NHÓM 7: CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN
Các thành viên
Mã sinh viên
Phân công công việc
1. Lê Thị Phương (Nhóm 11164138
trưởng)
III. Những mặt hạn chế
Tổng hợp và chỉnh sửa các bản word
2. Phan Thị Thu Trang
11165522
IV. Giải pháp + Thuyết trình
3. Nguyễn Thu Thảo
11164813
II.1. Các quy định pháp luật + Thuyết trình
4. Hoàng Thị Thảo
11164736
II.2. Hoạt động của các CTQLQ và
QĐTCK tại Việt Nam +Làm slide
5. Khuất Thị Hiền
11161708
II.3. Liên hệ cụ thể + Làm slide
6. Nguyễn Thị Vân
11165885
I.Khái quát chung + Làm slide
Mục lục
I.
Phân biệt công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán
Giống nhau: Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán đều
là hai hình thức đầu tư tập thể, được thành lập với hoạt động kinh doanh
chính là đầu tư chứng khoán thu lợi nhuận.
Khác nhau:
Tiêu chí
Khái niệm
Hình thức
Thành lập
Quỹ đầu tư chứng khoán
Công ty đầu tư chứng khoán
Là quỹ hình thành từ vốn góp Là công ty được thành lập để chuyên
của nhà đầu tư với mục đích quản lí quỹ đầu tư chứng khoán.
kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư
vào chứng khoán hoặc các dạng
tài sản đầu tư khác, kể cả bất
động sản, trong đó nhà đầu tư
không có quyền kiểm soát hàng
ngày đối với việc ra quyết định
đầu tư của quỹ.
Là 1 quỹ tiền tệ và không có tư Được tổ chức dưới hình thức công ty
cách pháp nhân.
cổ phần theo quy định của Luật
doanh nghiệp 2014 để đầu tư chứng
khoán. Do đó, công ty đầu tư chứng
khoán có tư cách pháp nhân.
- Việc thành lập và chào bán
chứng chỉ quỹ ra công chúng của
quỹ đại chúng do công ty quản lý
quỹ thực hiện theo quy định pháp
luật và phải đăng ký với Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước.
Mọi hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán hoàn toàn lệ thuộc
vào công ty quản lý quỹ
Thành lập theo 2 loại hình:
- Công ty TNHH quản lý quỹ: Thành
lập dưới hình thức công ty TNHH
một hoặc nhiều thành viên. Mô hình
này không được quyền phát hành cổ
phiếu để huy động vốn.
- Công ty cổ phần quản lý quỹ:
Được phát hành cổ phiếu ra công
chúng để huy động vốn.
Tư cách nhà Nhà đầu tư là người hưởng lợi từ Nhà đầu tư là cổ đông, có quyền
đầu tư
hoạt động đầu tư mà họ ủy thác quản lý và quyền tài sản.
cho công ty quản lý quỹ. Có
quyền tài sản và một phần quyền
quản lý.
II.
Thực trạng hoạt động của quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ tại Việt Nam
1. Các quy định pháp luật về việc thành lập Công ty quản lý quỹ và Quỹ
đầu tư chứng khoán.
1.1. Công ty quản lý quỹ
* Thứ nhất, điều kiện để thành lập công ty quản lý quỹ đầu tư bao gồm:
-
-
-
-
Điều kiện về vốn pháp định: Theo quy định tại khoản 3 Điều 71 Nghị
định 58/2012/NĐ-CP, vốn pháp định của công ty quản lý quỹ tại Việt
Nam, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam là 25 tỷ
đồng Việt Nam.
Điều kiện về cơ sở vật chất: có trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh
doanh chứng khoán.
Điều kiện về nguồn vốn thành lập: Các cổ đông sáng lập/thành viên sáng
lập phải sử dụng nguồn vốn của chính mình để góp vốn.
Điều kiện về cổ đông sáng lập/thành viên sáng lập: Nếu là cá nhân thì
phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang
phải chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh
doanh; trường hợp là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ
năng lực tài chính để tham gia góp vốn.
Điều kiện về cơ cấu cổ đông/thành viên góp vốn: Có tối thiểu 2 cổ đông
sáng lập/thành viên sáng lập là tô chức đáp ứng điều kiện về tài chính,
thời gian hoạt động. Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ chức
phải sở hữu tối thiểu 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là doanh
nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán sở hữu tối
thiểu 30% vốn điều lệ. Nếu là công ty TNHH một thành viên thì chủ sở
hữu phải là doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng thương mại hoặc công ty
chứng khoán.
Điều kiện về chứng chỉ hành nghề: Giám đốc/Tổng giám đốc và các
nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có chứng
chỉ hành nghề chứng khoán.
* Thứ hai, thủ tục thành lập công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Bước 1: Hồ sơ đề nghị cấp phép thành lập
Theo quy định tại điều 63 Văn bản hợp nhất 27/VBHN-VPQH năm 2013
hợp nhất Luật Chứng khoán Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt
động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.
– Giấy đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ.
– Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm thực hiện các nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán.
– Xác nhận của ngân hàng về mức vốn pháp định gửi tại tài khoản phong tỏa
mở tại ngân hàng.
– Danh sách dự kiến Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực
hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán kèm theo bản sao Chứng chỉ hành
nghề chứng khoán.
– Danh sách cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập kèm theo bản sao
Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu đối với cá nhân và Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh đối với pháp nhân.
– Bản sao báo cáo tài chính năm gần nhất có xác nhận của tổ chức kiểm toán
độc lập của cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là pháp nhân tham gia
góp vốn từ mười phần trăm trở lên vốn điều lệ đã góp của tổ chức đề nghị
cấp giấy phép.
– Dự thảo Điều lệ công ty.
– Dự kiến phương án hoạt động kinh doanh trong ba năm đầu phù hợp với
nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ,
quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình quản lý rủi ro.
Hồ sơ được lập thành 02 bộ gửi trực tiếp đến trụ sở UBCKNN (bộ phận một
cửa) hoặc theo đường bưu điện.
Bước 2: (Điều 65 Văn bản hợp nhất 27/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất
Luật Chứng khoán)
– Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty
chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
– Trường hợp cần làm rõ vấn đề liên quan đến hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước có quyền đề nghị người đại diện trong số thành
viên sáng lập hoặc cổ đông sáng lập hoặc người dự kiến được bổ nhiệm,
tuyển dụng làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của tổ chức đề nghị cấp giấy
phép giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản.
Bước 3: (Điều 66 Văn bản hợp nhất 27/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất
Luật Chứng khoán)
– Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt
động, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải công bố Giấy phép
thành lập và hoạt động trên phương tiện thông tin của Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước và một tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp.
– Việc công bố Giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại khoản 1 Điều
này bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
+ Tên công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ;
+ Địa chỉ đặt trụ sở chính của công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện (nếu
có);
+ Số Giấy phép thành lập và hoạt động, ngày cấp, các nghiệp vụ kinh doanh
được phép thực hiện;
+ Vốn điều lệ;
+ Người đại diện theo pháp luật.
1.2.
Quỹ đầu tư Chứng khoán
Theo quy định tại Luật chứng khoán hợp nhất 27/2013/VBHN-VPQH.
Điều 83. Thành lập quỹ đầu tư chứng khoán
1. Việc thành lập và chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng của quỹ đại
chúng do công ty quản lý quỹ thực hiện theo quy định tại Điều 90 của Luật
này và phải đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
2. Việc thành lập quỹ thành viên do công ty quản lý quỹ thực hiện theo quy
định tại Điều 95 của Luật này và phải báo cáo Uỷ ban chứng khoán Nhà
nước.
Theo quy định tại Thông tư 224/2012/TT-BTC thì trong việc thành lập quỹ
thành viên như sau:
Điều 21. Thành lập quỹ thành viên
1. Quỹ thành viên do thành viên đáp ứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều
này góp vốn thành lập trên cơ sở biên bản thoả thuận góp vốn và điều lệ
quỹ.
2. Việc thành lập quỹ thành viên phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước và đáp ứng các điều kiện sau:
a) Vốn thực góp tối thiểu là năm mươi (50) tỷ đồng Việt Nam;
b) Có tối đa ba mươi (30) thành viên góp vốn và chỉ bao gồm thành viên là
pháp nhân trong nước, tổ chức nước ngoài;
c) Do một công ty quản lý quỹ đáp ứng quy định tại điểm b và điểm c
khoản 2 Điều 4 Thông tư này quản lý;
d) Tài sản của quỹ được lưu ký tại một ngân hàng lưu ký độc lập với công
ty quản lý quỹ.
3. Hồ sơ báo cáo về việc thành lập quỹ thành viên bao gồm các tài liệu sau:
b) Điều lệ quỹ, bao gồm các nội dung có liên quan theo mẫu quy định tại
phụ lục số 11 ban hành kèm theo Thông tư này;
d) Hợp đồng lưu ký tài sản;
đ) Biên bản thoả thuận góp vốn, danh sách các tổ chức tham gia góp vốn
theo mẫu quy định tại phụ lục số 12 ban hành kèm theo Thông tư này và các
tài liệu sau:
- Bản sao có chứng thực quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của thành viên góp vốn. Đối với
thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hoặc tài liệu tương đương phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức
đó đã đăng ký không quá sáu (06) tháng trước ngày hoàn tất hồ sơ đăng ký
lập quỹ và phải được dịch công chứng theo quy định của pháp luật liên
quan;
- Biên bản họp và quyết định của đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản
trị, quyết định của hội đồng thành viên hoặc của chủ sở hữu phù hợp với quy
định tại điều lệ công ty của tổ chức góp vốn về việc tham gia góp vốn vào
quỹ, về việc cử người đại diện phần vốn góp theo uỷ quyền kèm theo hồ sơ
cá nhân của người này;
- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký mã số giao dịch chứng khoán của tổ
chức nước ngoài;
e) Giấy xác nhận của ngân hàng lưu ký về quy mô vốn đã góp.
4. Hồ sơ báo cáo về việc thành lập quỹ thành viên được lập thành một (01)
bộ gốc kèm theo tệp dữ liệu điện tử. Bộ hồ sơ gốc được gửi trực tiếp Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước hoặc gửi qua đường bưu điện.
5. Công ty quản lý quỹ chịu trách nhiệm bảo đảm các thông tin trong hồ sơ
phải đầy đủ, chính xác, trung thực. Trong thời gian hồ sơ đang được xem
xét, công ty quản lý quỹ có nghĩa vụ cập nhật, sửa đổi, bổ sung hồ sơ nếu
phát hiện thông tin không chính xác, phát sinh thông tin quan trọng, hoặc bỏ
sót thông tin quan trọng theo quy định phải có trong hồ sơ. Văn bản sửa đổi,
bổ sung phải có chữ ký của những người đã ký trong hồ sơ hoặc của những
người có cùng chức danh với những người đó hoặc của người đại diện theo
pháp luật của công ty.
6. Công ty quản lý quỹ và các tổ chức tham gia góp vốn thành lập quỹ thành
viên không được sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để quảng cáo,
kêu gọi góp vốn.
7. Trong thời hạn mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ
theo quy định tại khoản 3 Điều này, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thông
báo bằng văn bản xác nhận công ty quản lý quỹ đã báo cáo về việc thành lập
quỹ thành viên. Trường hợp từ chối, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phải trả
lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
8. Trong thời hạn năm (05) ngày, kể ngày nhận được thông báo của Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước, công ty quản lý quỹ công bố thông tin về việc
thành lập quỹ thành viên theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này.
Vốn của quỹ thành viên chỉ được giải ngân sau khi có thông báo của Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước.
2. Hoạt động các Công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán tại
Việt Nam trong những năm gần đây
2.1. Công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán nội
Năm 2016, VN-Index tăng trưởng 14,8%. So với mức tăng này, có 7 quỹ
đầu tư nội địa đã tăng mạnh hơn VN-Index. Không hề thua kém mức tăng
trưởng 15,9% của các quỹ ngoại, sự tăng trưởng của các quỹ đầu tư cổ phiếu
trong nước trên thị trường Việt Nam cũng đạt con số khả quan 15,1% bất
chấp tình hình chứng khoán 2016 vừa qua có nhiều biến động.
So sánh
%
Tăng trưởng của các quỹ đầu tư cổ phiếu trên thị trường Việt
Nam 2016
15,1
Tăng trưởng của các quỹ đầu tư trái phiếu trên thị trường Việt
Nam 2016
7,9
Tăng trưởng của các quỹ ngoại
15,9
Tăng trưởng của chỉ số VN-Index
14,8
Tăng trưởng của chỉ số VN30
5,5
Bảng so sánh các chỉ số tăng trưởng 2016 (Nguồn: Tư thông kê theo số liệu
UBCK)
Trong năm 2016, SSI-SCA (Quỹ đầu tư lợi thế cạnh tranh bền vững SSIAM)
đứng đầu danh sách với mức tăng trưởng 24,1%. SCA luôn duy trì tỷ trọng
cổ phiếu lớn trong danh mục với mục tiêu là các doanh nghiệp đầu ngành
với mức định giá hợp lý. Danh mục SCA gồm có HPG, DBC, CTD, BMP,
VNM…
VF1 thuộc công ty quản lý quỹ Việt Nam VFM đứng ở vị trí thứ hai với mức
tăng trưởng NAV 19,3%. Trung bình 5 năm gần nhất, quỹ VF1 đạt lợi nhuận
bình quân 17,3% và dẫn đầu nhóm quỹ mở cân bằng của thị trường (đầu tư
vào cổ phiếu và trái phiếu).
Năm 2016 cũng đánh dấu một năm thành công của Quản lý quỹ
Vietcombank khi Quỹ đầu tư cổ phiếu hàng đầu VCBF-BCF đứng ở vị trí
thứ ba (NAV tăng trưởng 18,4%) và Quỹ đầu tư cân bằng chiến lược VCBFTBF (NAV tăng trưởng 15,5%) xếp hạng 7 trong bảng xếp hạng tăng trưởng
các quỹ đầu tư nội địa.
Vị trí thứ 4 và thứ 5 thuộc về Quỹ cổ phiếu Hưng Thịnh Vinawealth VEOF
và Quỹ đầu tư năng động Eastspring Investments Việt Nam ENF với mức
tăng trưởng tương ứng 16,7% và 16,6%.
Số liệu tăng trưởng NAV quỹ nội 2016. (Nguồn: UBCK)
Kết thúc năm 2017, VN-Index tăng 46,5% dừng ở mức 984,24 điểm và đã
chính thức vượt mốc 1.000 điểm trong phiên ngày 03/01/2018. Với sự tăng
trưởng mạnh của thị trường trong năm 2017, các quỹ đầu tư nội địa cũng ghi
nhận kết quả khởi sắc, cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, trong đó cá biệt
có quỹ đã vượt xa VN-Index về tốc độ tăng trưởng.
Theo thống kê từ 13 quỹ nội đầu tư cổ phiếu, ghi nhận 2 quỹ có tăng tỷ lệ
tăng trưởng NAV vượt mức tăng trưởng của chỉ số VN-Index; 5 quỹ có tỷ lệ
tăng trưởng NAV từ 30-40%.
Tăng trưởng NAV của 12 quỹ nội năm 2017. (Nguồn: UBCK)
Riêng Công ty cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) có tới 3 quỹ có
có tỷ lệ tăng trưởng NAV cao bao gồm quỹ VFMVN30 (48,8%), quỹ
VFMVF4 (40,9%) và VFMVF1 (36,7%)
Tiếp theo là quỹ đầu tư năng động cổ phiếu Bảo Việt (BVFED) là quỹ dạng
mở được quản lý bởi Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt. Tại kỳ định giá ngày
14/12, giá trị tài sản ròng trên một chứng chỉ quỹ BVFED đạt mức 13.519
đồng, tỷ lệ tăng trưởng NAV kể từ đầu năm đạt gần 38%. Tính đến 30/11,
danh mục đầu tư của quỹ gồm 31 mã chứng khoán với tổng giá trị gần 80 tỷ
đồng, chiếm 87% tổng giá trị tài sản của quỹ, trong đó riêng mã VIC có giá
trị 10,3 tỷ đồng; mã VNM có giá trị hơn 7 tỷ đồng; MSN có giá trị trên 5,8
tỷ đồng; HPG có giá trị 6,2 tỷ đồng…
Bên cạnh đó, không thể không kể tới quỹ đầu tư Năng động Eastspring
Investment Vietnam (quỹ ENF) với tỷ lệ tăng trưởng NAV 34% so với hồi
đầu năm. Danh mục của quỹ ENF chủ yếu là các cổ phiếu cơ bản, tăng giá
tốt trong nửa đầu năm như MBB, ACB, FPT, HCM …
Ngoài ra, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank cũng có một năm hiệu quả khi
2 quỹ đều đạt mức tăng trưởng khá. Trong đó, quỹ đầu tư cổ phiếu hàng đầu
VCBF-BCF đạt tăng trưởng NAV 31%, Quỹ đầu tư cân bằng chiến lược
VCBF (VCBF-TBF) đạt 26%.
Nhìn chung năm 2017, các quỹ đều gặt hái thành công, với mức tăng trưởng
tài sản ròng bình quân trên 20% - con số bỏ xa mức lãi suất ngân hàng hiện
nay. Với kết quả này, kênh đầu tư vào các quỹ đã trở nên hấp dẫn hơn nhiều
so với kênh gửi tiết kiệm tại các ngân hàng hiện nay và điều này có lẽ sẽ
khiến nhiều người cân nhắc lại vào quyết định của mình.
Đến năm 2018, hầu hết quỹ lớn trên thị trường đều gặp khó khăn và sụt
giảm NAV do việc rớt giá của một số khoản đầu tư lớn. Thị trường chứng
khoán Việt Nam đã trải qua gần một năm với nhiều biến động. Chỉ số VnIndex từng tăng mạnh lên vùng đỉnh 1.200 điểm hồi tháng 4 nhưng rồi lại về
900 điểm trong tháng 7. Mặc dù có đợt hồi phục lên 1.000 điểm vào đầu
tháng 10, chỉ số hiện tại vẫn xoay quanh 920 điểm, thấp hơn nhiều so với
đầu năm.
Hiệu quả của các quỹ nội cũng “thảm” không khác gì quỹ ngoại, trong đó
NAV của quỹ đầu tư cổ phiếu Techcom (TCEF) giảm 18,37% trong năm
2018, mức giảm lớn nhất trong số các quỹ đầu tư chứng khoán.
Báo cáo của TCEF ghi nhận khoản lỗ tới 69 tỉ đồng từ hoạt động đầu tư
khiến cho giá trị tài sản ròng cuối năm 2018 còn lại 242 tỉ đồng. Kết thúc
năm 2018, quỹ này thực hiện cân đối tài sản phân bổ khá đều giữa tiền mặt,
cổ phiếu và trái phiếu. Trong đó, những cổ phiếu chiếm tỉ trọng nắm giữ cao
nhất tại ngày 31/12/2018 của quỹ gồm có ACB (4,55%), POW (4,76%),
QNS (5,94%), VNM (3,82%), PNJ (3,61%) và ACV (3,4%),…
Bảng hiệu quả hoạt động của các quỹ nội trong năm 2018. (Nguồn: UBCK)
Xếp ngay sau TCEF có MAFEQI giảm 14,53%, SSI – SCA giảm 12,48%;
tài sản của hai quỹ này cuối năm 2018 hầu như chỉ có cổ phiếu.
Quỹ đầu tư Cổ phiếu Hưng Thịnh (VEOF) của VinaCapital cũng ghi nhận
NAV giảm 11,39% trong năm 2018; quỹ này lỗ 168 tỉ đồng sau khi đánh giá
lại các khoản đầu tư, kết quả lỗ 160 tỉ đồng sau thuế. Trong danh mục của
VEOF, chiếm tỉ trọng cao nhất phải kể đến các cổ phiếu như VHM (7,08%),
VNM và VCB (6,67%), GAS (5,31%) và SAB (3,89%). Quỹ này nắm giữ
40 cổ phiếu, tương đương 88,49% tổng giá trị tài sản.
Hai quỹ đầu tư lỗ ít nhất gồm có VnDirect Active Fund (VND AF) mới
thành lập đầu năm 2018 và Quỹ đầu tư Cân bằng Chiến lược (VCBF-TBF)
với mức giảm lần lượt 3,81% và 2,75%. Kết thúc năm 2018 cơ cấu tài sản
của VND AF có hơn 84% là tiền, còn lại là cổ phiếu.
Tuy vậy vẫn có những phương pháp để đầu tư không lỗ trong năm 2018.
Chẳng hạn như trường hợp của Quỹ đầu tư Trái phiếu Bảo Thịnh
VinaWealth (VFF), quỹ của VinaCapital đạt mức tăng trưởng 6,67% trong
năm do có cơ cấu tài sản chỉ gồm trái phiếu và tiền.
Bảng giá trị NAV của các quỹ nội địa năm 2018. (Nguồn: UBCK)
Theo nhận định của VND AF, thị trường chứng khoán thế giới có xu hướng
hồi phục sau khi chốt lời vào cuối năm 2018, đầu năm 2019. Việc hồi phục
có thể diễn ra mạnh mẽ hơn ở một số thị trường có tốc độ tăng trưởng cao và
thông tin hỗ trợ như Việt Nam. Quỹ này kỳ vọng vào sự bứt phá của thị
trường chứng khoán nếu như những yếu tố sau xảy ra:
Tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ở 7%, lạm phát được kiểm soát dưới 5%,
chính sách tiền tệ không thắt chặt.
Lộ trình gia nhập nhóm thị trường mới nổi có những thay đổi tích cực trong
năm 2019. Nếu gia nhập, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể đón nhận
lượng tiền đầu tư gián tiếp 3 tỉ USD từ các quỹ đầu tư chỉ số.
2.2.
Công ty quản lý quỹ và Qũy đầu tư chứng khoán ngoại
Thành tích đầu tư chung của các quỹ ngoại Thực sự ấn tượng. Trong năm
2016, trung bình các quỹ tăng trưởng NAV đạt 15,9%, gấp hơn hai lần tốc
độ tăng trưởng bình quân của các quỹ đầu tư vào thị trường mới nổi khu vực
châu Á. Một điểm nhấn, phần lớn những quỹ có thành tích vượt trội là
những quỹ được quản lý bởi đội ngũ người Việt.
So sánh
%
Tăng trưởng của các quỹ ngoại trên thị trường Việt Nam 2016
15,9
Tăng trưởng bình quân của các quỹ đầutư vào các thị trường mới nổi tại
châu Á
7,4
Tăng trưởng bình quân của các quỹ đầu tư vào các thị trường mới nổi toàn
cầu
8
Tăng trưởng của chỉ số VN-Index (quy đổi theo USD)
13,4
Tăng trưởng của chỉ số FTSE AllShare Index
5,7
Bảng so sánh các chỉ số tăng trưởng 2016 (Nguồn: Thống kê theo số liệu
UBCK)
Năm 2016, quỹ đạt kết quả ấn tượng nhất là Vietnam Alpha Fund trực thuộc
công ty quản lý quỹ APS đặt tại Singapore. Thành lập từ 09/2011 dưới hình
thức quỹ mở, Vietnam Alpha Fund tiếp tục duy trì hiệu quả đầu tư trung
bình 17,4%/năm trong 5 năm qua, và đánh dấu một năm 2016 thành công
nữa với mức tăng trưởng NAV lên tới gần 30%.
Đứng thứ hai trong danh sách tăng trưởng là quỹ VOF quản lý bởi
VinaCapital. Năm 2016 VOF nhận trái ngọt từ các khoản đầu tư Private
Equity, IPO trước đây lên niêm yết (QNS, NVL, ACV), thoái vốn khỏi Dược
Hậu Giang và bán khách sạn Sofitel Metropole. Một cái tên khác cũng có
mức tăng trưởng 25% là quỹ Nikko Vietnam Fund quản lý bởi SMBC Nikko
Bank, hưởng lợi một phần nhờ đồng Yên tăng giá so với USD.
Hiệu quả từ lựa chọn danh mục đã đem lại nhiều thành công trong năm 2017
cho các công ty quản lý quỹ. Theo báo cáo của VEIL,10 cổ phiếu có tỷ trọng
lớn nhất, chiếm 55% NAV của Quỹ lần lượt là: MWG (9,55%), VNM
(7,54%), MBB (6,53%), ACB (6,52%), KDH (5,15%), FPT (5,09%), GAS
(4,3%), ACV (4,09%), HPG (3,5%), VJC (3,24%).
Thị trường chứng khoán Việt Nam có khởi đầu đầy tốt đẹp những tháng đầu
năm 2018, đã có lúc VN-Index chạm mức đỉnh 10 năm 1.204 điểm; tuy
nhiên kể từ tháng 4 thị trường diễn biến tiêu cực với kịch bản ít ai ngờ.
Thành quả của giới đầu tư trong năm 2017 đều đổ sông đổ bể, VN-Index kết
thúc năm giảm 9,3%. Đối với nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn thậm chí còn tồi tệ
hơn khi chỉ số VN-30 Index giảm gần 12%.
Không chỉ nhà đầu tư cá nhân, không ít quỹ đầu tư chuyên nghiệp, thậm chí
cả quỹ ngoại cũng trở thành nạn nhân của thị trường. Giá trị tài sản ròng của
các quĩ (NAV - Net Asset Value) sụt giảm đến hai con số, nếu có may mắn
thắng thị trường thì cũng vẫn tăng trưởng âm. Đem tiền đi ủy thác đầu tư
thua gửi ngân hàng là chuyện khá phổ biến.
Theo thống kê, ba quỹ ngoại có màn trình diện tệ nhất trong năm 2018 gồm
quỹ đầu tư chuyên "đánh game nâng hạng" Tundra Fonder (NAV giảm
14,7%), VanEck Vietnam ETF (NAV giảm 14,15%) và Vietnam Holdings
(NAV giảm 12,2%).
Danh mục top cổ phiếu nắm giữ của Tundra Fonder trong năm bị xáo trộn
đáng kể, tuy nhiên về cơ cấu theo ngành, tài chính và bất động sản vẫn
chiếm tỉ trọng lớn nhất trong danh mục tính đến hết năm 2018. Nhóm cổ
phiếu vật liệu của Tundra sụt giảm mạnh, tỉ trọng từ 17% xuống còn 10%,
đặc biệt là những cái tên như HSG, HPG và NKG kéo tụt NAV của quỹ đầu
tư đến từ Thụy Điển.
Trong những tháng cuối năm, quỹ đầu tư này cho rằng danh mục của mình
đang quá thiếu nhóm cổ phiếu họ Vingroup, đặc việt là VIC, cổ phiếu đã có
sự tăng trưởng trên 50% trong năm 2018. Tuy vậy, Tundra cũng cho rằng
nhóm này đang được định giá quá cao.
Nhìn chung nhiều quỹ ngoại đánh giá chứng khoán Việt Nam đang có mức
định giá khá hấp dẫn, nhưng theo Vietnam Holdings vẫn có những vấn đề
nhất định đối với ngành ngân hàng và bất động sản.
Bảng hiệu quả hoạt động của các quỹ ngoại trong năm 2018. (Nguồn:
UBCK)
Hai quỹ đầu tư quy mô vốn nhất nhì trên thị trường Việt Nam là VinaCapital
Vietnam Opportunity Fund (VOF) và Vietnam Enterprise Investments
Limited (VEIL) cho thấy sự sụt giảm NAV là VOF giảm 7,50% trong khi
của VEIL là giảm 7,79%.
Tại đầu tháng 11, tài sản ròng của VEIL còn ghi nhận 1,4 tỷ USD, đồng
nghĩa với việc bay hơi 9,49% giá trị sau 10 tháng. Hiện danh mục của VEIL
tập trung chủ yếu ở 3 nhóm ngành bất động sản, ngân hàng và thực phẩm
tiêu dùng. Danh mục của VEIl ghi nhận tỷ trọng tiền bị âm 1,47%.
Top 10 của VEIL tính đến 1/11.
(Nguồn: UBCK)
Top 10 khoản đầu tư lớn nhất của quỹ này đến cuối tháng 10 chiếm 50,76%
NAV, tương đương khoản 700 triệu USD. Trong số đó, MWG - khoản đầu tư
lớn nhất của quỹ đã mất giá khoảng 15% trong 10 tháng đầu năm. Vinhomes
(VHM) kể từ khi chào sàn hồi tháng 5 đến 1/11 đánh mất 22% giá trị.
Vinamilk (VNM) trong 10 tháng đầu năm bay hơi gần 34% giá trị. Bảy
khoản đầu tư lớn còn lại đều tăng hoặc không giảm quá nhiều trong 10 tháng
đầu năm.
Với VOF, quỹ lớn nhất của VinaCapital đánh mất 6,4% giá trị trong tháng
10 vừa qua. Qua đó, VOF đã không còn là quỹ tỷ đô khi NAV tại 31/10 chỉ
còn 989 triệu USD, tương ứng với mức sụt giảm 9,7% so với đầu năm 2018
(NAV tại 31/12/2017 là 1,095 tỷ USD).
Xét top 10 danh mục của VOF, HPG là khoản đầu tư lớn nhất của quỹ với tỷ
trọng 14,3% NAV. Đáng chú ý, Vinamilk từng là khoản đầu tư lớn nhì ở thời
điểm đầu năm (10,9% NAV) thì đã rơi xuống thứ 4, một phần bởi việc giảm
giá 34%. Cổ phiếu ACV cũng mất giá gần 32% trong thời gian trên. Cổ
phiếu Coteccons (CTD) bay hơi 33% giá trị trong 10 tháng đầu năm.
Top 10 của VOF tại 31/10.
(Nguồn: UBCK)
Khác với VEIL, Quỹ VOF chỉ đầu tư khoảng 69,2% tài sản vào các cổ phiếu
niêm yết, trong khi đó quỹ dành 18,6% đầu tư vào nhóm chưa niêm yết,
khoảng 8,7% vào các thương vụ tư nhân. Còn lại, VOF đầu tư vào các dự án
bất động sản, các tài sản hoạt động, tiền mặt và khác.
Nhận xét:
Nhìn chung, hoạt động của các công ty quản lý quỹ tại Việt Nam chỉ mới
dừng ở việc quản lý danh mục đầu tư cho các công ty mẹ (đối với một số
công ty quản lý quỹ là công ty con của các công ty bảo hiểm, ngân hàng),
huy động các quỹ đại chúng/quỹ mở và quản lý các quỹ thành viên. Dù thị
trường đã hình thành nên một thế hệ nhà đầu tư có quan điểm đầu tư dài
hạn, thay vì chỉ “lướt sóng” như thời gian đầu, nhưng mức độ này chưa thực
sự lan tỏa và chưa hình thành nên một thị trường sôi nổi thực sự với các sản
phẩm quỹ mở, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của một phân khúc nhà đầu tư
mong muốn có lợi nhuận hấp dẫn, nhưng rủi ro ở mức vừa phải.
3 năm trở lại đây, ngành quản lý quỹ Việt Nam cũng gây được những ấn
tượng nhất định, loại hình đầu tư đã dần đa dạng hơn với đủ loại hình của
quỹ đầu tư, từ quỹ đóng, quỹ mở, quỹ thành viên, quỹ ETF, cho tới quỹ đầu
tư bất động sản. Số lượng quỹ tăng trở lại với nhiều chiến lược đầu tư khác
nhau. Kết quả đầu tư của các quỹ mở cũng khá tốt, hầu hết đều có mức tăng
trưởng cao hơn so với chỉ số VN-Index.
Quản lý quỹ cũng giống như một ngành không được phép sai lầm bởi lẽ sai
lầm, có thể xóa sạch những nỗ lực trong thời gian dài. Mặt khác, khi thị
trường thuận lợi, tức là phần lớn danh mục tăng giá, bù đắp cho một vài
khoản đầu tư sai lầm thì không mấy ai chú ý. Nhưng đến khi thách thức diễn
ra, những khoản đầu tư thiếu hiệu quả, rất dễ bị đem ra mổ xẻ và những nhà
quản lý quỹ sẽ phải chịu áp lực.
3. Liên hệ cụ thể về hoạt động của Công ty quản lí quỹ đầu tư Việt Nam
VIETFUND MANAGEMENT (VFM)
3.1. Giới thiệu công ty
Được thành lập năm 2003, Công ty CP quản lí quỹ đầu tư Việt Nam (VFM)
là Công ty quản lý quỹ đầu tiên tại Việt Nam chuyên thực hiện quản lý
các quỹ đầu tư công chúng và thành viên, cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư và
tài chính
cho nhà đầu tư cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra, công ty
VFM còn triển khai thành lập các quỹ đầu tư khác với nhiều mục tiêu khác
nhau như Quỹ địa ốc, Quỹ mạo hiểm, Quỹ hưu trí bổ sung, Quỹ tăng trưởng,
v.v…tùy theo nhu cầu của nhà đầu tư trong và ngoài nước. . Đây là hoạt
động huy động và quản lý vốn, tài sản của nhà đầu tư nhằm đem lại lợi
nhuận tối ưu nhất và giảm thiểu rủi ro. VFM là công ty quản lý quỹ nội địa
đầu tiên có tổng tài sản được quản lý lớn nhất tại thị trường Việt Nam. Công
có trụ sở chính đặt tại TP.HCM, trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất Việt
Nam và một văn phòng chi nhánh tại Hà Nội. Với số vốn huy động ban đầu
là 300 tỷ đồng cho Quỹ đầu tư VF1 năm 2004, sau các đợt tăng vốn và thành
lập các quỹ mới, tổng quy mô tài sản mà công ty VFM đang quản lý đến nay
là hơn 80 triệu Đô La. VFM cũng quản lý hơn 70% lượng tài sản của quỹ
đại chúng trên thị trường Việt Nam.
Hoạt động chính của VFM:
+ Lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán
+ Quản lý danh mục đầu tư
Hiện nay, công ty VFM đang quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam
(VF1) – quỹ công chúng đầu tiên tại Việt Nam được UBCKNN cấp phép
hoạt động vào ngày 20/05/2004. Quỹ đầu tư VF1 là dạng quỹ đóng được
niêm yết tại TTGDCK Tp. HCM vào ngày 08/11/2005 và được đánh giá là
loại chứng khoán có tính thanh khoản cao nhất. Ngoài ra, công ty VFM còn
triển khai thành lập các quỹ đầu tư khác với nhiều mục tiêu khác nhau như
Quỹ địa ốc, Quỹ mạo hiểm, Quỹ hưu trí bổ sung, Quỹ tăng trưởng, v.v…tùy
theo nhu cầu của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
3.2. Hoạt động của công ty
Quỹ đầu tư do công ty VFM quản lý có thể có mục tiêu đầu tư khác nhau:
+ Tăng trưởng – mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn trong khi thu nhập chỉ là
mục tiêu thứ cấp.
+ Thu nhập – tạo ra thu nhập đều đặn cho nhà đầu tư bằng hình thức đầu tư
vào các chứng khoán trả lãi hay cổ tức, và trả toàn bộ số tiền nhận được của
quỹ cho nhà đầu tư theo tỷ lệ sở hữu chứng chỉ quỹ của họ.
+ Hỗn hợp – Cân bằng giữa thu nhập và tăng trưởng
Các khoản đầu tư có thể được thực hiện vào nhiều loại chứng khoán khác
nhau:
* Trái phiếu chính phủ – trả lãi cố định hàng năm và hoàn lại vốn gốc cuối
kỳ. Là loại đầu tư ít rủi ro nhất.
* Trái phiếu công ty – trái phiếu phát hành bởi doanh nghiệp với cùng đặc
điểm như trái phiếu chính phủ nhưng có lãi suất cao hơn do mức rủi ro cao
hơn.
* Cổ phiếu – các công ty, trong đó phản ánh sự thành công của doanh
nghiệp dưới hình thức gia tăng cổ tức hoặc gia tăng giá trị.
* Tiền tệ hay các công cụ tiền tệ – các khoản đầu tư ngắn hạn nhằm tận
dụng tạm thời nguồn tiền mặt nhàn rỗi.
* Bất động sản – dưới hình thức các bất động sản tạo ra tiền ổn định hay
việc gia tăng giá trị.
-
Dịch vụ: tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính
Danh mục đầu tư:
+ Phân bổ tài sản theo ngành.
(Nguồn: Website của VFM: )
+ Phân bổ tài sản theo loại tài sản.
(Nguồn: Website chính của VFM: )
Kết quả hoạt động kinh doanh. (xét hoạt động quản lí quỹ và quỹ
đầu tư)
+ Năm 2016 là một năm có nhiều thay đổi lớn với những sự kiện chấn động
thị trường tài chính toàn cầu như Brexit, Trump thắng cử tổng thống Hoa
Kỳ, kết quả trưng cầu dân ý thay đổi hiến pháp Italia… Đối với Công ty CP
Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM), năm 2016 cũng là một năm của sự
thay đổi khi giới thiệu bộ nhận diện thương hiệu mới và triển khai mạnh mẽ
chiến lược huy động vốn cho các quỹ mở đối với khách hàng cá nhân đại
chúng.
Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) đạt lợi nhuận 19,3% năm 2016.
Trung bình 5 năm gần nhất, quỹ VF1 đạt lợi nhuận bình quân 17,3%/năm và
dẫn đầu nhóm quỹ mở cân bằng của thị trường (đầu tư vào cổ phiếu và trái
phiếu).
Quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) đạt lợi nhuận 16,4%
năm 2016. Trung bình 5 năm gần nhất, quỹ VF4 đạt lợi nhuận bình quân
18,3%/năm và dẫn đầu nhóm quỹ mở đầu tư vào cổ phiếu.
Quỹ đầu tư trái phiếu Việt Nam (VFB) đạt lợi nhuận 9,5% năm 2016. Mặc
dù chỉ mới thành lập từ năm 2013 nhưng sau 3,5 năm hoạt động, quỹ VFB
đang dẫn đầu nhóm quỹ mở đầu tư trái phiếu với lợi nhuận bình quân
9,53%/năm.
+ Kết thúc năm 2017, Công ty được được lợi nhuận trước thuế là 18,4 tỷ
đồng tăng 22,1 lần (tương đương 17,6 tỷ đồng) so với năm 2016. Trong đó:
•
Doanh thu từ hoạt động quản lí quỹ năm 2017 là 50.5 tỷ đồng tăng
49% so với năm 2016.
•
Thu nhập từ hoạt động tài chính năm 2017 là 36,3 tỷ đồng tăng
240% so với năm 2016.
•
Chi phí hoạt động năm 2017 là 66,8 tỉ đồng tăng 52% so với năm
2016. Chi phí hoạt động năm 2017 tăng cao hơn mức tăng của doanh thu
hoạt động quản lí quỹ do năm 2017 công ty bắt đầu đầu tư vào hoạt động
huy động vốn (tuyển dụng nhân viên huy động vốn, truyền thông, tiếp thị,
xây dựng hệ thống).
•
Thu nhập thuần từ hoạt động khác năm 2017 là 0,37 tỷ đồng giảm
70% so với năm 2016.
BCTC của VFM 2017 so với 2016
III.
Những mặt hạn chế trong hoạt động đầu tư của Quỹ đầu tư tại Việt Nam
1. Về phía quỹ đầu tư
Khó giám sát hoạt động của quỹ đầu tư nên có thể dẫn đến gian lận,
gây thiệt hại cho các nhà đầu tư
Nếu đưa ra mức thưởng quá cao cho ban điều hành (ví dụ như 20 % số tiền
đạt được vượt trên chi tiền), điều này khiến cho các nhà quản lý mạo hiểm
đầu tư vào các hoạt động rủi ro để kiếm lời, như vậy có thể ảnh hưởng đến
quỹ đầu tư.
-
Quỹ đầu tư chưa thể hiện vai trò của người tạo lập thị trường
Sự tăng trưởng vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những
năm gần đây đã thu hút nhiều nhà đầu tư cá nhân, trong khi những nhà đầu
tư này không có hoặc rất ít kiến thức lẫn kinh nghiệm trong việc đầu tư vào
các lĩnh vực. Điều này khó có thể dẫn thị trường đi theo tính chuyên nghiệp
và ổn định, qua đó ảnh hưởng xấu tới những hoạt động của nhà đầu tư
chuyên nghiệp như Qũy đầu tư.
Ngoài ra, với cách đầu tư mang tính ngắn hạn của quỹ đầu tư càng làm cho
thị trường chứng khoán trở nên biến động hơn.
Giữa doanh nghiệp Việt Nam và các quỹ đầu tư chưa nhận được
tiếng nói chung, doanh nghiệp chưa nhận được sự hỗ trợ từ vốn và kinh
nghiệm quản lý từ quỹ đầu tư
Nguyên nhân là do hiện nay quỹ còn ít trong khi nhu cầu vay vốn của
doanh nghiệp nhiều. Cầu nhiều trong khi cung ít dẫn tới các quỹ đưa ra các
tiêu chuẩn khắt khe hơn trong việc đầu tư vào doanh nghiệp.
2. Về phía doanh nghiệp
Do quỹ đầu tư còn mới đối với một số doanh nghiệp nên doanh nghiệp
cũng e ngại khi tiếp xúc với quỹ đầu tư, còn e ngại khi cho phép quỹ đầu tư
tham gia hội đồng quản trị của công ty. Đôi khi doanh nghiệp cũng không
muốn công khai tình hình tài chính của công ty. Do đó, chủ yếu doanh
nghiệp vẫn tiếp xúc nhiều với ngân hàng là chủ yếu mà không phải là Quỹ
đầu tư.
3. Về phía thị trường
• Sự tăng trưởng vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt Nam trong
những năm gần đây đã thu hút nhiều nhà đầu tư cá nhân, trong khi những
nhà đầu tư này không có hoặc rất ít kiến thức lẫn kinh nghiệm trong việc
đầu tư vào các lĩnh vực. Họ đầu tư một cách cảm tính, không thông qua các
phân tích, đầu tư theo tâm lí bầy đàn, nên khi có biến động mạnh theo chiều
hướng xấu, các nhà đầu tư dễ rời bỏ thị trường, điều này đã ảnh hưởng
không tốt đến thị trường, khiến thị trường có biến động mạnh, làm cho thị
trường chứng khoán Việt Nam trở nên bất ổn, mất tính ổn định, ảnh hưởng
xấu tới những hoạt động của nhà đầu tư khác như Qũy đầu tư.
• Việc sử dụng các thông tin nội bộ để đầu tư cũng khiến cho thị trường
không ổn định, đồng thời gây ra sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư ở Việt
Nam, việc sử dụng thông tin nội bộ để đầu tư là phổ biến, do đó cần đưa ra
những quy định chặt chẽ hơn để điều chỉnh vấn đề này.
• Việc rối loạn thông tin trên thị trường làm cho nhà đầu tư có những nhận
định không chính xác, đưa đến những đầu tư không tốt, ảnh hướng đến thị
trường. Sự lợi dụng thông tin để làm lợi cho từng cá nhân mà ảnh hưởng
đến các nhà đầu tư khác, dẫn đến việc tăng giá chứng khoán một cách giả
tạo sẽ gây nguy hiểm cho thị trường vì rất dễ gây sự biến động giá cả theo
chiều hưởng không tốt.
• Việc chỉ vài nhà đầu tư giàu có, có khả năng làm ảnh hưởng thị trường do
sử dụng tin đồn cũng ảnh hưởng đến sự bất ổn của thị trường
• Với hệ thống pháp luật đang trên đà cải thiện để tiến tới sự hoàn thiện nên
vẫn còn thiếu sót, chính phủ cần cải thiện hệ thống pháp luật nhằn hạn chế
những mặt trái của thị trường, tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các
nhà đầu tư.
IV.
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Qũy đầu tư và Công ty
quản lí quỹ.
1. Đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng.
- Chính phủ cần phải hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến quỹ
chứng khoán. Đồng thời kiểm soát việc thành lập các quỹ đầu tư, các công
ty quản lý quỹ theo đúng điều kiện, tiêu chuẩn quy định.
- Cải tiến những quy định bất cập trong việc xin phép thành lập quỹ đầu tư
chứng khoán, đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian cấp phép nhằm tạo điều
kiện cho Công ty quản lý quỹ trong việc huy động vốn, tránh tình trạng bị
mất thời cơ do thời gian cấp phép quá lâu.
- Tạo điều kiện và khuyến khích các quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập
theo pháp luật Việt Nam và được coi là nhà đầu tư nước ngoài. Điều này
phù hợp với thông lệ quốc tế và giúp định hướng dòng vốn đầu tư lâu dài
hơn, tăng sức hấp dẫn của thị trường trong bối cảnh thu hút vốn khó khăn
như hiện nay.