Tải bản đầy đủ (.docx) (58 trang)

KIẾN THỨC, THÁI độ và một số yếu tố LIÊN QUAN về QUẢN lý ĐAU CHO NGƯỜI BỆNH của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG y tế THÁI NGUYÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (358.35 KB, 58 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THỊ HÀ

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
VỀ QUẢN LÝ ĐAU CHO NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ THÁI NGUYÊN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hà Nội – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THỊ HÀ

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
VỀ QUẢN LÝ ĐAU CHO NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ THÁI NGUYÊN
Chuyên nghành: Điều dưỡng
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC


Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Lan Anh

Hà Nội – 2019


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐTNC
IASP
NKASRP

Đối tượng nghiên cứu
Hiệp hội quốc tế về nghiên cứu nỗi đau
Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức và thái độ

NSAID
WHO

về đau của điều dưỡng
Thuốc giảm đau chống viêm phi steroid
Tổ chức y tế thế giới


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................3
1.1. Định nghĩa, phân loại đau......................................................................3
1.2. Ảnh hưởng của đau đến cuộc sống.........................................................4

1.3. Một số biện pháp giảm đau cho người bệnh..........................................5
1.3.1. Phương pháp giảm đau có sử dụng thuốc......................................5
1.3.2. Phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc...................................6
1.4. Vai trò của điều dưỡng trong việc kiểm soát cơn đau............................7
1.5. Thang đo đánh giá mức độ đau..............................................................9
1.6. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về quản lý đau...................12
1.6.1. Trên thế giới.................................................................................12
1.6.2. Tại Việt Nam.................................................................................14
1.7. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của sinh viên về quản
lý đau...........................................................................................................15
1.7.1. Giới tính........................................................................................15
1.7.2. Kinh nghiệm đau cá nhân..............................................................15
1.7.3. Sử dụng các công cụ khách quan để đánh giá đau........................16
1.7.4. Sự tiếp cận thông tin liên quan đến quản lý đau...........................17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............19
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................19
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn......................................................................19
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.........................................................................19
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu........................................................19
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu.....................................................................19
2.2.2. Thời gian nghiên cứu.....................................................................19


2.3. Phương pháp nghiên cứu......................................................................20
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu.......................................................................20
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu...............................................20
2.4. Công cụ và quá trình thu thập số liệu...................................................21
2.4.1. Công cụ thu thập số liệu................................................................21
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu........................................................24
2.5. Phương pháp phân tích số liệu.............................................................24

2.6. Cách tính và cho điểm kiến thức, thái độ.............................................25
2.7. Các sai số có thể gặp và biện pháp khống chế sai số...........................27
2.8. Đạo đức nghiên cứu............................................................................27
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ.................................................................29
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu...........................................29
3.2. Phần kiến thức và thái độ của sinh viên về quản lý đau.......................30
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của sinh viên về quản
lý đau...........................................................................................................33
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN...............................................................36
4.1. Kiến thức của sinh viên điều dưỡng về quản lý đau............................36
4.2. Thái độ của sinh viên điều dưỡng về quản lý đau................................36
4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ của sinh viên điều
dưỡng về quản lý đau..................................................................................36
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................36
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ.........................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Cách tính điểm phần kiến thức.......................................................25
Bảng 2.2. Cách tính điểm phần thái độ...........................................................26
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu....................................29
Bảng 3.2. Điểm kiến thức và thái độ của sinh viên về quản lý đau................30
Bảng 3.3. Kiến thức của sinh viên theo từng nội dung quản lý đau................31
Bảng 3.4. Mối liên quan giữa giới tính với kiến thức, thái độ của sinh viên về
quản lý đau cho người bệnh...........................................................33
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa hình thức đào tạo với kiến thức, thái độ của sinh
viên về quản lý đau cho người bệnh.............................................33
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa kinh nghiệm mức độ đau cá nhân với kiến thức,

thái độ của sinh viên về quản lý đau cho người bệnh....................34
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa tần suất sử dụng công cụ đánh giá đau khách quan
với kiến thức, thái độ của sinh viên về quản lý đau cho người bệnh...34
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa sự tiếp cận thông tin về quản lý đau với kiến
thức, thái độ của sinh viên..............................................................35


DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Thang điểm đánh giá đau ...............................................................10
Hình 1.2. Thang đo đau theo nét mặt..............................................................11


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau là một vấn đề lớn trên toàn cầu. Ước tính rằng 20% người trưởng
thành chịu hậu quả của đau và 10% mới được chẩn đoán bị đau mạn tính mỗi
năm. Tuy nhiên, vấn đề đau đớn chủ yếu được coi là một vấn đề y tế, và ít
được giải quyết trong lĩnh vực y tế công cộng[1]. Tại một số thời điểm, trong
thời gian ngắn hoặc dài, tất cả chúng ta đều trải qua nỗi đau và chịu hậu quả
của nó. Mặc dù nỗi đau có thể đóng vai trò như một lời cảnh báo để bảo vệ
chúng ta khỏi bị tổn hại thêm, nhưng nó cũng có thể góp phần vào sự đau khổ
nghiêm trọng và có thể vượt qua nguyên nhân cơ bản của nó để trở thành một
căn bệnh trong các phạm vi và kích thước của chính nó[2].
Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố giảm đau và được quản lý giảm đau là
quyền cơ bản của con người, tuy nhiên nhiều người bệnh bị đau ở mức độ
vừa hoặc nặng đã đặt ra thách thức lớn cho ngành y tế[3]. Đau đớn làm ảnh
hưởng tiêu cực đến sự phục hồi của người bệnh, gây nên sự khó chịu và mất
ngủ, làm tăng thời gian nằm viện, tăng nguy cơ tái nhập viện và tăng chi phí

điều trị. Ngoài ra, đau là một trong những nguyên nhân gây rối loạn thần kinh
dẫn đến kích động, suy giảm nhận thức, lo lắng và trầm cảm[5].
Do ảnh hưởng tiêu cực của đau đã có nhiều biện pháp giảm đau được
áp dụng như biện pháp dùng thuốc theo thang ba bậc điều trị giảm đau của Tổ
chức y tế Thế Giới WHO (1986) [6] hay các biện pháp không dùng thuốc bao
gồm: Các can thiệp tâm lý (Sự phân tâm, thư giãn, thôi miên, kỹ thuật thở,
nghe nhạc,…), châm cứu bấm huyệt và các liệu pháp vật lý (Xoa bóp, chườm
nóng, chườm lạnh, thay đổi vị trí,…)[7].
Hiệp hội đau Hoa Kỳ cũng đã tuyên bố rằng đau là ngoài ý muốn của
người bệnh nhưng khi một người bệnh biểu hiện đau thì quản lý đau là trách
nhiệm của điều dưỡng[8]. Với sự chú ý trên toàn thế giới để tích hợp quản lý
đau vào hệ thống chăm sóc sức khỏe, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố


2

rằng một chiến lược y tế công cộng, giáo dục và đào tạo là cần thiết [9]. Điều
dưỡng cần có kiến thức và thái độ tích cực đối với những phàn nàn về đau của
người bệnh cũng như nhận định để đưa ra những quyết định thực hành giảm
đau một cách có hiệu quả [2,10]. Điều dưỡng phối hợp hiệu quả với các chuyên
gia chăm sóc sức khỏe khác để kiểm soát cơn đau thành công[11]. Là những
cán bộ y tế tương lai, sinh viên điều dưỡng phải có được kiến thức toàn diện về
đau và quản lý đau trước khi hoàn thành chương trình giáo dục của họ [12].
Chương trình đào tạo về đau đã được chính thức đưa vào các trường
đào tạo nhân lực y tế trên thế giới và tại Việt Nam. Trường Cao đẳng Y tế Thái
Nguyên cũng đã đưa vào giảng dạy môn học “Chăm sóc giảm đau” từ năm
2014 với cả hai đối tượng là sinh viên điều dưỡng chính quy và tại chức. Tuy
nhiên, hiện vẫn chưa có bất cứ nghiên cứu nào đánh giá kiến thức và thái độ
của sinh viên sau khi hoàn thành môn học này. Do vậy nghiên cứu này được
thực hiện nhằm mục đích đánh giá kiến thức, thái độ quản lý đau của sinh viên

điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên với hai mục tiêu sau:
1. Mô tả kiến thức, thái độ của sinh viên về quản lý đau.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của sinh viên
về quản lý đau.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa, phân loại đau
Đau là lý do phổ biến nhất cho việc tìm kiếm sự chăm sóc của các dịch
vụ y tế từ người bệnh, ước tính có khoảng 80% người bệnh đến khám liên
quan đến đau[13]. Đau được định nghĩa bởi hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế
(international association for the study of pain – IASP) là một cảm giác khó
chịu và trải nghiệm cảm xúc xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương thực thể
hay tiềm tàng của các mô hoặc được mô tả như bị tổn thương tương tự [14].
Cảm giác đau đớn có thể xảy ra do phẫu thuật, chấn thương, bệnh tật hoặc các
thủ tục y tế gây đau khổ cho người bệnh và người nhà của họ[15].
Kể từ năm 2000, tổ chức kiểm định chất lượng chăm sóc sức khỏe
(JCAHO) đã chỉ ra rằng nỗi đau là một chỉ số của chất lượng chăm sóc và
được coi là dấu hiệu quan trọng thứ năm được đo cùng với các dấu hiệu quan
trọng hiện có như: Nhiệt độ, mạch, nhịp thở và huyết áp. Mỗi người đều có
cảm nhận và biểu lộ nỗi đau theo một cách nào đó, khiếu nại của nỗi đau phải
luôn luôn được coi trọng[4].
Đau có thể được phân loại theo nhiều cách. Phân loại theo thời gian và
tính chất có 2 loại: Đau cấp tính và đau mãn tính.
Đau cấp tính là đau khởi phát, thoáng qua và có thể kéo dài từ vài phút
đến vài ngày và thường biến mất khi lành vết thương hoặc khỏi bệnh (thường
dưới 30 ngày).

Đau mãn tính có thể xảy ra sau quá trình thông thường của một bệnh cấp
tính, thời gian lành vết thương thường là sau ba đến sáu tháng. Cơn đau mãn tính
thường liên quan đến mất chức năng, thay đổi tâm trạng hành vi và giảm chất


4

lượng cuộc sống. Kiểm soát cơn đau có thể không có nghĩa là chữa khỏi cơn đau
mà là cách để quản lý lâu dài với tình trạng bệnh và giảm thiểu tác động của cơn
đau có thể gây ra đối với hoạt động bình thường của cuộc sống [16].
1.2. Ảnh hưởng của đau đến cuộc sống
Trên thế giới mỗi ngày có hàng triệu người phải chịu đựng từ đau, họ có
được nhập viện hay không, hay ở nhà hoặc cần sự hỗ trợ từ các cơ sở y tế
khác. Trong đó, người bệnh nằm viện được báo cáo từ khoảng 45 – 70% có
trải nghiệm đau từ trung bình đến dữ dội trong hai mươi năm qua [17]. Trải
nghiệm của đau đó thường có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống hàng ngày
của người bệnh. Trong một nghiên cứu của WHO đã chỉ ra 85 - 90 % người
bệnh với triệu chứng đau có thể điều trị hiệu quả [6].
Đau theo nghĩa đen ảnh hưởng đến tất cả các cấp độ của tâm sinh lý và
ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh trong cuộc sống của người bệnh, bao
gồm cả các mối quan hệ với những người khác, các hoạt động của cuộc sống
hàng ngày, cũng như khả năng thực hiện công việc của họ. Đau đớn chiếm
một chi phí ước tính 90 tỷ đô la trong các nguồn lực kinh tế như là một kết
quả của tình trạng khuyết tật, mất thời gian từ công việc và giảm năng suất
[11]. Ở Hoa Kỳ, theo Viện Y học, đau mãn tính ảnh hưởng đến 100 triệu
người Mỹ. Con số này cao hơn số lượng bệnh tiểu đường, bệnh tim và ung
thư kết hợp lại. Điều này làm nổi bật ý nghĩa gánh nặng của đau mãn tính trên
hệ thống chăm sóc sức khỏe [18].
Khoảng 116 triệu người Mỹ bị đau mãn tính mỗi năm[4]. Tương tự như
vậy, hơn 25 triệu người trải qua cơn đau cấp tính là kết quả của chấn thương

hoặc phẫu thuật. Cơn đau không được giải tỏa hoặc được điều trị có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến một loạt chất lượng cuộc sống của con người, bao gồm cả
việc tăng lên suy giảm chức năng và khuyết tật, đau khổ tâm lý, lo lắng, trầm
cảm và thiếu ngủ [2-10].


5

Đau có thể ảnh hưởng đến khả năng của người bệnh trong thực hiện các
hoạt động hàng ngày của cuộc sống, là nguyên nhân người bệnh dựa vào sự
chăm sóc của cán bộ y tế [19].
Quản lý đau không đủ tiếp tục là vấn đề khi nhập viện của người bệnh cả
nước. Nó can thiệp đáng kể vào chất lượng cuộc sống của một người làm cho
nó trở thành một vấn đề quan tâm lớn đối với các điều dưỡng trong bất kỳ
môi trường nào đó[20].
1.3. Một số biện pháp giảm đau cho người bệnh
Đau là một cảm giác chủ quan, phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái thần
kinh tâm thần của từng người. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp giảm đau
hiệu quả bằng cách sử dụng thuốc và không sử dụng thuốc, những cách tiếp
cận này được lựa chọn trên cơ sở yêu cầu và mục tiêu giảm đau của người
bệnh cụ thể.
1.3.1. Phương pháp giảm đau có sử dụng thuốc
WHO (1986) đã khuyên cáo dùng thuốc theo bậc thang giảm đau
(analgesic ladder). Bậc 1: Thuốc giảm đau không opioid: paracetamol, các
thuốc giảm đau chống viêm NSAID (Aspirin, Ibuprofen, Naproxen,…) dùng
cho đến liều điều trị tối đa. Bậc 2: Dùng phối hợp thêm với codein, oxycodon.
Hoặc thuốc giảm đau hỗ trợ như: thuốc chống trầm cảm, thuốc chống động
kinh. Bậc 3: Thuốc giảm đau loại opioid "mạnh" hơn: morphin,
hydromorphon, methadon... để thay cho opioid "yếu" trong khi vẫn tiếp tục
dùng thuốc NSAID. Đối với đau do các nguyên nhân khác tiến triển dần dần

cũng nên sử dụng "bậc thang" giảm đau này: đau nhẹ dùng bậc 1 ; đau mạnh
hơn dùng bậc 2 ; khi đau trở nên rất mạnh thì dùng bậc 3. Thuốc loại opioid là
loại giảm đau mạnh, nhưng chỉ vài lần dùng là có thể gây nghiện, vì vậy phải
hết sức cân nhắc.


6

Morphine là thuốc giảm đau rất tốt, thường được sử dụng cho người
bệnh khi họ có những cơn đau ở mức độ trung bình và đau nhiều. Morphine
làm giảm các đáp ứng phản xạ với đau đồng thời làm mất đi mọi sự lo lắng,
bồn chồn, căng thẳng của người sử dụng, chúng được sử dụng từ lâu và dùng
bằng nhiều đường khác nhau: tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp, dán ngoài da… tuy
nhiên phương pháp tiêm tĩnh mạch được áp dụng nhiều và đem lại hiệu quả cao
hơn cả. Morphine là một trong những thuốc gây nghiện nếu dùng liều kéo dài.
Tác dụng giảm đau của morphine tăng theo liều. Phương pháp giảm đau bằng
cách sử dụng morphine có hiệu quả cho người bệnh có đau từ trung bình đến
đau dữ dội nhưng lại gây ra những tác dụng không mong muốn đó là làm cho
người bệnh chóng mặt, buồn nôn, nôn, suy hô hấp, bí tiểu. Chính vì vậy, ngày
nay có khuynh hướng phối hợp với các thuốc giảm đau hỗ trợ khác nhau để
làm tăng hiệu quả giảm đau của morphin và NSAID hoặc làm giảm nhẹ các tác
dụng không mong muốn của các thuốc trên. Đó là một số thuốc hướng thần
như thuốc chống trầm cảm, thuốc chống động kinh [21].
Đau nên được đánh giá trước khi dùng thuốc giảm đau để quản lý hiệu quả.
Nếu đau không thể đoán trước, việc dùng thuốc giảm đau khi cần thiết là cách
tiếp cận phù hợp. Chờ thuốc giảm đau thường xuyên dẫn đến tăng cường độ
đau.Trong những tình huống như vậy, kiểm soát cơn đau là rất khó khăn [22].
1.3.2. Phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc
Ngoài việc sử dụng thuốc để giảm đau cho người bệnh thì phương pháp
giảm đau không sử dụng thuốc cũng đang được áp dụng rất phổ biến ở trên

thế giới cũng như ở Việt Nam.
Can thiệp không dùng thuốc là phương pháp giảm đau hiệu quả. Nó có
thể làm giảm các yêu cầu của liều điều trị bằng thuốc và do đó giảm thiểu tác
dụng phụ của thuốc [22]. Phát triển trong quản lý đau có thể cung cấp các cơ
hội khác nhau cho bệnh nhân và gia đình của họ do đó giúp họ có một cuộc


7

sống thoải mái và năng suất hơn. Cơn đau có thể được kiểm soát theo cách
hiệu quả hơn với sự kết hợp của dược lý và liệu pháp phi dược lý[23].
Phương pháp phi dược lý được sử dụng trong quản lý đau có thể được
phân loại theo những cách khác nhau như: Các can thiệp tâm lý (bao gồm
phân tâm, thôi miên,…), châm cứu bấm huyệt, kích thích dây thần kinh xuyên
da, các liệu pháp vật lý (bao gồm xoa bóp, chườm nóng/ lạnh,…). Với sự phát
triển này, nhân viên y tế nên bổ sung vào phương pháp điều trị để tăng cường
giảm đau và có khả năng cũng làm giảm sự phụ thuộc vào can thiệp bằng
dược lý và coi đó như là cách tiếp cận đầu tiên để giảm đau. Nếu được chứng
minh là có hiệu quả, tác dụng giảm đau có thể làm giảm chi phí và kết quả
bệnh nhân tốt hơn với các phản ứng bất lợi ít hơn [7].
Phương pháp giảm đau không sử dụng thuốc không gây độc cho cơ thể
người bệnh, an toàn, ít để lại biến chứng…Vì vậy điều dưỡng nên có kiến
thức về sử dụng các phương pháp giảm đau này để hỗ trợ người bệnh và gia
đình người bệnh trong việc giảm đau.
1.4. Vai trò của điều dưỡng trong việc kiểm soát cơn đau
Đau là lý do chính khiến mọi người tìm kiếm sự chăm sóc sức khỏe
[18]. Nhiều ngành có liên quan đến quản lý đau, tuy nhiên điều dưỡng đóng
một vai trò quan trọng trong quản lý đau hiệu quả. Sự đánh giá chính xác của
điều dưỡng, can thiệp kịp thời và đánh giá các biện pháp giảm đau là cần thiết
cho kết quả chăm sóc người bệnh tích cực.

Trong một nghiên cứu quan trọng về quản lý đau do McCaffery và
Ferrell tiến hành (1997), đã tuyên bố rằng: "Điều trị đau không hiệu quả và
thiếu kiến thức về quản lý đau đã được chứng minh trong khoảng hai thập kỷ
qua. Vì điều dưỡng thường là nền tảng của việc quản lý đau, kiến thức của các
điều dưỡng trong lĩnh vực này đặc biệt quan trọng”. Việc chăm sóc và quản lý


8

đau đầy đủ của điều dưỡng chính là một phần trong nỗ lực giải quyết những
thiếu sót trong việc điều trị [24].
Quản lý đau hiệu quả được coi như một trong những lĩnh vực lâm sàng
thách thức các cán bộ y tế phải đối mặt, đặc biệt là điều dưỡng[25]. Quản lý
đau là việc sử dụng can thiệp dược lý và phi dược lý để kiểm soát cơn đau xác
định của bệnh nhân.Quản lý đau giúp chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cải
thiện, khả năng làm việc năng suất, để hoạt động bình thường trong gia đình
và xã hội. Thái độ và kiến thức của điều dưỡng về các liệu pháp điều trị đau
không dùng thuốc cần được đánh giá và bất kỳ sự thiếu hụt nào được xác định
cần phải được giải quyết để người bệnh có quyền được tiếp cận vào các biện
pháp khác để hiệu quả hơn trong quản lý nỗi đau của họ [20].
Điều dưỡng có trách nhiệm bảo đảm rằng người bệnh nhận được đánh
giá, can thiệp điều dưỡng chính xác và dựa trên bằng chứng xác thực để điều trị
cơn đau hiệu quả, đáp ứng được tiêu chuẩn chăm sóc. Cam kết chính của điều
dưỡng là sức khỏe, phúc lợi, thoải mái và an toàn của bệnh nhân. Là người chăm
sóc người bệnh, điều dưỡng dùng tất cả phương tiện hợp lý để giảm bớt nỗi đau
của người bệnh. Ngoài ra, điều dưỡng hợp tác với các chuyên gia được đào tạo
đặc biệt trong quản lý đau, chẳng hạn như bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên trị liệu,
châm cứu và những người khác để đảm bảo kế hoạch điều trị chăm sóc liên
ngành hiệu quả nhằm giải quyết nỗi đau của mỗi người bệnh. Để làm được
những điều đó người điều dưỡng cần phải có kiến thức tốt về quản lý đau, các

tiêu chuẩn chăm sóc cùng với thái độ tích cực [26].
Đáp ứng nhu cầu của người bệnh trong quá trình đánh giá và quản lý đau
bằng cách khuyến khích người bệnh bày tỏ nhu cầu của họ. Đau nên được
đánh giá cả trước và sau khi sử dụng các biện pháp giảm đau. Hơn nữa, thang
điểm đau nên được sử dụng trong thực tế để đo lường hiệu quả của việc kiểm


9

soát cơn đau theo cách tiếp cận theo kinh nghiệm và điểm số đau nên được
ghi lại trong biểu đồ của người bệnh [27].
1.5. Thang đo đánh giá mức độ đau
Đau là một hiện tượng chủ quan của người bệnh, phức tạp, đa yếu tố, đa
chiều, mà không có một phương pháp đo lường khách quan nào có thể thực sự
định lượng được. Nhận biết được sự hiện diện của triệu chứng đau đã là rất
quan trọng, nhưng việc chẩn đoán và lượng giá đau rất phức tạp và khó thống
nhất nhưng rất cần thiết cho việc điều trị hiệu quả đối với người bệnh. Thực tế
hiện nay, nhận định đau trong hồ sơ bệnh án được viết chung chung, chưa cụ
thể về mức độ đau của người bệnh (như người bệnh đau nhiều hay ít ở
vùng...). Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để đo được mức độ đau của người
bệnh chính xác và các thang đo đau của người bệnh đã được ra đời và áp dụng
để phân biệt các mức độ đau khác nhau. Thước đo mức độ hoặc tính chất đau
của người bệnh là một công cụ đo lường điểm đau hoặc thái độ cảm nhận của
người bệnh về cơn đau của họ đang chịu đựng. Nhằm điều trị, theo dõi và
chăm sóc người bệnh hiệu quả ngoài đếm mạch, đo huyết áp, đo nhiệt độ,
đếm nhịp thở, cán bộ y tế sẽ sử dụng thước đo mức độ đau của người bệnh.
Việc đánh giá đau bằng thang đo và các chỉ số theo dõi phù hợp giúp đo
cường độ và kiểm tra hiệu quả của các can thiệp[28]
Thang lượng giá đau phải đơn giản, dễ thực hiện để giúp thực hiện lượng
giá hàng ngày hay thực hiện lượng giá trong nhiều ngày và giúp ích chủ yếu

cho việc điều trị và chăm sóc cho người bệnh cũng như để lượng giá các tình
huống đặc biệt (đau ở trẻ em, đau sau mổ...). Mặc dù có nhiều công cụ đánh giá
đau nhưng đánh giá đau một chiều được cho là một kỹ thuật dễ dàng để xác
định cường độ đau của bệnh nhân và bày tỏ nỗi đau của họ trên một công cụ
đơn giản [29]. Một số thang đo đau được công nhận và áp dụng khá phổ biến:


10

Thang điểm VAS (visual analog scale) dùng cho người lớn và thang đo qua
hình khuôn mặt (wong-baker faces pain rating scale) dùng cho trẻ em > 7 tuổi.
Thang đo đau đơn chiều VAS thường được sử dụng như là một công cụ
đo cường độ đau hiệu quả, được sử dụng rộng rãi trong các thiết lập lâm sàng
Thang đo VAS có một mặt không số dành cho bệnh nhân biểu hiện tình trạng
từ không đau đến đau tồi tệ nhất. Một mặt số dành cho người nghiên cứu đọc
gồm các chữ số từ 0 đến 10. Thanh trượt có thể di chuyển để chọn mức độ
đau. Cách đánh giá là quay mặt không số của thước VAS về phía bệnh nhân,
một đầu tương ứng với mức độ không đau, một đầu tương ứng với mức độ
đau tồi tệ nhất bệnh nhân có thể tưởng tượng được. Bệnh nhân sẽ so sánh mức
độ đau của mình và kéo thanh trượt từ đầu không đau đến vị trí tương ứng với
mức độ đau của mình trên băng trống. Điểm bệnh nhân đánh dấu sẽ tương
ứng với điểm đau trên mặt kia của thước do người đánh giá đọc. Điểm đau
VAS được phân loại mức độ theo Salley l. Collens và cộng sự[30]. Nếu VAS
≤ 5 điểm: Đau nhẹ, VAS > 5 điểm: Đau trung bình và nặng.

*Nguồn: Bộ Y tế - 2006
Hình 1.1. Thang điểm đánh giá đau (Visual Analog Scale)
Thang đo qua hình khuôn mặt (Wong-baker faces pain rating scale) được
phát triển bởi Wong Baker, dùng với trẻ (> 7 tuổi) tự báo cáo về mức độ đau
của mình. Thang đo mức độ đau có từ số 0 đến số 10 và tương ứng với các vẻ

mặt người. Những mặt hình người này cho thấy các mức độ đau khác nhau.
Hình mặt người ở ngoài cùng bên trái cho thấy không bị đau. Các hình mặt
người tiếp theo cho thấy cơn đau tăng dần cho đến hình mặt người ngoài cùng


11

bên phải thể hiện đau dữ dội. Người bệnh được yêu cầu đánh dấu mức độ đau
của mình trên đường giữa hai điểm đầu và cuối bảng. Khoảng cách giữa điểm
không đau đến điểm đau dữ dội, sau đó xác định nỗi đau của người bệnh. Mỗi
điểm tương ứng với con số:
0. Không đau
1. Đau rất là nhẹ, hầu như không cảm nhận và nghĩ đến nó, thỉnh thoảng
thấy đau nhẹ
2. Đau nhẹ, thỉnh thoảng đau nhói mạnh
3. Đau làm người bệnh chú ý, mất tập trung trong công việc, có thể thích
ứng với nó
4. Đau vừa phải, bệnh nhân có thể quên đi cơn đau nếu đang làm việc.
5. Đau nhiều hơn, người bệnh không thể quên đau sau nhiều phút, người
bệnh vẫn có thể làm việc
6. Đau vừa phải nhiều hơn, ảnh hưởng sinh hoạt hàng ngày, khó tập trung
7. Đau nặng, ảnh hưởng đến các giác quan và hạn chế nhiều đến sinh hoạt
hàng ngày của bệnh nhân. Ảnh hưởng đến giấc ngủ
8. Đau dữ dội, hạn chế nhiều hoạt động, cần phải nổ lực rất nhiều
9. Đau kinh khủng, kêu khóc, rên rỉ không kiểm soat được
10. Đau không thể nói chuyện được, nằm liệt giường và có thể mê sảng

*Nguồn: Bộ Y tế - 2006
Hình 1.2. Thang đo đau theo nét mặt
(Wong-Baker FACES Pain Rating Scale)



12

1.6. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về quản lý đau
1.6.1. Trên thế giới
Đã có rất nhiều nghiên cứu về kiến thức và thái độ quản lý đau của sinh
viên điều dưỡng. Một đánh giá các tài liệu về kiến thức và thái độ quản lý đau
của sinh viên điều dưỡng trên toàn thế giới đã tiết lộ rằng nói chung, kiến thức
về nỗi đau của họ là không đầy đủ và thái độ đối với việc kiểm soát cơn đau
là không thích hợp. Các can thiệp nhằm nâng cao kiến thức về nỗi đau và cải
thiện thái độ đối với quản lý đau đã được chứng minh là có hiệu quả. Các nhà
giáo dục cần trang bị tốt hơn cho sinh viên điều dưỡng để kiểm soát cơn
đau. Để phát triển và áp dụng chương trình giáo dục đau, các nhà giáo dục
được khuyến khích áp dụng một phương pháp dựa trên bằng chứng [31].
Quản lý đau hiệu quả dựa trên một cơ sở vững chắc về kiến thức về
sinh lý học, dược lý và khả năng kết hợp các can thiệp với từng người bệnh cụ
thể. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu kiến thức, thái độ về quản lý đau trên sinh
viên điều dưỡng được trình bày tại hội nghị thường niên của ASPMN tại
Albuquerque - New Mexico ngày 1 tháng 4 năm 2005 cho thấy điểm trung
bình của sinh viên là 64% đã chỉ ra kiến thức không đầy đủ về quản lý đau.
Chỉ 3,8% sinh viên trả lời hơn 80% bảng câu hỏi chính xác. Mặc dù những
thay đổi đã xảy ra trong quản lý đau của điều dưỡng, nghiên cứu này một lần
nữa cho thấy rằng kiến thức của sinh viên điều dưỡng là không đủ để đạt được
quản lý đau đáng tin cậy cho bệnh nhân[32]. Kết quả này cũng giống một
nghiên cứu khảo sát về kiến thức và thái độ về quản lý đau của 144 sinh viên
từ ba trường cao đẳng điều dưỡng ở Jordan. Chỉ ra 61% là nữ và tuổi trung
bình là 21,6 tuổi (SD 1.7). Điểm kiến thức và thái độ dao động từ 11,1% đến
64%. Điều đó đã cho thấy trình độ hiểu biết thấp về quản lý đau, điểm trung
bình chỉ là 16 (SD 5.11)[33].



13

Một cuộc khảo sát cắt ngang trên 336 sinh viên Cử nhân Khoa học
Điều dưỡng năm cuối và sinh viên điều dưỡng thực tế tại Canada năm 2018
cho thấy phần lớn các sinh viên điều dưỡng trong mẫu này không có kiến thức
đầy đủ và thái độ tích cực về đánh giá và quản lý đau với điểm trung bình là
66,7% (SD 9.1). Quản lý đau nằm trong phạm vi thực hành điều dưỡng,
nghiên cứu này phù hợp với các báo cáo khác chỉ ra rằng phần lớn sinh viên
điều dưỡng năm cuối không có kiến thức đầy đủ hoặc thái độ tích cực về đánh
giá và quản lý đau.. Chỉ 4,5% số sinh viên có kiến thức đau tối ưu và thái độ
tích cực đạt được điểm KASRP từ 80% trở lên. Các kết quả có thể được sử
dụng làm cơ sở việc tiến hành các nghiên cứu can thiệp để cải thiện hiểu biết
về đau của sinh viên và có thể thúc đẩy phân tích sâu hơn về hệ thống giáo
dục điều dưỡng.[34].
Nghiên cứu tại một khoa điều dưỡng ở miền tây Thổ Nhĩ Kỳ đã cung
cấp thông tin quan trọng về mức độ hiểu biết quản lý đau của 190 sinh viên
điều dưỡng. Emine Karaman và cộng sự đã sử dụng mẫu mô tả và khảo sát
kiến thức và thái độ của y tá về nỗi đau (NKASRP) trong quá trình thu thập
số liệu. Kết quả xác định rằng các sinh viên có kiến thức đau nói chung là
kém, điểm trung bình là 40,64%, dao động từ 17,94% đến 61,53%. Trong số
39 câu hỏi đánh giá kiến thức và thái độ quản lý đau thì điểm trung bình của
câu trả lời đúng là 15,85 ± 3,25 Không có sự khác biệt đáng kể được phát hiện
giữa điểm số NKASRP và các biến như vậy theo tuổi và điểm số của cơn đau
tồi tệ nhất từng trải qua (p> 0,05) [8].
Một cuộc khảo sát khác đã được thực hiện để đánh giá kiến thức của
sinh viên điều dưỡng ở Saudi về chăm sóc giảm nhẹ. Tổng điểm trung bình
của kiến thức của 154 sinh viên thấp ở mức 7,30 (SD: 0,56; phạm vi: 0-13)
cho thấy kiến thức không đầy đủ về chăm sóc giảm nhẹ. Điều này được coi là

một trong những trở ngại chính của việc cải thiện chất lượng chăm sóc giảm


14

nhẹ[35]. Nghiên cứu tương tự tại Saudi Arabia chỉ ra rằng 150 sinh viên đã
hoàn thành bảng câu hỏi của bộ công cụ KASRP với điểm trung bình đúng
cho toàn bộ thang đo là 41,8% (SD = 3,71) cho thấy sự thiếu thỏa đáng về
kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng đối với quản lý đau [36].
Al-Khawaldeh và cộng sự. (2013) đã thực hiện một nghiên cứu trên
240 sinh viên điều dưỡng ở Jordan, bên cạnh việc sử dụng Khảo sát kiến thức
và thái độ liên quan đến nỗi đau (KASRP) (Ferrell & McCaffery, 2008), họ
cũng hỏi sinh viên rằng họ có đọc về nỗi đau, sử dụng các công cụ đánh giá
đau và kinh nghiệm làm việc lâm sàng cũng như các rào cản nhận thức của họ
về quản lý đau. Điểm trung bình về kiến thức và thái độ là 34,1%, có thể được
phân loại là kégm. Ngoài ra, những sinh viên báo cáo rằng họ sử dụng các công
cụ đánh giá đau thường xuyên hơn có điểm số cao hơn những người báo cáo
rằng họ không bao giờ hoặc hiếm khi sử dụng các công cụ đánh giá đau [12].
Những nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm cố gắng nâng
cao hiệu quả trong quản lý đau. Mặc dù có thể nhiều kết quả và khuyến nghị
từ các nghiên cứu trước đã được công bố nhưng điều dưỡng vẫn đang đối mặt
với những thách thức của chăm sóc giảm đau. Đây có thể là do sự thiều hụt
kiến thức liên quan đến quản lý đau hiệu quả. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiến
thức về đau không đầy đủ, nhận định và đánh giá về đau không chính xác và
thái độ thờ ơ về đau và quản lý đau được coi là những rào cản trong quản lý
đau hiểu quả [37-38].
1.6.2. Tại Việt Nam
Mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều báo cáo về chủ đề này, nhưng tại
Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào chính thức được công bố. Chính vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ và

một số yếu tố liên quan về quản lý đau của sinh viên.


15

1.7. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của sinh viên v ề
quản lý đau
1.7.1. Giới tính
Nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm chỉ ra rằng đau được cảm nhận,
đánh giá và điều trị khác nhau tùy thuộc vào giới tính của từng người. Một
nghiên cứu trên 111 sinh viên của Đại học Florida. Mẫu bao gồm 64 nữ và 46
nam. So với nam giới, nữ giới báo cáo đau nhiều hơn, có ngưỡng đau thấp hơn
và khả năng chịu đựng các kích thích đau thử nghiệm kém hơn. Nữ giới được
đánh giá là nhạy cảm với nỗi đau hơn nam giới với t (109) = 7.19, p <.001.
Cuộc khảo sát nhằm kiểm tra kiến thức và thái độ của sinh viên điều
dưỡng Thổ Nhĩ Kỳ về quản lý đau sử dụng bộ câu hỏi KASRP để so sánh
điểm số của sinh viên về kiến thức quản lý đau và đặc điểm của họ. Một sự
khác biệt đáng kể đã được tìm thấy, nữ giới có điểm kiến thức cao hơn nam
giới tương ứng là 16,11 ± 3,21 và 14,51 ± 3,19 với t= 2,54 p=0, 012 [8].
Khác với kết quả trên, Murad Al Khalaileh và cộng sự đã tiến hành
nghiên cứu tại trường đại học ở Jordan trên 144 sinh viên. Thử nghiệm t-test
không ghép cặp để kiểm tra mối liên quan giữa giới tính người tham gia và
kiến thức, thái độ về quản lý đau. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt
đáng kể, điểm trung bình kiến thức và thái độ của nam giới là 16,7 (SD = 4,6)
nữ giới là 15,7 (SD = 4,4) (với p> 0,05) [33]. Kết luận này cũng tương tự như
một nghiên cứu năm 2018 tại trường đại học Hail, Ả Rập Xê-út. Không có sự
khác nhau giữa các nhóm xác định theo đặc điểm nhân khẩu học về kiến thức,
thái độ quản lý đau, điểm trung bình kiến thức, thái độ của sinh viên nam và
nữ tương ứng là 16,79 (SD = 3,64) và 17,44 (SD = 3,75) với p>0,05[36].
1.7.2. Kinh nghiệm đau cá nhân

Những trải nghiệm đau của điều dưỡng trước đây cũng ảnh hưởng đến
việc quản lý đau. Kinh nghiệm đau cá nhân có thể ảnh hưởng đến hiệu quả


16

trong đánh giá và việc đưa ra các can thiệp quản lý đau cho người bệnh.
Abdalrahim và cộng sự (2010) cho chúng ta thấy các điều dưỡng đã sử dụng
những kinh nghiệm cá nhân của họ về đau để có thể đánh giá phản ứng của
người bệnh và dự đoán chính xác được mức độ đau của họ [39].
Ba phần năm các điều dưỡng có kinh nghiệm đau quá khứ (62,1%).
Những điều dưỡng từng trải qua nỗi đau (M = 60,32, SD = 4,71) có điểm số
cao hơn đáng kể so với những người không có (M = 56,67, SD = 6,39) (với t
= -2,81, p <0.01). Phát hiện này có thể được giải thích bởi báo cáo của Holm,
Cohen, Dudas, Medema và Allen (2007) nhận thấy rằng mức độ, cường độ
đau cá nhân là biến số duy nhất dự đoán nhận thức đáng kể về bệnh nhân đau
khổ về thể xác và tâm lý.
Những phát hiện này chỉ ra rằng càng có nhiều điều dưỡng trải qua nỗi
đau của chính họ, họ càng có nhiều khả năng quan tâm về nỗi đau của người
bệnh. Có vẻ như các điều dưỡng đã trải qua nỗi đau dữ dội thường thông cảm
hơn với người bệnh đau đớn. Kinh nghiệm đau cá nhân này có thể thúc đẩy
các điều dưỡng tìm kiếm thêm thông tin hoặc kiến thức để có thể tự quản lý
vấn đề của họ [22].
1.7.3. Sử dụng các công cụ khách quan để đánh giá đau
Một nghiên cứu đã khảo sát về tần suất sử dụng thang đo đau của sinh
viên điều dưỡng. Kết quả đã chỉ ra 62,7% sinh viên nói rằng họ sử dụng
chúng đôi khi hoặc luôn luôn. So với những người sử dụng thang điểm đau
không bao giờ hoặc hiếm khi (M = 16,33, SD = 3,8) thì học sinh sử dụng
thang điểm đau thường xuyên hơn có điểm kiến thức, thái độ về quản lý đau
cao hơn đáng kể (M = 17,67, SD = 3,5). Những phát hiện này làm nổi bật đào

tạo quản lý đau quan trọng trong cài đặt lâm sàng[36].
Những sinh viên báo cáo rằng họ sử dụng các công cụ đánh giá đau
thường xuyên hơn có điểm số cao hơn đáng kể (M = 35,1%, SD = 9,2) so với


17

những sinh viên báo cáo rằng họ không bao giờ hoặc hiếm khi sử dụng các
công cụ đánh giá đau (M = 31,2%, SD = 11,5). Những phát hiện này nhấn
mạnh tầm quan trọng của đào tạo lâm sàng và thực hành về quản lý đau [12].
Nghiên cứu đánh giá kiến thức về quản lý đau của 169 sinh viên điều
dưỡng sắp tốt nghiệp tại một trường đại học ở Brazil đã chỉ ra rằng những
sinh viên sử dụng thang đo để đánh giá nỗi đau của bệnh nhân cho thấy sự
khác biệt đáng kể về ý nghĩa của câu trả lời đúng. Nghĩa là những sinh viên
có kinh nghiệm áp dụng thang đo có kiến thức lớn hơn những sinh viên không
áp dụng thang đo trong đánh giá cơn đau với điểm trung bình kiến thức tương
ứng là 58,16 và 52,79 (với p = 0,045). Theo những kết quả này, trong một
nghiên cứu được thực hiện với các sinh viên điều dưỡng ở Jordan, những
người sử dụng nhiều thang đánh giá đau cho thấy kiến thức lớn hơn đáng kể.
Do đó, cần phải có sự kết hợp các hướng dẫn lý thuyết với kinh nghiệm thực
tế trong giáo dục của các chuyên gia y tế trong tương lai [15].
1.7.4. Sự tiếp cận thông tin liên quan đến quản lý đau
Sự tiếp cận thông tin liên quan đến quản lý đau sẽ giúp các sinh viên có
thể nhận được thông tin mới nhất về hướng dẫn thực hành dựa trên bằng
chứng và các tiêu chuẩn chăm sóc hiện tại [32].
Những nghiên cứu về sự tìm hiểu của sinh viên trong quản lý đau qua
tài liệu tham khảo rất ít. Một nghiên cứu cho thấy rằng không có sự khác biệt
đáng kể được tìm thấy trong điểm trung bình kiến thức, thái độ liên quan đến
các nhóm sinh viên có đọc thêm sách tham khảo hoặc bất kỳ tạp chí về nỗi
đau là 34.1% (SD = 9.6%) và không đọc 34.1%(SD = 10.2) [12].

Một nghiên cứu được tiến hành tại Brazil năm 2018 chỉ ra không có sự
khác biệt về mức trung bình của lượt truy cập với các nguồn thông tin được
sử dụng bởi các sinh viên để có được kiến thức về các phương pháp đánh giá
đau. Liên quan đến các nguồn thông tin được sử dụng bởi các sinh viên để


18

tiếp thu kiến thức về các phương pháp đánh giá đau, hầu hết cho biết họ tìm
kiếm kiến thức trong các bài báo (56,2%), tiếp theo là sách (44,4%), chỉ các
thông tin nhận được trong lớp (39,1%), các khóa học video trên internet
(33,1%) và các khóa đào tạo (25,4%). Chỉ 38,5% tìm kiếm thông tin trên các
nguồn khác [15].


×