Tải bản đầy đủ (.doc) (288 trang)

SÁCH NGỮ VĂN NÂNG CAO 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 288 trang )

NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP - Đỗ VIỆT HÙNG - vũ BĂNG TÚ

NGỮ VĂN 7
NÂNG CAO
(Tái bản lần thứ tư)

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC


Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục
11 -2008/ CXB/ 5.51- 20'97/ GI).

Mã số: T7V17h8 - TTS


nói đầu
Các em học sinh thân mến !
Trên tay các em là quyển sách Ngữ văn 7nâng cao. Đây là quyển
sách chúng tôi biên soạn theo tinh thần tích hợp của việc đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở Trung học cơ sỏ
hiện nay.
Làm thế nào để học giỏi môn Ngữ văn là mong muốn chính đáng
của nhiều học sinh. Muốn học giỏi bộ môn kì diệu này, trước hết các em
phải nuôi dưỡng lòng mê say, sau nữa, phải có phương pháp học tập
đúng đắn để không ngừng nâng cao vốn kiến thức của mình.
Trong quyển sách này, chúng tôi chú ý cả hai phương diện : củng
cố, mở rộng - nâng cao kiến thức, kĩ năng và tổ chức hệ thông câu hỏi,
bài tập để "học" luôn đi đôi với "hành". Kiến thức mở rộng và nâng cao
mà chúng tôi nêu lên trong quyển sách này không quá khó để tránh hiện
tượng quá tải và luôn gắn với các bài học trong SGK, luôn gắn với khả
năng tiếp nhận của các em. Bên cạnh các dạng bài tập và câu hỏi các em
đã quen, chúng tôi chú ý đến tính đa dạng của các bài tập theo hướng


lựa chọn, có tính ữắc nghiệm để các em có thể áp dụng vào các bài
kiểm tra ở lớp. Phần Gợi ý trả lời câu hỏi và bài tập, một mặt, giúp các
em hiểu sâu hơn bài học, mặt khác, giúp các em chủ động tìm ra những
lời giải của riêng mình.

3


Với nội dung như thế, chúng tôi hi vọng Ngữ văn 7 nâng cao sẽ là
người bạn đường của các em. Các bậc phụ huynh và các giáo viên bộ
môn Ngữ văn cũng có thể sử dụng tài liệu này để tham khảo và hướng
dẫn con em mình học giỏi môn Ngữ văn.
Bể học là vô cùng, nhưng mỗi một cố gắng của các em chính là
một bước tiến trên con đường chinh phục đỉnh Ô-lym-pi-a. Nhóm biên
soạn Ngữ văn 7 nâng cao hi vọng quyển sách là một tài liệu tham khảo bổ
ích.
Chúc các em thành công.

TM. NHÓM BIÊN SOẠN

PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp


5


II - LUYỆN TẬP
/

CỔNG TDƯÒNG MỎ DA

I - CỦNG CỐ, MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
1. Trong đời người, ngày đầu tiên bước vào lớp Một bao giờ cũng thật thiêng liêng.
Biết bao nhiêu bỡ ngỡ sẽ đến với con trẻ. Nhưng Côhg trường mở ra không nói nhiều về đứa
con mà tập trung nói về tâm trạng của người mẹ, tình thương yêu vô bờ của mẹ dành cho
con trước một sự kiện mà mẹ coi là trọng đại trong một đời người. Những chi tiết nói về sự
ữằn trọc của người mẹ, sư chăm chút của mẹ với con rất cảm động : ngắm con ngủ, đắp
mền, buông mùng, xếp đồ chơi cho con. Thậm chí khi mọi việc đã xong xuôi, tư dặn mình
đi ngủ sớm, nhưng người mẹ vẫn không ngủ được. Ngày mai con vào lớp Một đã trở thành
niềm thao thức của mẹ. Đây là bài văn nói lên tình cảm sâu sắc của người mẹ qua những
chi tiết bình dị nhưng có sức ám ảnh lớn.
2. Cổng trường mở ra cũng nói lên vai trò to lớn của nhà trường đối với cuộc sống mỗi
người. Người mẹ nhớ lại ngày khai trường năm xưa của chính mình. Bà liên hệ đến nền
giáo dục Nhật Bản để thấm thìa hơn rằng : "Ai cũng biết rằng mỗi sai lầm trong giáo duc sẽ
ảnh hưởng đến cả một thê' hệ mai sau, và sai lầm một li có thể đưa thế hệ ấy đi chệch cả
hàng dặm sau này".
3. Đặc sắc của văn bản này là nhà văn đã chọn một cách nói hợp lí. Người mẹ không
rao giảng với đứa con ý nghĩa và ích lợi của việc học, cũng không nói về tâm trạng của
mình bằng những lời lẽ to tát. Người mẹ đang nói với chính mình, ôn lại những kỉ niệm mà
mình đã trải qua bằng giọng điêu tâm tình. Chính hình thức kể chuyện như thê' khiến cho
tâm trạng của người mẹ hiện lên rõ nét hơn.
Ngôn ngữ trong bài văn cũng rất giản dị, giàu sắc thái biểu cảm và đặc biệt trong
sáng. Điều này khiến cho các em khi học văn bản nảy sẽ hiểu hơn tấm lòng của mẹ dành
cho con, từ đó cố gắng học tập để không phụ lòng cha mẹ.
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Cổng trường mở ra thuộc loại văn bản nào ? Theo em, nội dung chủ yếu của văn bản
này là gì ?
2. Văn bản nảy có cốt truyện không ? Người nói trong văn bản ỉà ai và đang nói với ai
6



? Nêu tác dung của cách viết này.
3. Trong văn bản, tâm trạng của người mẹ và đứa con rất khác nhau. Hãy chỉ ra sư
khác biệt đó.
4. Hãy chọn những câu văn toong văn bản Mẹ tôi mà em cho là hay
nhất về :
a) Tình cảm của người mẹ dành cho con.
b) Vai trò to lớn của giáo dục đối với con người.
5. Hãy bình luận câu nói : "Đi đi con, hãy can đảm lên, thê giới này là của con, bước
qua cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra".
GỢI Ỷ
1. Cổng trường mở ra thuộc loại văn bản nhật dụng. Để trả lời câu hỏi này, HS cần nhớ
lại kiến thức đã học ở lớp 6. Văn bản nhật dụng có những đặc điểm sau :
- Có nội dung gần gũi với đời sống, thường đề cập đến những vấn đề cấp thiết đang
đặt ra với con người, nhất là vối con người toong đời sống hiện đại.
- Có cách tổ chức khá tư do, nó có thể sử dụng nhiều kiểu tổ chức văn bản khác nhau
miễn là nói lên được những vấn đề cấp thiết đang đặt ra toong đời sông và được nhiều
người quan tâm.
Nội dung chính của văn bản cổng ứường mở ra : Thông qua tâm trạng không ngủ được
của người mẹ toong đêm trước ngày khai trường của đứa con, tác giả nói đến tình yêu
thương vô bờ của bà mẹ và vai trò to lớn của nhà trường đối với cuộc sống của mỗi người.
2. Văn bản này không có cốt truyện mà chủ yếu nói về tâm trạng người mẹ. Trong
văn bản có hai nhân vật là người mẹ và đứa con. Nhưng người nói là người mẹ. Bà mẹ
không toưc tiếp nói với con (vì lúc đó đứa con đã ngủ) mà

7


8



thực chât đang nói với chính minh, đang ôn lại kỉ niệm mả mình đã trải qua. Cách viết này
có hai tác dụng chủ yêu : thứ nhất, tạo nên chất giọng tâm tình có tác dụng truyền cảm cao ;
thứ hai, làm nổi bật tâm trạng và những kỉ niệm sâu kin, thiết tha mà bình thường khó có thể
nói trực tiếp bằng giọng điệu ây.
3. Gợi ý :
Con

Mẹ

- Không ngủ được mặc dù tự dặn mình ngủ sớm/ mọi chuẩn bị - Ngủ dễ dàng như uống
một li sữa, ăn một chiếc
đã xong.
kẹo.
-Dỗ con ngủ xong, định ngủ sớm nhưng không ngủ được.
- Trằn trọc nhớ lại kỉ niệm xưa.

- Háo hức nhưng chỉ dỗ
- Trong nỗi trằn trọc ấy, người mẹ giả định ngày mai sẽ nói một lát là ngủ.
- Chỉ có môi bận tâm là
với con những điều hệ họng nhất.
-» Như vậy người mẹ trằn trọc vì nhiều lí do : hồi hộp về ngày dậy đúng giờ.
—» Vô tư, đáng yêu.
mai, nhớ lại kỉ niệm xưa, ý thức được tầm quan trọng của giáo
dục đối với nhân cách con
người,...

4. HS có thể chọn câu văn mà em cho là hay nhất. Gợi ý :
a) "Cái ân tượng khắc sâu mãi mãi trong lòng một con người về cái ngày "hôm nay tôi
đi học" ấy, mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tư nhiên ghi vào lòng con. Đe rồi bất cứ một
ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc bâng khuâng, xao

xuyến".
b) "Ai cũng biết rằng mỗi sai lầm trong giáo dục sẽ ảnh hưởng đến cả một thê' hệ mai
sạu, và sai lầm một li có thể đưa thế hệ ấy đi chệch cả hàng dặm sau này".
5. Câu văn thể hiện vai trò to lớn của giáo dục nhà trường. Gọi đó là "thế giới kì diệu"
vì nhà trường là :
-

Nơi cung cấp chp ta những tri thức về thế giới và con người.

- Nơi giúp ta hoàn thiện nhân cách : v^ lẽ sống, tình thương, quan hệ xự thế,...
-

Nơi ta được sống trong mối quan hệ ữong sáng và mẫu mực : tình thầy trò.

MẸ TÔI

I- CỦNG cố, MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
1. "Ét-môn-đô đơ A-mi-xi (1846 - 1908) là nhà văn nổi tiêng người I-ta-li-a. Những tấm
9


lòng cao cả (1886) là truyện thiếu nhi xuất sắc và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế
giới. "Dưới hình thức là tập nhật kí tròn một năm học của một cậu học sinh nhỏ, sách gồm
nhiều mẩu chuyện ngắn có liên hệ với nhau, mô tả những hành động, ý nghĩ cũng như
những tình cảm chân thật, hồn nhiên, trong sáng và sâu sắc, như tình thương giữa hố mẹ và
con, giữa thầy giáo, cô giáo và học sinh, giữa bạn bè cùng học ; tình thương đối với những
người nghèo khổ, bất hạnh ; tình yêu và lòng tự hào về quê hương, về Tổ quốc mình, tình
yêu lao động, Cũng có những mẩu chuyện đả kích những thói hư tật xấu như thói ghen tị,
tật khoe khoang, tính kiêu ngạo,... Các câu chuyện được trình bày một cách giản dị, sinh
động, hiện thực mà nhiều khi hết sức cảm động. Quán triệt toàn bộ tác phẩm là lòng nhân

đạo mênh mông" (Trích "Lời giới thiệu" Những tẩm lòng cao cả (Lê Thị Nghiên - Lê Quang
Huy dịch, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1974, tr. 5).
2. Văn bản Mẹ tôi trích trong Những tấm lòng cao cẩ qua bản dịch của Hoàng Thiếu Sơn.
Nhan đề do chính A-mi-xi đặt. Tuy câu chuyện được viết theo hình thức là một bức thư của
người bố" gửi cho con mình (cậu bé En-ri-cô) vì cậu đã thiếu lễ độ với mẹ, nhưng tác giả lại
tập trung nói về người mẹ mặc dù bà không xuất hiện trưc tiếp trong văn bản này. Người
bô', bằng sự nghiêm khắc của mình, đã nêu lên lỗi lầm của đứa con, nói với con về tình yêu
thương, đức hi sinh vô bờ của mẹ và yêu cầu con phải thành khẩn sửa chữa sai lầm.
3. Câu chuyến được thuật lại một cách giản dị, chân thực nhưng có sức hấp dẫn lớn vì
tác giả đã chọn lựa cách kể thích hợp, các chi tiết được sử dụng một cách hỢp lí.
II - LUYỆN TẬP
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Trong văn bản này, người bô' góp ý và nói với con phải lễ độ và biết ơn mẹ. Em hãy
cho biết tại sao ông không chọn cách nói trưc tiếp mà lại viết thư.
2. Về cách đặt tên cho văn bản, có hai ỳ kiến như sau :
a) Nên đặt tên là Bô'tôi vì ông là người viết thư cho En-ri-cô.
b) Nên đặt tên là Mộtỉỗi lầm không thể tha thứ của tôi thì hợp lí hơn.
Hãy nêu ý kiến của em.
3. Tìm những chi tiết nói về thái độ của người bô' trước lỗi lầm của con trai. Thái độ
ấy có hợp lí, hợp tình không ?
4. Những chi tiết, hình ảnh nào nói về người mẹ của En-ri-cô ? Em có nhận xét gì về
người mẹ của cậu bé ?
5. Tại sao khi nhận được bức thư này, En-ri-cô lại thây "xúc động vô cùng" ? Em có
nhận xét gì về thái độ của cậu bé ? Hãy liên hệ đến bản thân khi mắc lỗi và thái độ của mình
khi nhận được sư góp ý của người khác.
10


GỌ) Ý


.
Ỉ!

1. Trong cuộc sống, việc góp ý cho người khác có nhiều cách : góp ý trực tiếp, tranh
luận, viết thư, nhờ người khuyên giải,... ơ đây, người bố chọn cách viết thư. Cách góp V này
hoàn toàn hợp lí vì ba lẽ : thứ nhất, người bố để cho con trai có điều kiên bình tĩnh lắng nghe
ý kiên và biết được thái độ của bô' ; thứ hai, bảo đảm sư kín đáo, tê' nhị, chỉ người nói và
người nghe biết với nhau, người nghe không bị mất lòng tư trọng, không rơi vào tình hạng
tự ái khi bị góp ý ; thứ ba, người con, sau khi đọc thư, có thì giờ suy ngẫm về hành vi của
mình để sửa chữa.
2. Đúng là trong văn bản này, người viết thư là người bô' nhưng mọi lời kê lại hướng
về người mẹ. Người bô' không nói về mình, không nói nhiều về con trai mà chủ yếu nói về
tình yêu thương và đức hi sinh vô bờ của người mẹ dành cho con. Vì thế, nếu đặt tên là Bô'
tôi thì sẽ không nêu lên được tinh thần của văn bản. Việc đặt tên Một lỗi lầm không thể tha thứ
của tôi có phần hợp lí vì văn bản nói về chuyện cậu bé En-ri-cô thiêu lễ độ với mẹ khi cô
giáo đến thăm. Nhưng nhan đề này cũng chỉ nói được một phần nội 'dung trong khi nội
dung quan trọng nhất là nói về sự cao đẹp của người mẹ. BỞi vậy, nhan đề Mẹ tôi như SGK
là hợp lí nhất.
3. Thái độ của người bố biểu hiện như sau :
- Tức giận
- Đau xót
- Khuyên giải con phải kính trọng mẹ
- Đưa ra biện pháp để cậu bé En-ri-cô sửa chữa sai lầm.
HS tự tìm các từ ngữ và các chi tiết nói về thái độ của người bố trước việc En-ri-cô
phạm sai lầm.
Thái độ của người bố hợp lí vì ông rất nghiêm khắc với con. Cách góp ý của ông cũng
rất tế nhị, không chỉ hợp lí mà còn hợp tình.
4. Những chi tiết, hình ảnh nói về người mẹ : thức suốt đêm, cúi mình, khóc nức nở, sẵn
sàng hi sinh tính mạng để cứu sôhg con,... Những chi tiết, hình ảnh này cho thấy mẹ của En-ricô là người phụ nữ giàu tình thương yêu, sẵn sàng hi sinh tất cả vì con.
5. En-ri-cô "xúc động vô cùng" trước bức thư của bố vì nhiều lí do. Có thể kể ra như

sau :
- Người bố" đã kể lại những kỉ niệm để cậu bé nhớ lại tình yêu thương và đức hi sinh
mà người mẹ đã dành cho cậu. Mẹ đã bao đêm thức trắng vì con, đã "khóc nức nở" vì sợ
mất con. Với người mẹ, En-ri-cô là tài sản quý giá nhất trên đời.
- Thái độ nghiêm khắc của bô' buộc En-ri-cô phải suy nghĩ lại về hành động của
mình.
11


- Sư phân tích của bố chân tình và thấu đáo giúp En-ri-cô hiểu một cách sâu sắc rằng
"tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xâu hổ và
nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó".
III - TƯ LIỆU THAM KHẢO
Nhìn về quê mẹ xa xăm,
Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa.
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...
(Nguyễn Duy, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

[...] Cha ngồi canh cơn sốt của con
Còn vật vã nhiều hơn khi quặn lên những câu thơ nặng nhọc Con trai ơi
Tiếng khóc của con - Niềm hi vọng của cha nhoè ướt Tiếng cười của con là
gương mặt của cha vừa lên sắc Con gom đời cha trong bước chân bé tí Cha bế
con lên, bếlại ấu thơ mình
Ngày m Ổi ngày
Con lại dắt hi vọng của cha ùa ra phô'
Mang hồi hộp dồn căng trái bóng
Niềm vui cha lăn với mặt đường
Con mang về trong căn nhà ta những điều bình yên
Mang cả lo âu từng ngày phô'bụi

Mẹ đã đợi cơm hai cha con ta như đợi hai đứa trẻ
Những dam mê quên cả hẹn hò...
(Trần Quang Quý, Với con trai)

TÙ GHÉP
I - CỦNG cố, MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
1. ơ lớp 6, HS đã được phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy. Cụ thế :
a) Từ đơn là những từ chỉ gồm một tiếng. Ví dụ : ăn, ngủ, học, bần, ghê', xinh, ngoan,...
b) Từ phức là những từ có từ hai tiếng'trở lên. Từ phức được chia thành từ ghép và từ
12


láy.
- Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiêng có nghĩa với nhau.
Ví dụ : xe đạp, học hành, ăn mặc, xinh đẹp,...
- Từ láy là những từ phức được tạo ra nhờ phép láy âm. Ví dụ : xanh xanh, long lanh,
khấp khểnh,...
2. Bài này tập trung phân loại các từ ghép.
Từ ghép có hai loại chính là từ ghép chính phụ và từ ghép dẳng lập.
a) Về mặt câu tạo, từ ghép chính phụ là từ ghép có tiếng chính và tiếng phu bổ sung
nghĩa cho tiêng chỉnh. ■
Về mặt ý nghĩa, từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa.
- Tiếng chính có ý nghĩa chỉ loại, tiêng phụ thu hẹp ý nghĩa của tiếng chính ; làm cho
từ ghép chính phụ có nghĩa chỉ loại nhỏ trong loại mả tiếng chính biểu thị. Ví du : xe đạp, xe
máy, xe hơi,... là các loại nhỏ của xe.
- Ngoài ra, tiêng phụ còn có tác dụng làm cho từ ghép chính phụ biểu thị các sắc thái
khác nhau đối với nghĩa của tiếng chính. Ví dụ : đỏ au, đỏ hỏn, đỗ tươi,... là các sắc thái khác
nhau của đỏ.
b) về mặt cấu tạo, từ ghép đẳng lập có các tiếng bình đẳng với nhau (không có tiếng
chính, tiếng phụ).

Về mặt ý nghĩa, từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa, mang tính khái quát, "nói
chung". Ví dụ : sách vơ chỉ sách và vở nói chung.
Do đó, từ ghép đẳng lập không thể trưc tiếp kết hợp với các sô' từ. Không thể nói: Một
sách vở.
Nghĩa của từ ghép đẳng lập có thể là nghĩa của một tiêng trong nó (xét ở thời điểm
hiện nay), nhưng vẫn mang tính khái quát. Ví du : chợ búa, gà qué,... có nghĩa chỉ "chợ" nói
chung, "gà" nói chung. Vì thế chúng cũng không dùng để nói về "chợ", "gà" cụ thể được.
Không thể nói : Hà Nội lắm chợ búa quá. Hôm nay tôi đi hai chợ búa mà không mua được rau.
3. Các từ ghép chính phu sau khi được tạo ra vẫn có thể được dùng đê tiếp tue tạo ra
các từ ghép chính phu nữa. Ví dụ : máy khoan —> máy khoar, tay, máy khoan điện,...
II - LUYỆN TẬP
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Hãy sắp xếp các từ ghép : xe máy, xe cộ, cá chép, nhà cửa, nhà máy quần âu, cây cỏ, quần
áo, xanh lè, xanh đỏ, xanh um, đỏ quạch, đỏ au, đỏ hỏi thành hai nhóm và điền vào bảng theo
mẫu cho dưới đây :

13


Mâu :

xe máy,...

Từ ghép chính phụ

xe cộ,...

Từ ghép đẳng lập

2. Tìm 3 từ ghép mà khi sử dụng, có thể chỉ cần dùng tiếng phụ là đã bao gồm nghĩa

của cả tiếng chính.
Ví dụ : Bác cân cho cháu một con chép, {chép đã bao hàm nghĩa "cá chép")
3. Tìm 5 từ ghép chính phụ có tiêng chính là đỏ. Giải thích nghĩa của từng từ và đặt
câu với mỗi từ.
4i Đặt câu với mỗi từ ghép đẳng lập sau : chợ búa,, gả qué, giâỷmá.
5. Nghĩa của các từ ghép đẳng lập : làm ăn, ăn nói, ăn mặc có phải do nghĩa của từng
tiếng cộng lại không ? Đặt câu với mỗi từ
6. Tìm một số' từ ghếp chính phụ có ba tiếng theo mẫu sau :
máy khoan điện

tI

A

GỢI Ỷ
1. HS tư làm. .
2. HS tìm các từ ghép chính phụ chỉ các loại cá, chim.
Ví du : (chim) đại bàng, (chim) sẻ,...
3. Tham khảo các từ sau : đỏ hoe, đỏ hỏn, đỏ loè, đỏ lòm, đỏ lựng, đỏ ngầu, đỏ quạch, đỏ
rực, đỏ ửng, đỏ tươi,...
HS tra từ điển để tìm hiểu nghĩa của chúng và tự đặt câu.
4. Tham khảo câu sau :
Công việc chợ búa dạo này thếnào ?
5. Lưu ý nói : làm ăn có nghĩa là "làm", ăn nói có nghĩa là "nói", ăn mặc có nghĩa là
"mặc".
Ví dụ : Công việc làm ăn dạo này ra sao ?
6. Tham khảo một số từ sau : máy cưa điện, xe đạp máy, cá rô phi, cá bạc má, mầy hơi
nước,...

LIÊN KẾT TOONG VĂN BAN


I - CỦNG cố, MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO

14


1. Muốn đạt được mục đích giao tiếp thì văn bản phải có tính liên kết. Sự liên kết ấy
cần được thể hiện trên cả hai mặt : nội dung ý nghĩa và hình thức ngôn ngữ. Trong hai mặt
đó, quan trọng là nội dung ý nghĩa, vì khi nội dung đã không gắn bó với nhau thì dù có
dùng hình thức ngôn ngữ để nối kết, văn bản vẫn không có tính liên kết. Khi nội dung đã có
sự gắn bó rồi mà biết dùng các phương tiện ngôn ngữ để kết nối, thì sự gắn kết càng chặt
chẽ hơn.
2. Sự liên kết nội dung thể hiện ở : mỗi câu trong văn bản đều có quan hệ ý nghĩa với
câu khác, tức Ịà ý câu trước có khả năng gợi mở, ý câu sau tiếp nối, cu thể thêm ý câu trước,
nhờ vậy nội dung cứ thê" phát triển. Nếu văn bản có từ hai đoạn trỏ lên thì ý nghĩa các đoạn
cũng phải thống nhất và gắn bó
với nhau.
'
3. Hình thức ngôn ngữ dùng để liên kết câu, liên kết đoạn gọi là phương tiện liên kết.
Phương tiện liên kết có thể là từ, tổ hợp từ, câu,... Trên thực tế, các phương tiện liên kết rất
phong phú.
II - LUYỆN TẬP
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Dưới đây là một đoạn văn tường thuật buổi khai giảng năm học. Theo em, đoạn văn
có tính liên kết không ? Hãy bổ sung các ý để đoạn văn có tính liên kết.
Trong tiếng vỗ tay vang dội, thầy Hiệu trưởng với dáng điệu vui vẻ, hiền hoà tiến lên lễ đài (1).
Lời văn sôi nổi truyền cho thầy trò niềm tự hào và tinh thần quyết tâm (2). Âm thanh rộn ràng, phấp
phới trên đỉnh cột cờ thức giục chúng em bước vảo năm học mới (3).
2. Cho hai đoạn văn sau :
(1)En-ri-cô yêu dấu của bô'! Việc học quả là khó nhọc đối với con. Như mẹ đã nói, con vẫn chưa

đến trường với thải độ hăm hở và vẻ mặt tươi cười.
Nhưng con hãy nghĩ xem, một ngày sẽ trôhg trải biết bao nếu con không đến trường. Và chắc chắn chỉ
một tuần lễ thôi, thế nào con cũng xin trở lại lớp học.
(Et-môn-đô đơ A-mi-xi, Trường học)

(2) Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Người lớn nghỉ việc để đơa
ừẻ con đến trường, đường phố được dọn quang đãng và trang trí tươi vui. Tất cả quan chức nhà nước
vào buổi sáng ngày khai trường đều chia nhau đến dư lễ khai giảng ở khắp các trường học lớn nhỏ.
Bằng hành động đó, họ muôh cam kết rằng, không có ưu tiên nào lớn hơn ưu tiên giáo duc thếhệ trẻ
cho tương lai. Các quan chức không chỉ ngồi trên hằng ghê'danh dự mà nhân dịp này còn xem xét
ngôi trường, gặp gỡ với Ban Giám hiệu, thầy, cô giáo và phụ huynh học sinh, để điều chỉnh kịp thời
những chính sách về giáo dục. Ai cũng biết rằng mỗi sai lầm trong giáo dục sẽ ẩnh hưởng đến cả một
15


thếhệ mai sau, và sai lầm một li có thể đưa thếhệ ấv di chệch cả hàng dặm sa u này.
(Lí Lan, cổng trường mở ra)

a) Nêu lên mối quan hệ ý nghĩa của các câu văn trong mỗi đoạn.
b) Chỉ ra các phương tiện ngôn ngữ giúp cho sự liên kết các câu văn trong mỗi đoạn
thêm chặt chẽ.
3. Tìm các từ, tổ hợp từ làm nhiệm vụ liên kết câu trong các ví dụ sau. Nêu lên tác
dung liên kết của chúng.
a) Mẹ thường nhân lúc con ngủ mà lầm vài việc của riêng mình. Nhưng hôm nay mẹ không tập
trung được vào việc gì cả.
(Lí Lan, cổng trường mở ra)

b) Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trưỜỊig đóng cửa hoàn toàn, và ngày khai trường đúng là
ngày đầu tiên học ừò lớp Một đến trường gặp thầy mới, bạn mới. Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi
khai trường đầu tiên ấy rắt sâu đậm.

(Lí Lan, cổng ưường mỏ ra)

c) Sau khi dặn em cách lầm thuốc cho mẹ, Phật nói thêm : "Hoa cúc có bao nhiêu cánh, người
mẹ sẽ sôhg thêm bây nhiêu năm". Vì muốn mẹ sống thật lâu, cô bé dừng lại bên đường tước các cánh
hoa ra thành nhiều cánh nhỏ. Tử đó hoa cúc có rất nhiều cánh.
(Vì sao,hoa cúc có nhiều cánh nhổ)

4. Viết một đoạn van (khoảng 5 dòng) về ngày đầu tiên em đi học, trong đó có sử
dụng các phương tiện ngôn ngữ để liên kết câu.
GỢI Ỷ
1. Đoạn văn thiếu tính liên kết vì còn thiếu một số ý. Đe tìm được các ý còn thiếu, HS
hãy trả lời các câu hỏi sau :
- Thầy Hiệu trưởng bước lên lễ đấi làm gì ?
- "Lời văn" nói trong câu (2) liên quan tới ý gì ở câu (1) ?
- "Âm thanh" và hình ảnh "phấp phới trên đỉnh cột cờ" nói tới trong câu
(3) là tả cái gì ?
Sau đó hãy viết lại đoạn văn.
2. Xác đinh nội dung câu đầu tiên, rồi tìm xem trong câu tiếp theo có ý nào liên quan
đến nội dung câu đầu tiên.
Ví du : Đoạn (1)
a) Nội dung câu đầu tiên : En-ri-cô chưa thích học. Câu tiếp theo thể hiện điều đó ỏ ý
cậu ta đến trường chưa hăm hở, chưa tươi cười...
16


b) Từ liên kết như.
3. a) Từ nhưng : ý câu sau tương phản với ý câu trước...
4. Vì chỉ yêu cầu viết đoạn văn ngắn, nên chọn một sự việc em nhớ nhất. (Ví dụ : mẹ
dẫn đến lớp, cô giáo đón em, hoặc bải học đầu tiên,...)
Do chưa quen dùng các phương tiện liên kết, nên khi viết xong, nhất thiết HS phải đọc

lại để bổ sung hoặc sửa chữa từ ngữ liên kết.

17


'3fààí2

. cuộc CHIA TAY CUA NHỮNG CON BÚP BÊ*
I _ CỦNG CỐ/MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO
1. Cuộc chia tay của những con búp bê của tác giả Khánh Hoài là truyện ngắn đã được
trao giải Nhì trong cuộc thi thơ - văn viết về quyền trẻ em do Viên Khoa học Giáo duc và
Tổ chức cứu trợ trẻ em Rát-đa Bác-nen tổ chức năm 1992. Tác phẩm nói đến một vân đề hết
sức quan ữọng trong đời sống, nhất lả đời sông hiện đại : Cuộc chia tay của những người
làm bố’ làm mẹ đã để lại nỗi đau sâu sắc ữong những tâm hồn thơ trẻ/ khiến chúng thiêu
vắng tình cảm của người đã sinh ra chúng.
2. Trong truyện ngắn này, Khánh Hoài không nói nhiều đến cuộc chia tay của người
ỉớn mà xoáy vào cuộc chia tay của hai anh em Thảnh - Thuỷ : người anh ở lại với bô", cô
em gái phải về quê với mẹ. Hai con búp bê (con Em Nhỏ và con Vệ Sĩ) lẽ ra cũng phải chia
tay nhau. Nhưng phút cuối/ hước khi về quê theo mẹ, đứa em đã để lại cho anh con búp bê
với lời dặn : "không bao giờ để chúng nó ngồi cách xa nhau". Như vậy, tuy buộơ phải chia
tay nhưng về tình cảm, hai anh em không thể chia tay. Thông qua câu chuyện về hai anh
em, tác giả đã tập trung ngợi ca tình cảm nhân hậu, trong sáng, vị tha của những đứa trẻ
ngay cả trong tình huống bi đát nhất, khi mà tổ ấm gia đình của chúng bị đổ vỡ:
3. Trên thực tế, Cuộc chia tay của những con búp bê thuộc loại văn bản nhật dụng (viết về
quyền trẻ em). Nhưng, về thể loại, đây là một truyện ngắn hoàn chỉnh. Thông qua câu
chuyện về cuộc chia tay đau xót và cảm động giữa hai đứa trẻ, tác giả đã đưa ra một đề
nghị thật khẩn thiết : Gia đừửi lả tổ âm hết sức quan họng và quý giá. Nó bền vững nhưng cũng hết
sức mong manh. Phải tìm cách để vun đắp, giữ gìn hanh phúc gia đình, đừng vì bất kì một lí do nào đó
mà làm tan vỡ những tình cảm cao đẹp ấy.
4. Ngoài ra, cần chú ý đến những nét đặc sắc nghệ thuật sau :



- Truyện được kể từ ngôi thứ nhất (cậu bé Thành) nên tính chân thực của câu chuyện
đã được tăng thêm ; đồng thời khiến cho tác giả dễ thể hiện những suy nghĩ, những day dứt
của nhân vật.
- Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật của nhà văn khá sâu sắc, tập trung khai thác
tâm trạng của hai anh em qua các tình huống khác nhau.
- Lối kể chuyện giản dị, chân thành, giọng kể tự nhiên nên có sức truyền cảm lớn.
II - LUYỆN TẬP
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1. Truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê nói về vâh đề gì ?
2. Tại sao tác giả không đặt tên truyện là Cuộc chia tay của hai anh em mà lại là Cuộc
chia tay của những con búp bê ? Cách đặt tên truyện như thê có phù hợp với nội dung tác
phẩm không ?
3. Tìm những chi tiết nói về tình cảm gắn bó giữa hai anh em Thành và Thuỷ. Em có
nhận xét gì về tâm hồn và tình cảm cao đẹp của hai anh em ?
4. Trong truyện có những chi tiết bất ngờ. Theo em, đâu là những chi tiêt bất ngờ và
cảm động nhất ?
5. Phân tích chi tiết khi dắt tay em ra khỏi trường, cậu bé Thành "kinh ngạc thấy mọi
người vẫn đi lại bình thường và nắng vẫn vàng ươm trùm lổn cảnh vật",
6. Qua truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê, tác giả muốn :
a) Phê phán những bậc cha mẹ thiếu trách nhiệm với con cái.
b) Nhắn gửi : Tổ ấm gia đình rất quan trọng, phải giữ gìn hạnh phúc gic đình để những
đứa trẻ được sông trong tình yêu thương của cha mẹ.
c) Thể hiện niềm cảm thông sâu sắc với những đứa trẻ không may bị rơ vào cảnh bất
hanh.
d) Ngợi ca tâm hồn cao đẹp của hai anh em và nêu lên một vân đề quai trọng : Trẻ em
muốn có một gia đình hanh phúc, chúng không muôn chia tay
Em thây ý kiến nào hợp lí ? Vì sao em lại đồng ý với ý kiến đó ?


18

2. NV7NC-A

2. NV7NC-

19


GỌI Ý
1 Truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê nói về cuộc chia tay 'ủa hai anh em
khi tổ ấm gia đình của các em bị đổ vỡ. Li hôn là một hiện tương có xu hướng gia tăng
trong cuộc sống hiện đại. Những cuộc li hôn bao ỄÚỜ cũng để lại những chấn thương tinh
thần sâu nặng trong tâm hồn thơ trẻ của các em. Bố mẹ chúng vẫn còn sống nhưng chúng
lại phải chịu cảnh thiếu thốn tình cảm, thậm chí không được học hành mà phải tự mình
kiếm sông.
2. Nếu đặt tên huyện là Cuộc chia tay của hai anh em thì sẽ rơi vào tinh trạng "thật thà"
quá, khó gây ấn tượng cho người đọc. Tác giả đặt tên truyện Ị;, CUỘC chia tay của những con
búp bê vì nhiều lẽ :
- Búp bố là đồ chơi ưa thích của trẻ nhỏ, chúng gợi lên thế giới hẻ thơ : trong sáng,
hồn nhiên, ngộ nghĩnh.
- Cũng như hai anh em Thành - Thuỷ, những con búp bê trong sáng vô iội kia đâu có
lỗi lầm gì. Vậy mà chúng phải chia tay nhau. Thật vô lí. Nhưng cuộc chia tay của hai anh
em Thành - TTtuỷ lại là sự thật. Nhan đề của truyện ngăn nàv đã gợi lên tình huống truyện
đau lòng, khiến người đọc chú ý theo hòi. Như vậy, nhan đề hoàn toàn phù hợp với nội
dung cơ bản của tác phẩm.
3. Những chi tiết nói về sự gắn bó, chia sẻ giữa hai anh em :
- Thành : giúp em học, chiều nào cũng đón em đi học về, vừa dắt tay nhau vừa trò
chuyện, sẵn sàng nhường hết đồ chơi cho ém,...
- Thuỷ : vá áo cho anh, loạng choạng bám vào anh khi bị bắt chia đồ chơi, sẵn sàng

để lại đồ chơi cho anh,...
Những chi tiết trên đây cho thấy hai arih em có tâm hồn trong sáng, rất yêu thương
nhau.
4. Truyện có nhiều chi tiết bất ngờ. Nhưng có hai chi tiết bất ngờ nhất là :
- Cô giáo tặng Thuỷ quyển sổ và cây bút nhưng em không dám nhận vì Thuỷ phải về
quê và không được đi học nữa. Đây là chi tiết rất đau xót. Không những Thuỷ phải sông
trong cảnh thiếu thôn tình cảm của người cha mà em còn bị bắt phải thôi học. Em phải
kiếm sông ngay từ khi còn nhỏ.
- Thuỷ tụt xuống xe và chạy về chiếc giường, đặt con Em Nhỏ quàng tay vào con Vệ
Sĩ. Chỉ tiết này cũng làm thắt lòng người đọc. Dù hai anh em phải chia tay nhau nhưng
tình cảm của Thành - Thuỷ thì không thể chia cắt, chúng vẫn mãi mãi ồ bên nhau.

20


5. Đây là một chi tiết giàu tính nghệ thuật. Tác giả tạo nên sự. đối lập : tâm trạng của
hai anh em thì đau xót, u ám nhưng cảnh vật bên ngoài thì vẫn bình thường, nắng vẫn
vàng, người vẫn đi lại như không có gì xảy ra. Sự tương phản này khiến cho nỗi đau càng
nổi rõ, tăng thêm cảm giác bơ vơ, thất vọng của hai anh em. Chang có ai thấu hiểu, chia sẻ
với chúng nỗi đau quá lớn này.
6. Tất cả các ý kiến đều hợp lí. Tuy nhiên, ý kiến (a) không phải là nội dung chính
của tác phấm này. Li hôn ỉà hiện tượng nên tránh, vì đó là sự đô vỡ gây đau đớn cho tất cả
mọi thành viên trong gia đình. Nhưng một khi vợ chồng không thể chung sống với nhau
sau nhiều lần hàn gắn thì chia tay là một giải pháp. Chỉ có điều, hậu quả của nó là những
đứa trẻ bị thương tốn bất hanh, thiệt thòi. HS không cần đi sâu vào ý kiến này vì đây là vân
đề vượ quá tầm suy nghĩ của các em.
Các ý kiến sau đều hợp lí. HS tự trả lời cho các ý kiên này.

Bố CỤC VÀ MẠCH LẠC TDONG VĂN BAN
I - CỦNG CỐ, MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO

1. Văn bản muốn trở nên có nghĩa và dễ hiểu, cần phải có bố cuc rõ ràr
và mạch lạc. Bố cục là sư bố trí, sắp xếp các phần, các đoạn theo một trình 1 hợp lí,
rành mạch.

2. Muôn vậy thì nội dung các phần, các đoạn phải thống nhất, liền mạc và
cùng biểu hiện một chủ đề chung xuyên suốt ; đồng thời giữa chúng 1 phải có sự phân
biệt rạch ròi. Nội dung mỗi đoạn chỉ là một khía canh C1 chủ đề, không được lặp lại
nhau.
3. Văn bản thường được xây dựng theo một bô' cục gồm CÓ ba phần : k bài,
Thân bài và Kết bài. Mỗi phần có nhiệm vụ và cách diễn đạt riêng.
- Mà bài : Thường thông báo đề tài của văn bản ; cần trình bày một cá tư nhiên
và hấp dẫn để lôi cuốn người đọc (người nghe).
- Thân bài : Thường gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn trình bày một pb của nội dung
toàn văn bản ; cần diễn đạt sinh động, giàu cảm xúc.
- Kết bài : Thường nhân mạnh lại đề tài ; cần tạo đưỢc một âh tượng c người
đọc (người nghe) về văn bản của mình.

21


A Khi viết (nói) một văn bản cụ thể, các phần của bố cục còn rất cần phải ->hù hơp
với phương thức biểu đạt của văn bản.
II-LUYỆNTẬP
CÂU Hỏi VÀ BÀI TẬP
1. Nêu bố cục chung của một văn bản tự sự và một văn bản miêu tả. Sau dó trả lời
câu hỏi :
a) Vì sao nhiệm vu của từng phần trong từng bố cục lại như vậy ?
b) Vì sao bố cuc phần Thân bài trong văn bản tư sự thường theo trình tự thời pian ?
Hãy nêu vài ba mô hình sắp xếp theo trình tự thời gian thường pặp trong tự sự.
c) Vì sao bố cục phần Thân bài trong văn bản miêu tả thường theo trình tư không

gian ? Hãy nêu vài ba mô hình sắp xếp theo trình tự không gian Ihường gặp trong miêu tả.
d) Nêu một vài trường hợp văn tự sự lại cần sắp xếp ý theo trình tự không gian và
văn miêu tả lại cần sắp xếp ý theo trình tự thời gian. Từ đó em rú t ra điều gì bổ ích cho
việc xây dựng bô" cục văn bản ?
2. Để'chuẩn bị viết bài tập làm văn theo đề bài : "Sau khi thu hoạch lúa, cánh dồng
làng em lại tấp nập cảnh trồng màu", một bạn đã phác ra bố cục như s a u :
-

MỎ bài : Giới thiệu chung về cánh đồng làng em.

- Thân bài :

8



+ cảnh mọi người tấp nập gieo ngô, đậu, gơ dây khoai,...
+ Những thửa ruộng khô, trơ gốc rạ.
+ Người ta lại khẩn trương cày bừa, đập đất.

ại

+ Quang cảnh chung của cánh đồng sau khi gặt lúa xong.
- Kết bài : cảm nghĩ của em khi đứng trước cánh đồng.

la

a) Bố cục trên đây đã hoàn toàn hợp lí chưa ?

:h


b) Nếu chưa thì nên sửa như thê" nào ?
3. Kể lại truyện Bức tranh của em gái tôi (Ngữ văn 6, tập hai) theo cách ìõ.l: dầu từ sự
việc sau khi tài năng của Kiều Phương được phát hiện và "tôi" luôn cảm thây mình bị đẩy
ra rìa.

ần
lií'

22


GỌI Ý
1. Thông thường bố” cục văn bản tự sự như sau :
- Mỏ bài : Giởi thiệu chung về nhân vật, sự việc.
- Thân bại : Kể diễn biến của sự việc.
- Kết bài : Nêu kết cục cua sự việc.
Thông thường bố cục văn bản miêu tả như sau :
- MỞ bài : Giới thiệu cảnh được tẳ.
- Thân bài : Tả từng chi tiếtpcủa cảnh.
- Kết bài : cảm nghĩ về .cảnh được tả.
a) Nên dựa vào đặc trưng của mỗi phương thức tự sư và miêu tả (đã học ở lớp 6) để lí
giải nhiệm vụ từng phần trong mỗi bô" cục trên và trình tự thường dùng trong tự sư và
miêu tả.
b) Ví dụ một mô hình tự sự (theo trật tư thời gian) : Từ hiện tại, hồi tưởng lại quá
khứ, rồi lại trỏ về hiện tại... (HS tư tìm vài ba mô hình nữa.)
c) Ví dụ một mô hình miêu tả (theo trình tự không gian) : Từ trên cao xuống thấp...
(HS tự tìm vài ba mô hình nữa.)
d) Từ đó ta thây khi xây dựng bố cuc cho văn bản, phải tìm hiểu kĩ mục đích, yêu
cầu, đặc trưng của phương thức tự sư hoặc miêu tả... ; đồng thời phải biết sáng tạo linh

hoạt, biết phối hợp hợp lí các phương pháp sắp xếp ý trong bố cuc...
2. Xem kĩ phần Thân bài, nên sắp xếp lại theo sự phối hợp giữa trình tự thời gian và
không gian. (Ví dụ : theo không gian thì ý Những thửa ruộng khô, trơ gốc rạ nên xếp đầu
tiên...)
3. Sư việc nêu trong bài tập nằm ở giữa truyện, nên nó được coi như sự việc hiện tại,
do đó bố cục có thể sắp xếp theo nhiều cách :
- Hiện tại, quá khứ (lần lượt từ đầu của truyện), rồi tiếp sau đó.
- Hiện tại, quá khứ (lần lượt từ việc kề gần hiện tại ngược dần lên đến đầu), rồi tiếp
sau đó.
Ví dụ :
+ Khi tài năng của Kiều Phương được phát hiện, "tôi" luôn cảm thây mình bị đẩy ra
rìa.

23


24


+ Nhò’ bé Quỳnh và chú Tiên Lê - một hoạ sĩ, tài năng của Kiều Phương
được phát hiện.
+ Bô' mẹ giờ chỉ quan tâm đến Phương.
+ Còn tôi giờ nhớ lại những trò bí ẩn của nó ngày trước.
+ Tôi buồn và xử sự với em gái không như xưa.
+ Phương được giải nhất với bức tranh "Anh hai tôi". Tôi ân hận.
HS nên tự mình sáng tạo những cách bố cục khác, miễn sao hợp lí.

3

i


;
a
m

CADAO.DẲNCA

I - CỦNG CỐ, MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO .

Ịj

1. Khái niêm ca dao, dân ca

y

Ca dao, dân ca là những sáng tác dân gian, thuộc thể loại trữ tình. Dân ca
là những sáng tác kết hợp giữa lời và nhạc, thường được viết theo những làn V

điệu

nhất định. Ca dao (còn gọi là phong dao) là phần lời của dân ca. Ca dao


còn gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với
lời thơ dân gian. Theo cách hiểu này, ca dao chính là thơ trữ tình dân gian, ự Cần chú ý, từ

sau Cách mạng tháng Tám 1945, trên sách báo nước ta có sự phân chia : ca dao mới và ca dao
cổ truyền.
Hiện nay, phần lớn ca dao sưu tầm được chủ yếu gồm hai câu hoặc bôn n câu và
thường chỉ có một vế (đối) mà ít khi có đầy đủ vế thứ hai (đáp). Vì thế, khi tìm hiểu ca dao, cần

hình dung ai đang nói, nói với ai và nói nội dung gì. Nêu không xác định được lời ca dao ây là
của ai, nói với ai, trong hoàn cảnh ih nào thì việc phân tích bài ca dao rất dễ chệch hướng. Vì
thê', khi tìm hiểu những bài ca dao trong SGK Ngữ văn 7, cần triển khai theo định hướng này.
2. Nôi dung
Ca dao phản ánh cuộc sống nhiều mặt của nhân dân. Tuy nhiên, là thé loại trữ tình
nên ca dao chủ yếu phản ánh tâm tư, tình cảm, khát vọng, nỗ niềm của con người. Không
phải ngẫu nhiên mà nhiều người đã coi ca dao ỉí "cây đàn muôn điệu" của trái tim quần
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×