Tải bản đầy đủ (.doc) (70 trang)

Tiếp cận sử thi ôđixê từ góc nhìn văn hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (935.61 KB, 70 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

PHẠM THỊ XUÂN MAI

TIẾP CẬN SỬ THI ÔĐIXÊ
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

PHẠM THỊ XUÂN MAI

TIẾP CẬN SỬ THI ÔĐIXÊ
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học
ThS. ĐỖ THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2018



LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Đỗ
Thị Thạch - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện khóa luận.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả thầy, cô giáo trong khoa
Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa luận.
Khóa luận hoàn thành, song vẫn không tránh được những hạn chế, thiếu sót,
tôi rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các thầy, cô giáo để khóa
luận sẽ được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2018
Người thực hiện

Phạm Thị Xuân Mai


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả
các số liệu cùng kết quả trong khóa luận này là trung thực, chưa được công bố trong
bất kì một công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày15 tháng 4 năm 2018
Người thực hiện

Phạm Thị Xuân Mai


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2

3. Mục đích nghiên cứu vấn đề ...................................................................................5
4. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................................5
5. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................5
6. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................5
7. Bố cục khóa luận .....................................................................................................6
NỘI DUNG ................................................................................................................7
CHƯƠNG 1. SỬ THI ÔĐIXÊ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA XÃ HỘI ..................7
1.1. Khái niệm .............................................................................................................7
1.1.1. Văn hóa .............................................................................................................7
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học. .............................................................8
1.2. Cơ sở hình thành sử thi Ôđixê..............................................................................9
1.2.1. Lịch sử - xã hội..................................................................................................9
1.2.1.1. Nền văn minh Crét .........................................................................................9
1.2.1.2. Nền văn minh Myxen...................................................................................10
1.2.1.3. Thời kì Hôme - nền văn hóa Hi Lạp ............................................................11
1.2.2. Vai trò của các nghệ nhân hát rong.................................................................12
1.2.2.1. Các Aeđơ......................................................................................................12
1.2.2.2. Các Rápxôđơ ................................................................................................13
1.2.2.3. Các Hômeriđơ ..............................................................................................14
1.3. Xã hội Hôme ......................................................................................................15
1.3.1. Cơ cấu tổ chức.................................................................................................16
1.3.1.1. Cơ cấu tổ chức xã hội: Dân chủ quân sự......................................................16
1.3.1.2. Giai cấp và chế độ nô lệ trong phạm vi gia đình phụ quyền........................20
1.3.2. Bài ca về một thời đại mới ..............................................................................22
1.3.2.1. Khát vọng tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh ....................................22


1.3.2.2. Mơ ước về một cuộc sống văn minh, hài hòa, hạnh phúc, ấm no................26
TIỂU KẾT................................................................................................................32
CHƯƠNG 2: SỬ THI ÔĐIXÊ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ

TINH THẦN ............................................................................................................33
2.1. Văn hóa vật chất trong sử thi Ôđixê...................................................................33
2.1.1. Kiến trúc..........................................................................................................33
2.1.2. Các vật dụng thủ công mỹ nghệ......................................................................37
2.2. Văn hóa tinh thần trong sử thi Ôđixê .................................................................40
2.2.1. Văn hóa tư tưởng.............................................................................................40
2.2.1.1. Tín ngưỡng - tôn giáo...................................................................................40
2.2.1.2. Quan niệm về cuộc sống âm ti .....................................................................47
2.2.2. Lễ hội thể thao.................................................................................................50
2.2.3. Phong tục tập quán ..........................................................................................53
2.2.3.1. Tiếp đón khách .............................................................................................53
2.2.3.2. Quan niệm hôn nhân ....................................................................................55
TIỂU KẾT................................................................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................60


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

1


1.1. Sử thi hay còn gọi là “anh hùng ca”, đó là những bài ca về lịch sử, bài ca
cất lên ca ngợi các anh hùng, gắn liền với sự kiện đặc biệt của lịch sử, của dân tộc
trong thời kì nhất định. Đối tượng của anh hùng ca chính là các sự kiện có tầm vóc
lớn lao, có ý nghĩa sống còn đối với lịch sử của các dân tộc. Một trong những thiên
sử thi thể hiện trí tuệ Hi Lạp, là niềm tự hào của văn học Hi Lạp cổ đại chính là sử
thi Ôđixê của Hôme. Đây đồng thời cũng là một trong những tác phẩm mang bút
tích xa xưa nhất của nền văn học Châu Âu.
1.2. Với trình độ đạt đến sự mẫu mực, hoàn thiện, Hôme đã phản ánh nhiều

mặt sinh hoạt và ghi lại cả một thời kì chuyển mình đặc biệt của xã hội Hi Lạp trong
Ôđixê: phong tục tập quán, trình độ văn minh, quan niệm về đạo đức, về tôn giáo,
về hôn nhân, quan hệ sở hữu… Nhà thơ đã xây dựng một bức tranh rộng lớn, phong
phú, nhiều màu sắc về cuộc sống với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng, tự hào của con
người với những chiến công chinh phục thiên nhiên, vươn tới cuộc sống tự do, văn
minh, tiến bộ hơn.
1.3. Đã gần ba nghìn năm kể từ khi Hôme mất đi nhưng thiên anh hùng ca
Ôđixê vẫn luôn tồn tại, sống mãi, sáng rực lên bởi giá trị của mình, thách thức sự
tàn phá của thời gian, không gian, sự ngăn cách bởi ngôn ngữ, văn hóa. Bởi vậy
Ôđixê luôn là đề tài, nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà nghiên cứu thuộc nhiều
lĩnh vực, nhiều thế hệ, quốc gia dân tộc. Mặc dù vậy, nền văn hóa Hi Lạp cổ đại cho
đến nay vẫn luôn là những ẩn số cần được tìm hiểu, khám phá. Tại sao tên tác giả
Hôme lại được lấy để đặt tên cho cả một thời kì lịch sử? Nền văn hóa Hi Lạp xưa có
gì độc đáo? Và vai trò của nó trong việc tạo nên sự thành công của Ôđixê? Việc tìm
hiểu đề tài “Tiếp cận sử thi Ôđixê từ góc nhìn văn hóa” sẽ phần nào giúp giải đáp
những câu hỏi trên, bổ sung thêm tri thức về vùng đất được mệnh danh là một trong
những cái nôi của nền văn minh thế giới. Trên đây là một số lí do để tôi lựa chọn và
nghiên cứu đề tài này.

2


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sử thi Hi Lạp nói riêng và nền văn học Hi Lạp nói chung là mảnh đất màu
mỡ thu hút biết bao người tới khai phá, tìm hiểu. Trải qua nhiều thế hệ, cho đến nay
trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về sử thi Ôđixê. Tuy
nhiên, do năng lực ngoại ngữ còn hạn chế, vậy nên chúng tôi chỉ tìm hiểu vấn đề
nghiên cứu qua các tài liệu Tiếng Việt hoặc đã được dịch ra Tiếng Việt.
Đầu tiên phải kể đến những công trình dịch thuật từ nguyên tác: Được tìm
kiếm và xuất bản nhiều nhất là các công trình nghiên cứu của ba dịch giả Nguyễn

Văn Khỏa, Phan Thị Miến và Hoàng Hữu Đản. Năm 1996 dịch giả Phan Thị Miến
đã cùng nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Iliad - Odyssey; sau đó không lâu,
năm 2001 cuốn Anh hùng ca Odyssée do Hoàng Hữu Đản dịch, chú thích và giới
thiệu tiếp tục được ra đời và năm 2007 nhà xuất bản Văn học cùng Nhà sách Vũ
Đức tiến hành in ấn cuốn Thần thoại Hi Lạp bản dịch của Nguyễn Văn Khỏa. Ngoài
các công trình dịch thuật tiêu biểu trên, còn có rất nhiều nhà nghiên cứu đã dịch sử
thi Ôđixê theo những văn phong khác nhau như Bùi Xuân Mỹ, nhóm tác giả Việt
Thanh - Văn Trọng - Vương Đăng…
Tiếp đến, khi khảo sát những giáo trình định hướng tiếp nhận văn hóa, văn
học phương Tây ở các trường Đại học, chúng tôi nhận thấy nổi bật là công trình
nghiên cứu Văn học phương Tây, nhà xuất bản Giáo Dục (2009). Trong đó, nhóm
tác giả Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lương Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn
Thị Hoàng và Nguyễn Văn Chính đã dành mười bốn trang để nói về thiên sử thi
Ôđixê. Nguyễn Thị Hoàng cho rằng: “tác phẩm phản ánh “một thời kì ấu thơ của
nhân loại phát triển đến mức rực rỡ nhất, một đi không bao giờ trở lại…” thời kì
chuyển tiếp từ chế độ công xã nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ, từ dã man
sang văn minh, từ chế độ sở hữu tập thể thị tộc công xã nguyên thủy sang chế độ tư
hữu tài sản.” [5,39]
“…hiện thực mà bản trường ca này phản ánh là một giai đoạn muộn màng
hơn của lịch sử Hi Lạp khi mà những cuộc chiến tranh cướp bóc ở vùng biển Êgiê
không còn nữa, và người Hi Lạp đã ổn định cuộc sống đang có nhu cầu tìm hiểu
cuộc sống xung quanh. Nhu cầu ấy gắn liền với sự phát triển kinh tế kinh tế, giao
3


lưu mậu dịch, cải tiến công cụ sản xuất, mở rộng đất đai… của xã hội đang đà phát
triển để rời bỏ ngôi nhà của chế độ thị tộc bước sang ngưỡng cửa của thời đại văn
minh.” [5,63]
Nhóm tác giả của khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Lê Huy
Bắc, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Linh Chi, đã biên soạn Giáo trình Văn học phương

Tây, (nhà xuất bản Giáo dục xuất bản) để đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của sinh
viên. Trong phần biên soạn của mình Lê Nguyên Cẩn đã tóm tắt được thiên sử thi
Ôđixê và phân tích làm nổi bật lên lên hình tượng nhân vậy Uylix “trí tuệ sáng tựa
thần linh”, đồng thời tác giả còn chỉ ra hình thái xã hội mới ra đời “thời kì đầu của
Nhà nước chiếm hữu nô lệ” đi kèm theo đó là sự ra đời của hàng loạt các mối quan
hệ xã hội: “chủ tớ, vợ chồng” phản ánh được quan niệm nhìn nhận cuộc sống, văn
hóa ứng xử của nhân dân thời kì Hôme.
Trong cuốn Lịch sử văn minh thế giới do Vũ Dương Ninh chủ biên, khi nói
tới thời kì Hôme (thế kỉ XI-IX TCN) của nền văn minh Hi Lạp cổ đại, nhóm tác giả
đã giải thích: “Sở dĩ gọi như vậy là vì lịch sử Hi Lạp trong giai đoạn này được phản
ánh trong hai tập sử thi Iliát và Ôđixê của Hôme”. Theo đó “…. chất liệu của cuộc
sống hiện thực mà tác giả sử dụng để xây dựng tác phẩm như tình hình sinh hoạt,
phong tục tập quán, quan hệ xã hội,… thì thuộc thời kì từ thế kỉ XI-IX TCN.”
[10,205]
Như vậy, bối cảnh lịch sử đã có sự thay đổi, chính vì vậy nền văn hóa thời kì
này gắn liền với xã hội cũng có sự đổi thay. Những quy định, chuẩn mực, chế độ
hành chính và tổ chức xã hội, phong tục tập quán - tín ngưỡng theo đó cũng thay
đổi. Điều đó ít nhiều đã được Hôme phản ánh trong Ôđixê - “bản anh hùng ca của
cuộc sống hòa bình”.
Nguyễn Văn Khỏa là người có nhiều đóng góp trong công cuộc tìm hiểu văn
học Hi Lạp ở Việt Nam, trong cuốn Anh hùng ca của Hômerơ, nhà xuất bản Văn
học, 2002, nhận xét về vấn đề lí tưởng, đạo đức toát lên từ sử thi Ôđixê, tác giả đưa
ra nhận định như sau:
“Phản ánh được vấn đề chủ yếu nhất, bản chất nhất của thời đại lịch sử,
khẳng định lí tưởng và khát vọng của nhân dân, thể hiện những sinh hoạt, phong
4


tục tập quán, quan niệm tôn giáo, đạo đức của nhân dân… những tác phẩm của
Hô-me-rơ cũng đồng thời phản ánh cả những mâu thuẫn gắn liền với thời đại, với

giai đoạn lịch sử đó.” [6,362]
Mặc dù tác giả không nêu lên những đặc điểm về văn hóa Hi Lạp được phản
ánh trong tác phẩm một cách cụ thể song đây chính là những gợi ý, hướng người
viết tìm hiểu và khám phá đặc điểm xã hội được thể hiện trong sử thi Ôđixê.
Trong Luận văn tốt nghiệp Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong sử thi
Ôđixê của Homere (Hi lạp - cổ đại) và sử thi Ramayana của Vanmiki (Ấn độ - cổ
đại) của Nguyễn Thị Ái Vân, để phục vụ cho việc làm rõ nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật trong hai bản sử thi trên, tác giả đã khái quát qua thời đại Hôme:
“Thời Homere ngành nông nghiệp và chăn nuôi được xem là hoạt động kinh
tế chủ đạo. Người Hy Lạp đã dùng vật chăn nuôi tỏ lòng mến khách, làm thước đo
giá trị… Thời kì này thủ công nghiệp của người Hy Lạp cũng có vị trí quan trọng và
đạt được những thành tựu lớn với các nghề: rèn, dệt vải, đóng tàu… Đặc biệt thời
kì này công cụ sản xuất và vũ khí bằng đồng đã được sử dụng phổ biến. Xã hội Hy
Lạp thời Homere không phải là sự tiếp nối của xã hội trước đó, xã hội của thời kì
Crét-Myxen mà thời Homere là xã hội thị tộc, bộ lạc ở giai đoạn mạt kì theo Êghen
đặc trưng cơ bản của nó là có sự tồn tại của chế độ dân chủ quân sự. Một xã hội
được tổ chức theo lối vừa có những thủ lĩnh quân sự đầy uy quyền, vừa có sự tồn tại
của các đại hội nhân dân. Trong xã hội Homere việc sử dụng lao động nô lệ mới
chỉ ở trong khuôn khổ gia đình gia trưởng…” [11,17]
Tuy luận văn chỉ dành một dung lượng rất nhỏ để khái quát thời đại Hôme,
tuy nhiên, việc gọi tên đặc điểm, bản chất của kinh tế cũng như cơ cấu tổ chức xã
hội không chỉ cho thấy sự phân tích chính bản thân mà ít nhiều đã cho thấy cái nhìn
toàn diện trong tính chất sơ khai của nó.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về sử thi Ôđixê. Qua việc tìm hiểu
lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy phương diện văn hóa không phải là vấn đề mới
trong nghiên cứu. Trên mảnh đất khai phá sử thi Ôđixê đã có những công trình với
quy mô lớn nghiên cứu chạm bút tới vấn đề văn hóa trong sử thi. Tuy nhiên, trong

5



số những tài liệu mà chúng tôi bao quát được, chưa có một nhà nghiên cứu, công
trình nghiên cứu nào đề cập một cách chi tiết, cụ thể theo hệ thống về văn hóa Hi
Lạp cổ đại trong bản anh hùng ca Ôđixê. Đó chính là khoảng trống để chúng tôi
nghiên cứu đề tài này.
Kế thừa từ những người đi trước với mục tiêu làm sáng rõ thiên sử thi Ôđixê
qua những nét đẹp văn hóa, chúng tôi mong rằng với đề tài nghiên cứu: “Tiếp cận
sử thi Ôđixê từ góc nhìn văn hóa” có thể góp một phần nào đó, dù là rất nhỏ vào
công cuộc khám phá sử thi Ôđixê nói riêng và sử thi Hi Lạp nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu vấn đề
Đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu nền văn hóa Hi Lạp cổ
đại đã được Hôme thể hiện trong bản anh hùng ca Ôđixê. Từ đó thấy được những
đóng góp, cống hiến của một tài năng lớn Hôme đối với nền văn học Hi Lạp nói
riêng, nền văn học thế giới nói chung. Đồng thời, làm phong phú thêm cho quá trình
nghiên cứu và thưởng thức văn học bằng một hướng tiếp cận mới, có hiệu quả.
4. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát những đặc điểm thuộc về
phương diện văn hóa được phản ánh trong tác phẩm Sử thi Ôđixê.
5. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu việc tiếp cận sử thi Ôđixê từ góc nhìn văn hóa. Tuy
nhiên, trong một khuôn khổ hạn hẹp của khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ tập
trung nghiên cứu văn hóa Hi Lạp cổ đại trong Ôđixê từ góc nhìn xã hội, văn hóa vật
chất, văn hóa tinh thần. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh phương diện kiến trúc, văn
hóa tư tưởng như tín ngưỡng, tôn giáo hay quan niệm về cuộc sống âm ti, văn hóa lễ
hội, phong tục tập quán mang màu sắc riêng biệt.
Trên cơ sở khoanh vùng trên, trong quá trình thực hiện, chúng tôi tập trung
khái thác ngữ liệu trong Anh hùng ca Odysée do Hoàng Hữu Đản dịch, chú thích và
giới thiệu, xuất bản bởi NXB Văn học, năm 2001.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài khóa luận này, chúng tôi sử dụng một số

phương pháp nghiên cứu chính như:

6


- Phương pháp xử lý thông tin
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung của khóa luận được triển
khai qua hai chương:
Chương 1. Sử thi Ôđixê từ góc nhìn văn hóa xã hội.
Chương 2. Sử thi Ôđixê từ góc nhìn văn hóa vật chất và tinh thần.

7


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. SỬ THI ÔĐIXÊ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
XÃ HỘI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Văn hóa
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là lối sống, lối suy nghĩ, ứng xử… còn hiểu
theo nghĩa hẹp là văn học, văn nghệ, trình độ học vấn. Hiện nay trên thế giới có hơn
bốn nghìn định nghĩa khác nhau về văn hóa, tiêu biểu:
Trong cuốn Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc Vượng chủ
biên có đưa ra khái niệm “Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở
bình minh của xã hội loài người." [12,17]
Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh viết năm 1943: “Văn hoá là sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản

sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”
[10,448]
Trang web hỗ trợ tìm kiếm thông tin ở Việt Nam, được coi là cuốn “Bách
khoa toàn thư” Wikipedia cung cấp cho chúng ta khái niệm: “Văn hóa là khái
niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt
đời sống vật chất và tinh thần của con người.” [17]
UNESCO lại đưa ra cách định nghĩa khác về văn hóa: "Culture is that
complex whole which includes knowledge, beliefs, arts, morals, laws, customs, and
any other capabilities and habits acquired by [a human] as a member of society."
(Văn hóa là một khái niệm phức tạp bao gồm những đặc trưng về sự hiểu biết, niềm
tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục tập quán và một vài khả năng hay thói
quen khác được tạo nên bởi một người hay một nhóm người trong xã hội.” [15].
Như vậy, mỗi định nghĩa đều xuất phát từ một góc độ riêng, cho thấy, văn
hóa bao gồm một phạm vi vô cùng rộng lớn từ vật chất đến tinh thần. Trong đó,
chúng tôi nhận thấy tổ chức UNESCO đã chỉ ra cụ thể, chi tiết nội hàm của khái

8


niệm văn hóa, vì vậy, chúng tôi lựa chọn khái niệm đó làm kim chỉ nam cho đề tài
nghiên cứu: “Tiếp cận sử thi Ôđixê từ góc độ văn hóa.”
Văn hóa và xã hội là hai thuật ngữ gắn liền nhau. Văn hóa mang tính xã hội,
nghĩa là văn hóa tồn tại như bản chất đặc trưng, chuẩn mực của xã hội. Vì lẽ đó, khi
hoàn cảnh xã hội thay đổi hay cấu trúc tổ chức xã hội biến đổi thì các giá trị của văn
hóa sẽ thay đổi theo, ít hay nhiều là tùy thuộc vào đòi hỏi của xã hội. Với mối quan
hệ ấy, văn hóa xã hội thời kì Hôme đã phản ánh được bước chuyển mình rõ rệt và
làm nổi bật những đặc trưng về bản chất xã hội thời kì mới.
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học.
Văn học cùng với tôn giáo, đạo đức, chính trị… là một trong những bộ phận
cấu thành nên văn hóa. Bởi vậy, văn học chịu sự chi phối mạnh mẽ của văn hóa, đặc

biệt là môi trường, thời đại và đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân tộc, được thể
hiện qua chủ đề, đề tài, hình tượng điển hình trong sáng tác văn học. Văn học không
những chịu sự chi phối của văn hóa mà nó còn là phương tiện giúp bảo lưu văn hóa.
Một nền văn hóa đa dạng, độc đáo chính là điều kiện, môi trường tốt để phát triển
văn học.
Như vậy, có thể thấy, văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết với nhau,
đó là mối quan hệ tương tác qua lại, biện chứng. Văn hóa tác động đến hoạt động,
tiến trình phát triển của văn học, ngược lại, văn học phản ánh, bảo lưu giá trị của
văn hóa. Mối quan hệ biện chứng này đã mở ra một hướng đi mới cho quá trình
nghiên cứu văn học. Bên cạnh những hướng tiếp cận văn học từ phương diện mỹ
học, thi pháp học, ngôn ngữ học, tâm lý học…. thì còn có cách tiếp cận văn học từ
góc nhìn văn hóa. Vì vậy, lựa chọn tiếp cận sử thi Ôđixê dưới góc độ này, chúng tôi
hi vọng sẽ mang lại được cái nhìn sinh động, mới mẻ hơn về tác phẩm. Các yếu tố
thuộc về văn hóa như kiến trúc, tôn giáo, phong tục tập quán - tín ngưỡng… với đầy
đủ đặc trưng của thời kì Hi Lạp cổ đại được sử dụng để đối chiếu, cắt nghĩa tác
phẩm trên cả phương diện nội dung và hình thức. Các yếu tố ấy cũng góp phần lý
giải phong cách sáng tác, thị hiếu tiếp nhận và giá trị thẩm mỹ của thời đại.

9


1.2. Cơ sở hình thành sử thi Ôđixê
1.2.1. Lịch sử - xã hội
Trước đây, trong thế kỷ XVIII, phần lớn các nhà khoa học ở Châu Âu đều
chưa có sự hiểu biết thấu đáo về lịch sử - xã hội của nền văn hóa Hi Lạp cổ đại cũng
như những bản trường ca của Hôme. Hầu hết họ đều coi nội dung được phản ánh
trong Iliat và Ôđixê là hư cấu, kể cả sự tồn tại của thành Tơroa. Ngày nay, nhờ sự
phát triển của khoa học, đặc biệt là khảo cổ học, các nhà nghiên cứu đã tìm ra được
nhiều dấu tích, tư liệu quý giá đưa đến những kết luận thuyết phục về nguồn gốc
nền văn minh Hy Lạp cổ đại, trong đó có cơ sở lịch sử - xã hội thời kì Hôme.

1.2.1.1. Nền văn minh Crét
Đây là nền văn minh tồn tại trong khoảng mười tám thế kỉ: từ thiên niên kỉ
III đến thế kỉ XII trước công nguyên. Văn minh Crét phát triển rực rỡ trong khoảng
thời gian năm 2000 đến năm 1700 trước công nguyên với công cụ đồ đá được
chuyển sang đồ đồng. Qua quá trình khảo cổ, những vết tích và di vật phong phú
được tìm thấy tại đảo Crét cho thấy nửa đầu thiên niên kỉ thứ II trước công nguyên,
đã xuất hiện nhiều cung điện với quy mô lớn, cấu trúc phức tạp thể hiện trình độ
văn minh cao của người dân nơi đây. Sự rực rỡ của nền văn minh Crét đã lan tỏa,
ảnh hưởng tới nhiều nơi tại vùng bán đảo Ban-căng, góp phần xây dựng văn hóa ở
vùng đồng bằng ven biển Hi Lạp và còn ảnh hưởng tới những lãnh thổ ven biển
Tiểu Á. Đảo Crét như chiếc cầu nối, thúc đẩy sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa
Đông - Nam của Địa Trung Hải với khu vực Cận Đông, Ai Cập.
Trong khoảng thế kỉ XV đến thế kỉ XII của thiên niên kỉ II trước công
nguyên, nền văn minh Crét ngừng phát triển, và cho tới khoảng đầu thiên niên kỉ I
trước công nguyên, nền văn minh Crét suy tàn. Nguyên nhân của sự tàn suy này đến
nay các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được lời lí giải thấu đáo mà chỉ dừng lại ở
những giả thuyết phỏng đoán. Dù đã lụi tàn, nhưng sự phát triển rực rỡ của nền văn
minh Crét là không thể phủ nhận, dấu tích ấy còn lưu lại ít nhiều trong sử thi Ôđixê
của Hôme qua chi tiết Uylix trả lời Pênêlốp về giống dòng, thành phố của mình:
“Ngoài khơi xa, giữa biển mênh mông màu rượu,
Có một xứ đất lành vừa đẹp lại phì nhiêu

10


Nằm cô đơn vô biển sóng biếc một màu.
Là đảo Cret, dân cư hằng hà sa số
Chín mươi thành, pha lẫn nhiều ngôn ngữ,
Sống bên nhau nào Akêen, nào Kyđôniêng,
Nào những người Êtêôcret kiên cường,

Đôriêng ba phái và Pênagiêng thần thánh.
Trong chín mươi thành, có Cnossôx là thành phố mạnh
Miôx làm vua, người mà cứ chín năm có một lần
Dơx Thần Vương chọn người làm tâm phúc tri âm
Chính Miôx tôi gọi bằng ông nội”. [4,491]
1.2.1.2. Nền văn minh Myxen
Vào khoảng những năm 1900 trước công nguyên, diễn ra cuộc di cư của một
tộc người từ phương Bắc xuống bán đảo Hi Lạp. Trong hai bản anh hùng ca của
mình, Hôme gọi họ là người Akêen. Khi người Akêen di cư xuống đây, những
người bản địa sinh sống trên bán đảo Hi Lạp đã tự đồng hóa họ với tộc người
Akêen, đặc biệt là học tập tiếng nói, ngôn ngữ của tộc người di cư. Vào khoảng thế
kỉ XVII trước công nguyên, tộc người Akêen đã phát triển ở vào thời kì đồ đồng
thau bởi lẽ họ đã được tiếp cận với nền văn hóa Crét trong giai đoạn phát triển rực
rỡ nhất. Vì vậy, trên bán đảo Hi Lạp hình thành quá trình “Crét hóa” và từ đó dần
hình thành nên nền văn minh Myxen. Người Akêen chinh phục Crét, trở thành chủ
nhân mới của Knôt - xốt, họ còn tỏa ra, đem văn hóa của mình đi nhiều nơi như
Tơroa, đảo Síp, bờ biển Siri, xứ Phênixi…
Nền văn minh Myxen tồn tại hình thái xã hội theo kiểu chiếm hữu nô lệ. Nhà
vua ở trong cung điện, là người nắm giữ mọi quyền hành kinh tế, chính trị, quân sự,
tôn giáo... Có một bộ máy thư lại giúp việc cho nhà vua, đó chính là những người
Crét được đưa về để phục vụ. Nền kinh tế thời kì này là sự kết hợp của các công xã
làng mạc với nhà nước trung ương chuyên chế, gọi là kinh tế cung điện. Đứng đầu
các công xã làng mạc là các thủ lĩnh quân sự cùng hội đồng các bô lão. Người dân sẽ
lao động, sản xuất trên ruộng đất thuộc quyền sở hữu của tập thể công xã. Bên cạnh

11


hình thức sở hữu tập thể, còn có hình thức sở hữu cá nhân về ruộng đất, đó là đặc
quyền dành cho quý tộc trong lĩnh vực quân sự và các quan chức trong cung điện.

Từ năm 1194 đến năm 1184 trước công nguyên, người Myxen đã thực hiện
cuộc viễn chinh, tấn công vào thành Tơroa cướp bóc và tiêu diệt quốc gia này.
Khoảng hơn tám mươi năm sau cuộc chiến tranh, một cuộc di cư mới đã diễn ra khi
tộc người Đôriêng với vũ khí là những thanh kiến sắt từ phía Bắc tràn xuống bán
đảo Hi Lạp, tiêu diệt các quốc gia, phá hủy các thành tựu văn hóa của Myxen. Thời
kì Crét - Myxen đã chấm dứt. Người Akêen bị đuổi khỏi vùng đất sinh sống, xã hội
Hi Lạp rơi vào thời kì “trung cổ” đen tối, trì trệ, bởi lẽ bộ tộc người Đôriêng ở trình
độ văn minh còn thấp. Thời kì văn minh Myxen kết thúc, mở ra một thời kì văn hóa
mới gọi là văn hóa Hi Lạp hay còn có tên gọi khác là thời kì Hôme.
1.2.1.3. Thời kì Hôme - nền văn hóa Hi Lạp
Sở dĩ gọi thời kì văn hóa từ thế kỉ XI đến thế kỉ IX trước công nguyên là thời
kì Hôme bởi lẽ lịch sử, xã hội Hi Lạp ở giai đoạn này được phản ánh trong hai tập
sử thi Iliat và Ôđixê của thiên tài Hôme.
Sự di cư của tộc người Đôriêng không chỉ phá hủy nền văn minh Myxen,
làm kinh kế ngưng trệ, tụt lùi, văn hóa mai một dần mà còn đưa đến sự phân hóa
dân cư rõ rệt. Bán đảo Hi Lạp khi đó là nơi sinh sống của bốn tộc người theo những
khu vực nhất định: bộ tộc người Đôriêng (Nam bán đảo Pêlôpônedơ; đảo Crét; các
đảo phía Nam của vùng biển Êgiê, vùng biển phía Nam Tiểu Á), người Akêen và
Êôliêng (ở phía Bắc bán đảo Pêlôpônedơ; các đảo phía Bắc của vùng biển Êgiê; Tây
Bắc Tiểu Á), tộc người Iôliêng (ở đồng bằng Át tích, vùng ven biển, những đảo
giữa biển Êgiê và vùng biển Trung của Tiểu Á).
Ngoài những nét tiêu cực, cuộc di cư của tộc người Đôriêng xuống bán đảo
Hi Lạp còn mang đến những nét tích cực. Trong quá trình tìm kiếm nơi định cư, các
bộ lạc người Akêen, Êôliêng và Iôliêng đã lan tỏa nền văn minh Myxen tới những
vùng đất mới; còn tộc người Đôriêng buộc phải tự phát triển lên một trình độ văn
minh cao hơn, tiến bộ hơn theo sự phát triển của xã hội. Vậy nên, sau một thời gian
dài chìm trong tăm tối, đất nước Hi Lạp cổ đại bắt đầu vươn mình ra ánh sáng. Xã

12



hội phân chia giai cấp đang le lói hình thành trong lòng các tổ chức công xã thị tộc.
Nền kinh tế cũng dần được khôi phục, phát triển đặc biệt là hai ngành nông nghiệp
và thủ công nghiệp, dẫn đến sự hình thành những đô thị với nền văn minh tiến bộ.
Bản anh hùng ca của Hôme đã được hình thành trên nền tảng cơ sở xã hộilịch sử ấy. Đó trình là quá trình quá độ từ nền văn hóa Myxen sang nền văn hóa Hi
Lạp cổ điển, từ dã man sang văn minh, từ chế độ tổ chức công xã thị tộc sáng chế
độ nhà nước, thành bang. Đây cũng là giai đoạn đồng hóa của bốn tộc người Hi Lạp
để hình thành dân tộc Hi Lạp trong ý nghĩa ban đầu, sơ khai.
1.2.2. Vai trò của các nghệ nhân hát rong
Sử thi Ôđixê của Hôme là một trong những tác phẩm được tạo nên từ vốn thơ
ca dân gian, trong xã hội công xã thị tộc. Vì thế, để có thể hiểu một cách đúng đắn,
khách quan nhất về tác phẩm, khi nghiên cứu cần gắn liền thiên sử thi với đặc điểm
thơ ca dân gian cùng vai trò của những nghệ nhân hát rong như: Aeđơ, Rápxôđơ và
Hômeriđơ.
1.2.2.1. Các Aeđơ
Theo tiếng Hi Lạp cổ đại, Aeđơ có nghĩa là ca sĩ. Tiền thân, họ chính là
những bô lão có nhiệm vụ kể lại các câu chuyện thần thoại trong tổ chức công xã thị
tộc. Ta dễ dàng thấy được hình bóng của các Aeđơ trong Ôđixê, tiêu biểu là nhân
vật ông già mù Đêmôđôcôx ở xứ Phêaxi. Đêmôđôcôx đã bốn lần ca những khúc ca
trong những buổi tiệc của tầng lớp quý tộc, kể về cuộc tranh cãi giữa Uylix với Asil,
biểu diễn sau các cuộc thi đấu thể thao, ca bài ca về cuộc ân ái giữa thần sắc đẹp và
thần chiến tranh, cuối cùng là câu chuyện mưu con ngựa gỗ.
Phêmiôx cũng là một Aeđơ bị bọn cầu hôn ép biểu diễn trong các bữa tiệc
của chúng tại nhà Uylix. Dù bị ép buộc, nhưng Phêmiôx vẫn ca, hát những bài ca
theo yêu cầu của bọn cầu hôn, bởi lẽ nghệ nhân dân gian luôn trung thành với nghệ
thuật, sứ mệnh của họ là đem nghệ thuật phục vụ nhân dân, là người đại diện phát
ngôn cho ước mơ, lí tưởng thời đại. Chính vì vậy, họ luôn được nhân dân đón nhận,
được tôn trọng, đề cao. Hành động Uylix tha chết cho Phêmiôx hay sự tôn kính
dành cho Đêmôđôcôx đã phần nào thể hiện tư tưởng đó:


13


“Truyền lệnh sứ ơi! Cầm lấy phần này đem mời ca sĩ!
Người hãy ăn! Và anh, hãy nói với người:
Tôi muốn gửi lời chào, dẫu buồn đau còn nặng trĩu lòng tôi.
Nơi trần thế, ai chẳng phải trân trọng kính yêu người ca sĩ?
Há chẳng phải những Nữ Thi thần đã truyền dạy họ những bài ca của họ?
Nữ Thi thần bao yêu thương dòng họ những ca nhân!” [4,234]
Hay một câu chuyện khác, Uylix đóng vai một ông già ăn xin, xin ở nhờ nhà
của người chăn lợn Ơmê. Tài năng ứng biến, kể chuyện của chàng khiến Ơmê lập
tức tin tưởng, thương cảm mà không mảy may nghi ngờ. Người chăn lợn đã dành
những lời ngợi ca tài năng của chàng với Pênêlốp:
“ Lời khách nói sẽ làm bà xao xuyến!

Ba ngày liền, ông kể tôi nghe chưa hết
Câu chuyện đường dài gian khổ của ông xưa
….
Cứ bao lần còn tiếng hát cất lên
Người ta chỉ muốn nghe, nghe mãi không ngừng.” [4,457]
Qua những dẫn chứng trên, có thể rút ra được kết luận rằng kể chuyện trong
dân gian thời kì đó là một hình thức sinh hoạt khá phổ biến. Những câu chuyện
được kể lại thường là cái thực tế được nhìn qua lăng kính thần thoại. Vì phương
thức diễn xướng là kể lại bằng miệng nên trong quá trình lưu truyền câu chuyện đã
được “chế biến”, “nhào nặn” cho phù hợp, và Aeđơ chính là những nghệ nhân làm
việc đó. Họ sáng tác và biểu diễn những câu chuyện truyền thuyết, thần thoại nhằm
hồi tưởng lại quá khứ, qua đó phản ánh nội dung, tư tưởng xã hội và ý nghĩa tương
lai. Trường ca của Hôme đã được ra đời trên cơ sở của những truyền thuyết đó, là
kết quả của quá trình phát triển dài lâu.
1.2.2.2. Các Rápxôđơ

Bên cạnh Aeđơ, xã hội Hi Lạp cổ đại còn có nhiều nghệ nhân biểu diễn thơ
ca khác, được gọi là các Rápxôđơ. Rápxôđơ theo tiếng Hi Lạp có nghĩa là người

14


khâu nối (khâu vá) các bài ca. Vì sao lại có tên gọi như vậy? Bởi lẽ như đã nói ở
trên, Aeđơ là những ca sĩ chuyên sáng tác, kể lại những câu chuyện thần thoại lưu
truyền trong dân gian. Tuy nhiên, các câu chuyện ấy được diễn lại theo trí nhớ, nhỏ
lẻ, vụn vặt, như câu chuyện con ngựa gỗ thành Tơroa do Đêmôđôcôx biểu diễn chỉ
là một trong chuỗi các truyện khác xoay quoanh cuộc chiến tranh thành Tơroa, tiêu
biểu như : khúc ca về cơn giận dữ của Asil, về việc Agamenông tranh giành người
phụ nữ của Asil, về sự trừng phạt của Asil đối với Hécto, hay cuộc phân chia vũ khí
giữa Uylix và Ajax mà Hôme nhắc tới ở khúc ca XI trong trường ca Ôđixê.
Chỉ dừng lại ở sưu tầm, chế tác, biểu diễn nên các câu chuyện xoay quanh sự
kiện lớn thiếu sự mạch lạc, lôgic, chình vì vậy các Rápxôđơ ra đời với vai trò tổng
hợp, sắp xếp lại các bài ca mà Aeđơ đã biểu diễn. Tuy nhiên, nếu như Aeđơ sáng
tác tác phẩm mới, biểu diễn bằng cách ca hát, đàn đệm thì các Rápxôđơ chỉ biểu
diễn các bản trường ca đã có sẵn bằng cách kể, đọc. Sự ra đời của các Rápxôđơ đã
đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của thơ ca Hi Lạp khi các sáng tác thơ ca của
các Aeđơ đã không còn hấp dẫn và thể loại anh hùng ca đã không còn ở vị trí độc
tôn như trước kia, mà bên cạnh nó còn nhiều loại hình thơ ca khác.
Các tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra rằng những hoạt động đầu tiên của các
Rápxôđơ thuộc vào khoảng thế kỉ VI trước công nguyên. Đó là thời kì mà thành
bang Athena tổ chức biểu diễn những trường ca của Hôme thường xuyên. Thời kì
đó, còn có cả một ủy ban được thành lập, với nhiệm vụ ghi chép lại những truyền
thuyết, trường ca do Rápxôđơ kể hay đọc lại. Các Rápxôđơ không biểu diễn tràn
lan, ở mọi nơi như Aeđơ mà chỉ biểu diễn trong dịp lễ hội đặc biệt, ngày hội long
trọng ở thành bang Athena như ngày hội Parthenon.
1.2.2.3. Các Hômeriđơ

Hômeriđơ còn có tên gọi khác là con cháu của Hôme, đó là một tập thể
những nghệ nhân chuyên biểu diễn sử thi. Theo tài liệu nghiên cứu chỉ ra thì tiền
thân của tổ chức Hômeriđơ chính là thị tộc các Aeđơ biểu diễn chuyên nghiệp theo
hình thức cha truyền con nối. Điểm độc đáo của các Hômeriđơ khác với Aeđơ và
Rápxôđơ là khi biểu diễn sử thi, trường ca, họ thường cầm một cái gậy hay một

15


chiếc đũa mang tính tượng trưng. Các nghệ nhân này có vai trò vô cùng quan trọng
trong quá trình hình thành và lưu truyền sử thi Hi Lạp cổ đại, đặc biệt là hai thiên sử
thi Iliát và Ôđixê. Bởi lẽ, theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, trong Iliát và
Ôđixê có nhiều đoạn “lạc đề” hay mang giọng văn khác, tiêu biểu như cuộc ân ái
giữa Aphrôđitơ với Ares (khúc ca VIII) hay câu chuyện về Mêlampux ở khúc ca
XV trong Ôđixê không liên quan tới nội dung tác phẩm. Có ý kiến nhận xét
rằng “Trường ca của Hôme chứa đựng nhiều điều vay mượn của những nhà thơ
tiền bối và những điều vay mượn đó không còn lại với chúng ta trong tình trạng
nguyên vẹn của nó, cho nên mặc dù có phân tích cũng không thể phát hiện ra điều
gì chính xác được” [5,42]. Như vậy, có thể kết luận được Iliát và Ôđixê sáng tác
chính bởi Hôme, trải qua một quá trình lưu truyền trong dân gian, sau đó, các
Hômeriđơ đã tập hợp, biên soạn, thêm thắt cho sinh động hơn.
Sau này, thuật ngữ Hômeriđơ đã được mở rộng, không chỉ nói tới các nghệ
nhân chuyên biểu diễn sử thi mà còn dùng để gọi tên những người sáng tác các tác
phẩm anh hùng ca theo phong cách của Hôme.
Có thể thấy các nghệ nhân hát rong Aeđơ, Rápxôđơ và Hômeriđơ có vai trò
vô cùng quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng thời đại bằng nghệ thuật sử thi. Iliát
và Ôđixê là hai tác phẩm được hình thành trong một quá trình lâu dài lưu truyền
trong dân gian. Giai đoạn đầu, các tác phẩm sử thi còn nhỏ lẻ, vụn vặt, dung lượng
ít. Về sau, cùng với sự phát triển của xã hội, tư duy con người cũng phát triển, các
nghệ sĩ dân gian hướng tới việc xây dựng và biểu diễn các tác phẩm lớn hơn, độc

đáo hơn. Trường ca của Hôme ra đời dựa trên mục đích ấy, nó chứa đựng tất cả
những gì đặc sắc nhất, thấm nhuần tư tưởng thời đại, mang bản sắc văn minh của
dân tộc. Bên cạnh công lao to lớn của Hôme, không thể không nhắc tới vai trò của
các nghệ nhân hát rong khi nghiên cứu hai bản trường ca này vì nếu không có họ thì
sẽ không có Iliát và Ôđixê tồn tại nguyên vẹn nhất có thể như hiện trạng ngày nay.
1.3. Xã hội Hôme
Sử thi Ôđixê là sản phẩm của các nghệ nhân dân gian, sáng tác dưới hình
thức truyền miệng, lưu truyền qua hàng nghìn năm; bởi vậy, nó mang tính nghệ

16


thuật - không tự giác. Chính vì vậy, nó không phản ánh lịch sử, xã hội một cách
chính xác, tường tận như các tác phẩm khoa học khác. Xã hội Hi Lạp cổ đại thời kì
Hôme trên thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa
học đã đưa đến kết luận rằng xã hội mà bản trường ca của Hôme phản ánh thuộc
vào thời kì văn hóa Myxen, chủ yếu rơi vào khoảng thời gian di cư của tộc người
Đôriêng.
Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Ăng-ghen đã đưa ra kết luận xã hội Hôme thuộc vào “Thời kì thịnh vượng nhất của
giai đoạn cao trong thời đại dã man…” [6,254]. Ông còn gọi đó là “thời đại anh
hùng”, khi mà các tổ chức thị tộc bắt đầu có dấu hiệu tan rã. Khi nghiên cứu về thị
tộc Hi Lạp, Ăng-ghen đã phân chia cơ cấu tổ chức của các bộ lạc, bộ tộc mà ông gọi
đó là nền dân chủ quân sự hay chế độ dân chủ quân sự. [6,254]
1.3.1. Cơ cấu tổ chức
1.3.1.1. Cơ cấu tổ chức xã hội: Dân chủ quân sự
a. Hội đồng các bô lão (boule)
Đứng đầu cơ quan này là các trưởng thị tộc, sau này khi số lượng các trưởng
thị tộc tăng lên đông đúc thì hội đồng sẽ lựa chọn một số người tiêu biểu đứng đầu.
Những người này thường có xuất thân từ tầng lớp quý tộc. Tổ chức này gắn bó mật

thiết với thủ lĩnh quân sự. Khi cơ cấu xã hội thay đổi, nhà nước xuất hiện, hội đồng
các bô lão chuyển thành Viện nguyên lão.
Trong tác phẩm của Hôme, hội đồng các bô lão thường được miêu tả xuất
hiện trong các bữa tiệc liên hoan. Họ có quyền lực, được quyết định những việc có
tính chất quan trọng. Khi Uylix trôi dạt đến xứ sở Phêaxi, Vua Ankinôôx đã tiếp
đón chàng chu đáo, sao đó ông đã triệu tập hội đồng các bô lão của xứ Phêaxi tới
quảng trường để thông báo về sự kiện có vị khách lạ lạc bước đến đây, xin được
giúp đỡ:
“Khi hội nghị đông rồi, không thiếu một ai,
Thì Alkinôôx đứng lên trước công chúng cất lời:
- Hỡi các thủ lĩnh Phêaxiêng và cố vấn!

17


Xin nói một lời: Tôi có một khách xa mới đến
Trong nhà tôi, tôi chưa biết cả tên.
Chàng tới đây sau khi bị đắm thuyền.
Nhưng đến từ đất nước nào, phương trời lặn hay phương trời mọc?
Chàng khẩn khoản xin được đưa về nước
Và muốn chúng ta cho biết trước ngày đi.” [4,210]
Và hội đồng các bô lão lại được triệu tập trong buổi tiệc liên hoan để công bố
khai mạc các cuộc thi thể thao hay buổi tiệc tiễn đưa khách lạ ở khúc ca VIII của sử
thi Ôđixê. Trong giai đoạn này, hội đồng các bô lão không còn giữ nguyên được
quyền lực tối cao của mình mà chỉ đóng vai trò là các “cố vấn” theo cách gọi của
Hôme. Trong khúc ca thứ III của trường ca Ôđixê, khi Têlêmác hỏi thăm tin tức của
cha từ phía Nestor đã được ông thuật lại các sự việc kể từ khi chiến thắng trở về của
quân đội Hi Lạp. Trong đó, có chi tiết vì bất hòa mà hai vị vua Mêlênax và
Agamennông đã triệu tập toàn thể nhân dân (đại hội nhân dân) để trình bày lí do của
mình. Mêlênax muốn cho quân sĩ trở về còn Agamennông lại muốn nán lại làm lễ

hiến tế thần linh. Như vậy, ở đây có thể thấy các vị vua đã vượt quyền lực của các
bô lão, bởi lẽ đại hội nhân dân phải do hội đồng các bô lão triệu tập. Hơn nữa, sau
hội nghị, có các ý kiến chia thành hai phe khác nhau. Có thể thấy, hội đồng các bô
lão đã không còn chức năng quản trị - xét xử của mình.
b. Hội nghị nhân dân (Đại hội nhân dân) (agora)
Đại hội nhân dân hay “Hội nghị nhân dân” - tên gọi trong tác phẩm của
Hôme là một tổ chức xã hội có quyền hành cao. Khi cần đưa ra một quyết định có
tính chất quan trọng, liên quan đến xã hội, đất nước thì Hội nghị nhân dân sẽ được
triệu tập bởi Hội đồng các bô lão. Thành viên của Hội nghị nhân dân là toàn thể dân
chúng của đất nước ấy và mọi người dân đều có quyền phát biểu ý kiến của mình.
Khi trình bày quan điểm đồng ý hay không đồng ý của mình về một vấn đề thì các
thành viên sẽ giơ tay biểu quyết hoặc hô thật to. Trong Ôđixê Hội nghị nhân dân đã
được triệu tập ở một số thành phố, tiêu biểu là ở quê hương Itac của Uylix do
Têlêmác triệu tập (khúc ca II):

18


“Em liền gọi ngay các truyền lệnh sứ tiền hô,
Chỉ thị luôn cho triệu tập tức thì
Dân chúng Akêen tóc dài về quảng trường hội nghị. Truyền
lệnh sứ đi mời, và chiến binh tập hợp về đông đủ. Khi quần
chúng tới rồi, không thiếu một người dân, Têlêmác mới
đưa chân tiến bước tới quảng trường.” [4,55]
Hay hội nghị được triệu tập sau cuộc trả thù 108 kẻ cầu hôn của Uy-li-xơ:
“Sau đó, dân Itac họp nhau tại quảng trường, ảm đạm.
Dân chúng đến, cuộc họp bắt đầu, bàn luận.” [4,619]
Tuy nhiên, trong tác phẩm của mình, Hôme cũng đã chỉ ra những dấu hiệu
cho thấy sự lỏng lẻo trong tổ chức của Hội nghị nhân dân, rất hỗn loạn, không tuân
theo những quy định. Bởi lẽ, khi tổ chức hội nghị phải có các truyền lệnh sứ gào

thét át đi những tiếng hò reo của dân chúng để các thủ lĩnh có thể phát biểu và rất
khó khăn mới sắp xếp được chỗ người ổn định cho nhân dân.
Mặc dù tồn tại những biểu hiện tiêu cực, tuy nhiên Hội nghị nhân dân vẫn
giữ vai trò rất quan trọng trong mang tính quyết định trong cơ cấu tổ chức xã hội. Vì
ở giai đoạn này, mọi công việc phải được phần lớn nhân dân thông qua, được nhân
dân đồng ý mới thực hiện được. Thời kì này chưa có tổ chức nhà nước hay các cơ
quan pháp quyền nên không thể cưỡng ép, bắt nhân dân phải nghe, phải tuân theo ý
kiến của một cá nhân hay tổ chức đoàn thể. Vậy nên, quyền lợi của nhân dân luôn
được ưu tiên và tính đến đầu tiên.
Ăng-ghen đã đưa ra kết luận về vai trò của Hội nghị nhân dân: “Thật vậy ở
thời đại ấy, thời đại mà mỗi thành viên nam giới của bộ lạc đến tuổi thành niên đều
là những chiến binh, thì vẫn chưa có một quyền lực công cộng tách riêng khỏi nhân
dân và có thể đứng đối lập với nhân dân. Nền dân chủ nguyên thủy còn toàn thịnh
và chúng ta phải xuất phát từ điều đó mà phán đoán về quyền lực và địa vị của Hội
đồng cũng như của Basileus…” [6,267]
c. Các thủ lĩnh quân sự (Basileus)
Đây là một chức vụ được bầu lên bởi nhân dân, phải được xác nhận bởi các
tổ chức có quyền lực khác (Hội đồng các bô lão, Hội nghị nhân dân). Chức năng

19


×