1
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin_Phần 1
Đề tài 5:
Quy luật lượng-chất của phép biện chứng duy vật. Sự vận dụng quy luật này trong
quá trình xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
2
Bài làm
A. Quy luật lượng- chất của phép biện chứng duy vật
-Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lí luận cơ bản hợp thành thế giới quan
và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin; là “khoa học về mối liên
hệ phổ biến” và cũng là “ khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”. Théo quan điểm của
Mác cũng như Hêghen thì phép biện chứng bao gồm cái mà ngày nay người ta gọi
là lí luận nhận thức hay nhận thức luận.
- Phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong
thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên tính
khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đồng thời nó cũng là thế giới
quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực
nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn.
Nghiên cứu về phép biện chứng duy vật chúng ta có thể thấy phép biện chứng
duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộ các lĩnh vực
tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Một trong những quy luật quan trọng đó
chính là quy luật lượng- chất hay còn gọi là quy luật chuyển hóa từ những sự thay
đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại. Vậy thế nào là quy luật
lượng- chất?
Quy luật lượng-chất (hay còn gọi là quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về
lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại) là một trong ba quy luật cơ
bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác-Lênin, chỉ theo cách thức
của sự vận động, phát triển.Theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách thức
thay đổi lượng trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa sự
vật sang một trạng thái phát triển tiếp theo. Ph.Ăng-ghen đã khái quát quy luật
này như sau: “ Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định sẽ
chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”
1, Khái niệm lượng-chất
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng
bao gồm mặt chất và mặt lượng. Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự
3
vật, hiện tượng. Phép biện chứng duy vật đưa ra khái niệm chất, lượng và quan hệ
qua lại của chúng như sau:
a, Khái niệm chất:
Thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng. Mỗi sự vật, hiện tượng có những chất
vốn có làm nên chính chúng. Chính điều này giúp phân biệt các sự vật, hiện tượng
với nhau.
Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự vật, hiện
tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải
cái khác. Ví dụ: cái bàn, cái ghế, …
Để hiểu chất là gì cần hiểu thuộc tính là gì? Thuộc tính về chất là một khía cạnh
nào đó về chất của sự vật được bộc lộ ra khi tác động qua lại với các sự vật khác.
Đó có thể là tính chất, trạng thái, yếu tố, … của sự vật. Ví dụ: chất của đồng chỉ
bộc lộ ra khi đồng tác động qua lại với nhiệt độ, không khí, điện, …Chất của một
người bộc lộ qua quan hệ của người đó với những người xung quanh và qua công
việc mà người đó làm…
Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố
cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua các
mối liên hệ cụ thể do đó việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và
thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối.
Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất mà có nhiều chất, tùy thuộc vào các
mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác. Chất không tồn tại thuần túy tách
rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó.
Chất của sự vật là khách quan vì đó là chất của sự vật, không do ai gán cho sự vật.
nó do thuộc tính của sự vật quy định.
b, Khái niệm lượng
Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện
tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu
tố cấu thành sự vật. “Những lượng tồn tại mà những sự vật có lượng hơn nữa
những sự vật có vô vàn lượng mới tồn tại”-Engels
4
Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng, trình độ, quy mô, nhịp điệu của
sự vận động và phát triển. Chẳng hạn chỉ kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay
nhỏ, trình độ cao hay thấp, tốc độ nhanh hay chậm… Ví dụ: số lượng người của
một lớp học, vận tốc ánh sáng…
Lượng là cái khách quan vốn có của sự vật. Đối với những sự vật liên quan tới tình
cảm khi nhận thức lượng không thể xác định bằng các đại lượng con số mà phải
trừu tượng hóa bằng định tính. Ví dụ: lòng tốt, tình yêu…
Lượng thường xác định bằng các đơn vị đo lường cụ thể với con số chính xác
nhưng cũng có lượng biểu thị dưới dạng khái quát, phải dùng tới khả năng trừu
tượng hóa để nhận thức. Ví dụ: Trình độ nhận thức, phẩm chất đạo đức của một
con người…
Có lượng biểu thị yếu tố bên ngoài ( ví dụ: chiều cao, chiều dài của một vật…) , có
lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong ( ví dụ: số lượng nguyên tử của
một nguyên tố hóa học)
Lưu ý là sự phân biệt chất và chất cũng chỉ là tương đối. Cái trong mối quan hệ
này được coi là chất thì trong mối quan hệ khác được coi là lượng. Ví dụ: số 4
trong mối quan hệ phân biệt với các số nguyên dương khác thì nó được coi là chất
nhưng trong mối quan hệ số 4 có tổng bằng 4 só 1 cộng lại hay 2 số 2 cộng lại thì
khi ấy nó được coi là lượng hoặc số lượng sinh viên học giỏi của một lớp sẽ nói lên
chất lượng học tập của lớp đó.
2. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
a, Khái niệm độ
Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt không tách
rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng là chất và lượng. Sự thay đổi
về lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất. Tuy nhiên không phải sự thay
đổi về lượng nào cũng đẫn đến sự thay đổi về chất. Giới hạn mà sự thay đổi về
lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ.
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới
hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự
vật, sự vật chưa biến thành cái khác. Trong giới hạn của độ, lượng và chất tác
động biện chứng với nhau, làm cho sự vật vận động.
5
Ví dụ: - Độ tồn tại trong người từ lúc sinh ra đến chết
-Độ tồn tại của nước nguyên chất ở trạng thái lỏng là từ 0 độ C đến 100 độ
C
b, Khái niệm điểm nút
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về
lượng. Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự thay
đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút.
Ví dụ: 0 độ C và 100 độ C là điểm nút để nước chuyển sang trạng thái rắn hoặc
trạng thái khí ( bay hơi)
c, Khái niệm bước nhảy
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu
sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong
quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều
hình thức bước nhảy khác nhau được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều
kiện của mỗi sự vật.
Bước nhảy chính là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của
sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây nên.
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển. Đồng thời cũng là
điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động,
phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: Sự phát triển của lực lượng sản
xuất ( lượng đổi) tới khi mâu thuẫn với quan hệ sản xuất lỗi thời ( chất cũ) sẽ dẫn
đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội ( bước nhảy) làm cho xã
hội cũ mất đi, xã hội mới tiến bộ ra đời.
Chất mới ra đời, nó tác động trở lại lượng mới, làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình
độ của sự vận động phát triển của sự vật.
=>Tóm lại: Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa
hai mặt lượng và chất. Sự thay đổi dần đần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn
đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy. Đồng thời chất mới tác động trở lại
lượng, tạo ra những biến đổi về lượng của sự vật, hiện tượng. Qúa trình đó liên
6
tục điễn ra tạo thànhphương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
* Các hình thức của bước nhảy
- Căn cứ vào nhịp điệu có:
+ Bước nhảy đột biến: là bước nhảy được thực hiện trong thời gian rất ngắn làm
thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật. Ví dụ: Uranium 235 được
tăng tới hạn (1kg) thì ngay lập tức xảy ra vụ nổ nguyên tử.
+ Bước nhảy dần dần: là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách
tích lũy dần những nhân tố của chất mới, loại bỏ dần những nhân tố của chất cũ.
Ví dụ: Qúa trình chuyển từ vượn người thành người; thời kì quá độ lên xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam…
- Căn cứ theo quy mô có:
+ Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu
tố cấu thành sự vật. Ví dụ: Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nghĩ rộng
+ Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố
riêng lẻ của sự vật. Ví dụ: những bước nhảy cục bộ trong lĩnh vực văn hóa, chính
trị, kinh tế…
Tóm lại: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi
dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ làm thay đổi
chất của sự vật thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời tác động trở lại
lượng mới, tạo thành quá trình vận động phát triển liên tục của sự vật.
3. Ý nghĩa của phương pháp luận
- Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong
tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau. Do đó trong thực
tiễn và nhận thức phải coi trọng cả hai phương diện chất và lượng.
-Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến thay đổi về chất trong điều kiện nhất
định và ngược lại. Do đó cần coi trọng quá trình tích lũy về lượng để làm thay đổi
chất của sự vật. Đồng thời phát huy tác dụng của chất mới để thúc đẩy sự thay đổi
về lượng của sự vật.
7
- Sự thay đổi về lượng chỉ làm thay đổi chất khi lượng được tích lũy tới giới hạn
điểm nút. Do đó trong thực tiễn cần khắc phục bệnh nôn nóng tả khuynh, bảo thủ
trì trệ
- Bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú. Do đó cần vận
dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với điều kiện cụ thể. Đặc
biệt trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào nhân tố
chủ quan của con người. Do đó cần phải nâng cao tính tích cực chủ động của các
chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả
nhất.
4. Một số ví dụ minh họa về quy luật lượng- chất
- Việc chuyển từ học phổ thông sang học đại học được coi là một bước chuyển về
chất. Khi chúng ta học phổ thông, chúng ta tích lũy kiến thức dần dần, ngày này
qua ngày khác, sau một thời gian dài chúng ta học hết toàn bộ chương trình, nắm
vững các kiến thức đó và chúng ta sẽ tiến hành cuộc thi đại học. Đối với những
người đã tích lũy đủ kiến thức cần thiết họ sẽ vượt qua kì thi và trở thành sinh
viên đại học. Đối với những người khác do việc tích lũy kiến thức chưa đủ lượng,
chưa đủ nhiều, chưa sâu sắc thì họ chưa vượt qua được kì thi. Họ có thể sẽ mất
thêm thời gian để tích lũy thêm bằng cách thi vào năm sau hoặc có thể sẽ không
thi nữa.
- Khi hai người mới gặp nhau thường thì họ chỉ có một chút gì đó cảm mến với
nhau lúc đầu chứ khó có thể nói là đã yêu nhau. Sau khi quen biết nhau, họ bắt
đầu đi lại nhiều hơn, nói chuyện với nhau nhiều hơn, cùng nhau làm một số công
việc như: cùng học, cùng chơi, cùng xem phim, … Qua những chuyện đó họ sẽ
hiểu nhau hơn, hiểu về con người, tính cách, cá tính, nét duyên dáng, đáng yêu
của nhau hơn. Dần dần trong họ bắt đầu nảy nở tình yêu vì nhận thấy đối phương
là người đáng yêu trong hoàn cảnh cuộc sống. Việc tích lũy những hiểu biết,
những tình cảm, cảm xúc về nhau đó được xem là tích lũy về lượng. Khi những
hiểu biết đó, những tình cảm đó đủ lớm, tình cảm đó sẽ chuyển thành tình yêu.
Nhưng để chính thức công nhận là người yêu, họ thường qua một bước là ngỏ lời
yêu và nhận lời yêu. Đây được xem là một “bước nhảy” trong quan hệ giữa hai
người chuyển từ chất này ( tình bạn) qua chất khác ( tình yêu)
8
B- Sự vận dụng quy luật lượng – chất vào xây dựng trong quá trình xây dựng
đất nước Việt Nam hiện nay.
Con người có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia dân tộc.
Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đã chứng minh rõ ý nghĩa quyết
định của nhân tố con người đối với sự thành bại, hưng vong của một đất nước. Tuy
nhiên bên cạnh việc phát huy được nguồn lực con người chúng ta cần biết vận
dụng các quy luạt trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người vào xây
dựng đất nước. Một trong số đó là quy luật lượng – chất ( hay còn gọi là quy luật
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và
ngược lại ).
Trước tiên chúng ta cần phải vận dụng quy luật lượng – chất vào thực hiện
đổi mới toàn diện đất nước :
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, VN đã
xây
dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật hạ tầng kinh tế - xã hội diện mạo đất nước có
nhiều thay đổi.
Trước CM tháng 8:
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong
kiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp,
kinh tế VN chìm đắm trong đói nghèo và lạc hậu. Nông nghiệp và công nghiệp
chịu tác động nặng nề của chế độ thực dân kiểu cũ nên rất lạc hậu. Nông nghiệp
nước ta hết sức nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về kỹ thuật, hoàntoàn dựa vào
lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên. Năng suất các cây trồng rất thấp.
Vào thời kỳ 1930-1944, năng suất lúa bình quân 12 tạ/ ha trong khi Thái Lan là 18
tạ/ ha, Nhật Bản là 34 tạ/ha. Sản xuất công nghiệp rất nhỏ bé và què quặt, chủ yếu
là công nghiệp khai thác mỏ.
Sau CMT8 đến năm 1975:
CMT8 thành công, chủ tịch HCM đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chính phủ mới ra đời đã phải đối mặt với hàng loạt
khó khăn và thách thức. Trong thời kỳ này, kình tế nông thôn và sản xuất nông
9
nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng nên cùng với việc động viên nông dân tích cực
tăng năng suất, chính phủ từng bước cải cách về ruộng đất giảm tô, giảm tức.Nhờ
đó trong các vùng giải phóng sản xuất nông nghiệp phát triển tăng 13.7% so với
năm 1946, nhiều cơ sở công nghệp quan trọng phục vụ quốc phòng và sản xuất
hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân được khôi phục và mở rộng.
Từ 1976 đến 1986:
Sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước, nhân dân VN đã đạt được
những
thành
tựu:
Khôi phục cơ sở công nghiệp , nông nghiệp, giao thông ở Miền Bắc, củng cố
nền kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ở Miền bắc XD lại các vùng nông thôn ở
miền Nam bị chiến tranh tàn phá, cải tạo và sắp xếp công thương nghiệp tư doanh
ở miền Nam, đưa bộ phận nông dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ vào con đường làm
ăn tập thể. Bước đầu phân bố lại lực lượng lao động xã hội.
Tuy nhiên, kết quả sản xuất trong những năm này chưa tương xứng với sực lao
động và vốn đầu tư bỏ ra, mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng, thu
nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội(không có tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân sản xuát chỉ bằng 80-90%
thu nhập quốc dân sử dụng), thị trường tài chính tiền tệ không ổn định(siêu lạm
phát hoành hành, lạm phát đạt đỉnh điểm với tốc độ tăng giá 774,7%), đời sống
nhân dân lao động còn khó khăn, lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của
Đảng
và
sự
điều
hành
của
Nhà
nước
giảm
sút.
Nguyên nhân: Khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH, chúng ta
đã nóng vội xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần, dựa trên cơ sở công hữu
XHCN về tư liệu sản xuất, mọi thành phần kinh tế khác bị coi là một bộ phận đối
lập với kinh tế XHCN, vì vậy nằm trong diện phải cải tạo, xóa bỏ, làm như vậy
chúng ta đã đẩy quan hệ SX đi quá xa so với trình độ phát triển của lượng lực sản
xuất. Tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là lực lượng sản xuất thấp kém, với một bên
là quan hệ sản xuất đã được xã hội hóa giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của
LLSX. Hay nói cách khác, LLSX của chúng ta còn quá thấp kém,chưa tích lũy đủ
về lượng (tính chất và trình độ) đã vội thay đổi chất (Quan hệ sản xuất) làm cho đất
nước lâm vào tình trạng khủng hoàng kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 1981- 1985
nhiều Nghị quyết và Quyết định quan trọng của Đảng và chính phủ được ban hành
10
từng bước nhằm sửa đổi cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp,
kinh tế tự nhân và xóa bỏ quan liêu bao cấp. Đại hội toàn quốc lần thứ V bước đầu
có cách nhìn mới về nền kinh tế nhiều thành phần. Thừa nhận nền kinh tế miền Bắc
tồn tại 3 thành phần: quốc doanh, tập thể và cá thể. Nền kinh tế phía Nam gồm 5
thành phần: quốc doanh, tập thể, công tu hợp danh, tư bản tư nhân và cá thể.Đó là
bước khởi đầu cho sự thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh tạo tiền đề
cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trường.
Thời kỳ 1986 đến nay :
Trước tình hình khó khăn đó, đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 đã quyết định
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nhất là đổi mới về mặt tư duy kinh
tế. Tích cực đến sự phát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ, khuyến khích các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mở rộng sản xuất để thu hút vốn đầu tư phát
triển công nghiệp. Năng suất lúa không ngừng tăng, không chỉ phục vụ nhu cầu
trong nước mà VN đã xuất khẩu lương thực ra quốc tế, sản lượng không ngừng
tăng. Từ nước thiếu lương thực VN trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế
giới liên tục từ năm 1989 đến nay. Sản xuất các ngành công nghiệp then chốt đã
phục hồi và tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên thành tựu và khởi sắc của công nghiệp
thực sự bắt đầu trong những năm 90. Bình quân 5 năm 1991-1995, tốc độ tăng
trưởng giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 13,7% trong đó khu vực nhà
nước tăng 15% , khu vực ngoài quốc doanh tăng 10,6%. Trong 5 năm 1996-2000:
sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển ổn định và tăng trưởng với nhịp độ cao.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1996 tăng 14,2%, năm 1997 tăng 13,8% ,năm
1998 tăng 12,1% , năm 1999 tăng 10,4% và năm 2000 tăng 17,5%. Những sản
phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư đều tăng cả
chất lượng và cả số lượng, đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia xuất khẩu.Các
sản phẩm xuất khẩu thường là các sản phẩm thô như than , dầu thô, kim loại
nặng…
Công nghiệp FDI do có lợi thế về máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại, có thị
trường xuất khẩu khá ổn định, lại được Nhà nước khuyến khích bằng các cơ chế
chính sách ngày càng thông thoáng nên trong những năm qua phát triển khá nhanh
và ổn định hơn hẳn khu vực trong nước. Không chỉ tăng trưởng cao mà sản xuất
công nghiệp những năm cuối của thập kỷ 90 đã xuất hiện xu hướng đa ngành, đa
sản phẩm với sự tham gia của các thành phần kinh tế quốc doanh, ngoài quốc
doanh và công nghiệp FDI. Trong đó công nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ
11
đạo. Hơn nữa với phương châm VN muốn làm bạn và đối tác chiến lược kinh tế.
Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Tích cực
xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn
theo cam kết WTO. Cho đến nay đã có 59 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt
Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt
Nam. Việt Nam đã ký kết mười Hiệp định thương mại tự do khu vực và song
phương (gồm sáu FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN; bốn FTA đàm
phán với tư cách là một bên độc lập); vừa hoàn tất đàm phán hai FTA (Liên minh
châu Âu và TPP); đang tích cực đàm phán ba FTA khác (ASEAN - Hồng Công;
EFTA; RCEP). Việc tham gia ký kết và đàm phán tham gia các FTA có tác động
tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp
và sản phẩm, nhất là đến nay Việt Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trò
ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu đó là: Chuỗi giá trị lương thực
và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng lượng và an ninh năng lượng (dầu mỏ,
khí, than) và chuỗi giá trị hàng dệt may và da giày.
Nguyên nhân của những thành tựu đạt được nêu trên:
Nhờ có nhận thức đúng đắn, đổi mới tư duy lý luận của Đảng về tính tất yếu của
phát triển kinh tế thị trường; quyết định chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang kinh tế thị trường định hướng XHCN; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ
trọng tâm, kiên trì lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các quyết sách về kinh tế, được nhân
dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia. Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối
với kinh tế thị trường sát thực và hiệu quả hơn. Mở rộng, phát huy dân chủ trong
lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngày càng tốt vai trò làm chủ về kinh tế của nhân dân.
Vai trò lãnh đạo cũng như nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng rõ nét, theo đó đã xác
định tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ
chức đảng, tăng cường lãnh đạo và kiểm tra về phát triển kinh tế. Nhưng thể chế
kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa có mô hình sẵn, chưa phải là một đường
lối kinh tế đầy đủ, một định hướng rõ ràng để chị đạo nền kinh tế phát triển. Chúng
ta đã rất đúng khi đề ra đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhưng ở
đây cũng chưa thấy rõ mục tiêu, chiến lược, kế hoạch thực hiện cụ thể cũng như
kết quả của nó. Do vậy, có thể thấy mục tiêu đạt ra trong tương lai sẽ rất khó khăn.
Thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước :
12
Việc đây mạnh CNH-HĐH và phát triển kinh tế tri thức tạo nền tảng đưa
nước ta cơ bản trở thành 1 nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại.
Cần phải đổi mới con đường, biện pháp, bước đi của cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn mới, thử nghiệm những hình thức kinh tế phù hợp và thực trạng
phát triển của lực lượng sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế thực tế.
Với đường lối phát triển đó chúng ta cần phải xác định đúng chất mà chúng
ta phải có tương ứng với lượng thực tế của đất nước. Đó là :
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường dưới
sự điều tiết của nhà nước.
Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo hướng coi trọng công nghiệp hóa nông
nghiệp nông thôn, phát triển công nghiệp sản xuất hang tiêu dùng và hàng
xuất khẩu. Đồng thời xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng
trọng yếu và hết sức cấp thiết như : năng lượng, nhiên liệu, luyện kim, hóa
chất…
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại , bằng cách ban hành chính
sách “mở cửa” để thu hút vốn và khoa học kĩ thuật từ nước ngoài từng bước
gắn liền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thị trường trong nước và quốc tế
theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi đảm bảo độc lập chủ quyền dân tộc,
an ninh quốc gia.
Có thể thấy hiện nay nước ta đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực
về chất và lượng của nề kinh tế nhưng việc vận dụng quy luật phù hợp giữa
chất và lượng của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Cụ thể :
So với nhiều nước trong khu vực thời kì đầu công nghiệp hóa thì tốc độ tăng
trưởng của nước ta vẫn còn thấp. Hơn nữa quy mô nền kinh tế còn nhỏ thu
nhập còn thấp. Năm 2005, GDP và GDP bình quân đầu người của Trung
Quốc là 1677 tỉ USD và 1290 USD/người ; Malaysia là 117 tỉ USD và 4650
USD/người ; Thái Lan là 159 tỉ USD và 1540 USD/người. Trong khi đó con
số này ở Việt Nam chỉ là 45 tỉ USD à 562 USD/người.
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng,
những ngành nghề truyền thống, công nghệ thấp tiêu hao nhiều tài nguyên,
vốn và lao động; tỷ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp : con số này ở
Philippin là 54% ; Thái Lan là 46% còn ở Việt Nam là 38% . Các loại dịch
vụ có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh.
13
Trong nông nghiệp sản xuất và thị trường chưa gắn kết, việc đưa khoa học
công nghệ vào sản xuất còn chậm, CNH-HĐH nông thôn còn nhiều lúng
túng. Công nghiệp còn ít sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thwusc
cao, tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm.
Các vùng kinh tế trọng điểm và các thành phần kinh tế phát triển chưa tương
xứng với tiềm năng, chưa khai thác tốt các tiềm lực trong nước và các nguồn
lực nước ngoài để đầu tư phát triển.
Cơ cấu đầu tư chưa hướng mạnh vào đầu tư chiều sâu vào các ngành có giá
trị tăng thêm cao và tạo nhiều việc làm.
Lao động thiếu việc làm và thất nghiệp còn nhiều, lao động qua đào tào còn
chiếm tỉ lệ thấp.
Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội:
môi trường bị ô nhiễm nặng; chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp; còn
nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chưa được khắc phục; tình trạng suy thoái
xuống cấp về đạo đức, lối sống; sự gia tăng, về tệ nạn xã hội và tội phạm
nhất là trong lớp trẻ là vấn đề đáng lo ngại; thành tựu xóa đói giảm nghèo
chưa thật vững chắc, tỉ lệ tái nghèo còn cao, chính sách hỗ trợ chưa thực sự
hiệu quả; vấn đề y tế vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập; đội ngũ
cán bộ còn yếu kém, trật tự an toàn giao thông chưa tốt, thiếu đồng bộ; ý
thức chấp hành luật giao thông còn thấp, quản lí nhà nước còn nhiều hạn
chế.
Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, còn lạc hậu thiếu đồng bộ.
Chưa phát huy được tác dụng tích của khoa học công nghệ với phát triển
kinh tế; tốc độ chuyển giao công nghệ còn chậm, nghiên cứu khoa học còn
hạn chế cả về phương pháp và cán bộ, quyền sở hữu trí tuệ chưa được coi
trọng đúng mức.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều bất cập,
một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm, công tác quản lí thị trường và
lưu thông tiền tệ còn chưa phù hợp.
Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế chưa thật chủ động chưa gắn liền với hoàn
thiện chính sách pháp luật sức cạnh tranh của hàng hóa chưa theo kịp yêu
cầu hội nhập.
Môi trường đầu tư kém hấp dẫn so với một số nước xung quanh, giải ngân
vốn CDA còn, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu so với các nước
trong khu vực.
Giải pháp:
14
Để nâng cao lượng, cải tạo chất của nền kinh tế chúng ta cần phải có những giải
pháp khắc phục sự bất cập giữa lượng và chất trong quá trình xây dựng nước ta. Cụ
thể:
Đổi mới đi vào chiều sâu và toàn diện hơn, dứt khoát hình thành nhanh và
đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện đầy
đủ các nguyên tắc của thị trường. Đồng thời phải chăm lo tốt hơn phụ lợi xã
hội; giải quyết ciệc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, văn hóa,
chăm lo sức khỏe nhân dân.
Phát huy nội lực. Trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của
toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng
tốt nhất các nguồn lực nhà nước.
Phát huy nguồn lực cần có một chiến lược phù hợp và môi trường đầu tư
kinh doanh lành mạnh. Trước hết là có một hệ thống thể chế, chính sách
đồng bộ, một nền hành chính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả.
Cải cách hành chính là nhiệm vụ cấp bách trong thời kì mới nhằm đơn giản,
minh bạch hóa hệ thống tài chính, cải thiện môi trường đầu tư, đẩy lùi quan
lieu, tham nhũng, lãng phí, xây dựng môi trường vĩ mô thuận lợi cho các
hoạt động đầu tư, quỹ ổn định về chính trị và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng.
Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện các kế hoạch, chính
sách đồng thời nâng cao chât lượng nguồn nhân lực.
Tận dụng tiến bộ khoa học- kĩ thuật của các nước đi trước gắn liền với đầu
tư nghiên cứu có hiệu quả .
Xây dựng đường lối đối ngoại đúng đắn,kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ
quốc Việt Nam.
Tiếp tục giữ vững ổn định về chính trị, khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất
của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin, mà
cụ thể là 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Trong đó có quy
luật lượng- chất.