TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
NHẬT KÝ CHIẾN TRANH 1945-1975
Ở VIỆT NAM, DIỆN MẠO
VÀ SINH MỆNH LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
HÀ NỘI – 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
NHẬT KÝ CHIẾN TRANH 1945-1975
Ở VIỆT NAM, DIỆN MẠO
VÀ SINH MỆNH LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. HOÀNG THỊ DUYÊN
HÀ NỘI – 2018
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo - Thạc Sĩ Hoàng
Thị Duyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ Văn đặc biệt là thầy cô trong tổ Lí luận văn học – Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong 4 năm học nói
chung và trong quá trình nghiên cứu khóa luận nói riêng.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm động
viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ kiến thức còn hạn chế của
người viết, khóa luận chắc chắn không thoát khỏi những thiếu xót. Tôi rất
mong nhận được sự sự góp chân thành của thầy cô và các bạn sinh viên để bài
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Phương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học
tập, nghiên cứu của tôi cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Ngữ
Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của
cô giáo- Thạc sĩ Hoàng Thị Duyên.
Trong quá trình làm khóa luận, tôi có tham khảo những tài liệu có liên
quan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo. Khóa luận không có sự
trùng lặp với các khóa luận khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Phương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................... 3
4. Đối tương nghiên cứu.................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
6. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 4
7. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 4
NỘI DUNG ....................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ VĂN
HỌC................................................................................................................... 5
1.1. Khái niệm ................................................................................................... 5
1.2. Lịch sử ra đời và phát triển ........................................................................ 6
1.2.1. Nhật ký trong giai đoạn đầu từ thế kỉ XVIII đến trước năm 1930 ......... 6
1.2.2. Nhật ký trong giai đoạn 1930 đến trước năm 1945 ................................ 7
1.2.3. Nhật ký trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1975) ............. 7
1.2.4. Nhật ký trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh thống nhất nước nhà (1955-1975)............................................................ 8
1.2.5. Nhật ký trong giai đoạn sau 1975 đến nay.............................................. 8
1.3. Đặc điểm của nhật ký văn học ................................................................... 9
1.4. Phân loại nhật ký văn học ........................................................................ 11
1.4.1. Nhật ký cá nhân..................................................................................... 11
1.4.2 Nhật ký sự vụ ......................................................................................... 12
1.4.3 Nhật ký văn học ..................................................................................... 12
CHƯƠNG 2: NHẬT KÝ CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1945-1975 NHÌN TỪ
KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI .................................................... 14
2.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa ..................................................................... 14
2.2. Sự phát triển nở rộ của loại hình văn học tư liệu ..................................... 15
2.3. Diện mạo của nhật ký chiến tranh............................................................ 18
2.3.1. Đặc điểm nội dung của nhật ký chiến tranh.......................................... 18
2.3.1.1. Nhật ký chiến tranh tái hiện lại hiện thực chiến trường khốc liệt...... 18
2.3.1.2. Nhật ký chiến tranh đã tái hiện lại tâm trạng người trong cuộc ........ 25
2.3.2. Hình thức nghệ thuật ............................................................................. 32
2.3.2.1. Ngôn ngữ ngắn gọn đời thường ......................................................... 32
2.3.2.2. Sự đan xen giữa yếu tố trữ tình và tự sự ............................................ 34
2.3.2.3. Hình thức tồn tại của nhật ký ............................................................. 36
2.3.2.4. Giọng điệu .......................................................................................... 36
2.4. Cuộc chiến tranh qua góc nhìn cá nhân trong nhật ký............................. 40
2.4.1. Cuộc chiến gian khổ, hy sinh, mất mát, ................................................ 40
2.4.2. Cuộc chiến hào hùng............................................................................. 51
CHƯƠNG 3: SINH MỆNH LỊCH SỬ CỦA NHẬT KÝ CHIẾN TRANH... 54
3.1. Những cuốn nhật ký trở về từ người thân (người thân lưu giữ) ............. 54
3.1.1. Nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc ................... 55
3.1.2. Nhật ký “Tài hoa ra trận” của Hoàng Thượng Lân.............................. 56
3.1.3. “Nhật ký chiến trường” của Dương Thị Xuân Qúy............................. 57
3.2. Những cuốn nhật ký trở về từ người bên kia chiến tuyến ....................... 58
3.3. Cơ duyên phát triển và được đón nhận của nhật ký chiến tranh............. 59
3.3.1. Nhật ký chiến tranh- Nhu cầu nhận thức lại lịch sử ............................. 59
3.3.2. Nhật ký chiến tranh- Khát vọng tìm hiểu cuộc chiến từ góc nhìn cá
nhân ................................................................................................................. 60
3.3.3. Nhật ký chiến tranh- Tái cấu trúc ký ức chiến tranh, tác phẩm nhật ký
chuyển thể thành phim .................................................................................... 61
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Nhật ký là một thể loại đặc biệt trong nền văn học Việt Nam. So với
nhiều thể loại văn học khác thì thể loại nhật ký xuất hiện muộn, hơn nữa số
lượng nhật ký hiện nay ở nước ta còn khá ít nên vẫn chưa được nhiều người
biết đến. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta cần phải quan tâm và phát
triển thể loại nhật ký để đưa nhật ký trở thành một trong những thể loại chính
trong nền văn học Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhật ký đã được sự
quan tâm của dư luận, và dường như có sự quan tâm hơn đối với những cuốn
nhật ký về đề tài chiến tranh. Thể loại nhật ký được biết đến như một điểm
nhìn mới mẻ ngay sau khi ra mắt.
1.2 Xuất hiện trong dòng văn học viết về đề tài chiến tranh, thể loại nhật
ký được biết đến như một điển hình về sự mới mẻ, chân thực kể từ khi có sự
xuất hiện và công bố hai cuốn nhật ký gây sốt là: Nhật ký Đặng Thùy Trâm,
Mãi mãi tuổi hai mươi. Sau hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, cuốn nhật ký của
cô gái bác sĩ Hà Nội đã được xuất bản trong nước, được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới với tiêu đề Nhật ký Đặng Thùy Trâm, đã trở thành một
cuốn sách bán chạy nhất. Cùng với Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Nhật ký Mãi
mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc cũng trở thành một sự kiện được
quan tâm trong đời sống xã hội. Hai cuốn nhật ký ấy ra đời đã gây nên một
hiệu ứng xã hội rộng lớn và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Cùng thời gian này, cũng
có rất nhiều cuốn nhật ký khác được biết đến như: Tài hoa ra trận của Hoàng
Thượng Lân, Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Nhật ký Lê Anh Xuân
của Lê Anh Xuân, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, Sống để
yêu thương và dâng hiến của Hoàng Kim Giao. Những cuốn nhật ký này đã
giúp cho người đọc hiểu và hình dung rõ nét về cuộc sống, con người trong
những năm tháng chiến tranh ác liệt.
1
1.4 Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, hòa bình đã được lặp lại, hai miền
Nam-Bắc thống nhất, là lí do khiến nhiều bạn trẻ ngày nay dần quên đi sự
khốc liệt của chiến tranh mà ông cha ta đã phải gánh chịu, sự tồn tại của một
thời mưa bom bão đạn. Hơn nữa, hiện nay đề tài viết về chiến tranh không
còn phổ biến như những năm cách mạng, những sáng tác sau này thật sự chưa
thể nào tái hiện lại được một cách chân thực bức tranh thời chiến. Tuy nhiên,
sau khi những cuốn nhật ký chiến tranh được công bố rộng rãi khắp nơi, đã
thu hút được sự chú ý từ phía bạn đọc. Qua những cuốn nhật kí trở về đã mở
ra cho người đọc những thước phim quay chậm của lịch sử nước nhà trong
những năm tháng chiến đấu một cách chân thực nhất. Văn học Việt Nam giai
đoạn 1945-1975 đã mang một diện mạo mới và phong phú hơn kể từ khi có
sự góp mặt của nhật ký chiến tranh. Đồng thời,nó mang trong mình diện mạo
và sinh mệnh lịch sử lớn lao. Vì thế, việc nghiên cứu về nhật ký chiến tranh
vừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Với những đặc
điểm riêng về thể loại, nhật ký chiến tranh đã trở thành một trong những thể
loại không thể thể thiếu trong nền văn học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhật ký là thể loại phát triển mạnh trong những năm kháng chiến, nhưng
do đặc điểm của nó là mang tính chất riêng tư nên trước năm 1986 không
được biết đến rộng rãi, và còn khá xa lạ đối với bạn đọc. Sau năm 1975, thống
nhất đất nước và đại hội Đảng lần VI năm 1986 thì những cuốn nhật ký lần
lượt được trở về. Được sự đồng ý từ phía gia đình và người thân, những cuốn
nhật ký đã dần được công bố và lan rộng trong giới văn học đặc biệt là sự
xuất hiện của hai cuốn nhật ký là: Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi
hai mươi đã thực sự gây được tiếng vang lớn đối với bạn đọc và các nhà phê
bình văn học, nó nhanh chóng trở thành hiện tượng văn học, hiệu ứng xã hội
đặc biệt. Những dòng tâm sự, tâm tư tình cảm, hiện thực chiến tranh được
nhìn nhận dưới lăng kính của những con người trực tiếp lăn lội nơi đầu sóng
ngọn gió, bão đạn mưa bom đã thu hút giới nghiên cứu phê bình. Nhiều bài
viết giới thiệu, phê bình xuất hiện trên các phương tiện truyền thông tuy nhiên
những công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhật ký vẫn còn hạn chế, chỉ có
một vài nghiên cứu chạm đến những vấn đề cơ bản. Vì thế khóa luận này của
chúng tôi chứa đựng một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về thể loại.
Diện mạo và sinh mệnh lịch sử của nhật ký chiến tranh góp phần làm đa dạng
hơn những nghiên cứu về thể loại.
3. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
Thể loại nhật ký nói chung và thể loại nhật ký văn học nói riêng trong
những năm qua tuy đã gây được sự chú ý nhưng vẫn chưa thực sự phát triển
mạnh mẽ. Vẫn chưa có nhiều công trình nói về thể loại nhật ký mà chỉ có một
số tác phẩm gây được sự chú ý lớn. Điều đó, khiến cho việc tiếp cận thể loại
nhật ký còn mang tính chất hạn chế. Qua khóa luận này, tôi mong rằng có thể
góp một phần vào các công trình nghiên cứu trước đó để làm rõ vấn đề diện
mạo và sinh mệnh lịch sử của nhật ký chiến tranh. Hơn nữa nó cũng góp phần
hoàn chỉnh bức tranh hiện thực đời sống của con người trên nhiều bình diện,
cái nhìn đa chiều và đa sắc, giúp cho độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về con
người và xã hội. Nhật ký chiến tranh nói riêng đã mở ra thế giới tâm hồn sâu
lắng cảm xúc và chất chứa suy tư, tình cảm của chủ thể sáng tạo khi đánh giá,
nhận xét về hiện thực cuộc sống dưới cái nhìn trực diện. Hơn thế nữa là bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đến thế hệ cha ông đi trước, những con người đã không
tiếc thân mình đem lại độc lập cho dân tộc. Đề tài nghiên cứu giúp người đọc
nhận thức, có cái nhìn chân thực để từ đó hình thành nhân cách sống cao đẹp
xứng đáng với sự hy sinh của lớp cha anh vì sự nghiệp vẻ vang của dân tộc.
4. Đối tương nghiên cứu
Các tác phẩm thuộc thể loại nhật ký chiến tranh với số lượng không
nhiều, trong đó một số tác phẩm đã được nghiên cứu nhiều nên tôi xin đi sâu
nghiên cứu những cuốn nhật ký chính sau:
Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng của Nguyễn Huy Tưởng
Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý
Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm
Mãi Mãi Tuổi Hai Mươi của Nguyễn Văn Thạc
Nhật ký Tài Hoa Ra Trận của Hoàng Thượng Lân
Nhật ký Chiến Trường của Phan Tứ
Nhật ký Lê Anh Xuân của Lê Anh Xuân
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh
Phươn pháp lịch sử - Chức năng
Phương pháp phân tích tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận
Với đề tài “ Nhật ký Chiến tranh 1945-1975 ở Việt Nam, diện mạo và
sinh mệnh lịch sử” thông qua các tác phẩm nhật ký tôi mong muốn bài khóa
luận sẽ góp phần làm phong phú và chuyên sâu hơn về thể loại nhật ký văn
học, trong đó có nhật ký chiến tranh.
7. Bố cục của khóa luận
Khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thể loại nhật ký văn học
Chương 2: Nhật ký chiến tranh Việt Nam 1945-1975 nhìn từ không gian
văn hóa đương đại
Chương 3: Sinh mệnh lịch sử của nhật ký chiến tranh
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT
KÝ VĂN HỌC
1.1. Khái niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học [24] thì nhật ký:“Là một thể loại thuộc
loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại. So với các thể loại khác
như truyện, tiểu thuyết, thơ,... thì ký xuất hiện muộn hơn, đến thế kỷ thứ
XVIII khi có sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm của con người, khi nhu
cầu tự bộc bạch, tự quan sát xuất hiện thì thể loại này mới bắt đầu manh nha ở
Châu Âu và phát triển cực thịnh ở thế kỷ thứ XIX. Tại Nhật Bản nhật kí xuất
hiện khá sớm ngay từ thời Heian thế kỷ thứ VIII. Nhật ký (nikki) thông
thường bắt nguồn từ giới trí thức cung đình với chức năng ban đầu là các ghi
chép việc công, sau dần trở thành thể loại văn chương đích thực, bởi nó gắn
song song việc miêu tả sự kiện và bình luận về sự kiện, sử dụng lối văn trang
nhã. Tác phẩm nhật ký văn chương nổi tiếng đầu tiên của Nhật có thể kể đến
là cuốn Tosa nikki (Thổ tá nhật ký), do thi nhân và nhà phê bình thơ Kino
Tsurayuki viết và cho ra đời năm 935, ghi chép hành trình 50 năm ngày
đường của tác giả từ Tosa tới kinh đô.
Ở Việt Nam, thể ký ra đời muộn, có thể lấy điểm mốc cho sự xuất hiện
thể loại này ở thời Lý – Trần với Vũ trung tùy bút và Thượng kinh ký sự.
Cũng như ở phương Tây, thể ký ở Việt Nam cũng được coi là thể loại mở
đường dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ
thuật. Trải qua giai đoạn lịch sử, ký cũng có những biến thể để phù hợp với xu
thế phát triển của văn học và đáp ứng được nhu cầu của độc giả. Nhật ký
chính là một dạng biến thể của ký hiện đại bên cạnh hồi ký, tùy bút, tản mạn,
phóng sự,...
Từ điển văn học ( bộ mới) định nghĩa nhật ký là “ Loại văn ghi chép sinh
hoạt thường ngày. Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi thứ
nhất số ít, có đánh số ngày tháng (…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã
xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm; nó ít hồi cố; được viết ra chỉ cho
bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận” [14,
1257]. Từ điển thuật ngữ văn học cũng coi nhật ký là “một thể loại hình ký”
hay “là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi
chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác
giả hay nhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến” [ 14, 204].
Giáo trình Lý luận văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học do GS.Trần
Đình Sử chủ biên [24] thì định nghĩa như sau: “ Nhật ký là thể loại ghi chép
sự việc, suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu
có giá trị về tiểu sử và thời đại của người viết” [24, 261]. Như vây, có thể nói
rằng, nhật ký chính là những ghi chép cá nhân về những sự kiện, những cảm
xúc, suy nghĩ trước những sự kiện xảy ra trong hàng ngày hay trong thời điểm
gần.
1.2. Lịch sử ra đời và phát triển
1.2.1. Nhật ký trong giai đoạn đầu từ thế kỉ XVIII đến trước năm 1930
So với nhiều thể loại văn học khác, thể loại nhật ký xuất hiện muộn hơn
và đã bước đầu manh nha trong nền văn học giai đoạn đầu từ thế kỷ XVIII
đến trước năm 1930. Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác được đánh giá là
đỉnh cao của thể ký thời trung đại… Qua tác phẩm ta nhận ra được sự tài tình
của tác giả khi kết hợp đồng thời nhiều tiểu loại của ký như du ký, nhật ký,
hồi kí… Như vậy, đặc điểm của nhật ký đã bước đầu xuất hiện trong những
tác phẩm thời kỳ trung đại.
Ký không chỉ xuất hiện trong văn xuôi mà chúng ta còn bắt gặp nó trong
thơ, đặc biệt trong thơ của Cao Bá Quát. Cao Bá Quát khi làm thơ thường ghi
rõ thời gian, không gian cụ thể như ngày nào, canh nào, làm gì, ở đâu,… Như
trong các bài thơ Đêm mười bảy dưới trăng viết vội thư gửi bạn, bài thơ
Thanh minh nhật cảm tác, họa Trần Ngộ Hiên… Sự manh nha này góp phần
định hướng tạo tiền đề cho sự xuất hiện và phát triển của nhật ký trong các
giai đoạn sau.
1.2.2. Nhật ký trong giai đoạn 1930 đến trước năm 1945
Trong giai đoạn này thể loại nhật ký bắt đầu xuất hiện nhưng chưa nổi
bật, chưa tìm thấy vị thế của mình trên vũ đài văn học. Đã có một số nhà văn
viết về thể loại này song chưa nhận được sự quan tâm của độc giả. Vì vậy, có
thể nói đây là giai đoạn bước đầu hình thành của một thể loại mới-nhật ký.
1.2.3. Nhật ký trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1975)
Nếu như ở giai đoạn trước nhật ký đang trong quá trình “tìm đường” thì
bước sang giai đoạn này nhật ký bắt đầu phát triển và ghi lại dấu ấn của mình
trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam. Chiến tranh chính là
mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh nên một đội ngũ các nhà văn chuyên và
không chuyên viết nhật ký để từ đó tạo ra thành tựu to lớn của thể loại này.
Các tác phẩm nhật ký tiêu biểu của các nhà văn chuyên nghiệp trong giai
đoạn này như cuốn Nhật ký ở rừng (1948) của Nam Cao, Một tháng đi theo
pháo binh (1948) của Hoài Linh, nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng,… Bên
cạnh nhật ký của những nhà văn chuyên nghiệp là nhật ký của những người
viết không chuyên nghiệp như những trang nhật ký của Phan Phú- chính trị
viên đại đội một đơn vị chủ lực được lưu lại trong cuốn sổ tay của Tô Hoài
hay những trang nhật ký của Lê Nguyên - Đại đội trưởng Đại đội 156, Sư
đoàn 308…
1.2.4. Nhật ký trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và đấu tranh thống nhất nước nhà (1955-1975)
Giai đoạn 1955-1975 là giai đoạn nhật ký tiếp tục phát triển và nhanh
chóng đạt tới đỉnh cao với nhiều cuốn nhật ký để lại giá trị to lớn cả về mặt tư
liệu và nghệ thuật. Nhật ký ra đời bởi hai đội ngũ sáng tác chính là nhà văn
chuyên nghiệp và người viết không chuyên - những người trực tiếp tham gia
vào cuộc kháng chiến. Các cuốn nhật ký được sáng tác bởi đội ngũ các nhà
văn chuyên nghiệp giai đoạn này tiêu biểu như: Nhật ký chiến tranh của Chu
Cẩm Phong, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, nhật ký của
Nguyễn Minh Châu… Người viết không chuyên trong giai đoạn này xuất hiện
nhiều hơn trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp tiêu biểu như Nhật ký
Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn
Văn Thạc, nhật ký Tài hoa ra trận của Hoàng Thương Lân, nhật ký của Vũ
Xuân, nhật ký Đường về của Phạm Thiết Kế, …
1.2.5. Nhật ký trong giai đoạn sau 1975 đến nay
Sau 1975, với những thay đổi lớn về bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa và
chính trị đã tạo điều kiện cho nhật ký ngày càng trở nên phổ biến và gần gũi
với con người hơn. Con người ngày càng có nhu cầu ghi chép lại những gì
xảy ra xung quanh, ghi lại cảm xúc của bản thân và nhật ký chính là nơi để
mỗi cá nhân ký gửi những điều riêng tư đó. Có một điều đặc biệt hơn so với
các giai đoạn trước là bên cạnh những trang nhật ký được lưu lại trong các
cuốn sổ tay, ngày nay phần nhiều con người chuyển sang một dạng khác của
nhật ký đó là nhật ký điện tử ví dụ như blog cá nhân, faceboook… nguyên
nhân là do cuộc sống hiện đại cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ,
con người tiếp cận và làm việc với máy móc nhiều hơn nên việc sử dụng nhật
ký điện tử thuân lợi hơn, khả năng lưu giữ tốt hơn.
Có thể khẳng định nhật ký ngày càng khẳng định được vị thế của mình
và đến gần với con người hơn .Việc đọc nhật ký, viết nhật ký… đã không còn
xa lạ mà dần trở thành một thói quen của con người hiện đại. Như vậy, nhật
ký đã phát huy một cách tích cực sức mạnh đặc trưng của thể loại trong việc
đáp ứng nhu cầu trong đời sống tinh thần của con người cũng như tạo ra
những nét mới về mặt thể loại cho văn học Việt Nam.
1.3. Đặc điểm của nhật ký văn học
1.3.1. Nhật ký văn học vừa dung chứa đặc điểm cá biệt do thể loại nhật
ký quy định, vừa bao hàm các đặc điểm chung của thể ký và tác phẩm văn
học. giáo sư Trần Đình Sử đã từng nói rằng: “ Là một thể loại phi văn học
hoặc cận văn học cho nên nhật ký rất chân thật, chân thành, đáng tin cậy.
Ngoài mục đích riêng tư nó không có mục đích nào khác chi phối. Do vậy
nhật ký thuộc vào văn học tư liệu với giá trị tư liệu của nó” [24]. Nhật ký
cũng như các thể loại khác của kí, trước hết đều coi trọng tính chân thực đáng
tin cậy của sự kiện được ghi chép lại. Mục đích ban đầu của cuốn nhật ký là
ghi chép những gì diễn ra trong ngày, những sự vật, sự việc đã trải nghiệm
qua, nhật ký là một sự riêng tư viết cho bản thân mình không hướng tới một
đối tượng nào khác nên nó luôn chân thực.
1.3.2. Nhật ký là lời tự bộc bạch tâm sự, tình cảm, suy nghĩ của mỗi tác
giả khi cô đơn, muốn tự nhìn lại mình chiêm nghiệm lại sự việc đã xảy ra, là
những ghi chép thời hiện tại. Vì thế, có thể nói nhật ký chính là thể loại ký
mang tính chất riêng tư và đời thường nhiều nhất. “Với tư cách là những ghi
chép của cá nhân, trong nhật ký, người viết có thể tự cho mình trình bày
những suy nghĩ, quan điểm, tình cảm và thái độ trước một sự thật” [24, 215].
Riêng tư chính là lý do tồn tại của nhật ký, là yếu tố hấp dẫn của thể loại văn
học đặc biệt này, vì nó liên quan đến những tâm tư, tình cảm.
Nhật ký thường viết theo ngôi thứ nhất tác giả tự độc thoại với chính bản thân
mình vì vậy tính chân thật rất cao. Nếu như ở những thể loại như phóng sự,
tùy bút, bút ký trung tâm thông tin không phải là tác giả mà là các vấn đề xã
hội thì ở nhật ký nói chung và nhật ký văn học nói riêng người viết luôn là
trung tâm, so với các thể loại khác vai trò của cái tôi trần thuật trong nhật ký
văn học bao quát, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Tác giả không ngần ngại xuất
hiện trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phần
quan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang được
nghe kể về những sự thật mà tác giả là người đã trực tiếp trải qua hay chứng
kiến. Tuy nhiên, có những khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật chính là
cuộc đối thoại ngầm với người khác hay “bạn đọc tưởng tượng” về con người
và cuộc đời nói chung, về bản chất của mình nói riêng. Hình tượng tác giả
trong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng thẩm mỹ
lớn lao.
1.3.3. Là một thể loại phi văn học hoặc cận văn học cho nên nhật ký rất
chân thật, đáng tin cậy và ngoài mục đích riêng tư nó không bị chi phối bởi
mục đích nào khác. Do vậy, nhật ký thuộc vào văn học tư liệu với giá trị tư
liệu của nó. Nhật ký chỉ ghi người thật việc thật, tình cảm thật, tư tưởng thật.
Do được ghi chép liên tục mà một số sự kiện được người ghi quan tâm đã
được phản ánh trong tính liên tục như là một cốt truyện theo tính biên niên.
Hồi kí cũng thuộc văn học tư liệu, tuy nhiên nó được ghi lại bằng hồi tưởng
về quá khứ, những sự kiện đã diễn ra được ghi lại có thể không theo một trình
tự thời gian nhất định.
Viết nhật ký thường không nhằm để xuất bản hay công bố rộng rãi, nếu
được xuất bản thường là khi tác giả đã qua đời, người sau thấy có ý nghĩa, giá
trị nên xuất bản. Giá trị chủ yếu của nhật ký là tư liệu, ghi sự thật: sự thật
riêng tư hay liên đới xã hội, một sự thật tự phơi bày, không che giấu, không bị
kiểm duyệt. Bản thân sự ghi là một sự thật, rồi sự thật được ghi cũng là sự
thật. Giá trị thứ hai của của nó là dấu ấn, quan điểm riêng cá nhân của người
ghi. Các nhật ký của các nhà văn hóa, nghệ sĩ đã cung cấp nhiều tư liệu quý
về đời sống nội bộ, những tư tưởng, tâm tình trong những năm nội chiến và
chiến tranh vệ quốc. Nhật ký của các nhà văn như: Nhật ký Nguyễn Huy
Tưởng, của các nhà văn ở chiến trường như Dương Thị Xuân Qúy, Chu Cẩm
Phong, Phan Tứ, nhật ký của những chiến sĩ trực tiếp tham gia vào cuộc
kháng chiến như: Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc và của nhiều người
khác… mỗi trang đều đầy ắp sự kiện, nhân cách về tác giả, về không khí
chiến tranh nóng bỏng và đều mang đậm tính chất chính luận.
Như thế ba phương diện trên không tách rời nhau trong nhật kí. Tư liệu
là phạm vi bao quát, hồi kí, tự truyện cũng thuộc phạm vi tư liệu, còn chính
luận là khuynh hướng chính của nhật ký trong thời kì chiến tranh. Những nét
riêng tư của nhật ký là tư liệu cá nhân, màu sắc cá nhân, quan điểm cá nhân
nổi lên hàng đầu. Thiếu bản sắc cá nhân thì nhật ký dễ biến thành tư liệu
chung chung, thiếu sức hấp dẫn.
1.4. Phân loại nhật ký văn học
1.4.1. Nhật ký cá nhân
Nhật ký cá nhân thông thường được coi như một thể loại ngoài văn học
hay cận văn học, là loại văn ghi chép của cá nhân trong đời sống hàng ngày.
Do vậy, nhật ký thường chân thành và tự nhiên trong phát ngôn, bao giờ cũng
chỉ ghi lại những gì diễn ra, đã nếm trải, đã trải nghiệm, và ít khi hồi cố. Nhật
ký được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công
chúng tiếp nhận, và đây là điểm phân biệt nó với nhật ký văn học.
Nhật ký cá nhân thường nói về các sự kiện của đời tư với tính chất xác
thực đặc biệt. Bên cạnh các sự kiện đời tư, nhật ký cũng nói lên những ý kiến
nhận xét về cuộc đời, thường được rút ra từ các suy nghĩ cuộc sống của bản
thân người ghi.
Nhật ký là thể tài độc thoại, nhưng lời độc thoại của nhật ký có thể mang
tính chất đối thoại bên trong, do tính đến ý kiến của người khác về cuộc đời
và bản thân người ghi nhật ký.
1.4.2 Nhật ký sự vụ
Nhật ký ghi chép vắn tắt tiến trình công việc, có thể kể đến loại nhật ký
công tác (có nội dung khoa học) hay nhật ký sự vụ chuyên biệt (như hải trình,
một dạng nhật ký hàng hải). Các thể loại nhật ký công việc này không được
coi như là thể loại nhật ký văn học trừ một vài ngoại lệ.
1.4.3 Nhật ký văn học
Những đặc điểm của nhật ký cá nhân nói đã được vận dụng trong văn
học từ khá sớm. Ở Tây Âu, thể tài nhật ký phát triển trong văn học cuối thế kỉ
18 khi có sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm con người, khi xuất hiện nhu
cầu tự bạch và tự quan sát, khi độc thoại nội tâm và thủ pháp dòng ý thức
được chú trọng.
Ở Nhật Bản ngay từ thời Heian thể kỷ thứ VIII, nhật ký (nikki) thông
thường của giới trí thức cung đình, mụ đích ban đầu là các ghi chép việc
công, sau đó ngày càng hướng đến là thể loại văn chương đích thực, khi nó
gắn song song việc miêu tả sự kiện và bình luận về sự kiện, sử dụng lối văn
trang nhã. Tác phẩm nhật ký văn chương nổi tiếng đầu tiên của Nhật có thể kể
đến là cuốn Tosa nikki ( Thổ tá nhật ký) do thi nhân và nhà phê bình thơ Ki
No Tsurayuki (868?- 945) viết và cho ra đời năm 935, ghi chép hành trình 55
ngày đường của tác giả từ Tosa ( nay thuộc tỉnh Kochi, phía nam Shikoku) tới
kinh đô( nay thuộc Kyoto).
Nhật ký văn học vừa dung chứa đặc điểm khác biệt do thể loại nhật ký
quy định, vừa bao hàm các đặc điểm chung của tác phẩm văn học.
Một dấu hiệu thể tài nhật ký cũng được khai thác trong loại văn du ký
hay kỷ hành. Thể tài nhật ký được một loạt các nhà văn sử dụng và không
hiếm khi độc giả bắt gặp trong văn học thế giới những tác phẩm văn học hoàn
toàn được viết dưới dạng nhật ký, như Lối lên miền Oku của Matsuo Basho,
Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Bên cạnh đó
một số tác phẩm có những phần nhất định dùng hình thức nhật ký, như Nhật
vật của thời đại chúng ta của Lermontov, Chàng ngốc của Dostoevski v.v.
Một số nhật ký thông thường, nhật ký công tác hay nhật ký sự vụ của
nhà văn hay một nhân vật lịch sử đặc biệt được công bố, phát hành đến công
chúng sau khi họ mất, như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, cũng có thể coi là một
dạng nhật ký văn học, dù đặc trưng thể loại và hình thức của chúng không
phải là một nhật ký văn học đích thực từ trong ý đồ dụng bút của người viết
mà bởi giá trị về nội dung tư tưởng của nó.
Tính chất nhật ký còn có ở cả một số sáng tác trữ tình, chính luận, thậm
chí ở một số tác phẩm triết học.
CHƯƠNG 2: NHẬT KÝ CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1945-1975
NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI
2.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa
Nền văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám với hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài suốt 30 năm đã tác động
sâu sắc, toàn diện đến đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc. Điều này đã
tạo nên những đặc điểm riêng biệt của nền văn học do hình thành và phát triển
trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt. Trong hoàn cảnh như vậy, giai
đoạn 1945-1975 vẫn phát triển và đạt được nhiều thành tựu, đóng góp cho
lịch sử văn học những giá trị riêng.
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam tuyên
bố độc lập nhưng bên cạnh đó cũng đứng trước những khó khăn, thử thách
lớn: miền Bắc bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và tiếp tục hỗ
trợ chiến tuyến miền Nam chống giặc ngoại xâm. Như vậy, văn học giai đoạn
này vừa diễn ra xu hướng hội tu, vừa có sự phân hóa của các khuynh hướng
văn học. Giai đoạn này, văn học được hướng đến phong cách hiện thực, đại
chúng. Không ít cây bút tài năng băn khăn với câu hỏi: viết cho ai? Viết cái
gì? Viết như thế nào? Hay văn xuôi trong giai đoạn này cũng vậy, chủ yếu là
truyện ngắn và ký đề tài viết về người nông dân và người lính Vệ quốc quân.
Những nhà văn mà phần nhiều cũng chính là những người lính, họ đã ghi
chép lại những gì có tính chất thời sự xảy ra trên chiến trường. Nội dung của
nó là ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp cũng như lòng yêu nước thương nhà,
tình đồng đội đồng chí, tinh thần dũng cảm trong chiến đấu. Truyện và truyện
ngắn phong phú hơn về đề tài, từ người lính và cuộc chiến đấu trên chiến
trường đến nông thôn, vùng cao, công nhân, tri thức… nhưng đều gắn liền với
cuộc chiến tranh chống Pháp. Một mảng đề tài nữa cũng được thể hiện rất rõ
nét trong giai đoạn này đó là ký, trong đó nhật ký là một trong những đề tài
được đón nhận khá nhiều. Những truyện, kí chủ yếu phục vụ công cuộc chiến
đấu của nhân dân, chiến sĩ trên chiến trường.
2.2. Sự phát triển nở rộ của loại hình văn học tư liệu
Loại hình văn học tư liệu là một trong những loại hình văn học đang
ngày càng được công chúng đón nhận một cách mạnh mẽ. Đặc biệt là đối với
nhật ký, loại hình này ngày càng phát triển nở rộ. Tư liệu là vật liệu để làm
một việc gì, tài liệu nghiên cứu ( như tư liệu kiến trúc, tư liệu lịch sử,..) Hay
hiểu theo nghĩa khác, tư liệu là những hình ảnh, giấy tờ, văn bản… được ghi
lại với mục đích lưu giữ thông tin, sự kiện hoặc vấn đề nào đó chứ không phải
nhằm phổ biến rộng rãi hoặc để làm phim, nhất là những gì còn phải giữ bí
mật hoặc vì một lí do nào đó khác. Vì thế nên gần như ở mỗi quốc gia đều có
người đảm trách công việc quay phim tư liệu, nằm trong biên chế các cơ sở
điện ảnh hoặc truyền hình nhà nước quản lí.
Văn học tư liệu chính là những tài liệu hay phim ảnh tài liệu giúp cho
chúng ta hình dung về tác phẩm và những sự kiện một cách chính xác, chân
thật và gần gũi nhất. Loại văn học tư liệu này rất phát triển trong giai đoạn
văn học 1945-1975 và khi đến với nhật ký chiến tranh nó thực sự nở rộ đạt
đến đỉnh cao. Do hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc Việt Nam chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc
và Tây Nam của tổ quốc đã trở thành đề tài và cảm hứng bất tận trong ý thức
nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ. Và thực tế, ta đã có một dòng chảy mãnh
liệt của văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh với nhiều cách tiếp cận, lý giải
chiến tranh và con người khác nhau với những thành tựu khác nhau. Vinh dự
và niềm tự hào ấy dành cho những nhà văn chuyên, nhà văn mặc áo lính qua
nhiều thế hệ mà tên tuổi của họ đã đi vào lịch sử văn học với tư cách là những
nhà văn chiến sĩ đầy bản lĩnh và tài năng.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược
tiếp sau thắng lợi của kháng chiến chống Pháp (1945-1954) giải phóng miền
Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ của nhân dân trên cả nước. Cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của
cả dân tộc diễn ra trong một thời gian dài, có thể có quá nhiều sự kiện xảy ra
theo dòng chảy lịch sử ấy. Theo thời gian, tư liệu chính là thứ mà có thể giúp
chúng ta có cái nhìn đúng nhất về những gì đã xảy ra của lịch sử nước nhà.
Đặc biệt việc sử dụng tư liệu, tài liệu trong mỗi bộ phim thường rất công phu,
đòi hỏi sự nghiêm túc, khách quan và chuẩn xác, nhất là những ảnh không rõ
về nguồn gốc, xuất xứ vì một lí do nào đó. Ví dụ hình ảnh một chiến đấu giữa
quân ta và quân địch hay hình ảnh tàn khốc ở thành cổ Quảng Trị trong kháng
chiến chống Mỹ qua những tư liệu mà đã xác minh hoặc nhờ những dấu hiệu
sẽ giúp người đọc hình dung dễ dàng.
Chúng ta có thể thấy, chiến tranh ở bất kì dân tộc nào khi đi qua đều
nghiễm nhiên trở thành kho tư liệu và ký ức tâm hồn của dân tộc ấy. Và để nó
có sức sống vĩnh cửu thì các nhà văn đã tái hiện lại trong tác phẩm với cái
nhìn của người trong cuộc, bằng mệnh lệnh của trái tim và sự thôi thúc viết
lên sự tối đa của ngòi bút. Sự thật và con người trong chiến tranh đã được tái
hiện một cách chân thực, sâu sắc qua các tư liệu văn học. Quả thực, năm
tháng chiến tranh đã để lại cho con người những ký ức không thể nào phai
nhòa về những nỗi đau hy sinh, mất mát hay những niềm tự hào mà dân tộc
đã phải trải qua. Bao thế kỷ trôi qua, những thế hệ trở về sau này chắc hẳn sẽ
không có dấu ấn sâu đậm về chiến tranh, họ sẽ chỉ hiểu một cách chung nhất
về những sự kiện trong lịch sử dân tộc đã diễn ra qua những những trang
sách. Tư liệu về chiến tranh đang nổi lên như một khuynh hướng có triển
vọng và là mảnh đất màu mỡ cho giới văn nghệ sĩ có thể thỏa sức cày xới.
Bởi tư liệu rất khách quan, mang tính chân thực cao nên độc giả hôm nay nếu
có ngả về tư liệu thì cũng có cái lí do chính đáng. Họ cần sự thật trung thành.
Họ cần biết thêm về chiến tranh qua tư liệu gốc, từ đó sẽ chủ động suy đoán,
bình giá để đưa ra cái nhìn đúng đắn nhất về cuộc chiến tranh. Hư cấu nếu
“thấp lè tè” thì không thể sánh bằng tư liệu “ngồn ngột chất đời”, chứa đầy sự
thật. Nhu cầu chính đáng của con người là được tiếp cận sự thật, dẫu cho
“thuốc đắng dã tật”.
Bằng chứng của sự phát triển nở rộ ấy chính là tác phẩm của nhà văn
Trần Mai Hạnh với cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “ Biên bản chiến tranh 1-23-4.75 (2014)”. Nhà văn chia sẻ: “ Thời gian càng lùi xa, việc nhìn về quá
khứ càng bị lớp bụi thời gian phủ mờ. Nên tôi chọn cách viết tiểu thuyết tư
liệu- lịch sử từ những tư liệu có thật mà tôi tiếp cận được từ nhiều phía, trong
đó có những tư liệu mà tôi có thể tiếp cận được từ phía Việt Nam Cộng hòa,
như một cách trung thực để tái hiện lịch sử”. Những cuốn tư liệu về chiến
tranh khác như Dòng sông mang lửa (2013) của Hồ Sỹ Hậu, Trong cơn lốc
xoáy (2016) của Trần Hương cũng góp phần tích cực và hiệu quả vào việc tái
hiện chiến tranh từ bản gốc. Có thể xếp Đỉnh máu (2012) của Nguyễn Bảo
vào dòng tiểu thuyết tư liệu về chiến tranh. Một hiện tượng văn học sử thiết
nghĩ cũng rất đáng quan tâm đó là sự xuất hiện của bộ tiểu thuyết tư liệu- lịch
sử trường thiên Đường thời đại của tác giả Đặng Đinh Loan ( gồm 17 tập, với
hơn 8000 trang, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật ấn hành trọn bộ,
năm 2013). Sự đánh giá có thể còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng trước
hết cần ghi nhận lao động nghệ thuật kiên nhẫn của tác giả đã dành trọn 30
năm để hoàn thành một tác phẩm đồ sộ mà không phải ai cũng dễ dàng thực
hiện được. Ý đồ nghệ thuật của tác giả là kiến tạo một toàn cảnh về cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc bằng sử liệu, bằng tài
liệu gốc, kể cả những tài liệu đã được phép giải mật.
2.3. Diện mạo của nhật ký chiến tranh
2.3.1. Đặc điểm nội dung của nhật ký chiến tranh
2.3.1.1. Nhật ký chiến tranh tái hiện lại hiện thực chiến trường khốc liệt
Nói đến chiến tranh, ai cũng sẽ liên tưởng ngay đến những gian khổ, hy sinh,
mất mát, đến hiện thực khắc nghiệt, còn trên thực tế dưới con mắt người trong
cuộc hiện thực ấy còn tàn khốc hơn rất nhiều đó làn mưa bom bão đạn, ranh
giới mong manh giữa sự sống và cái chết luôn thường trực, không ai biết
trước được số phận ngày mai sẽ ra sao, ai còn ai mất nhưng ẩn sâu trong đó là
sự ấm áp của tình đồng đội, đồng chí,… tất cả được hiện lên rõ nét trong từng
trang nhật ký, những bài thơ, những truyện ngắn, tiểu thuyết… hết sức chi tiết
và chân thực. Mọi người sẽ nghĩ ngay tới sự thiếu thốn cùng cực của người
lính trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu, sự hy sinh của những cô gái trẻ
trong Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mĩ Dạ hay tinh thần chiến đấu hiên
ngang của dân tộc qua Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành…tất cả đều thể
hiện rõ những khó khăn gian khổ, hy sinh, mất mát của dân tộc Việt Nam anh
hùng trong cuộc chiến tranh vĩ đại này. Không chỉ vậy, nó còn phản ảnh tính
thần cam đảm, anh dũng, yêu đời của những thế hệ thanh niên Việt Nam trong
cuộc kháng chiến như: Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê, Những đứa
con trong gia đình của Nguyễn Thi,…
Nhật ký chiến tranh xuất hiện khá đặc biệt, là những cuốn nhật ký viết từ
chiến trường được ví như thước phim quay chậm, cận cảnh về cuộc chiến
tranh khốc liệt, là nguồn tư liệu vô giá khiến chúng ta hình dung một cách
chân thực về chiến trường khốc liệt. Trong Mãi mãi tuổi hai mươi của
Nguyễn Văn Thạc, bằng sự quan sát tinh tế tỉ mỉ của người lính tân binh, ta
thấy rõ những gian khổ trong công tác huấn luyện chuẩn bị ra chiến trường
hay những cuộc hành quân gian nguy vất vả. Hay Nhật ký Đặng Thùy Trâm
lại kể về những ngày tháng kiên cường chống lại bệnh tật, giành lại sự sống
cho đồng đội, nhiệm vụ duy trì một trạm xã dã chiến trong một điều kiện vô
cùng thiếu thốn, cái chết đe dọa từng giờ. Bản thân nữ bác sĩ luôn phải đối
diện với cái chết có thể đến với mình bất cứ lúc nào giữa những trận càn ác
liệt của giặc. Còn trong Nhật ký Lê Anh Xuân, anh đã viết trong nhật ký của
mình những ngày tháng hành quân nơi chiến trường, đau xót trước sự ra đi
của đồng đội hay là nỗi nhớ sâu thẳm trong trái tim người nghệ sĩ…Hầu hết
cuốn nhật ký nào cũng phản ánh được tư tưởng tình cảm và thái độ chiến đấu
của những con người họ đã từng gặp, những nơi mà họ đã đi qua, những cảm
xúc mà họ đã trải nghiệm:buồn vui xen lẫn những giọt nước mắt, những băn
khoăn trăn trở, có thất vọng, có hy sinh, mất mát … tất cả đã được tái hiện
qua những trang viết đầy cảm xúc,tâm tư thay lời muốn nói, nó được dồn nén
trên từng trang chữ trong cuốn nhật ký nơi chiến trường bom đạn rất chân
thực và đáng tin cậy. Những cuốn nhật ký đó chắc hẳn sẽ mãi là một điều bí
mật, nếu chủ nhân của nó có thể trở về sau ngày hòa bình thống nhất.
Những trải nghiệm thực tế nơi chiến trường
Gia đình, quê hương và bạn bè là những người không ai muốn xa, bản
thân Nguyễn Văn Thạc cũng vậy. Anh có một tương lai tươi sáng đang đợi ở
phía trước nhưng anh đã tạm gác lại mọi thứ để tình nguyện đi chiến đấu phục
vụ Tổ quốc. Anh bước vào cuộc đời người lính đầy gian nan và thử thách.
Anh đã bước vào những đợt tập huấn đầu tiên và giây phút thảnh thơi ít ỏi,
anh đã viết trong những trang nhật ký của mình những trải nghiệm mới mẻ ấy
một cách tỉ mỉ, chi tiết. Đó là khi hành quân dưới cái nắng chói chang: “Hôm
nay, đi bên song dưới cái nắng chang chang, trên vai là cái ba lô con cóc của
Trường Sơn. Không thể nói là nhẹ được. Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực
lại. Đau và bỏng rát, rất khó thở. Đè lên hông, ép vào lung, ướt đầm đìa là
mồ hôi ta đấy” [8, 34]. Hay:“tiến về phía đó, 600 con người gò lung và bước,
30 kg trên lung, đường bụi… Phải, lần nào hành quân cũng vậy. Không còn