MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề......................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..........................................................................4
4.1.
Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................4
4.2.
Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................4
5. Những luận điểm cơ bản và những đóng góp mới của đề tài..............................5
5.1.
Những luận điểm cơ bản..................................................................................5
5.2.
Những đóng góp mới của đề tài........................................................................5
6. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................5
7. Cấu trúc nghiên cứu...............................................................................................5
B. PHẦN NỘI DUNG.....................................................................................................6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN SƯ PHẠM....................................................................................................6
1.1.
Khởi nghiệp..........................................................................................................6
1.1.1.
Khái niệm khởi nghiệp..................................................................................6
1.1.1.
Những điều kiện cần thiết cho người bắt đầu khởi nghiệp..........................8
1.1.2.
Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả khởi nghiệp.................................13
1.2.
Một số mô hình lý thuyết về khởi nghiệp.........................................................19
1.2.1.
Mô hình bán hàng online............................................................................19
1.2.2.
Mô hình kinh doanh đồ ăn nhanh..............................................................19
1.2.3.
Mô hình làm đồ handmade..........................................................................20
1.2.4.
Mô hình bán rau củ quả sạch......................................................................21
1.2.5.
Mô hình bán, cho thuê sách báo.................................................................22
1.3.
Khởi nghiệp của sinh viên sư phạm.................................................................22
1.3.1.
Đặc điểm của sinh viên sư phạm.................................................................22
1.3.2.
Sinh viên sư phạm với vấn đề khởi nghiệp.................................................23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................................30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI....................................................................31
1
2.1.
Tổng quan về Trường Đại học sư phạm Hà Nội..............................................31
2.1.1.
Một vài nét về Trường đại học sư phạm Hà Nội.........................................31
2.1.2.
Môi trường khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học sư phạm Hà nội. 32
2.2.
Thực trạng khởi nghiệp của sinh viên Đại học sư phạm Hà nội....................34
2.2.1.
Giới thiệu mẫu quan sát..............................................................................34
2.2.2. Phân tích thực trạng khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học sư phạm
Hà Nội ......................................................................................................................34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.................................................................................................41
CHƯƠNG 3: GỢI Ý MỘT SỐ MÔ HÌNH KHỞI NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI....................................................................42
3.1. Giải pháp cho sinh viên và đề xuất một số kiến nghị đối với Trường đại học
sư phạm Hà Nội...........................................................................................................42
3.1.1.
Giải pháp cho sinh viên...............................................................................42
3.1.2.
Kiến nghị đối với Trường Đại học sư phạm Hà nội...................................43
3.2.
Gợi ý một số mô hình khởi nghiệp...................................................................44
3.2.1.
Thuận lợi và khó khăn của sinh viên Trường đại học sư phạm Hà Nội....44
3.2.2.
Mô hình làm đồ handmade..........................................................................45
3.2.3.
Mô hình khởi nghiệp bán hàng online........................................................48
3.2.4.
Mô hình bán rau củ quả sạch......................................................................50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.................................................................................................53
C. KẾT LUẬN...............................................................................................................54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................55
PHỤ LỤC........................................................................................................................ 56
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. 1. Mức độ quan tâm của sinh viên sư phạm đến khởi nghiệp..........................25
Bảng 1. 2. Mong muốn và ý tưởng khởi nghiệp kinh doanh của...................................25
Bảng 1. 3. Những điều kiện cần thiết cho người bắt đầu khởi nghiệp..........................26
Bảng 1. 4. Ảnh hưởng của việc học tập tại trường sư phạm đến...................................27
Bảng 1. 5. Đánh giá những lợi thế và khó khăn của sinh viên sư phạm khi khởi nghiệp
.......................................................................................................................................... 28
Bảng 2. 1. Đặc điểm mẫu quan sát.................................................................................34
Bảng 2. 2. Thực trạng khởi nghiệp của sinh viên Trường đại học sư phạm Hà Nội....35
Bảng 2. 3. Thực trạng khởi nghiệp của sinh viên K66 – K67 – K68..............................36
Bảng 2. 4. Sản phẩm khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội......37
Bảng 2. 5. Đối tượng khách hàng khi khởi nghiệp của sinh viên..................................38
Bảng 2. 6. Nguồn vốn khởi nghiệp của sinh viên Trường đại học sư phạm Hà Nội....39
Bảng 2. 7. Tỷ lệ khởi nghiệp thành công của sinh viên Trường đại học sư phạm Hà
Nội.................................................................................................................................... 40
3
DANH MỤC CÁC BIỂU Đ
Biều đồ 1. 1. Tỷ lệ khởi nghiệp của sinh viên sư phạm..................................................26
Biều đồ 1. 2. Tỷ lệ thuận lợi và khó khăn của sinh viên sư phạm khi khởi nghiệp.......30
Y
Biểu đồ 2. 1. Tỷ lệ khởi nghiệp của sinh viên Trường đại học sư phạm Hà Nội...........35
Biểu đồ 2. 2. Tỷ lệ khởi nghiệp của sinh viên K66 – K67 – K68....................................36
Biểu đồ 2. 3. Thực trạng đối tượng sản phẩm khởi nghiệp của sinh viên.....................38
Biểu đồ 2. 4. Tỷ lệ khởi nghiệp thành công của sinh viên.............................................40
4
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ,
nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay có nhiều cơ hội,
thuận lợi và khó khăn, thách thức mới mà nước ta cần năm bắt để tận dụng thời cơ, vượt
qua thử thách, từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước đi trước. Nước ta có những
thuận lợi rất cơ bản: nền chính trị xã hội ổn định, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
ngày càng cao, đất nước còn nhiều tiềm năng phát triển như tài nguyên thiên nhiên, nguồn
lao động,… Tuy nhiên, lợi thế về lao động đang mất đi nhanh chóng do tác động của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ lần thứ Tư.
Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động ước
tính ở quý 3 năm 2018 là 2,2%, tương đương 1,2 triệu lao động Việt Nam đang thất
nghiệp. Trong đó số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên là 126.900 người và theo
thống kê gần đây nhất được các đại biểu Quốc hội đặt lên bàn nghị sự là có hơn 20.000
sinh viên sư phạm ra trường không có việc làm, đào tạo giáo viên là một trong hai nhóm
ngành có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất, chiếm 19%. Vì vậy, khởi nghiệp là một trong những
lựa chọn tốt nhất cho những ai muốn thay đổi hoàn cảnh, tìm đến sự tự do trong công
việc, đặc biệt là sinh viên. Đối với sự lựa chọn này thì giúp sịnh viên có những kĩ năng
mềm tốt hơn trong cuộc sống, tận dụng được thời gian rảnh để kiếm thêm thu nhập và có
thể tạo dựng được sự nghiệp ngay còn trên ghế nhà trường.
Theo “Đề án hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp” của Bộ Giáo dục và Đào tạo
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của học sinh,
sinh viên và trang bị các kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên trong
thời gian học tập tại các nhà trường và tạo môi trường thuận lợi để hỗ trợ học sinh, sinh
viên hình thành và hiện thực hóa các ý tưởng, dự án khởi nghiệp, góp phần tạo việc làm
cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Học sinh, sinh viên là lực lượng xã hội hùng
hậu, có sức khoẻ, có trình độ học vấn, được đào tạo bài bản, có tiềm năng sáng tạo, có khả
năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Đồng thời sinh viên cũng là người đi đầu
trong các phong trào do Đảng và Nhà nước đề ra, là người tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa
học kỹ thuật của các nước phát triển trên thế giới. Vì thế sinh viên là lực lượng có tiềm
năng lớn và tỷ lệ thành công cao trong khởi nghiệp, sẽ góp phần quan trọng trong nâng
cao hiệu quả khởi nghiệp của sinh viên ở Việt Nam. Cụ thể, đến năm 2020, 100% các
trường đại học, học viện, trường cao đẳng và trường trung cấp có kế hoạch triển khai công
tác hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp; có ít nhất 90% học sinh, sinh viên được trang
bị kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp trước khi tốt nghiệp; 100% các đại học, học viện,
1
trường đại học, 50% các trường cao đẳng, trường trung cấp có ít nhất 02 ý tưởng, dự án
khởi nghiệp của học sinh, sinh viên được hỗ trợ đầu tư từ nguồn kinh phí phù hợp hoặc
kết nối với các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư mạo hiểm. Đến năm 2025, 100% các đại
học, học viện, trường đại học, 70% các trường cao đẳng, trường trung cấp có ít nhất 05 ý
tưởng, dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên được hỗ trợ đầu tư từ nguồn kinh phí
phù hợp hoặc kết nối với các doanh nghiệp, các quỹ đầu tư mạo hiểm.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là ngôi trường có bề dày truyền thống lịch sử, là
trung tâm đào tạo ra các cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ với những nghiên cứu và ứng dụng giáo
dục và đa ngành chất lượng cao, là một trong những ngôi trường trọng điểm trong hệ
thống giáo dục đại học Việt Nam. Trước đây, khi mọi người nhắc tới ngôi trường sư phạm
thì sẽ nghĩ tới ở đó những sinh viên đang học tập tại môi trường này ít năng động, họ
thường tập trung vào học tập nhiều hơn nhưng sinh viên sư phạm đã cho mọi người thấy
rằng họ cũng năng động không thua gì với các sinh viên trường khác. Họ có sự nhiệt
huyết tuổi trẻ, năng động trong công việc và luôn ra sức hoàn thành nó một cách xuất sắc
nhất.
Khi xã hội phát triển theo chiều hướng ngày càng hiện đại hóa hơn thì suy nghĩ của
các sinh viên không chỉ dừng lại ở việc tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể tại môi
trường học tập mà đã có những suy nghĩ mạnh bạo hơn rất nhiều đó là: “khởi nghiệp” và
nhiều sinh viên sư phạm cũng đã có những suy nghĩ táo bạo này. Với mong muốn góp
phần thúc đẩy phong trào khởi nghiệp của sinh viên sư phạm hiện nay, nhóm nghiên cứu
đã lựa chọn đề tài “Đề xuất một số mô hình khởi nghiệp cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội” trong công trình NCKH sinh viên năm 2019.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp trong đó có
không ít đề tài về khởi nghiệp của sinh viên vì đây là lực lượng trẻ có đặc điểm nổi trội về
nhiệt huyết và tính sáng tạo như các nghiên cứu của Blanch Flower và Oswald (1998),
Walstad và Kourilsky (1999), Fairlie (1999), Fairlie và Meyer (2004), Greene (2005)
vv[4]…Tuy nhiên các nghiên cứu này có một số hạn chế sau:
o Tập chung chủ yếu tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển với
các yếu tố mô trường kinh doanh thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp,
cùng với đó là sự đồng bộ và vận hành hiệu quả của kinh tế thị trường.
o Chưa xây dựng được một cách đầy đủ và khoa học mô hình các nhân tố tác
động đến sự khởi nghiệp thành công cũng như khởi nghiệp của sinh viên.
o Các đề xuất đưa ra còn thiếu tính khát thi và khó áp dụng trong tình hình
kinh tế hiện nay ở các quốc gia đang phát triển [9].
2
Ở Việt Nam, đề tài này tuy không mới nhưng những nghiên cứu trước đây chỉ tập
chung nghiên cứu một số khía cạnh như nghiên cứu về sự tác động của một số nhân tố
đến ý định khởi nghiệp hay nghiên cứu trên các đối tượng không phải sinh viên sư phạm
như phụ nữ, thanh niên,…
Luận án tiến sĩ “Một số yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của thanh niên Việt
Nam” (2011) của Nghiên cứu sinh Ngô Quỳnh An đã chỉ ra hai rào cản lớn đối với thanh
niên khi đến với cơ hội tự tạo việc làm và cần phải thay đổi: (1) Chỉ coi tự tạo việc làm là
cứu cánh thất nghiệp và thiếu việc làm chứ chưa phải là một cơ hội sự nghiệp, (2) Thay vì
chỉ cần có “ý tưởng” và “đam mê” thanh niên vẫn cho rằng không có vốn họ không thể tự
tạo việc làm.
Đề tài nghiên cứu của Bùi Huỳnh Tuấn Duy, Lê Thị Lin, Đào Thị Xuân Duyên,
Nguyễn Thu Hiền Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG – HCM về “Nghiên cứu ảnh hưởng
của các yếu tố tính cách cá nhân lên tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên” (2011) đăng
trên Tạp chí KH&CN, tập 14 số Q3- 2011. Kết quả cho thấy có bảy yếu tố tính cách cá
nhân ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên, trong đó ba yếu tố có tác động
dương lên tiềm năng khởi nghiệp là: (1) Nhu cầu thành đạt, (2) Khả năng am hiểu thị
trường, (3) Khả năng thích ứng.
Đề tài nghiên cứu nhóm sinh viên Nguyễn Thu Thủy, Trịnh Thị Khánh Huyền,
Nguyễn Duy Hùng(2015) trường Đại học Kinh tế Quốc dân với tiêu đề: “Khởi nghiệp
của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến
kết quả khởi nghiệp của sinh viên: (1) Tố chất, thái độ và tinh thần doanh nhân, (2) Kiến
thức khởi nghiệp, (3) Kỹ năng khởi nghiệp, (4) Tài chính cho khởi nghiệp, (5) Môi trường
khởi nghiệp. Đề tài cũng đã đưa ra kiến nghĩ nhằm thúc đẩy khởi nghiệp của sinh viên
trên địa bàn Hà Nội.
Luận án Tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Thủy về “Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học” (2015). Luận án
chỉ rõ mức độ tác động cụ thể của từng yếu tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh
doanh của sinh viên đại học, từ đó gợi mở một số hàm ý khuyến nghị cho các cơ sở đào
tạo đại học, các cơ quan quản lý vĩ mô kiểm soát các yếu tố này để thúc đẩy tiềm năng
khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam [10].
Đề tài nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định
khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lao động –
Xã hội” (2016) đăng trên tạp chí khoa học Yersin đã chỉ ra 5 nhân tố tác động đến ý định
khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên: (1) Giáo dục và đào tạo của trường Đại học, (2)
Kinh nghiệm và trải nghiệm, (3) Gia đình và bạn bè, (4) Tính cách cá nhân, (5) Nguồn
vốn.
3
Đề tài nghiên cứu của Ngô Thị Thanh Tiên, Cao Quốc Việt về “Tổng quan lý
thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh viên” đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Mở
TP.HCM (số 50 (5) 2016). Kết quả tổng quan cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định
khởi nghiệp của sinh viên trong các nghiên cứu trước được phân loại thành các nhóm yếu
tố: (1) chương trình giáo dục khởi nghiệp, (2) môi trường tác động, (3) động cơ, (4) tính
cách, (5) tư duy, (6) thái độ, (7) giới tính.
Nói tóm lại, các nghiên cứu này chủ yếu đi vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến khởi nghiệp của thanh niên, sinh viên và đề xuất một số giải pháp mà chưa có đề tài
nào đánh giá thực trạng khởi nghiệp của sinh viên sư phạm cũng như chưa đưa ra những
mô hình nhằm nâng cao tiềm năng và thúc đẩy khởi nghiệp của đối tượng này.
Trước thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu “Đề xuất một số mô hình khởi nghiệp cho
sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” sẽ tập trung vào việc phân tích hiện trạng
khởi nghiệp của sinh viên sư phạm từ đó sẽ đưa ra một số mô hình khởi nghiệp để sinh
viên nâng cao hiểu biết trang bị các kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp cho bản thân.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về khởi
nghiệp, đánh giá thực trạng khởi nghiệp của sinh viên sư phạm, từ đó gợi ý một số mô
hình khởi nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận về khởi nghiệp và khởi nghiệp của sinh viên sư phạm.
- Đánh giá thực trạng khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội
- Đề xuất một số mô hình khởi nghiệp cho sinh viên trường Đại học sư phạm Hà
nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số mô hình khởi nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Trong phạm vi đề tài nhóm tác giả chỉ nghiên cứu một số
mô hình khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Phạm vi khảo sát: Nhóm tác giả tiến hành khảo sát nhóm 250 sinh viên từ năm
nhất đến năm 3 trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
5. Những luận điểm cơ bản và những đóng góp mới của đề tài
5.1. Những luận điểm cơ bản
- Luận giải cơ sở lý luận về khởi nghiệp và khởi nghiệp của sinh viên sư phạm
(khái niệm, người khởi nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng,…)
- Điều tra thực trạng hiểu hiết của sinh viên sư phạm về khởi nghiệp và thực
trạng khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Đề xuất một số mô hình khởi nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà
nội.
4
5.2.
Những đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá thực trạng khởi nghiệp của sinh viên sư phạm nói riêng và trường Đại
học Sư phạm Hà Nội nói riêng.
- Gợi ý, đề xuất, đưa ra một số mô hình khởi nghiệp mà sinh viên trường Đại
học sư phạm Hà nội có thể áp dụng để khởi nghiệp.
- Đề tài có thể làm tài liệu cho những ai quan tâm đến vấn đề khởi nghiệp của
sinh viên sư phạm.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như: phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử...
- Các phương pháp cụ thể : khảo sát, thống kê, phỏng vấn, điều tra bằng bảnh
hỏi, phân tích – tổng hợp,…..
7. Cấu trúc nghiên cứu
Nghiên cứu bao gồm 3 nội dung chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết
luận. Phần nội dung gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Cở sở lý luận về khởi nghiệp và khởi nghiệp của sinh viên sư phạm
Chương 2: Thực trạng khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội
Chương 3: Đề xuất một số mô hình khởi nghiệp cho sinh viên trường Đại học sư
phạm Hà nội
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN SƯ PHẠM
1.1. Khởi nghiệp
1.1.1. Khái niệm khởi nghiệp
Khi tiếp cận và nghiên cứu về khởi nghiệp, nhóm nghiên cứu tìm thấy rất
nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa khái niệm “khởi nghiệp”.
Từ điển Soha và Cồ Việt: Khởi nghiệp là bắt đầu sự nghiệp.
Theo Wikipedia: Khởi nghiệp (tiếng Anh là: startup hoặc start-up) là thuật
ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung
(Startup company), nó thường được dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ
trong giai đoạn lập nghiệp. Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung
cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.
Với Neil Blumenthal - đồng sáng lập và là CEO của Warby Parker thì “Mọi
doanh nghiệp khởi nghiệp là một công ty đang hoạt động để giải quyết một vấn đề
5
khi mà điều đó còn chưa rõ ràng và thành công thì không được đảm bảo” [6].
Khởi nghiệp với Adora là “Khi nhiều người cùng tham gia trong công ty của bạn
và theo đuổi những quyết định mạo hiểm và từ bỏ sự ổn định, để đổi lại những lời
hứa về sự tăng trưởng trong tương lai và sự phấn khích trong công việc” [6]. Trong
American Heritage Dictionary, ta cũng có thể tìm thấy định nghĩa tương tự như vậy
“khởi nghiệp là một doanh nghiệp đang bắt tay vào hoạt động” [6].
Khởi nghiệp là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo,
luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại
(Bird, 1988); hay Khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ
đó phát triển các ý tưởng nhằm tạo dựng một doanh nghiệp mới (Shapero, 1982)
[4].
Đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp được diễn đạt là quá trình tạo dựng
một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp
đó. Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp
riêng (Learned, 2002)
Theo ThS. Nguyễn Thị Hà Thanh, trường Đại học Nguyễn Tất Thành, khởi
nghiệp (theo nghĩa hẹp) là giai đoạn đầu một cá nhân, nhóm cá nhân có ý tưởng
kinh doanh và tìm cách gây dựng một tổ chức, doanh nghiệp để triển khai ý tưởng
kinh doanh đó trong các điều kiện thiếu chắc chắn. Ý tưởng kinh doanh có thể đơn
giản là một hoạt động buôn bán những sản phẩm có trên thị trường hoặc cũng có
thể là ý tưởng về việc tự sản xuất một sản phẩm mới, cung cấp một dịch vụ mới có
khả năng đáp ứng một nhu cầu nào đó của xã hội [13].
Còn theo nghĩa rộng, khởi nghiệp là hành trình nỗ lực và phấn đấu để triển
khai một ý tưởng có khả năng tạo ra “giá trị mới” cho bản thân, cộng đồng, xã hội
trong các điều kiện thiếu chắc chắn vào thực tế. Ý tưởng Khởi nghiệp theo nghĩa
rộng này có thể là 1 kế hoạch giúp phát triển bản thân (như học tiếng Anh; rèn
luyện thể thao; ..); có thể là một sáng kiến giúp cải thiện một quy trình làm việc, ý
tưởng về các hoạt động mang lại lợi ích cho cộng đồng, tổ chức nơi cá nhân đó
đang sinh sống, làm việc; hoặc ý tưởng về vận hành một câu lạc bộ, hội nhóm sở
thích, phục vụ cộng đồng; hoặc ý tưởng về việc triển khai các Dự án bảo vệ môi
trường, giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội[13];…
Theo nhóm nghiên cứu Nguyễn Thu Thủy trong “Khởi nghiệp của sinh viên
trên địa bàn Hà Nội” (2015): Khởi nghiệp là việc một cá nhân (một mình hoặc
cùng người khác) tân dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh
mới[9].
6
“Khởi nghiệp kinh doanh có thể là thành lập một doanh nghiệp mới hoặc có
thể là kinh doanh trong một doanh nghiệp đang hoạt động (đổi mới, sáng tạo),
nhằm theo đuổi những quyết định mạo hiểm và từ bỏ sự ổn định, để đổi lại những
lời hứa về sự tăng trưởng trong tương lai và sự phấn khích trong công việc”(Phạm,
2015) [6].
Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động thì cho rằng khởi nghiệp là sự
lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho
mình, khởi nghiệp là tự tạo việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, là tự làm chủ,
tự tạo doanh nghiệp và thuê người khác làm việc cho mình.
Theo Diễn đàn Doanh nghiệp, Khởi nghiệp tức là bạn đã ấp ủ một công việc
kinh doanh riêng, thường thì bạn sẽ thành lập một doanh nghiệp mà tại đó bạn là
người quản lý, là người sáng lập hoặc đồng sáng lập. Việc cung cấp những sản
phẩm mới, dịch vụ mới hay thậm chí kinh doanh những mặt hàng đã có mặt trên
thị trường nhưng theo ý tưởng có riêng mình... đều được gọi là khởi nghiệp[3].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu cho rằng: Khởi
nghiệp là việc một người hay một nhóm người tận dụng cơ hội thị trường và năng
lực bản thân để tự mình có một công việc kinh doanh riêng, tự mình làm và quản
lý, tự kiếm thêm thu nhập cho mình bằng cách mua bán lại hoặc cung cấp và phát
triển một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó ra thị trường
Người có tiềm năng khởi nghiệp là người sáng tạo, linh hoạt trong mọi
hoàn cảnh, dám nghĩ dám làm, biết năm bắt cơ hội, đam mê làm giàu, có khả năng
nắm bắt các kiến thức, công nghệ mới và các cơ hội kinh doanh mà mà họ nhìn
nhận được
Có 2 đặc điểm của khởi nghiệp chính là (theo Wikipedia) :
o Tính đột phá: tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra
một giá trị tốt hơn so với những thứ đang có sẵn, chẳng hạn như có thể tạo
ra một phân khúc mới trong sản xuất (như thiết bị thông minh đo lường sức
khoẻ cá nhân), một mô hình kinh doanh hoàn toàn mới (như AirBnb), hoặc
một loại công nghệ độc đáo, chưa hề thấy (như công nghệ in 3D).
o Tăng trưởng: Một công ty khởi nghiệp (Startup) sẽ không đặt ra giới hạn
cho sự tăng trưởng, và họ có tham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể.
Họ tạo ra sự ảnh hưởng cực lớn, có thể được xem là người khai phá thị
trường (như điện thoại thông minh Apple là công ty đầu tiên khai phá và
luôn dẫn đầu trong mảng đó sau này)
1.1.1. Những điều kiện cần thiết cho người bắt đầu khởi nghiệp
7
Để bắt đầu khởi nghiệp, người khởi nghiệp cần có những phẩm chất, năng
lực và những điều kiện cần thiết như năng lực sáng tạo; vốn; kiến thức chuyên
môn; kinh nghiệm bản thân; kỹ năng nghiên cứu thị trường; kỹ năng quản lý tài
chính; kỹ năng lập kế hoạch; sự kiên trì.
1.1.1.1. Năng lực sáng tạo
Sáng tạo và đổi mới là một xu hướng tất yếu trong hoạt động kinh doanh
toàn cầu, trong đó khả năng sinh lời của tiền vốn, máy móc hay cơ bắp là hữu hạn,
nhưng giá trị của trí tuệ, sáng tạo là vô cùng to lớn, góp phần tạo sự đột phá và
quyết định khả năng thành công của khởi nghiệp [2].
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nhấn mạnh tại Fetival Khởi nghiệp
2009: “Muốn xây dựng và thực hiện được ý tưởng kinh doanh, đầu tư hoặc muốn
xây dựng dự án các bạn trẻ phải vận dụng sáng tạo lý thuyết đã học vào thực tiễn,
phải năng động, mạnh dạn và phải nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè, của
các tổ chức và các DN”
Chính việc sáng tạo sẽ giúp các bạn trẻ thu hẹp khoảng cách về tuổi đời,
kinh nghiệm, nguồn vốn… cũng như các cơ hội kinh doanh so với các lớp doanh
nhân đi trước. Việc sáng tạo kết hợp với ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ sẽ
tạo ra sự bứt phá và những bước nhảy vọt, mang tới thành công cho những người
trẻ tuổi khởi sự kinh doanh.
Khi đưa ra kế hoạch phát triển kinh doanh của riêng mình không nhất thiết
đó phải là kế hoạch, ý tưởng hoàn toàn mới chưa ai biết đến hay là những kế
hoạch, ý tưởng mà mọi người chưa từng nghĩ tới mà ở đây có thể dựa vào kế
hoạch, ý tưởng đã được mọi biết đến nhưng cùng sự sáng tạo của bản thân để tạo
ra những bước đột phá và lợi thế cạnh tranh riêng của bản thân mình.
Trong kế hoạch kinh doanh, sự khác biệt và đột phá về mặt sản phẩm hay
dịch vụ kinh doanh cung cấp sẽ là điểm tựa quan trọng cho bạn khi cạnh tranh
trong thị trường khốc liệt. Trên thị trường hiện nay đối với người mới bắt đầu khởi
nghiệp thì việc cạnh tranh sản phẩm là rất khó nếu lại chỉ đưa những sản phẩm quá
quen thuộc, không có sự khác biệt hay nói cách khác thay vì cạnh tranh, tranh
giành miếng bánh so với các đối thủ lớn trên thị trường, họ ra đời lâu hơn, kinh
nghiệm về tiếp xúc với thị trường tốt hơn, nguồn của họ luôn được đảm bảo thì
chúng ta có thể tự tạo ra miếng bánh mới – trong đó người dẫn đầu nó là chúng ta
[2].
Vì vậy, sáng tạo là yếu tố rất quan trọng đối với tất cả mọi người nói chung
và đối với người bắt đầu khởi nghiệp nói riêng.
8
1.1.1.2. Nguồn vốn
Theo nghĩa hẹp thì: “vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp, mỗi quốc gia” [7].
Theo nghĩa rộng thì: “vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí
để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức
kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý
và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong
doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp” [7].
Vốn là một yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện
vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng như trong khởi nghiệp.Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề cho doanh
nghiệp có thể thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nếu không
có vốn sẽ không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cả.
Về mặt pháp lý, tất cả các doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào, để
được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết cần phải có lượng vốn cần thiết
tối thiểu theo quy định của nhà nước hay còn gọi là vốn pháp định.
Hầu hết các doanh nhân trẻ đều sử dụng tài trợ của cha mẹ và anh em, bạn
bè trong giai đoạn đầu khởi nghiệp, đây là nguồn tài chính quan trọng nhất (Lê
Quân, 2007). Nguồn vốn có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp kinh doanh
(Amou & Alex, 2014; Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên, 2015) [4].
Ngoài ra, các doanh nhân trẻ khi khởi nghiệp có thể gọi vốn từ cộng đồng
(crowdfunding) - là một hình thức gây quỹ tập thể mà theo đó những cá nhân đóng
góp tiền của họ, thường là thông qua Internet, để hỗ trợ cho các dự án hoặc sáng
kiến do người khác hoặc tổ chức khác khởi xướng. Hoặc các startup đều phải gọn
vốn từ các Nhà đầu tư thiên thần (angel investors - là những người sẵn sàng đầu tư
từ rất sớm khi tất cả những gi bạn có chỉ là ý tưởng và họ đầu tư vào bạn hơn là
cho công ty của bạn) và Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital - công việc của họ
là tìm kiếm các thương vụ tốt và đầu tư vào một vài thương vụ mà họ nghĩ rằng sẽ
thu lại nhiều tiền nhất cho các Thành viên trách nhiệm hữu hạn).
Nói tóm lại, nguồn vốn khởi nghiệp chính là nguồn nuôi dưỡng cho kế
hoạch kinh doanh và là một đòn bẩy cho việc kinh doanh của người khởi nghiệp.
1.1.1.3. Kiến thức chuyên môn
Muốn làm bất cứ ngành nghề gì cũng cần phải nắm vững kiến thức chuyên
môn, cơ bản về ngành đó. Kiến thức chuyên môn là những kiến thức nền tảng, các
nguyên lý chủ yếu mang tính lý thuyết và chính là cơ sở giúp con người phát triển
9
khi tham gia các ngành nghề. Có thể ví dụ kiến thức chuyên môn về kế toán bao
gồm: các nghiệp vụ phát sinh, phương pháp tính giá thành sản phẩm, lập bảng báo
cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,…hay bạn muốn khởi nghiệp
bằng cách mở phòng thu âm cho ca sĩ bạn cần phải có những kiến thức cơ bản
trong thanh nhạc, cách mix nhạc và biết sử dụng một số nhạc cụ cơ bản... Hay bạn
muốn trở thành một nhà buôn thời trang lớn bạn cần có những kiến thức cơ bản về
xu hướng thời trang, về bán hàng …
Việc hiểu và nắm vững kiến thức chuyên môn về lĩnh vực đang kinh doanh hoặc
đang có ý định kinh doanh như sản phẩm, công nghệ, thị trường,...đó cũng là một bước
đệm cơ bản giúp tránh khỏi những thất bại trong việc thiếu môn và những lý do ngoài ý
muốn. Vì thế khi có ý tưởng về khởi nghiệp thì nên tìm hiểu kĩ và cố gắng trang bị đầy đủ
về những kiến thức có liên quan đến lĩnh vực đang muốn khởi nghiệp.
Các nghiên cứu cho thấy rằng các nhà lãnh đạo giỏi nhất biết rất nhiều về lĩnh vực
mà họ đang lãnh đạo, và một phần tạo nên thành công trong vai trò chỉ đạo của họ chính
là năng lực chuyên môn hay kiến thức chuyên ngành. Ví dụ, các bệnh viện do các bác sỹ
quản lý sẽ hoạt động tốt hơn các bệnh viện do những người không có chuyên ngành y tế
quản lý.
Kiến thức chuyên môn cực kỳ cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong quá trình
khởi nghiệp.
1.1.1.4. Kỹ năng nghiên cứu thị trường
Khách hàng của bạn là ai? Khách hàng đang cần gì, muốn gì? Cần làm gì để
biết được phản hồi của khách hàng về sản phẩm kinh doanh của mình? Đối thủ
cạnh tranh của bạn phát triển như thế nào? …. Đây chính là công việc nghiên cứu
thị trường của những doanh nghiệp, công ty nói chung và những người khởi nghiệp
nói riêng.
Nghiên cứu thị trường sẽ cung cấp cho người khởi nghiệp những thông tin
quan trọng về thị trường mà mình hoạt động. Ngoài ra, việc này giúp khởi nghiệp
phát triển kế hoạch kinh doanh và thích ứng với thị trường hiện tại và tương lai.
Khi nghiên cứu thị trường những yếu tố được ưu tiên [3]:
-
Xu hướng thị trường, mức độ hấp dẫn, mức độ cạnh tranh, xu hướng bán hàng.
Vị trí địa lý, khách hàng điển hình, khách hàng tiềm năng.
Kiểm tra xung quanh có ai đang thực hiện việc kinh doanh với mặt hàng mình định
kinh doanh.
1.1.1.5. Kỹ năng quản lý tài chính
10
Đây là kỹ năng cực kỳ quan trọng với người khởi nghiệp. Quá trình bắt đầu
khởi nghiệp sẽ cần một số vốn nhất định hoạt động dù hoạt động đó chưa cho ta
doanh thu ngay được[3]. Kỹ năng quản lý tài chính sẽ giúp người khởi nghiệp:
Một là, đảm bảo đầy đủ và kịp thời nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động khởi nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của mô hình khởi nghiệp cũng
như cho đầu tư phát triển, vì vậy người khởi nghiệp cần phải có kỹ năng quản lý tài
chính để tránh trường hợp hoạt động khởi nghiệp cuat mình không có vốn, tài
chính để phát triển.
Hai là, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Hiệu quả hoạt động kinh
doanh khởi nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn, việc huy động
tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được
những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ
đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay.
Ba là, giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thông qua các hình thức, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các
chỉ tiêu tài chính, người khởi nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được
các mặt hoạt động kinh doanh, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc
trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù
hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.
Đây là một kỹ năng cực kỳ quan trọng đối với người khởi nghiệp, Vì thế,
cần có kế hoạch chi tiêu tiết kiệm, hợp lý ngay từ giai đoạn đầu cũng như trong
suốt quá trình phát triển sau này của khởi nghiệp.
1.1.1.6. Kỹ năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch giúp người khởi nghiệp tư duy có hệ thống để tiên liệu các
tình huống quản lý, phối hợp mọi nguồn liệu của tổ chức hữu hiệu hơn, tập chung
vào các mục tiêu và chính sách chính, nắm vững các nhiệm vụ cơ bản để thực hiện
hợp lý, sẵn sàng ứng phó và đối phó với những thay đổi của môi trường bên ngoài,
…
Lập kế hoạch chiến lược là bước quan trọng trong khởi nghiệp. Khi lập kế
hoạch cụ thể thì sẽ giúp bắt đầu một cách thuận lợi hơn, sẽ xác định được phương
hướng hay cách thức để thực hiện ý tưởng đó một cách hợp lý, logic nhất, tránh
được một số rủi ro không đáng có có thể xảy ra.
1.1.1.7. Kinh nghiệm bản thân
11
Kinh nghiệm (experience), hay trải nghiệm, là tri thức hay sự thông thạo về
một sự kiện hay một chủ đề có được thông qua tham gia sự can dự hay tiếp xúc
trực tiếp. Trong triết học, những thuật ngữ như "tri thức thực chứng" hay "tri thức
tiên nghiệm," được dùng để chỉ tri thức có được dựa trên kinh nghiệm (theo
Wikipedia).
Thandi & Sharma (2004), đã chứng minh rằng sinh viên đã có kinh nghiệm
ít nhất là năm năm làm việc là những người chuẩn bị tốt hơn cho dự án kinh doanh
so với những người có ít hoặc không có kinh nghiệm làm việc. Các trải nghiệm cá
nhân tác động tích cực đến mong muốn và sự tự tin khởi sự kinh doanh (Nguyễn
Thu Thủy, 2015) [9].
Theo một thống kê từ 100 người đã khởi nghiệp trong 02 năm trở lại đây
thì 80% đứng trước nguy cơ giải thể trong năm đầu tiên hoạt động. Nguyên nhân
chính xuất phát từ việc thiếu vốn (chiếm 40%); thiếu kiến thức về quản trị điều
hành doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 50%), thiếu kinh nghiệm thực tế trong môi
trường kinh doanh (chiếm 30%)[11].
Như vậy, kinh nghiệm của bản thân cũng có vai trò quan trọng đối với
người bắt đầu khởi nghiệp. Khi có kinh nghiệm, bản thân người khởi nghiệp sẽ có
những cách cư xử đúng đắn trong kinh doanh, sẽ biết thị trường đang cần gì mà
cung ứng, sẽ biết cách tự quản lý tài chính cá nhân cũng như doanh nghiệp, sẽ biết
cách quảng cáo sản phẩm của mình, …
1.1.1.8. Sự kiên trì
Kiên trì là nhân tố quan trọng bởi vì trong quá trình khởi nghiệp không phải
ai cũng thành công ngay lần đầu, có những người thất bại rất nhiều lần nhưng họ
không bỏ cuộc, họ tìm ra sai sót trong quá trình khởi nghiệp trước của mình để rút
kinh nghiệm và từ đó họ bắt đầu khởi nghiệp cho lần tiếp theo để thực hiện được ý
tưởng của mình [3]. Chính sự quyết tâm và lòng kiên trì trong con người đó mà
mới có câu: “ Thất bại là mẹ thành công”. Thực tế trên lĩnh vực nào cũng thế thì đã
có rất nhiều người thành công dù trước đó số lần họ thất bại không phải là ít. Họ
vượt qua mọi trở ngại, khó khăn để đạt được niềm đam mê của bản thân.
Nhất là khi sinh viên khởi nghiệp, sự kiên trì rất cần thiết. Nhiều sinh viên
sẽ thấy nản khi bắt đầu khởi nghiệp. Sinh viên sẽ rất dễ nản lòng về ý tưởng khởi
nghiệp và nguồn vốn ban đầu. Sẽ thấy được sự mất kiên trì nhất khi lần khởi
nghiệp đó không thành công, các bạn sẽ nghĩ mình không có năng khiếu trong lĩnh
vực kinh doanh và dễ dàng từ bỏ nó. Từ đó, khi đã có ý định thử sức với khởi
12
nghiệp thì cần tập tính kiên trì, cố gắng hơn người khác để thực hiện ý tưởng, mục
tiêu đặt ra
Ngoài những nhân tố được nêu trên thì những kỹ năng mềm: quản lý thời
gian, quản lý cảm xúc, giao tiếp khách hàng,...cũng là một nhân tố không thể thiếu.
Kỹ năng mềm tuy không quyết định đến sự thành công của việc khởi nghiệp nhưng
nó là nhân tố hỗ trợ sự thành công trong quá trình khởi nghiệp và nó tạo thế chủ
động trong việc giải quyết những tình huống khó khăn( giao tiếp với khách hàng,
giao tiếp với bên cung cấp sản phẩm,...) có thể gặp phải.
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả khởi nghiệp
Một nghiên cứu công bố tại Diễn đàn Khởi nghiệp trẻ 2017 cho biết, Việt
Nam đang đứng đầu thế giới về Chỉ số tinh thần khởi nghiệp.
Khảo sát về tinh thần khởi nghiệp (AGER) tại 45 quốc gia với 50.861 người
từ 14 tuổi trở lên vừa được công bố bởi sự phối hợp thực hiện của Tập đoàn
Amway, Đại học Technische Universitat Munchen (TUM) và công ty nghiên cứu
thị trường GFK. Đáng chú ý, theo báo cáo này, Việt Nam đứng đầu thế giới về Chỉ
số tinh thần khởi nghiệp (AESI) và đứng thứ hai về Thái độ tích cực đối với khởi
nghiệp[14].
Cụ thể, 91% người Việt được hỏi cho biết họ xem chuyện bắt đầu một công
việc kinh doanh mới như một cơ hội nghề nghiệp đáng ao ước. 95% có thái độ tích
cực với tinh thần khởi nghiệp, làm chủ. Đồng thời, 96% cho rằng họ hoàn toàn
cảm thấy thoải mái với việc tìm kiếm và thu hút khách hàng tiềm năng. Ngoài ra,
76% trả lời lý do muốn khởi nghiệp là “để được độc lập trong kinh doanh và tự chủ
trong công việc kinh doanh của mình”. Để được độc lập trong kinh doanh là lý do
chính người Việt muốn khởi nghiệp [14].
Theo số liệu công bố của nhà nước, trong những năm gần đây, số lượng các
công ty mới thành lập bình quân khoảng 80.000 doanh nghiệp/năm nhưng cũng đã
có bình quân khoảng 50.000 công ty ngừng hoạt động/mỗi năm. Vì sao số lượng
doanh nghiệp ngừng hoạt động lại lên đến 62,5% số doanh nghiệp được thành lập?
những nhân tố nào ảnh hưởng đến kết quả khởi nghiệp?
Dựa trên những tài liệu đọc và tham khảo, nhóm nghiên cứu đưa ra một số
nhân tố ảnh hưởng đến kết quả khởi nghiệp: (1) Tố chất, thái độ và tinh thần doanh
nhân của người khởi nghiệp; (2) Vốn khởi nghiệp; (3) Môi trường khởi nghiệp; (4)
Kiến thức kinh doanh
1.1.2.1.
Tố chất, thái độ và tinh thần doanh nhân của người khởi nghiệp
13
Không phải là ý tưởng hay kế hoạch kinh doanh bài bản, điều mà các nhà
đầu tư quan tâm đầu tiên chính là tố chất những người sáng lập dự án. Để khởi
nghiệp thành công, người khởi nghiệp đầu tiên phải có những tố chất, thái độ và
tinh thần của một doanh nhân như khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, thái độ
chấp nhận rủi ro và ý tưởng đổi mới – sáng tạo, tố chất lãnh đạo, quản lý, giao
việc,…
Khởi nghiệp có đặc điểm chính là tính đột phá – nghĩa là tạo ra một điều gì
đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ
đang có sẵn. Sự vượt trội không bao giờ chỉ là vô tình, đó là kết quả của sự chú
tâm cao độ, nỗ lực tận tâm, định hướng thông minh, thực hành khéo léo, và tầm
nhìn để thấy được cơ hội trong trở ngại. Có thể những cơ hội đó không hiện rõ
trước mắt, có thể nó xuất hiện một cách bất ngờ, song bạn có thành công hay
không đều phụ thuộc vào khả năng nắm bắt được sự bất ngờ ấy của bạn. Đứng
trước cơ hội, người khởi nghiệp (nhà lãnh đạo) nếu không chớp thời cơ thì cũng có
thể khiến công ty khởi nghiệp của bạn phá sản hay thất bại. Chính vì vậy, người
khởi nghiệp phải có khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh.
Theo Neil Blumenthal - đồng sáng lập và là CEO của Warby Parker thì
“Mọi doanh nghiệp khởi nghiệp là một công ty đang hoạt động để giải quyết một
vấn đề khi mà điều đó còn chưa rõ ràng và thành công thì không được đảm
bảo”[6]. Khởi nghiệp đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro bởi khả năng thành
công của khởi nghiệp không được đảm bảo. Không một người khởi nghiệp nào
dám chắc chắn mô hình khởi nghiệp của mình thành công 100% vì vậy người khởi
nghiệp cần phải lựa chọn giữa chấp nhận rủi ro hoặc từ bỏ khởi nghiệp. Có rất
nhiều người đã có ý tưởng khởi nghiệp, đã lên kế hoạch khởi nghiệp nhưng vì “sợ”
– sợ thất bại, sợ mình sẽ không còn gì, sợ bị người khác cười chê,… mà đã từ bỏ ý
tưởng khởi nghiệp của chính bản thân mình.
Ngoài khả năng biết nắm bắt cơ hội với một tinh thần dám chấp nhận rủi ro
thì một ý tưởng sáng tạo – đổi mới là một điều ảnh hưởng rất lớn đến kết quả khởi
nghiệp. Chúng ta cần hiểu khái niệm startup tương ứng với khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo. Có nghĩa là phải khởi nghiệp từ những ý tưởng mới, những mô hình mới,
hình thức kinh doanh mới, những kết quả khoa học và công nghệ mới để nhanh
chóng phát triển doanh nghiệp và cạnh tranh trên toàn cầu. Ðây chính là sự khác
biệt với lập nghiệp, khởi nghiệp thông thường.
Kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu đã thu được một số ý kiến của các
bạn sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã khởi nghiệp về những nguyên
14
nhân thất bại như: thiếu sự kiên trì, quản lí nguồn vốn và lãi không tốt, ý tưởng còn
hời hợt,...
1.1.2.2.
Vốn khởi nghiệp
Vốn luôn được xem là “dòng máu” duy trì tất cả các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Bởi vậy mà nếu dòng tiền tắc
nghẽn, doanh nghiệp sẽ không đủ tiền cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì sẽ
phải bù đắp bằng dòng tiền đầu tư, hoặc dòng tiền hoạt động tài chính.
Đây chính là bài toán dòng tiền, có thể xảy ra ở bất kỳ doanh nghiệp nào, dù
ở quy mô lớn hay nhỏ, đặc biệt là những doanh nghiệp khởi nghiệp còn thiếu kinh
nghiệm trong quản trị dòng tiền.
Vốn là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Căn cứ để xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, đảm bảo cho sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Cơ sở quan trọng đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh
nghiệp trước pháp luật .
Tiềm lực kinh tế, yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh
doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi
đảm bảo cho doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển.
Trong quá trình khởi nghiệp người khởi nghiệp cần phải hoạch định rõ
lượng vốn bỏ ra và lượng vốn thu hồi lại. Quản lí tài chính một cách chặt chẽ cũng
là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới sự thành công khi khởi nghiệp. Tài
chính là nhân tố ảnh hưởng khá lớn tới vấn đề khởi nghiệp thành công hay thất bại.
Không phải cứ lượng vốn đổ vào một ý tưởng khởi nghiệp nhiều là ý tưởng đó
thành công và ngược lại. Để sử dụng tốt nguồn vốn và phát triển lượng vốn đó
người khởi nghiệp cần phát triển ý tưởng khởi nghiệp của mình, thu hút nguồn vốn
từ bên ngoài cho quá trình khởi nghiệp
Theo kết quả khảo sát, một số sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội có
tham gia khởi nghiệp đã nêu nguyên nhân dẫn đến việc khởi nghiệp của bản thân
thất bại là do: nguồn vốn hạn hẹp và cách quản lí tài chính chưa tốt. Vì vậy, nhóm
nghiên cứu nhận thấy nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp thành công là tài chính
và quản lý tài chính.
1.1.2.3.
Môi trường khởi nghiệp
15
Pruett & cs. (2009) chứng minh “văn hóa/quốc gia”, “yếu tố xã hội”,“tấm
gương điển hình trong khởi nghiệp”, “sự ủng hộ của gia đình”, “thiên hướng khởi
nghiệp” tác động kết quả khởi nghiệp. Chand & Ghorbani (2011) cho rằng sự khác
nhau về văn hóa quốc gia dẫn đến việc thành lập và quản lý doanh nghiệp theo
những cách khác nhau (cách quản lý tài chính, cách kiểm soát, huấn luyện nhân
viên…). Văn hóa quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và sử
dụng vốn xã hội. Vì vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau thì ý định khởi nghiệp của sinh
viên sẽ khác nhau. Sesen (2013) phân tích sâu hơn mô hình Schwarz ở khía cạnh
các yếu tố môi trường bao gồm “thông tin kinh doanh”, “mối quan hệ xã hội” và
“môi trường khởi nghiệp ở trường đại học”. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoại trừ
các yếu tố như “khả năng tiếp cận vốn”, “môi trường khởi nghiệp ở trường đại
học”, các yếu tố còn lại như “ thông tin kinh doanh”, “mối quan hệ xã hội”, “môi
trường khởi nghiệp ở trường đại học” có ảnh hưởng đến kết quả khởi nghiệp.
Nghiên cứu của Pablo-Lerchundi & cs (2015) về sự ảnh hưởng của nghề nghiệp
cha mẹ lên sự chọn lựa nghề nghiệp của con cái đã đưa ra kết luận: cha mẹ tự kinh
doanh là tấm gương điển hình về khởi nghiệp và thúc đẩy ý định khởi nghiệp, cha
mẹ làm việc cho các khu vực công không phải là tấm gương khởi nghiệp cho con
và cản trở ý định khởi nghiệp[5]. Chưa thấy các nghiên cứu tiếp theo kiểm định
điều này. Các kết quả trên cho thấy môi trường tác động đến ý định khởi nghiệp ở
mỗi quốc gia rất khác nhau.
Văn hóa, chính trị, cơ chế chính sách khác biệt nhau giữa các quốc gia cũng
có thể dẫn đến ý định khởi nghiệp khác biệt nhau của sinh viên. Một quốc gia có
nền chính trị, văn hóa ổn định, có những chính sách tạo điều kiện cho người khởi
nghiệp sẽ là một trong những yếu tố bên ngoài tác động tích cực đến kết quả khởi
nghiệp.
Môi trường khởi nghiệp Việt Nam: Không có cơ chế tài chính phù hợp cho
doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là những khởi nghiệp có tính đột phá, thí dụ
trong lĩnh vực công nghệ, nhất là công nghệ thông tin. Về yếu tố thị trường, vấn đề
lại nằm ở chỗ, cơ hội kinh doanh thì tồn tại, song để hiện thực hóa, phải có ý tưởng
về sản phẩm, dịch vụ, khả năng thực thi, sự hiểu biết thị trường... Vấn đề này có
nguyên nhân không hẳn là từ việc thiếu những quỹ hỗ trợ hay đầu tư phù hợp, mà
ở chỗ Việt Nam thiếu hẳn một hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tài chính
khởi nghiệp. Hậu quả của sự thiếu hệ thống pháp luật như vậy là sự thiếu định
hướng chiến lược của các quỹ hỗ trợ hiện có, quỹ hỗ trợ và đầu tư của Việt Nam
không ra đời và phát triển. Trong môi trường khởi nghiệp này, nhà nước hơn ai hết,
16
lại là nhân tố có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất, với quyền năng xây dựng chính
sách, pháp luật để thúc đẩy các yếu tố khác, trong đó việc tạo ra các quỹ hỗ trợ hay
quỹ đầu tư không nhất thiết phải là nhiệm vụ hàng đầu. Nhà nước chính là “yếu tố
ngoại vi” có tác động hết sức quan trọng, thậm chí có tính quyết định, đối với các
yếu tố cơ bản của khởi nghiệp thành công.
Như vậy có thể kết luận rằng: môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả khởi nghiệp. Khi môi trường khởi nghiệp có biến động sẽ khiến
khởi nghiệp gặp nhiều khó khăn và ngược lại, khi môi trường khởi nghiệp ổn định
sẽ tạo điều kiện cho khởi nghiệp phát triển nhanh hơn.
1.1.2.4.
Kiến thức kinh doanh
Để khởi nghiệp thành công, bên cạnh những kiến thức chuyên môn, các bạn
trẻ cần phải có những kiến thức cơ bản về kinh doanh
Đầu tiên, người khởi nghiệp phải nắm được các bước cơ bản để bắt đầu
kinh doanh khởi nghiệp. Ý tưởng kinh doanh là điều quan trọng đầu tiên: Hãy chắc
chắn ý tưởng kinh doanh của bạn có những yếu tố sau: (1) Yếu tố khác biệt (2) Yếu
tố phù hợp (3) Yếu tố triển vọng. Bước tiếp theo cần phải xác định mô hình kinh
doanh, xác định kinh doanh tự thân hay hợp tác với ai. Sau đó, xây dựng chiến
lược marketing và áp dụng “kiếm tiền trước, phát triển sau” và luôn luôn chủ động
học hỏi để phát triển bản thân.
Thứ hai, người khởi nghiệp phải hiểu biết pháp luật. Đa số các nhà khởi
nghiệp đều vướng mắc pháp lý và lúng túng trong khâu quản lý công việc dẫn đến
những hậu quả khó lường đáng tiếc. Việc hiểu biết pháp luật là điều tất yếu trong
việc khởi nghiệp thành công. Hoạt động kinh doanh là các hoạt động ảnh hưởng
đến các thành viên khác trong xã hội. Do đó, các hoạt động này được sự quản lý
của pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho mọi người trong xã hội. Hơn
ai hết, những nhà khởi nghiệp phải nắm rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình khi
tham gia sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho xã hội. Người khởi nghiệp
cần hiểu biết pháp luật để xác định từ hình thức hoạt động kinh doanh đến vấn đề
bản quyền, Kiến thức pháp luật để tạo công bằng và hiệu quả trong quản lý.
Câu hỏi đầu tiên của các bạn trẻ khởi nghiệp là nên chọn mô hình công ty
cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn, cách thức đăng ký kinh doanh…Rất
nhiều trường hợp đáng tiếc khiến các bạn khởi nghiệp ở Việt Nam thất bại nặng nề
do không hiểu rõ hai loại mô hình này gây ra. Một số ví dụ kinh điển là có bạn
khởi nghiệp ký hợp đồng với đối tác xong xuôi mới phát hiện đó không phải là đại
diện hợp pháp của đối tác! Các bạn không hiểu biết về vấn đề “đại diện pháp lý
17
chính thức” là gì nên rơi vào hoàn cảnh thua lỗ, bị lừa rất đáng tiếc! Đi sâu vào các
vấn đề này các bạn trẻ trở nên lúng túng và đôi khi chịu thiệt thòi khi chọn sai mô
hình cho hoạt động kinh doanh của mình khiến việc chia lợi nhuận hay tiến hành
các bước phát triển công ty trở nên vướng mắc. Những cập nhật của pháp luật
nước ta, không phải ai cũng có thể nắm bắt kịp thời và hiều rõ. Từ những thiếu sót
đó, khởi nghiệp thường rất hay vướng mắc ngay từ khâu đầu tiên này- đăng ký
doanh nghiệp!
Bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh
thổ Việt Nam. Mặc dù đã qua nhiều năm tham gia thị trường quốc tế nhưng các
nhà khởi nghiệp ở Việt Nam còn nhận thức rất mơ hồ về vấn đề này. Thời gian để
đăng ký thành công một sản phẩm sở hữu trí tuệ ở Việt Nam là khoảng 1 năm. Các
bước gồm đăng ký, phản hồi, thông báo, thẩm định và cấp chứng nhận. Tuy thời
gian kéo khá dài nhưng nếu được công nhận các sản phẩm, thương hiệu đăng ký sẽ
được bảo hộ bắt đầu từ ngày đăng ký. Chi phí cho việc này thực ra không quá
khổng lồ như ở nước ngoài nên lời khuyên từ các luật sư là các bạn khởi nghiệp
nên thực hiện bước này nhanh chóng để tránh các rủi ro pháp lý sau này.
Khi khởi nghiệp, các bạn sẻ trở thành người cung cấp công ăn việc làm cho
người khác. Hiểu biết về luật lao động, bảo hiểm xã hội, chế độ hưu, thai sản… là
điều các bạn phải nắm rõ để không gây thiệt thòi hoặc tranh chấp về sau.
Ngoài những nhân tố như nhân tố chủ quan, quản lí tài chính, môi trường
kinh doanh còn có những nhân tố khác ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình
khởi nghiệp như: kinh nghiệm kinh doanh, giáo dục, gia đình, bạn bè, ...
Qua quá trình khảo sát thực tế sinh viên sư phạm đã và đang tham gia khởi
nghiệp, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng sinh viên Sư phạm đã chịu ảnh hưởng từ
nhiều nhân tố dẫn đến thất bại khi tham gia khởi nghiệp. Nhân tố ảnh hưởng lớn
nhất tới sinh viên Sư phạm khi tham gia khởi nghiệp đó là: Tài chính và nhân tố từ
chủ quan (tố chất, thái độ và tinh thần doanh nhân của người khởi nghiệp). Khi
tham gia khởi nghiệp, sinh viên Sư phạm chưa có cách quản lí tài chính tốt, cách
thức thực hiện khởi nghiệp còn có nhiều hạn chế; còn thiếu sự kiên trì với cách
thức khởi nghiệp của bản thân.
Vì vậy, nếu muốn khởi nghiệp thành công thì khi tiến hành khởi nghiệp cần
xác định rõ ràng mục tiêu, ý tưởng kinh doanh, có nguồn vốn và thu hút được
nguồn vốn, cần có cách thức quản lí tài chính hợp lí. Người khởi nghiệp cần trau
dồi thêm những kinh nghiệm kinh doanh, kiến thức kinh doanh cho bản thân, ngoài
ra cần kiên trì với mục tiêu khởi nghiệp của bản thân,...
18
1.2. Một số mô hình lý thuyết về khởi nghiệp
1.2.1. Mô hình bán hàng online
Dựa trên mô hình bốn bước kinh doanh online hiệu quả (được đăng trên
vietnamnet.vn ngày 1/11/2017), nhóm nghiên cứu nhận thấy: bán hàng online
không phải là một mô hình mới, nó đã trở lên phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh
nhưng nếu kết hợp với những ý tưởng sáng tạo độc đáo thì nó sẽ là một mô hình
khởi nghiệp phù hợp với nhiều người, đặc biệt với sinh viên. Trong thời đại hiện
nay, khi khoa học phát triển, các trang mạng xã hội ngày càng dễ tiếp cận hơn giúp
con người mở rộng được mối quan hệ giao tiếp của bản thân thì việc bán hàng
online sẽ thu hút được lượng lớn người tiêu dùng quan tâm tới sản phẩm hơn trước.
Khách hàng của người khởi nghiệp khi bán hàng online sẽ là những người
thuộc tầng lớp bình dân.
Từ đó thấy được rằng, đối tượng khách hàng và đối tượng sản phẩm có mối
liên kết với nhau. Vì khi bán hàng online sản phẩm là quần áo thì bắt buộc người
bán phải cập nhật xu hướng thời trang để cung cấp các mặt hàng hợp với thời điểm
đó và phù hợp với thị hiếu của khách hàng.
Những người khởi điểm kinh doanh với nguồn vốn ít, đặc biệt là sinh viên
thì bán hàng online là một mô hình phù hợp với họ. Kinh doanh online sẽ giúp
người kinh doanh không cần thuê mặt bằng để mở bán shop offline, bớt những chi
phí không cần thiết. Khi bắt đầu kinh doanh online, người kinh doanh cần tìm được
nguồn cung cấp sản phẩm, nghiên cứu thị trường về mặt hàng định kinh doanh. Từ
đó, sẽ nắm được những thông tin cơ bản về quy mô, phạm vi bán sản phẩm đó của
mình. Đặc biệt, với mô hình bán hàng online này sẽ giúp người bán chủ động hơn
về mặt thời gian, không bị bó buộc giống như làm tại các shop.
1.2.2. Mô hình kinh doanh đồ ăn nhanh
Cuộc sống ngày càng trở vội vã, xô bồ, với số lượng công việc nhiều tùy
từng ngành thì thời gian để trở về nhà chuẩn bị những bữa ăn cho bản thân mình và
gia đình trở lên khó khăn hơn trước. Chính từ đó, mô hình kinh doanh đồ ăn nhanh
là một mô hình có tiềm năng phù hợp với các bạn trẻ, đặc biệt là sinh viên.
Vấn đề thực phẩm hiện nay khá là được quan tâm đến, dù ưa chuộng đồ ăn
nhanh nhưng khách hàng vẫn thiên về các nơi cung cấp đồ ăn nhanh có hợp vệ sinh
hay không, nên khi sinh viên có thể khởi nghiệp mô hình này với đồ ăn tự làm thì
cũng đã tạo một phần nào niềm tin trong khách hàng.
Với số vốn lúc đầu bỏ ra không nhiều, không bó buộc về thời gian hay phải
thuê mặt bằng bán hàng sẽ giúp sinh viên tiết kiệm được một số khoản chi không
cần thiết. Sinh viên có lợi thế về sử dụng công nghệ nên vấn đề để khách biết đến
19
và quan tâm tới sản phẩm trở lên dễ dàng hơn. Họ có thể quảng cáo sản phẩm của
mình trên các trang mạng: facebook, now,...Từ đó, thấy được rằng mô hình này
khá phù hợp với sinh viên khi những ai muốn khởi nghiệp.
1.2.3. Mô hình làm đồ handmade
“Handmade” là sản phẩm tự tay mình làm ra từ các nguyên liệu sẵn có và tạo ra
các sản phẩm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Hiện nay “đồ handmade” không
còn quá xa lạ với mọi người, mà nó đang dần trở thành một loại sản phẩm “đẹp, độc, lạ”
được nhiều người yêu thích. Chính vì lẽ đó, mà hiện nay có nhiều bạn trẻ “khéo tay” đã tự
làm ra những sản phẩm handmade đầy sáng tạo và bán ra ngoài thị trường. Với đặc điểm
là: số vốn bỏ ra để làm một sản phẩm handmade không quá lớn, tốn ít thời gian, có thể
sáng tạo các sản phẩm và được ưa thích thì đây là một mô hình rất phù hợp cho giới trẻ,
đặc biệt là sinh viên.
Đối tượng khách hàng và đối tượng mặt hàng của mô hình làm đồ
handmade rất đa dạng và phong phú. Với đặc điểm của đồ handmade là đơn giản,
độc, lạ nên có khả năng thu hút đc rất nhiều khách hàng, đặc biệt là những người
có đam mê với sản phẩm độc lạ.
Vốn tự có từ sinh viên có thể không lớn vì một số nguyên do, nhưng sinh
viên khi muốn tham gia khởi nghiệp thì nên tự tích lũy vốn cho bản thân để sử
dụng khi tham gia khởi nghiệp. Vốn tự có của sinh viên khi đầu tư cho mô hình
khởi nghiệp này dự kiến từ khoảng năm trăm nghìn đồng đến một triệu đồng.
Nguồn cung cấp hàng hoá để làm đồ handmade có thể là từ các xưởng
chuyên đồ handmade, xưởng chuyên về giấy, vải,... để làm đồ handmade.
Trong thời đại công nghệ số nhiều hoạt động diễn ra trên mạng xã hội và
mạng xã hội có rất nhiều người tham gia, vì vậy mạng xã hội là ưu tiên hàng đầu
để có thể thực hiện chiến lược maketting.
Khi tiến hành khởi nghiệp, ngoài việc xác định ý tưởng khởi nghiệp, nguồn
vốn để tiến hành khởi nghiệp thì chiến lược maketting là việc rất cần thiết để có thể
khởi nghiệp thành công. Chiến lược maketting phải linh hoạt, thay đổi tùy lúc, nếu
nhận thấy chiến lược không hiệu quả thì phải chuyển sang một chiến lược khác
hoặc khắc phục sự thiếu hiệu quả của chiến lược đó. Vì sản phẩm handmade chủ
yếu đăng bán trên mạng xã hội vì vậy ngoài việc quảng bá sản phẩm bằng ngôn
ngữ tốt còn cần những hình ảnh về sản phẩm đẹp, thu hút.
Khi mô hình này được phát triển ổn định hơn thì cần có các chương trình tri
ân khách hàng và để một số lượng khách hàng làm khách hàng thân thiết của sản
phẩm. Phải liên tục có những đổi mới để thu hút khách hàng để giữ khách hàng và
tăng số lượng khách hàng lên.
20
Với những đặc điểm của đồ handmade như trên thì mô hình làm đồ
handmade nên ngày càng được mở rộng cho các bạn trẻ hoặc những bà mẹ bỉm
sữa. Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm thuận lợi đó của mô hình này thì vẫn còn
những bất lợi như: sản phẩm làm ra còn chưa có thị trường ổn định, sản phẩm làm
ra còn bấp bênh tùy người làm,...
1.2.4. Mô hình bán rau củ quả sạch
Hiện nay, ở các thành phố lớn các sản phẩm như thịt sạch, hoa quả sạch và
rau củ sạch là vấn đề được nhiều người tiêu dùng mong muốn, ưa chuộng. Sinh
viên nói chung đa số là từ các vùng quê khác lên thành phố để học và ở các vùng
quê thường trồng rau, nuôi lợn, nuôi cá,....vì vậy sinh viên có thể mang các sản
phẩm từ quê ra thành phố để bán.
Nước ta là quốc gia có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và ở miền bắc có 4
mùa quanh năm vì vậy có các loại rau củ quả theo từng mùa vụ trong năm. Nhờ
đặc điểm thời tiết thuận lợi đó mà quanh chúng ta có những loại lương thực thực
phẩm phong phú, phù hợp với từng mùa
Mô hình bán rau củ quả sạch là một mô hình không quá mới lạ đối với
người tiêu dùng, tuy nhiên khi sinh viên tham gia vào bán hàng có nguồn gốc từ
quê lại được mọi người ưa chuộng hơn hẳn. Mô hình này có đặc điểm là: nguồn
hàng có sẵn từ gia đình ở quê, thị trường của loại sản phẩm này rộng, thu được lợi
nhuận từ loại hình này cao, dễ thực hiện, không tốn quá nhiều thời gian để thực
hiện,... Vì vậy, mô hình này rất thích hợp đối với các sinh viên khi muốn tiến hành
khởi nghiệp. Đối tượng khách hàng mà mô hình hướng tới ở đây chủ yếu là người
nội trợ, sinh viên, hoặc có thể ở quy mô lớn hơn như các siêu thị, các chợ nhỏ, chợ
đầu mối. Vì đây là sản phẩm phù hợp với tất cả mọi người nên ai cũng có thể trở
thành đối tượng khách hàng cho mô hình này. Tuy nhiên, đối tượng khách hàng mà
mô hình này chú trọng hơn cả là những người nội trợ trong gia đình.
Với nhu cầu của người tiêu dùng về loại mặt hàng này cao nên khi tiến hành
khởi nghiệp chúng ta sẽ không mất quá nhiều công sức để quảng bá sản phẩm của
mình. Tuy nhiên, khi mới tiến hành khởi nghiệp thì chúng ta vẫn nên có những
cách thức quảng bá sản phẩm để tạo niềm tin cho mọi người
Với các lợi thế đó, sinh viên có thể dễ dàng thực hiên, tuy nhiên trong thời
gian đầu tiếp cận với người tiêu dùng bạn sẽ gặp phải một số khó khăn như người
tiêu dùng chưa tin vào sản phẩm, chỉ có ít khách hàng biết đến sản phẩm, rau củ
quả từ quê theo thời vụ,... Mặc dù vậy, nhưng mô hình bán rauu củ quả sạch vẫn là
một mô hình đáng được các sinh viên lựa chọn với các ưu điểm của nó như: nguồn
21