5

2011

162,72

4,46

726,38

6

2012

162,19

4,54

736,26

7

2013

164,53

4,51

741,99


8

2014

162,91

4,56

742,43

9

2015

160,76

4,60

740,08

10

2016

165,2

4,64

756,10


11

2017

167,2

4,60

769,60
(Nguồn: FAOSTAT, 2018)

13

13


Bảng 2.2. Thị trường tiêu thụ lúa trên thế giới giai đoạn 2007 – 2016

STT

Năm

Nhập khẩu
(Tấn)

Giá trị
nhập khẩu
(triệu đô)

Xuất khẩu

(Tấn)

Giá trị xuất
khẩu
(triệu đô)

1

2007

31.490.221

14.013

33.563.766

14.013

2

2008

31.154.511

22.802

30.085.549

22.802


3

2009

29.328.733

19.960

30.197.709

19.960

4

2010

31.870.192

20.732

33.617.803

20.732

5

2011

35.377.346


24.054

37.613.917

24.054

6

2012

37.894.473

24.456

39.817.986

24.456

7

2013

37.843.114

26.223

37.127.101

26.223


8

2014

38.326.564

25.580

43.229.447

25.580

9

2015

39.621.237

23.505

42.418.467

23.505

10

2016

38.224.624


21.269

40.266.459

21.269

(Nguồn: FAOSTAT, 2018)
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam, nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới, giá gạo xuất khẩu tăng
mạnh vào tuần cuối tháng 5 – đầu tháng 6, lên mức cao chưa từng có kể từ
tháng 1/2012 (465-475 USD/tấn) do nguồn cung hạn hẹp (đã thu hoạch lúa vụ
phụ nhưng chất lượng chỉ ở mức khá) và một số khách hàng chủ chốt như
Indonesia và Philippines đều thông báo sẽ nhập khẩu gạo bổ sung. Tuy nhiên
sau đó giá giảm dần, do đó tính chung trong khoảng một tháng qua (24/5 –
21/6), giá gạo xuất khẩu giảm nhẹ, loại 5% tấm giảm 5 USD/tấn (khoảng 1%)
xuống 450 – 455 USD/tấn.
Trong quý 2, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tiếp tăng tới hết tuần
đầu tháng 6 và chỉ giảm từ đó tới nay, tính chung trong cả quý, giá tăng 43
14

14


USD/tấn (hơn 10%). Từ cuối tháng 4 tới nay, gạo Việt Nam luôn cao nhất trong
số 3 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới (Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam).
Trên thị trường nội địa, giá lúa gạo tại khu vực ĐBSCL tăng khá mạnh
trong tháng 4 và 5 do nhu cầu gạo xuất khẩu cao trong khi đa phần các doanh
nghiệp đều không còn gạo tồn kho từ năm 2017. Đó là giai đoạn các doanh
nghiệp cần gom hàng để thực hiện những hợp đồng đã ký trước đó, đồng thời
mua tích trữ vì vụ Đông Xuân là vụ mùa lớn nhất và có chất lượng tốt nhất. Tuy

nhiên, sang tháng 6 giá bắt đầu giảm bởi nhu cầu xuất khẩu chậm lại, nhu cầu
mua từ các doanh nghiệp cũng giảm đi và không thắng gói thầu nào trong phiên
đấu giá mới nhất của Philippines. Dù giá gạo trong nước đang chững lại, nhưng
hiện vẫn đang ở mức cao kỷ lục trong vài năm gần đây. So với cùng kỳ năm
ngoái, giá gạo đã tăng bình quân gần 1 triệu đồng/tấn, mang lại lợi nhuận đáng
kể cho người nông dân.
Mặc dù suốt quý giá luôn biến động, song so với thời điểm đầu quý 2, giá
cuối quý gần như không thay đổi đối với các loại lúa khô tại kho loại thường,
lúa dài và gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm; nhưng tăng khá mạnh đối
với các loại gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm, gạo thành phẩm 5% tấm
không bao bì tại mạn, gạo 15% tấm và Gạo 25% tấm.
Còn tính chung trong 6 tháng đầu năm, thị trường lúa gạo có xu hướng
tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng để trang trải các hợp đồng đã ký với Indonesia và
Philippines. Trong đó, lúa thường tăng 100 – 200 đồng/kg, lúa chất lượng cao
tăng 400 – 500 đồng/kg.
Diện tích gieo cấy lúa Đông Xuân trên cả nước trong năm nay ước đạt
3.102.200 ha, bằng 99,6% so với cùng kỳ, với năng suất dự kiến đạt 66,2 tạ/ha,
tăng 3,9 tạ/ha so với cùng kỳ; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn
(tăng 5,7% so vụ Đông Xuân năm trước và tăng cao nhất trong 10 năm trở lại
đây).

15

15


Về xuất khẩu, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 6 ước đạt 604.000 tấn với
giá trị đạt 317 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm đạt
tăng 24,6% lên 3,6 triệu tấn và tăng 42,4% về giá trị lên 1,8 tỷ USD so với cùng
kỳ năm 2017. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập

khẩu gạo của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2018 với 30% thị phần. Xuất
khẩu gạo sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt 844.100 tấn và
449,4 triệu USD, giảm 21,1% về khối lượng và 7,6% về giá trị so với cùng kỳ
năm ngoái.
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo Việt Nam
giai đoạn 2008 -2017
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Năm

Diện tích

2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015

2016
Sơ bộ 2017

(triệu ha)
7,40
7,44
7,49
7,66
7,76
7,90
7,82
7,83
7,74
7,71

Năng suất

Sản lượng

(tấn/ha)
(Triệu tấn)
5,23
38,73
5,24
38,95
5,34
40,01
5,54
42,40
5,64

43,74
5,57
44,04
5,75
44,97
5,76
45,09
5,58
43,17
5,55
42,76
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018)

Đồ thị 2.1. Xuất khẩu gạo Việt Nam giai đoạn 2000 – 2017
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018)

16

16


2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÚA THUẦN Ở VIỆT
NAM
2.3.1. Tình hình nghiên cứu các giống lúa thuần ở Việt Nam
Cụ thể, Viện Nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long với phương pháp
ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết hợp với
khảo nghiệm đồng ruộng đã chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất
lượng tốt như: OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405,
OM4495...
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm với phương pháp thu thập nguồn

vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địa phương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) với phương pháp lai hữu tính kết hợp
với gây đột biến để tạo ra các tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá và năng suất
cao như CH2, CH3, CH 133, CH5, HD8, P6, XH8…trồng rộng rãi ở vùng
Trung du miền núi phía Bắc, Trung bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Viện Di truyền Nông nghiệp tạo ra hàng loạt giống lúa nổi tiếng như
DT10, DT11, A20, DT33, DT122, DT22, DT37, ĐS1,VS1, Khang Dân đột
biến, DT68…có năng suất cao chống chịu sâu bệnh tốt, thích ứng rộng là những
giống chủ lực của miền Bắc vào những thập niên 90 của thế kỉ trước và tiếp tục
phát huy ở thời gian hiện nay.
Việt Nam cũng đã làm chủ được công nghệ sản xuất lúa lai hai và ba
dòng như Việt Lai 20,TH3-3,TH3- 4, TH3-5… của Trường Đại học Nông
Nghiệp 1 Hà Nội, các giống HYT 100, HYT 103, HYT 108,... của Viện Cây
lương thực và Cây thực phẩm.

17

17


Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong lĩnh vực nông nghiệp được
coi là giải pháp đột phá xây dựng nền nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện
theo hướng hiện đại.
Tuy nhiên, việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng CNSH vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn
hiện nay.
Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn) năm 2015, tổng diện tích gieo trồng của Việt Nam là 7,66 triệu ha. Giống
lúa đưa vào sản xuất là 255 giống (gồm 155 giống lúa thuần, 81/85 giống lúa
lai, lúa nếp là 19/22 giống).

Tuy nhiên chỉ có 66 giống lúa chính gồm 46 giống lúa thuần, 5 giống nếp
và 15 giống lúa lai, chiếm 91% tổng số diện tích. Trong 12 giống lúa chính
(chiếm 47% tổng diện tích gieo trồng trong cả nước) có 8 giống lúa của Việt
Nam là các giống lúa IR50404, OM5451, OM4900, OM6976, OM4218,
OM5954, BC15 và TH 3-3.
Mặc dù Việt Nam đã nắm vững được công nghệ trong chọn tạo giống với
số giống được chọn tạo nhiều. Hàng năm, Việt Nam đưa ra nhiều giống mới
nhưng vẫn chưa có giống lúa đặc sản có thương hiệu để xuất khẩu, tỷ trọng xuất
khẩu của các giống lúa chất lượng cao vẫn còn thấp.
Cho tới bây giờ, chưa có giống lúa xuất khẩu mang thương hiệu Việt
Nam. Nguyên nhân của việc này là do Việt Nam đầu tư còn dàn trải, thiếu cán
bộ giỏi trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là các trang thiết bị máy móc cho
nghiên cứu còn quá lạc hậu so với các nước trong khu vực. Một số đề tài công
nghệ sinh học vẫn chỉ là thí nghiệm, thậm chí không ít đề tài đang nằm lưu cữu
trong phòng thí nghiệm.

18

18


Theo các chuyên gia ngành nông nghiệp, việc chậm triển khai đưa các
ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, vẫn là lực lượng
nghiên cứu công nghệ sinh học còn mỏng, kinh phí đầu tư quá thấp...
Trước yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng ngành sản xuất lúa gạo, yêu cầu
đặt ra cho các nhà chọn tạo giống lúa là phải có các giống của Việt Nam tạo ra
có chất lượng tốt, năng suất cao, chống chịu với phần lớn các yếu tố bất lợi: rầy
nâu, đạo ôn, bạc lá, virus, hạn, mặn, ngập trong 10 hoặc 15 năm tới. Để làm
được điều đó, chúng ta cần phải có các định hướng cụ thể:
* Đối với giống lúa thuần:

- Lựa chọn phát triển 2-3 giống lúa thơm bản địa có thương hiệu để tăng
năng suất lên 6- 7 tấn/ha trong điều kiện giữ nguyên các đặc tính hiện có.
- Chọn tạo các giống lúa (cấp 2) có khả năng xuất khẩu từ 600800USD/tấn với các đặc tính cụ thể bao gồm: Năng suất 7-8 tấn/ha vụ Xuân, 6
tấn/ha vụ Mùa, chiều dài hạt >7mm, hàm lượng amylose< 20%.
- Chọn tạo các giống ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm: giống lúa
chịu được độ mặn lên đến 8 phần nghìn, năng suất từ 6-7 tấn/ha; giống lúa chịu
hạn từ 15-20 ngày, năng suất từ 5-6 tấn/ha; giống lúa chịu úng ngập từ 7-12
ngày, năng suất từ 6-7 tấn/ha - Chọn giống Japonica: năng suất 7-8 tấn/ha, hạt
tròn, trong, amylose <18%, chống chịu sâu bênh, có mùi thơm.
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới, sau Ấn Độ và Thái
Lan, theo số liệu của UN FAO. Xuất khẩu gạo thơm của Việt Nam chiếm
khoảng 10% tổng xuất khẩu gạo hàng năm.
Theo Cục Trồng trọt, diện tích lúa toàn vùng vụ ĐX 2018 – 2019 ước đạt
316.967ha , giảm 4.397 ha; năng suất ước đạt 66,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt
2.096 nghìn tấn, tăng 18 nghìn tấn so với vụ ĐX 2017 – 2018. Đối với cây màu
thì đa số diện tích gieo trồng của các loại cây như ngô, lạc, vừng, sắn, mía,
khoai lang đều tăng chỉ có diện tích trồng rau các loại và đậu giảm.
19

19


Vụ ĐX 2018 – 2019, diện tích chuyển đổi cây trồng trên đất lúa toàn
vùng đạt 7.115ha. Nhiều mô hình chuyển đổi cây trồng kết hợp ứng dụng canh
tác nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) vùng DHNTB
đạt hiệu quả cao như: mô hình chuyển đổi canh tác lạc, đậu chịu hạn thích ứng
BĐKH tại Bình Thuận, mô hình canh tác cỏ VA06 thích ứng BĐKH và tưới
nước tiết kiệm trên đất kém hiệu quả và nguy cơ khô hạn phục vụ chăn nuôi gia
súc lớn ở huyện Bắc Bình (Bình Thuận).

Trong vụ HT, vụ mùa 2019 theo dự báo sẽ xảy ra nguy cơ hạn hán, thiếu
nước tại các tỉnh Trung Bộ, Tây Nguyên trong các tháng mùa khô nên các tỉnh
cần chuẩn bị tốt phương án sản xuất cây trồng cho vụ HT, vụ mùa. Trước tình
hình trên Cục Trồng trọt khuyến các các địa phương cần ra soát cơ cấu mùa vụ
và bố trí lịch thời vụ sản xuất lúa để né tránh hạn, áp dụng kỹ thuật canh tác để
hạn chế tác động của khô hạn đến xản xuất; tập trung sử dụng các giống ngắn và
cực ngắn ngày, năng suất, chất lượng khá, chống đổ ngã, khô hạn.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh đánh giá cao các địa
phương ở vùng DHNTB mặc dù trong điều kiện thời tiết sản xuất vụ ĐX còn
gặp nhiều khó khăn nhưng năng suất vẫn đạt và tăng dần theo từng năm. Theo
Thứ trưởng, hiện nay diện tích lúa vụ ĐX vẫn chưa thu hoạch hết nên cần phải
tiếp tục theo dõi sát sao về tình hình sâu bệnh hại.
Lúa gạo
Sản lượng lúa (triệu tấn)

2017
44,47

2016
43,6

2015
45,09

– Vụ đông xuân

19,4

20.68


20.85

– Vụ hè thu

11,34

11,4

9,2

9,44

Tổng diện tích 3 vụ (triệu ha)

7,69

7,79

7,83

Tiêu dùng gạo (triệu tấn)

22

21,2

22

5,6


5,09

6.61

– Vụ 3

Xuất khẩu gạo (triệu tấn)
– USDA (T5/2017)
20

20


– Chính phủ (5 tháng đầu 2017)
2,33
4,84
Dự trữ gạo cuối kỳ (triệu tấn)
n.a
1,11
(USDA)
Tiêu dùng gạo và dự trữ gạo cuối kỳ là từ báo cáo USDA

6.58
0.85

Đây là nhận định được Bộ NN&PTNT đưa ra trong báo cáo về tình hình
sản xuất lúa gạo được công bố mới đây.
Thống kê năm 2019, diện tích lúa cả nước là 7,53 triệu hecta, năng suất
trung bình đạt 58,1 tấn/ha. Việt Nam hiện nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu
gạo nhiều nhất thế giới, chỉ sau Ấn Độ và Thái Lan. Gạo Việt Nam đã xuất khẩu

tới 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Xuất khẩu gạo năm 2018 đạt 6,1 triệu tấn, trị
giá 3,06 tỷ USD.
Kết quả trên có được là nhờ Việt Nam đã chuyển đổi được cơ cấu giống,
tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm gần 80% gạo xuất khẩu, vì vậy, giá gạo xuất
khẩu bình quân tăng từ 452 USD/tấn năm 2017 lên 502 USD/tấn năm 2018,
tương đương và có thời điểm cao hơn giá gạo cùng loại của Thái Lan.


Sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã sản xuất gần 850 tấn
giống IR64, OM1490, OMCS2000, JASMINE85 và một số giống triển vọng
như OM 3536 (lúa thơm), OM 2517, OM2717, OM2718, đáp ứng một phần
giống phục vụ chương trình xuất khẩu.
Hiện nay, Việt Nam có trên 80% diện tích lúa được trồng bằng các giống
lúa cải tiến và ngành nông nghiệp đã làm chủ được các công nghệ tiên tiến trong
chọn tạo giống lúa.Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn) năm 2015, tổng diện tích gieo trồng của Việt Nam là 7,66 triệu
ha. Giống lúa đưa vào sản xuất là 255 giống (gồm 155 giống lúa thuần, 81/85
giống lúa lai, lúa nếp là 19/22 giống). Tuy nhiên chỉ có 66 giống lúa chính gồm

21

21


46 giống lúa thuần, 5 giống nếp và 15 giống lúa lai, chiếm 91% tổng số diện
tích.
Một số giống lúa thuần chất lượng cao tại Việt Nam hiện nay là: Dự
Hương, Nàng Thơm Chợ Đào, Nếp cái hoa vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, Tài
Nguyên, Tám Xoan, Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, BC 15…v..v.

Mặc dù Việt Nam đã nắm vững được công nghệ trong chọn tạo giống với
số giống được chọn tạo nhiều. Hàng năm, Việt Nam đưa ra nhiều giống mới
nhưng vẫn chưa có giống lúa đặc sản có thương hiệu để xuất khẩu, tỷ trọng xuất
khẩu của các giống lúa chất lượng cao vẫn còn thấp.
Cho tới bây giờ, chưa có giống lúa xuất khẩu mang thương hiệu Việt
Nam. Nguyên nhân của việc này là do Việt Nam đầu tư còn dàn trải, thiếu cán
bộ giỏi trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là các trang thiết bị máy móc cho
nghiên cứu còn quá lạc hậu so với các nước trong khu vực. Một số đề tài công
nghệ sinh học vẫn chỉ là thí nghiệm, thậm chí không ít đề tài đang nằm lưu cữu
trong phòng thí nghiệm.
Theo các chuyên gia ngành nông nghiệp, việc chậm triển khai đưa các
ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, vẫn là lực lượng
nghiên cứu công nghệ sinh học còn mỏng, kinh phí đầu tư quá thấp...
Trước yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng ngành sản xuất lúa gạo, yêu cầu
đặt ra cho các nhà chọn tạo giống lúa là phải có các giống của Việt Nam tạo ra
có chất lượng tốt, năng suất cao, chống chịu với phần lớn các yếu tố bất lợi: rầy
nâu, đạo ôn, bạc lá, virus, hạn, mặn, ngập trong 10 hoặc 15 năm tới. Để làm
được điều đó, chúng ta cần phải có các định hướng cụ thể:
* Đối với giống lúa thuần:

22

22


- Lựa chọn phát triển 2-3 giống lúa thơm bản địa có thương hiệu để tăng
năng suất lên 6- 7 tấn/ha trong điều kiện giữ nguyên các đặc tính hiện có.
- Chọn tạo các giống lúa (cấp 2) có khả năng xuất khẩu từ 600- 800USD/tấn với
các đặc tính cụ thể bao gồm: Năng suất 7-8 tấn/ha vụ Xuân, 6 tấn/ha vụ Mùa,
chiều dài hạt >7mm, hàm lượng amylose< 20%.

- Chọn tạo các giống ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm: giống lúa
chịu được độ mặn lên đến 8 phần nghìn, năng suất từ 6-7 tấn/ha; giống lúa chịu
hạn từ 15-20 ngày, năng suất từ 5-6 tấn/ha; giống lúa chịu úng ngập từ 7-12
ngày, năng suất từ 6-7 tấn/ha - Chọn giống Japonica: năng suất 7-8 tấn/ha, hạt
tròn, trong, amylose <18%, chống chịu sâu bênh, có mùi thơm
2.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN TẠO LÚA THUẦN
2.4.1. Định hướng chọn tạo
Mỗi vùng địa lý có đặc điểm sinh thái khí hậu riêng biệt, do vậy mỗi khi
tiến hành chọn tạo giống mới hay đánh giá tập đoàn nhập nội các cán bộ nhân
viên của trung tâm thường tiến hành khảo sát đặc điểm sinh thái khí hậu để có
mục tiêu chọn tạo cụ thể:
- Vùng chủ động nguồn nước, có hệ thống thủy lợi chủ động.
- Vùng sinh thái lúa hạn bao gồm: vùng không chủ động nước tưới, vùng
phụ thuộc hoàn toàn nước tưới
- Vùng sinh thái lúa mặn
- Vùng sinh thái lúa úng
2.4.2. Đánh giá tập hợp vật liệu khởi đầu
Các nguồn vật liệu thường được đánh giá theo mục tiêu chọn tạo như


Chịu mặn



Chịu hạn



Chịu ngập úng


23

23




Chống chịu sâu bệnh



Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.
2.4.3. Chọn lọc dòng và đánh giá dòng thuần
Các biến dị được tạo ra từ nguồn vật liệu ban đầu phục vụ quá trình chọn
tạo dòng thuần được tiến hành theo nhiều hướng như:



Lai hữu tính



Gây đột biến



Nuôi cấy bao phấn
Nhưng hiện nay các biến dị được tạo ra chủ yếu từ phép lai hữu tính, tùy
vào mục tiêu chọn giống mà chọn các bố mẹ thích hợp làm tổ hợp lai. Thu con
lai F1, gieo trồng thu F2 chọn lọc cá thể theo tiêu chí cụ thể, chọn tới thế hệ F7

đem các dòng được chọn vào thí nghiệm so sánh RCB 3 lần nhắc lại. Các cá thể
ưu tú sẽ được khảo nghiệm và kiểm định giống.
2.5. KẾT QUẢ CHỌN TẠO GIỐNG LÚA THUẦN Ở VIỆT NAM
2.5.1. Kết quả chọn tạo giống lúa thuần chủng
Ở phía Bắc, thành tựu nổi bật nhất là chọn tạo thành công và phát triển
trên diện rộng bộ giống lúa ngắn ngày và lúa thơm năng suất cao, chất lượng
gạo cao hơn so với giống lúa thuần Trung Quốc. Một số giống nổi bật là AC5,
PC6, HT6, SH14.... Ước tính diện tích giống mới của Viện được sản xuất ở các
tỉnh phía Bắc chiếm khoảng 750 - 800 ngàn ha/năm. Xét về hiệu quả kinh tế, chỉ
tính giống mới cho năng suất tăng 10% thì diện tích trên đã làm tăng thêm
khoảng 350 ngàn tấn thóc, tương đương 1,2 ngàn tỷ đồng/năm.
Ở phía Nam, kết quả điều tra của Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống,
Sản phẩm cây trồng và Phân bón Quốc gia (2008) cho thấy diện tích sử dụng
giống lúa do Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo đã đạt trên 2,4 triệu ha, chiếm 34,9% diện tích
gieo trồng cả nước hay 80% diện tích lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Với

24

24


2,4 triệu ha, giống mới cho năng suất tăng 10%, sản lượng sẽ tăng thêm 1,2
triệu tấn thóc/năm thì đã làm lợi khoảng 4.200 tỷ đồng/năm. Giống lúa của Viện
còn được trồng phổ biến ở Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên với tổng diện
tích gieo gần 100 ngàn ha chiếm 37,7%; ở vùng Đông Nam Bộ trên diện tích
221 ngàn ha, chiếm 45,4%.
Thu thập đánh giá nguồn vật liệu giống lúa địa phương phục vụ chọn tạo
giống lúa cho vùng canh tác nhờ nước trời vùng núi Tây Bắc Việt Nam của
Trường Đại học nông nghiệp 1 Hà Nội với phương pháp điều tra, thu thập, phân

loại giống địa phương và chọn lọc cá thể theo chu kỳ để làm vật liệu di truyền
lai tạo giống lúa cho vùng núi nước trời phía Bắc Việt Nam như G4, G6, G10,
G13, G14, G19,G22,G24…
Tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC93-1 phục vụ sản xuất
lượng thực ở vùng cao của Viện Bảo Vệ Thực Vật Từ Liêm, Hà Nội với phương
pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn được giống
LC93-1 có thời gian sinh trưởng 115-125 ngày, năng suất 3-4 tấn/ha, chịu hạn
khá, chất lượng gạo tốt, thích hợp cho vùng đồng bào dân tộc nghèo ở vùng
ca0o.
Ứng dụng kết quả điện di protein SDS-Page trong công tác chọn tạo
giống lúa chất lượng cao của Trường Đại học Cần Thơ dùng phương pháp điện
di protein SDS-Page tuyển chọn các giống lúa thuần như lúa Nếp Bè Tiền
Giang, VĐ20, Klong Kluang, đánh giá đa dạng di truyền của tập đoàn giống
phục vụ công tác lai tạo như tập đoàn lúa mùa ven biển đồng bằngsông Cửu
Long và khảo sát quy luật di truyền ở mức độ phân tử như hàm lượng
proglutelin, acidic glutilin, basic glutelin.
Xác định gen fgr điều khiển tính trạng mùi thơm bằng phương pháp Fine
Mapping với microsatellite của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long
dùng phương pháp microsatellite phân tích quần thể tổ hợp lai Khao dawk
mali/OM 1490 cho thấy rằng gen fgr diều khiển mùi thơm là gen lặn trên nhiễm
25

25


×