BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN THỊ HOÀNG ANH
TỶ LỆ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở
NGƯỜI CÓ YẾU TỐ NGUY CƠ ĐẾN KHÁM SỨC
KHỎE TẠI KHOA KHÁM BỆNH THEO YÊU CẦU
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 60720140
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐỖ TRUNG QUÂN
HÀ NỘI - 2019
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi trong sự nghiệp
của mình. Bắt đầu với rất nhiều bỡ ngỡ, tất cả mọi thứ đều phải học , phải tìm
tòi và học hỏi thông qua sách vở, tài liệu đồng thời rất may mắn tôi đã nhận
được sự chỉ bảo, giúp đỡ vô cùng to lớn từ phía những người thầy kính mến
của tôi, từ các anh chị đồng nghiệp đi trước và các bạn của tôi nữa.
Qua đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới :
PGS.TS Đỗ Trung Quân, người thầy hướng dẫn vô cùng đáng kính
của tôi đã chỉ dạy, giúp đỡ tôi từ những ngày đầu cho đến hôm nay.
PGS.TS Nguyễn Khoa Diệu Vân, TS. Nguyễn Quang Bảy là những
người thầy mà tôi vô cùng kính trọng và yêu mến. Em xin cảm ơn sự quan
tâm, chỉ bảo và chia sẻ tận tụy của các thầy cô trong suốt quá trình em học tập
tại khoa Nội Tiết- Đái tháo đường Bệnh viện Bạch Mai. Thầy cô chính là tấm
gương sáng ngời mà bản thân em cần cố gắng để học tập, noi theo không chỉ
về chuyên môn mà còn về các lĩnh vực ngoài cuộc sống.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể nhân viên khoa
Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai, toàn thể nhân viên khoa Nội
Tiết – Đái tháo đường Bệnh viện Bạch Mai đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá
trình tôi thu thập số liệu và hoàn thành luận văn của mình.
Con xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình đã luôn bên con , động
viên con để con hoàn thành luận văn này và không chỉ là luận văn mà nhờ có
gia đình luôn là động lực vô cùng to lớn để con cố gắng trở thành người có
ích cho xã hội.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan , đây là công trình nghiên cứu của chính tôi, các kết
quả, số liệu ghi trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kì công trình nào khác.
Trần Thị Hoàng Anh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADA
: American Diabetes Asociation
BMI
: Body mass index
DPS
: Diabetes Prevention Study
ĐTĐ
: Đái tháo đường
ĐTĐTK : Đái tháo đường thai kì
G0
: Đường huyết lúc đói
G2
: Đường huyết 2 giờ khi tiến hành nghiệm pháp gây tăng
đường huyết đường uống
HATB
: Huyết áp trung bình
HATT
: Huyết áp tâm thu
HATR
: Huyết áp tâm trương
HbA1c
: Hemoglobin glycosin hóa
HDL
: High density lipoprotein
HDL-C
: High density lipoprotein cholesterol
IDF
: International Diabetes Federation
IFG
: Rối loạn đường huyết lúc đói
IGT
: Rối loạn dung nạp glucose
LDL
: Low density lipoprotein
LDL-C
: Low density lipoprotein cholesterol
NDDG
: National Diabetes Data Group
RLLP
: Rối loạn lipid máu
TC
: Total cholesterol
TG
: Triglyceride
THA
: Tăng huyết áp
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiền đái tháo đường là tình trạng rối loạn đường huyết nhưng chưa đủ
tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (ĐTĐ). Tình trạng này diễn ra nhiều
năm trước khi trở thành ĐTĐ type 2 thực sự. Ở thời kì tiền ĐTĐ , nhiều cơ
quan , tổ chức trong cơ thể đã bắt đầu bị tổn thương. Tiền đái tháo đường nếu
không được phát hiện sớm sẽ tiến triển thành bệnh đái tháo đường, dẫn đến
việc điều trị rất tốn kém và có nguy cơ gây nhiều biến chứng nặng nề như
biến chứng mắt, biến chứng thận, biến chứng mạch máu lớn như tai biến
mạch máu não, nhồi máu cơ tim..biến chứng về thần kinh tự động , bệnh lý
bàn chân ở người bệnh đái tháo đường, nhiễm khuẩn... [1]
Tuy nhiên, tiền đái tháo đường có thể được phát hiện sớm và được ngăn
chặn nếu chúng ta có chương trình khám sàng lọc đánh giá sớm các yếu tố
nguy cơ và thay đổi các yếu tố nguy cơ ấy để không cho tiền ĐTĐ trở thành
ĐTĐ thực sự. Theo The Finish Diabetes Prevention Study năm 2003 nghiên
cứu trên 522 người thừa cân bị rối loạn dung nạp glucose (IGT) chia làm hai
nhóm là nhóm can thiệp bằng thay đổi lối sống, hoạt động thể lực và nhóm
chứng, thời gian theo dõi là 3,2 năm. Kết quả cho thấy nhóm can thiệp đã giảm
được 58% nguy cơ phát triền thành ĐTĐ type 2 thực sự so với nhóm chứng.
[2] Bằng cách thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng , luyện tập, dự phòng bằng
thuốc có thể ngăn chặn tiền ĐTĐ trở thành ĐTĐ thực sự, từ đó góp phần làm
giảm gánh nặng bệnh tật mà ĐTĐ đem lại. Điều này lại đặc biệt có ý nghĩa to
lớn đối với nền kinh tế ở mức trung bình thấp ở nước ta hiện nay.
Ở Việt Nam, hiện đã có một số nghiên cứu được thông báo về tình
trạng tiền đái tháo đường. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thy Khuê và cộng sự
năm 2012 Việt Nam có 13,7 % dân số đang ở giai đoạn tiền đái tháo đường.
8
[1] Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về tỷ lệ tiền đái tháo đường trên đối tượng
có yếu tố nguy cơ mắc đái tháo đường nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Tỷ lệ tiền đái tháo đường ở người có yếu tố nguy cơ đến khám sức
khỏe tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai” với hai mục
tiêu sau:
1.
Xác định tỷ lệ tiền đái tháo đường ở người có yếu tố nguy cơ đến khám
sức khỏe tại khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai từ
tháng 11 năm 2018 đến tháng 02 năm 2019.
2.
Nhận xét về một số yếu tố liên quan tới tiền đái tháo đường.
9
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1.1
Lịch sử tiền đái tháo đường
Năm 1921, lần đầu tiên tiền đái tháo đường được đề cập đến với tên
tình trạng đái tháo đường tạm thời bởi Elliot Joslin (1870-1962) là tình trạng
đường huyết đói trên ngưỡng bình thường và dưới mức chẩn đoán đái tháo
đường [3].
Năm 1933, lần đầu tiền thuật ngữ tiền đái tháo đường được đưa vào từ
điển thuật ngữ về đái tháo đường sau khi Typner thực hiện nghiệm pháp dung
nạp glucose ở người béo phì có và không có tiền sử gia đình mắc đái tháo
đường và xác định một tình trạng bất thường. Ban đầu tiền đái tháo đường
được hiểu là tiên đoán mắc đái tháo đường có liên quan với gen như tiền sử
gia đình mắc đái tháo đường, béo phì, sinh con to [4].
Năm 1960 tiền đái tháo đường được đưa vào nghiên cứu hồi cứu để
tiên lượng nguy cơ mắc đái tháo đường.
Năm 1980, tổ chức y tế thế giới (WHO) bỏ thuật ngữ tiền đái tháo
đường, thay bằng rối loạn dung nạp glucose , có liên quan tới nguy cơ mắc
đái tháo đường và nguy cơ mắc các bệnh lí tim mạch.
Năm 1997, hiệp hội đái tháo đường Hoa Kì (ADA) hạ thấp tiêu chuẩn
đường máu đói và xác định tình trạng rối loạn đường huyết đói từ 6,1-6,9
mmol/l cũng có giá trị tương đường rối loạn dung nạp glucose. Tuy nhiên không
tương quan về rối loạn đường huyết đói và rối loạn dung nạp glucose. Tiêu
chuẩn này được tổ chức y tế thế giới chấp nhận và áp dụng rộng rãi. [5] Cho đến
nay WHO dùng thuật ngữ IFG và IGT chỉ tình trạng không dung nạp glucose
bao gồm: rối loạn đường huyết lúc đói và rối loạn dung nạp glucose [6].
10
Năm 2003, ADA tiếp tục hạ mốc glucose máu chẩn đoán rối loạn
đường huyết đói 5,6 -6,9 mmol/l. Quyết định này thành lập là do nghiên cứu
quan sát với mốc tiêu chuẩn cũ thì tỷ lệ những người bị rối loạn đường máu
đói trở thành đái tháo đường thực sự thấp hơn so với tỷ lệ những người rối
loạn dung nạp glucose. Việc hạ thấp ngưỡng chẩn đoán rối loạn đường máu
đói là để nguy cơ thành đái tháo đường ở rối loạn dung nạp glucose và rối
loạn đường máu đói là tương tự nhau mặc dù có thể làm chẩn đoán tiền đái
tháo đường ở một số người sẽ nặng nề hơn so với thực tế của họ. Cho đến nay
WHO vẫn chỉ công nhận tiêu chuẩn đường máu đói từ 6,1-6,9 mmol/l và chưa
chấp nhận tiêu chuẩn rối loạn đường máu đói của ADA [5].
1.1.2 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường
1.1.2.1
Định nghĩa: tiền đái tháo đường là thuật ngữ chỉ tình trạng tăng
đường huyết nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chấn đoán đái tháo đường [7]
1.1.2.2
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Theo WHO năm 2006 [8]
• ĐH đói từ 6,1 -6,9 mmol/l hoặc
• đường huyết sau 2 h nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống
từ 7,8-11,0 mmol/l
Theo ADA 2018 [7]
• ĐH đói từ 5,6-6,9 mmol/l hoặc
• ĐH sau 2h nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống từ 7,8-11,0
mmol/l hoặc
• HbA1c từ 5,7-6,4%
1.1.3 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường
1.1.3.1 Định nghĩa:
Đái tháo đường là rối loạn chuyển hóa của nhiều nguyên nhân, bệnh
được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính phối hợp với rối
11
loạn chuyển hóa cacbonhydrat, lipid và protein do thiếu hụt tình trạng tiết
insulin , tác dụng insulin hoặc cả hai. [1-9]
1.1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo ADA 2018[7]
Chẩn đoán đái tháo đường nếu thỏa mãn 1 trong các tiêu chuẩn sau:
• Đường huyết lúc đói (nhịn ăn 8-14h) ≥ 7,0 mmol/l hoặc
• Đường huyết sau 2h khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống
≥11,1 mmol/l hoặc
• Đường huyết bất kì ≥ 11,1 mmol/l với những triệu chứng của sự tăng
đường máu (khát nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy sút) hoặc
• HbA1c (định lượng bằng phương pháp sắc kí lỏng) ≥ 6,5%
1.1.4 Nghiệm pháp dung nạp glucose
1.1.4.1 Chỉ định tiến hành nghiệm pháp: [9]
• Rối loạn đường huyết lúc đói
• Đường huyết đói bình thường có kèm các yếu tố nguy cơ:
o Béo dạng nam
o Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường
o Tiền sử đẻ con to trên 4kg
o Rối loạn lipid máu ( tăng triglycerid hoặc hỗn hợp )
o Biểu hiện lâm sàng như các biến chứng mạn tính
o Đường máu bình thường nhưng có đường niệu
1.1.4.2 Chống chỉ định tiến hành nghiệm pháp:
• Không tiến hành khi đang bị bệnh cấp tính, suy dinh dưỡng, chấn
thương tâm lý
• Không tiến hành nghiệm pháp khi đang dùng thuốc thiazid,
corticoid, phenyltoin.
• Không vận động quá sức trước, trong khi làm nghiệm pháp.
12
1.1.4.3 Cách thức tiến hành nghiệm pháp
• Nhịn đói 8-14h.
• Ba ngày trước khi làm nghiệm pháp khẩu phần ăn giàu
cacbohydrat (150-200g/ngày).
• Uống 75 gram glucose hòa loãng trong 250-300 ml nước lọc, uống
trong 5 phút.
• Xét nghiệm đường huyết các thời điểm trước khi làm nghiệm pháp
và 120 phút sau khi làm nghiệm pháp đối với người nghi ngờ đái
tháo đường.
1.1.4.4 Đánh giá kết quả
Bảng 1.1 Đánh giá nghiệm pháp dung nạp glucose
ĐH sau 2 giờ ở
Phân loại
Bình thường
Tiền
đái
ĐH đói
nghiệm pháp tăng
<5,6mmol/l
đường máu
<7,8 mmol/l
(100mg/dl)
≥5,6mmol/l
Rối loạn
(100mg/dl)
ĐH lúc đói
và ≤6,9mmol
ĐH
ngẫu nghiên
( 140mg/dl)
(140mg/dl)
tháo
đườn
Rối loạn
g
dung nạp
≥7,8 mmol/l và
(140 mg/dl)
<11,1 mmol/l
glucose
Đái tháo đường
(200 mđl)
≥7,0 mmol/l
≥11,1 mmol/l
(200 mg/dl)
(200 mg/dl)
≥11,1 mmol/l và
kết hợp với triệu
chứng lâm sàng
13
1.1.5 Cơ chế sinh bệnh học tiền đái tháo đường
Trong nghiên cứu Bristish Whitehall study thấy thay đổi đường máu
đói, đường máu sau ăn, độ nhậy insulin, sự bài tiết insulin của tế bào Beta của
đảo tụy diễn ra từ nhiều năm trước khi đái tháo đường được phát hiện. Tăng
đường máu diễn ra trước 13 năm, độ nhạy insulin suy giảm từ 13 năm trước
khi đái tháo đường được chẩn đoán đặc biệt suy giảm nhanh chóng trong 5
năm trước chẩn đoán.[10]
Sự phát triển của tiền đái tháo đường diễn ra qua nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn được đánh dấu bởi sự thay đổi của tế bào beta của tụy, kiểu hình và
chức năng tế bào beta. Giai đoạn đầu được xác định là thời kì kéo dài của sự
đề kháng insulin, kéo theo sự tăng cường bài tiết insulin và tăng khối lượng tế
bào beta tụy. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn tế bào beta dường như mất thích
nghi một phần , hậu quả là xuất hiện biến đổi về gen và bài tiết thừa protein,
dẫn tới đường huyết đói và đường huyết sau ăn bắt đầu bị rối loạn. Giai đoạn
thứ ba là giai đoạn tế bào beta không thể đáp ứng lại với sự kháng insulin khi
đường máu cao trên 7,3 mmol/l (130 mg/dl) , và nhanh chóng trở thành ngộ
độc đường Giai đoạn này kéo dài sẽ trở thành đái tháo đường thực sự. [10]
Các thay đổi diễn ra trong thời kì tiền đái tháo đường: [10]
Chuyển hóa glucose ở cơ xương: Khiếm khuyết tổng hợp glycogen tại
cơ bắp tìm thấy ở tình trạng kháng insulin, thấy ở 50% người đái tháo đường
type 2. Sự bất thường tổng hợp glycogen ở cơ xương được xác định là do bất
thường về vận chuyển glucose, hexokinase và tổng hợp glycogen.
Chức năng tế bào beta tụy: tăng đường huyết mạn tính làm ảnh
hưởng tiết insulin phụ thuộc glucose của tụy, sự bộc lộc gen chuyển hóa
glucose, cạn kiệt tế bào beta và nhiễm độc đường. Độc tính của nhiễm độc
đường làm giảm khối lượng tế bào beta tụy do làm tăng hoạt động chết theo
chương trình của tế bào đảo tụy. Ở người rối loạn dung nạp glucose, tình trạng
14
suy giảm chức năng tế bào beta rõ hơn ở người rối loạn đường huyết đói kèm
theo sự giảm nhạy cảm insulin ở mô cơ và gan, trong khi chỉ thấy sự giảm
nhạy cảm insulin ở gan ở đối tượng rối loạn đường huyết đói. [11]
Sự kháng insulin ở IFG và IGT: Tình trạng kháng insulin tăng ở gan
tìm thấy ở người có rối loạn đường máu đói nhưng nhạy cảm insulin mô cơ
bình thường. Người có rối loạn dung nạp glucose có mức độ kháng insulin từ
trung bình đến nặng ở mô cơ trong khi độ nhạy với insulin ở gan thì thay đổi
rất ít. [10] Trong nghiên cứu của và cộng sự cho thấy biến chứng vi mạch
(bao gồm bệnh lí võng mạc và bệnh lí thần king) và nguy cơ bệnh lí tim mạch
có liên quan với tình trạng rối loạn dung nạp glucose hơn là tình trạng rối loạn
đường huyết đói. [11]
Ngộ độc đường và lipid: Sự tích tụ lipid ở gan xuất hiện là cơ chế chủ
yếu liên quan tới béo phì, kháng insulin và đái tháo đường type 2. Rối loạn
lipid máu đặc trưng cho đái tháo đường type 2 là sự tăng triglyceride và giảm
cholesterol tỷ trọng cao (HDL-C). Sự dư thừa quá mức triacylglycerol vượt
quá nhu cầu oxi hóa của mô, gây ngộ độc lipid chủ yếu là do độc tính tiềm
tàng của chất chuyển hóa của acid béo tự do. Nếu chỉ tăng đường máu hay
acid béo tự do đơn đọc thì không thể phá hủy tế bào beta. Tuy nhiên nếu có
mặt cả hai thì độc tính trên mô có thể xảy ra. Acid béo tự do làm suy tế bào
beta theo nhiều con đường bao gồm: ức chế tăng sinh tế bào, ức chế quá trình
phiên mã- quá trình sinh tổng hợp protein như insulin..[10]
Rối loạn phân bố mỡ: Rối loạn phân bố mỡ là yếu tố góp phần kháng
insulin. Khối lượng mỡ tự do và mỡ tạng cao làm nổi bật tình trạng kháng
insulin. Những thay đổi trong cân bằng nội môi glucose máu có liên quan tới
rối loạn phân bố mỡ tạng ở trẻ em béo phì có rối loạn dung nạp glucose.
Những đứa trẻ này có sự kháng insulin ngoại biên cao, mất khả năng bù trù
tiết insulin và nồng độ adiponectin thấp. Adiponectin là chất trung gian của
15
triglyceride , đóng vai trò quan trọng trong kháng insulin. Do đó sự tích lũy
mỡ trong cơ tim, ổ bụng có liên quan đến kháng insulin và tăng đường máu
sau ăn ở trẻ tiền đái tháo đường.
Bất thường hiệu ứng Incretin: GLP-1 và GIP là những hoocmon
incretin tham gia vào vai trò chuyển hóa glucose: kích thích bài tiết insulin
phụ thuộc glucose, chậm làm trống dạ dày, giảm cảm giác thèm ăn, qua đó
giảm lượng calo nạp vào cơ thể. Cả GLP-1 và GIP đều tác động lên tế bào
beta qua trung gian AMP vòng, kích thích tụy tiết insulin nếu đường máu cao.
Chúng cũng có vai trò quan trọng trong biểu hiện gen Pdx-1 tác động lên tế
bào beta, kích thích gen này phiên mã giúp dự trữ insulin tránh tế bào beta bị
cạn kiệt. Ở giai đoạn tiền đái tháo đường, hiệu ứng incretin suy giảm, đây là
cơ chế quan trọng trong việc suy giảm chức năng tế bào beta của tụy. [10]
1.2 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.2.1 Tuổi
-Tuổi là một trong những yếu tố không thể thay đổi, tuổi càng tăng thì
nguy cơ mắc ĐTĐ càng tăng. Khi cơ thể già đi chức năng tụy cũng suy giảm,
và khả năng tiết dịch tụy cũng giảm đi. Trong khi đó nồng độ glucose máu có
xu hướng tăng đồng thời làm giảm sự nhạy cảm của tế bào đích với các kích
thích của insulin. Khi tế bào tụy không còn khả năng tiết insulin đủ với nhu
cầu cần thiết của cơ thể , glucose máu lúc đói tăng, bệnh đái tháo đường thực
sự xuất hiện. [12]
-Tuy nhiên , ngày nay với sự phát triển của cuộc sống hiện đại , tuổi
mắc bệnh ĐTĐ ngày càng được trẻ hóa. Theo nghiên cứu của Knowler W.C,
quan sát sự xuất hiện của bệnh ĐTĐ typ 2 ở gia đình có tiền căn di truyền rõ
ràng cho thấy ở thế hệ thứ nhất thường xuất hiện ở tuổi 60-70, đến thế hệ thứ
hai giảm xuống ở độ tuổi 40-50. [13]
16
-Theo CDC thống kê số lượng và tỷ lệ người mắc ĐTĐ trên 18 tuổi, tỷ lệ
các nhóm tuổi 18-44, 44-65, trên 65 tương ứng là 2.6%, 12.7%, 20.8%. [14]
- ADA khuyến cáo nên tầm soát ĐTĐ cho tất cả bệnh nhân từ 45 tuổi
trở lên, hoặc bất cứ độ tuổi nào nếu có thừa cân, béo phì [7].
- Nghiên cứu của Nguyễn Vũ Quỳnh Thi năm 2016 tại bệnh viện đa
khoa trung ương Huế và nghiên cứu của Trịnh Ngọc Cảnh năm 2013 tại bệnh
viện Bạch Mai cũng cho thấy tỷ lệ ĐTĐ tăng theo tuổi[15] [16].
1.2.2 Thừa cân, béo phì
Béo phì là vấn đề của thời đại, không chỉ ở các nước châu Âu , nước có
kinh tế phát triển mà còn ở các nức có thu nhập trung bình thấp như Việt
Nam. Nghiên cứu của Steven M. Haffner đăng trên tạp chí tim mạch châu Âu
số 8 năm 2006 cho thấy tỷ lệ béo phì, tỷ lệ béo bụng ở Mỹ tăng đáng kể trong
vòng 10 năm.[17] Việt Nam cũng vậy, thông qua kết quả nghiên cứu của
Phạm Văn Phú, Hoàng Thị Đức Ngân tại thành phố Hải Phòng năm 2018 cho
thấy rằng tỷ lệ béo phì ở trẻ em cao đáng báo động với 10,1% là béo phì, 19%
là béo bụng. Trong đó ảnh hưởng rất lớn bởi lối sống, thời gian sử dụng máy
tính và thời gian hoạt động thể chất.[18]
Đây là yếu tố nguy cơ vô cùng quan trọng và có thể thay đổi được. Béo
phì và béo bụng là yếu tố nguy cơ rất rõ rệt tới bệnh lý tim mạch và mạch
máu não mà nguyên nhân chính là do tăng huyết áp, tăng LDL-C, tăng TG,
tăng VLDL-C, tăng cholesterol, tăng fibrinogen, tăng PAI-1(plasminogens
activator inhibitor-1) và tăng insulin.[19]
Theo WHO đối với người châu Á thì điểm cut point BMI được lấy mức
23 kg/m2 có nguy cơ cao mắc ĐTĐ.[7] Tình trạng thừa cân và béo phì ngày
càng có xu hướng gia tăng nhanh chóng cùng với sự phát triển công nghiệp
hóa , hiện đại hóa, và lối sống ít hoạt động của xã hội. Trong thập niên vừa
17
qua tỷ lệ ĐTĐ tăng nhanh hơn ở các nước thu nhập thấp và trung bình hơn là
ở các nước thu nhập cao [6].
Theo Nurses Health Study nghiên cứu 10000 phụ nữ trong 14 năm cho
thấy nguy cơ tim mạch ở người có BMI từ 25-28.9 cao gấp 2 lần nhóm có
BMI<21; nhóm BMI>29 nguy cơ cao gấp 3 lần nhóm BMI<21. Trong nghiên
cứu Cohort cho thấy người có BMI >22 thì cứ tăng BMI lên 1 thì nguy cơ tim
mạch tăng 10%[19].
Theo báo cáo của WHO thống kê tỷ lệ thừa cân, béo phì (BMI >25) ở
người trưởng thành trên 18 tuổi năm 2014 theo giới , theo vùng kinh tế thì xu
hướng các nước thu nhập càng cao thì tỷ lệ thừa cân béo phì càng nhiều. Ở
các nước có thu nhập thấp tỷ lệ thừa cân , béo phì ở nam trưởng thành là
15.4%, nử trưởng thành là 26.9%; trong khi đó ở các nước thu nhập cao tỷ lệ
này tương ứng là 61.5% và 52.2% [6].
1.2.3 Tiền sử gia đình đái tháo đường
Yếu tố di truyền là yếu tố quan hệ mật thiết với nguy cơ ĐTĐ. Có
nhiều nghiên cứu phát hiện những gen có liên quan mật thiết với bệnh ĐTĐ
như là nghiên cứu của Wang và cộng sự năm 2018, nghiên cứu meta-analysis
trên 21464 bệnh nhân phát hiện gen rs5219 có bằng chứng mật thiết với bệnh
ĐTĐ type 2. Ngoài ra còn có nhiều gen được phát hiện có liên quan mật thiết
với ĐTĐ như rs1256031, rs17576, polymorphism.. [20] [21] [22]
1.2.4 Tiền sử đái tháo đường thai kì hoặc đẻ con to
ĐTĐ thai kì được định nghĩa là tình trạng tăng đường máu được phát
hiện lần đầu tiên trong khi mang thai. Định nghĩa này bao gồm cả trường hợp
trước đây đã mắc ĐTĐ nhưng tình cờ phát hiện khi mang thai hoặc trường
hợp vẫn còn tiếp tục tình trạng tăng huyết sau sinh . Đái tháo đường thai kì
làm tăng nguy cơ ĐTĐ về sau cho cả mẹ và con. ADA khuyến cáo với những
bà mẹ có tiền sử ĐTĐ thai kì nên được tầm soát ĐTĐ kéo dài . [7]
18
Khoảng 30-50% những bà mẹ có tiền sử ĐTĐ thai kì sẽ tiến triển thành
ĐTĐ thực sự trong vòng 5-10 năm sau khi có thai. Do đó ĐTĐ thai kì cũng
là một nguy cơ của tiền ĐTĐ và ĐTĐ type 2. [13]
1.2.5 Giới
Các bệnh chuyển hóa ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của giới nam
và giới nữ, từ trẻ nhỏ đến già theo nhiều cách khác nhau. Sự khác biệt về giới
cụ thể ảnh hưởng đến các quyết định tầm soát, chẩn đoán và điều trị cũng như
sự phát triển của các biến chứng và tỷ lệ tử vong. Rối loạn chuyển hóa
glucose và lipid, cân bằng năng lượng và phân phối chất béo trong cơ thể 2
giới là khác nhau và do đó bệnh tim mạch và các bệnh lý rối loạn chuyển hóa
bị ảnh hưởng rất lớn bởi các hoocmon steroid và giới tính. Hơn nữa, nền tảng
giáo dục, thu nhập hàng tháng và các yếu tố tâm lý xã hội đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển của béo phì và tiểu đường khác nhau ở nam
giới và phụ nữ. Nam giới có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở độ tuổi trẻ hơn
và chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp hơn so với phụ nữ nhưng phụ nữ có nguy cơ
cao hơn nam giới mắc các bệnh tim mạch liên quan đến bệnh tiểu đường sau
khi mãn kinh. Giới nữ khi mắc ĐTĐ thì kì vọng sống không cao như nam giới
do biến chứng tim mạch và nguy cơ mắc ung thư cao hơn so với nam giới. Ở
phụ nữ tiền ĐTĐ hoặc ĐTĐ có liên quan rõ rệt hơn với nguy cơ mạch máu
cao hơn, chẳng hạn như các chỉ số viêm, thay đổi bất lợi trong đông máu và
tăng huyết áp. Phụ nữ thường béo phì và ít vận động hơn nam giới nhưng có
thể có lợi ích lớn hơn về sức khỏe và tuổi thọ nếu hoạt động thể chất tăng hơn
nam giới. Trong các nghiên cứu giảm cân, đàn ông thường cho thấy giảm cân
tốt hơn phụ nữ; tuy nhiên, hiệu quả phòng ngừa bệnh ĐTĐ tương tự ở nam và
nữ bị tiền ĐTĐ với nguy cơ giảm gần 40%. Tuy nhiên, cho đến nay, việc
giảm dài hạn về mọi nguyên nhân và tử vong do tim mạch chỉ được quan sát
thấy ở phụ nữ. Đàn ông chủ yếu có đặc điểm là tăng đường huyết lúc đói, phụ
19
nữ thường cho thấy tình trạng dung nạp glucose bị suy giảm. Tiền sử đái tháo
đường thai kỳ hoặc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) cũng như tăng
nồng độ androgen ở phụ nữ và sự hiện diện của rối loạn cương dương hoặc
giảm nồng độ testosterone ở nam giới là những yếu tố nguy cơ đặc trưng giới
tính quan trọng đối với sự phát triển của bệnh ĐTĐ. [23]
Giới tính là yếu tố nguy cơ mắc tiền ĐTĐ và ĐTĐ không thể thay đổi
được, tùy thuộc vào mỗi vùng dân cư khác nhau mà tỷ lệ mắc nhiều hơn mỗi
giới là khâc nhau. Trong khi theo Paul Zimmet, ở các vùng đô thị Thái Bình
Dương có tỷ lệ nam/nữ trong nhóm đái tháo đường là 3/1 thì ở Trung Quốc,
Malaysia, Ấn Độ theo Kenneth Hughes tỷ lệ này tương đương nhau. [13] Tỷ
lệ này cũng cao trong nghiên cứu ở người Việt Nam qua nghiên cứu của Phạm
Nhật Minh tại đại học y dược Thái Nguyên 2016 .[24] Tuy nhiên 1 vài nghiên
cứu khác ở Việt Nam lại cho thấy tỷ lệ nữ và nam tương đương nhau như
trong nghiên cứu của Trịnh Ngọc Cảnh .[15] và nghiên cứu của Nguyễn Vũ
Quỳnh Thi tại bệnh viện Trung Ương Huế [16]
1.2.6 Tăng huyết áp
Đái tháo đường và tăng huyết áp có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ, có
đến 2/3 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có tăng huyết áp. Năm 1992 tại hội nghị
chuyên đề về tăng huyết áp đã xác định cơ chế gây tăng huyết áp ở bệnh nhân
có tình trạng kháng insulin là do Insulin có tác dụng tăng tái hấp thu Natri và
nước ở ống thận, Insulin cũng làm tăng catecholamin, làm thay đổi sự vận
chuyển ion qua màng. Ở bệnh nhân ĐTĐ xuất hiện những tổn thương ở các
mạch máu lớn với các mảng xơ vữa, lan rộng , ảnh hưởng đến các mạch máu
xa. ĐTĐ và tăng huyết áp phối hợp làm tăng nguy cơ tử vong cho bệnh nhân
do vậy việc phát hiện tăng huyết áp và điều trị tăng huyết áp , tầm soát ĐTĐ ở
bệnh nhân tăng huyết áp vô cùng quan trọng. [25]
20
Bảng 1.2Tiêu chuẩn phân loại tăng huyết áp theo JNC 7 [26]
Phân loại
HATT
HATTr
Bình thường
<120 mmHg và
<80 mmHg
Tiền THA
120-139mmHg hoặc
80-89mmHg
Tăng huyết áp
≥ 140 mmHg hoặc
≥ 90 mmHg
1.2.7 Hội chứng chuyển hóa
Hội chứng chuyển hóa bao gốm tình trạng kháng Insulin, rối loạn mỡ
máu, béo phì, tăng huyết áp đã được chứng minh là có quan hệ chặt chẽ với
đái tháo đường type 2 qua nhiều nghiên cứu. [27]
Nghiên cứu của Hanson và cộng sự đã công bố năm 2005 , tiến hành
theo dõi 890 người không mắc đái tháo đường trung bình sau 4.1 năm có 144
người tiến triến thành đái tháo đường thực sự, trong đó tình trạng kháng
insulin có mối liên quan rõ rệt với RR= 1,81, p<0,01. Tình trạng béo phì và
rối loạn mỡ máu cũng tương tự, tiên đoán trước khả năng mắc đái tháo đường
với RR tương ứng là 1,52 và 1,37, p<0,01 [28]
1.2.8 Rối loạn lipid máu
Rối loạn mỡ máu, thừa cân, béo phì là những tình trạng có mối liên
quan chặt chẽ với ĐTĐ. Lối sống ít hoạt động, thói quen ăn đồ ăn nhanh,
nhiều chất béo, ít hoa quả và chất xơ, hút thuốc lá, uống bia rượu là những
yếu tố nguy cơ của bệnh rối loạn mỡ máu và đái tháo đường. Tình trạng
kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ được cho là có liên quan mật thiết với béo
phì, đặc biệt là béo tạng, béo bụng, rối loạn lipid máu. Do vậy tầm soát ĐTĐ
ở những bệnh nhân có rối loạn lipid máu là rất cần thiết. [29] [10]
21
Bảng 1.3Tiêu chuẩn chấn đoán rối loạn mỡ máu: Theo tiêu chuẩn ATP III
[30] [29]
LDL (mmol/l)
Tối ưu
<2.58
Gần
2.58tối ưu
3.33
Giới
3.36hạn cao
4.11
Cao
4.134.88
Rất
≥4.91
cao
HDL (mmol/l)
Thấp
<1,03
Cao
>=1,55
Total cholesterol
(mmol/l)
Bình
thường
Giới
hạn
cao
Cao
<5,17
5,17-6,18
>=6,2
Triglycerid (mmol/l)
Bình
<1.695
thường
Giới
hạn
1.695-2.249
cao
Cao
2.26-5.639
Rất cao
≥5.65
Tuy nhiên phân loại này khá phức tạp, khó áp dụng trong nghiên cứu.
Vì vậy chúng tôi sử dụng bảng sau để áp dụng vào nghiên cứu của mình:
- Tiêu chuẩn rối loạn lipid máu trong hội chứng chuyển hóa theo NCEPATP III (2002):[30]
Cholesterol ≥ 5.2 mmol/l
Triglycerid ≥ 1.7 mmol /l
HDL-C 1.03 mmol/l
LDL-C ≥ 2.6 mmol/l
1.2.9 Lối sống ít hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực giúp kiểm soát cân nặng, sử dụng hết glucose và làm
cho các tế bào nhạy cảm insulin hơn. Đây là tác dụng cực kì quan trọng đối
với ĐTĐ type 2 mà sự giảm nhạy cảm với insulin là nguyên nhân quan trọng
nhất trong cơ chế bệnh sinh gây ra ĐTĐ. [1]
22
Nhiều nghiên cứu cho thấy luyện tập thể lực thường xuyên 30 phút mỗi
ngày có tác dụng làm giảm nhanh nồng độ glucose máu, giảm nồng độ
triglycerid ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 đồng thời duy trì ổn định hàm lượng lipid
máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng insulin. [12]
WHO khuyến cáo mức độ hoạt động cần thiết dành riêng cho từng
nhóm tuổi để nhằm ngăn chặn bệnh ĐTĐ: với trẻ em từ 5-17 tuổi hoạt động
mỗi ngày ít nhất 60 phút hoạt động từ trung bình tới nặng; với người trưởng
thành từ 18-64 tuổi hoạt động mức đột trung bình ít nhất 150 phút/ tuần, hoặc
ít nhất 75 phút/ tuần với hoạt động mức độ nặng, hoặc kết hợp cả hai; với
người già hơn thì lượng thời gian vận động cũng tương đương nhưng cần cân
bằng tùy theo sức khỏe.[6]
1.2.10 Chế độ ăn , hút thuốc lá, uống rượu bia:
Các thói quen , hành vi ăn uống, hút thuốc lá ảnh hưởng trực tiếp tới
nguy cơ trực tiếp tới tiền ĐTĐ và ĐTĐ thực sự. WHO cùng FAO trong mục
tiêu nhằm ngăn chặn bệnh ĐTĐ đã khuyến cáo chế độ ăn bao gồm giới hạn
lượng acid béo bão hòa <10% tổng năng lượng đưa vào cơ thể,( riêng với
nhóm nguy cơ cao thì con số này là <7%), tăng số lượng chất xơ trong ngày ít
nhất 20g/ ngày bao gồm ngũ cốc, đậu đỗ, rau xanh, hoa quả.[6]
Nghiên cứu của Wei cho thấy những người đàn ông có thói quen uống
rượu nhiều có nguy cơ mắc ĐTĐ gấp 2.2 đến 2.4 lần so với những người đàn
ông không uống rượu hoặc uống điều độ từ 60 đến 100ml/tuần. Rượu bia có
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự tiết insulin của tụy và làm giảm sự
nhạy cảm insulin, nhưng nếu uống rượu vang với lượng vừa phải <100ml/
tuần có thể cải thiện độ nhạy cảm của insulin. [31]
Nghiên cứu của Mann J(2004) chỉ ra rằng hút thuốc lá làm tăng tính
kháng insulin do đó làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2.[32]
23
Nghiên cứ của David A, Escalente,Duk Kyo Kim và cộng sự cho thấy
hút thuốc lá làm tăng nguy cơ tử vong tới 30-40% so với những người bình
thường. [33]
1.2.11 Chủng tộc
Người ta nhận thấy người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản xứ, người Mỹ
gốc Á, dân tộc các đảo thuộc Thái Bình Dương và người Mỹ gốc Tây Ban
Nha hoặc Bồ Đào Nha, La tinh có nhiều khả năng phát triển thành tiền ĐTĐ.
[1]
Theo khảo sát của trung tâm sức khỏe Hoa Kỳ (NHANES II, 1967-80)
cho thấy tỷ lệ ĐTĐ ở các nhóm tuổi người Mỹ gốc Phi cao hơn 50-70% so
với người da trắng, thậm chí còn cao hơn nữa ở một số chủng tộc thiểu số
khác. Những người Mỹ gốc Cuba có tỷ lệ ĐTĐ cao hơn tỷ lệ chung là 60%,
người Mỹ gốc Mexico và gốc Pueto Rico cao hơn 120%. [34]
1.3 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH VÀ CAN THIỆP
1.3.1 Chế độ luyện tập
WHO khuyến cáo mức độ hoạt động cần thiết dành riêng cho từng
nhóm tuổi để nhằm ngăn chặn bệnh ĐTĐ: với trẻ em từ 5-17 tuổi hoạt động
mỗi ngày ít nhất 60 phút hoạt động từ trung bình tới nặng; với người trưởng
thành từ 18-64 tuổi hoạt động mức đột trung bình ít nhất 150 phút/ tuần, hoặc
ít nhất 75 phút/ tuần với hoạt động mức độ nặng, hoặc kết hợp cả hai; với
người già hơn thì lượng thời gian vận động cũng tương đương nhưng cần cân
bằng tùy theo sức khỏe.[6]
Theo DPS công bố năm 2001 nghiên cứu trên 522 người quá cân bị
IGT chia làm 2 nhóm can thiệp bằng thay đổi lối sống, hoạt động thể lực, và
nhóm chứng, thời gian theo dõi là 3.2 năm. Kết quả cho thấy nhóm can thiệp
đã giảm được 58% nguy cơ phát triền thành ĐTĐ type 2 thực sự so với nhóm
chứng.[2]
24
1.3.2 Giảm cân
Theo DPS công bố năm 2001 nghiên cứu trên 522 người thừa cân bị
IGT được xếp ngẫu nhiên vào nhóm nhóm chứng hoặc nhóm can thiệp bằng
thay đổi lối sống. Những người trong nhóm can thiệp tuân thủ chặt chẽ chế độ
ăn giảm cân để đạt được giảm trên 5% trọng lượng cơ thể và tăng mứuc hoạt
đông thể lực ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 lần/ tuần. Các đối tượng nghiên cứu
được làm nghiệm pháp dung nạp glucose hàn năm để xác định tỷ lệ mắc ĐTĐ
hàng năm ở nhóm chứng là 7.8%, ở nhóm can thiệp tích cực đã làm giảm
58% nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ type 2 (p<0.001). [2]
1.3.3 Điều chỉnh chế độ ăn
Một chế độ ăn hợp lý là vô cùng quan trọng trong phòng ngừa ĐTĐ, nó
ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân , béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp,
xơ vữa mạch máu.. Bên cạnh thay đổi lối sống, luyện tập hàng ngày thì chế độ
ăn là thiết yếu để ngăn ngừa trở thành tiền ĐTĐ và ĐTĐ thực sự.
WHO cùng FAO trong mục tiêu nhằm ngăn chặn bệnh ĐTĐ đã khuyến cáo
chế độ ăn bao gồm giới hạn lượng acid béo bão hòa <10% tổng năng lượng
đưa vào cơ thể,( riêng với nhóm nguy cơ cao thì con số này là <7%), tăng số
lượng chất xơ trong ngày ít nhất 20g/ ngày bao gồm ngũ cốc, đậu đỗ, rau
xanh, hoa quả.[6]
1.3.4 Bỏ thuốc lá, rượu
Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước đều có một kết luận chung
rằng hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ, tăng nguy cơ biến chứng của
bệnh. Thay đổi hành vi hút thuốc lá, uống rượu là vô cùng quan trọng để ngăn
chặn bệnh ĐTĐ. [35]
1.3.5 Điều trị tăng huyết áp, rối loạn lipid
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bên cạnh thay đổi chế độ ăn, luyện tập, bỏ
thuốc lá, bia rượu thì điều trị các yếu tố nguy cơ là rất cần thiết như là việc
25
điều trị Tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu có thể làm giảm nguy cơ về tiền ĐTĐ
cũng như giảm các biến chứng của ĐTĐ[10] [35]
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.4.1 Nghiên cứu nước ngoài
• Theo số liệu National Diabetes Fact Sheet, 2017 ở Hoa Kỳ thì:
- Có tổng 30.3 triệu người mắc đái tháo đường, chiếm 9.4 % dân số.
- Trong đó đã chẩn đoán được 23.1 triệu người.
- Chưa được chẩn đoán là 7.2 triệu người.
- Có 84.1 triệu người mắc tiền đái tháo đường , chiếm 33.9 % dân số [14]
• Ở Trung Quốc nghiên cứu năm 2008 trên 45000 người dân tuổi từ 20 trở lên
thì tỷ lệ tiền ĐTĐ là 15,5%[36]
• Ở Hàn Quốc, theo nghiên cứu của Lee JE và cộng sự tại thành phố DalseongGun năm 2003 với 17773 người trưởng thành khỏe mạnh thấy tỷ lệ ĐTĐ là
12.2 %, tiền ĐTĐ là 22.7%. sự phổ biến của ĐTĐ và tiền ĐTĐ tăng theo tuổi
và đạt đỉnh là 25.5% trong nhóm tuổi từ 50 đến 59. [37]
• Theo 1 nghiên cứu công bố tháng 5 năm 2012 Jayawardena R, Ranasinghe P,
Byrne NM, Soares MJ và cộng sự nghiên cứu về sự phổ biến của tiền ĐTĐ và
ĐTĐ ở vùng Nam Á đã thống kê trong vòng 20 năm từ 1980 đến 2010, kết
quả cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ như sau: Bangladesh 4.7%-8.5%, Ấn Độ 4.6%12.5%, Mandivơ 3.0-3.7%; Nepal 19.5%; Pakistan3.0-7.2%; Srilanka 11.510.3%. Dân cư vùng đô thị mắc bệnh nhiều hơn ở vùng nông thôn, nghiên
cứu chỉ ra rằng ĐTĐ là 1 đại dịch ở vùng Nam Á với sự gia tăng nhanh chóng
trong vòng 30 năm qua. Nghiên cứu đã kêu gọi một chiến lược khẩn cấp để
phòng chữa đại dịch này. [38]
• Theo The Finnish Diabetes Prevention Study, được công bố năm 2003, nghiên
cứu trên 522 người bị thừa cân bị IGT ( rối loạn dung nạp glucose) được xếp
ngẫu nhiên vào nhóm chứng hoặc vào nhóm can thiệp bằng thay đổi lối sống.