RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP
9.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
I. Lí do chọn chuyên đề
“ Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình , nâng cao niềm tin vào bản
thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý .” (M.Goóc Ki). Quả đúng như vậy. Từ xưa đến nay, văn học luôn giữ một vai trò vô cùng quan
trọng trong đời sống cũng như trong sự hoàn thiện và phát triển nhân cách của mỗi
con người. Bởi “ Văn học là nhân học”, hay "Văn học làm cho con người thêm
phong phú ,tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều
hơn"(M.L.Kalinine).Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống mà cuộc sống thì bao
giờ cũng bộn bề, luôn là một thế giới đa sắc màu muôn hình vạn trạng. Mỗi tác
phẩm văn chương là một mảng hình trong cuộc sống được nhà văn chắt lọc và phản
ánh thông qua sự sáng tạo đầy khéo léo của bàn tay người nghệ sĩ. Văn học là cả
một kho tàng kiến thức cũng là quyển sách quý nhất mà con người ta có thể giữ nó
lại, nó sẽ chắp đôi cánh để mọi người nói chung và các em học sinh nói riêng có thể
đến với mọi thời đại, đến với mọi nền văn hóa, có thể để con tim mình chạm được
vào những rung cảm đẹp của cuộc đời, có được niềm tin vào cuộc sống. Có lẽ chính
vì vậy mà không phải ngẫu nhiên trong nhà trường Trung học cơ sở môn Ngữ văn
lại có một vị trí quan trọng đến vậy.
Đối với văn học, không phải chỉ khi đến trường các em mới được tiếp xúc
với văn chương mà ngay từ khi còn nhỏ các em đã được tắm mình trong thế giới
của văn học nghệ thuật thông qua những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ. Nhưng
chỉ khi đến trường thì năng lực cảm thụ và đánh giá văn chương của các em mới
được uốn nắn và bồi dưỡng nâng lên thành năng lực cảm thụ thẩm mĩ một cách
đúng đắn nhất. Từ đó cho thấy việc rèn cho các em một khả năng cảm thụ văn
chương và cách thiết lập một bài văn hoàn chỉnh để đi vào lòng người đọc là vô
cùng quan trọng. Nó góp phần hoàn thiện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.
Đồng thời góp phần phát hiện và bồi dưỡng một lực lượng lao động đặc biệt của xã
hội, lao động nghệ thuật, đem cái đẹp đến cho đời. Khi các em biết cách viết, các
em sẽ xây dựng được ý thức tự giác, lòng say mê, nhiệt tình đối với bộ môn Ngữ
văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Như chúng ta đã biết, trong chương trình Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở, làm
văn luôn là phần khó bởi đặc trưng của phần làm văn này là yêu cầu học sinh vận dụng
kiến thức ở phần Văn và Tiếng Việt để làm văn, đặc biệt là dạng bài: Nghị luận về một
tác phẩm truyện , đoạn trích; nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ mà sau đây tôi xin gọi
chung là nghị luận văn học. Nghị luận văn học có tầm quan trọng trong việc giáo dục
quan điểm ,tư tưởng ,tình cảm cho học sinh. Nó vừa có tác dụng rèn kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết cho học sinh vừa rèn cho các em kĩ năng cảm nhận, phân tích, bình
luận về cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm văn chương. Điều đó đặt ra yêu cầu giáo
viên cần phải có phương pháp để hướng dẫn các em có một khả năng cảm nhận, tìm
1
thấy cái hay, cái đặc sắc từ một tác phẩm văn chương, đặc biệt là kĩ năng khi thực
hành viết một bài nghị luận văn học.
Rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh là một bước hiện thực hóa
quan điểm đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới chương trình sách giáo
khoa, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá,....đồng thời đảm bảo mục tiêu chung của
giáo dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện”.
Thực tế cho thấy, năng lực cảm thụ văn chương, đưa văn chương vào cuộc
sống, đặc biệt là cách hành văn, nhất là phần nghị luận văn học của đại đa số các
em còn rất yếu. Mặc dù đã học đến lớp 9 vậy mà vẫn còn không ít học sinh có
những bài nghị luận văn học hết sức ngô nghê, hoặc viết qua loa hời hợt miễn cho
nhanh hoặc để cô giáo đỡ trách phạt... Dường như các em bất lực trước ngòi bút của
mình, không thể viết ra những điều mình nghĩ, mình cảm nhận mà phải phụ thuộc
vào văn mẫu hoặc là thầy cô, bè bạn... Chính những điều đó đã làm cho các em lo
sợ, ngại ngùng và ít hào hứng khi học bộ môn Ngữ văn nhất là phân môn Tập làm
văn với phần nghị luận văn học.
Tôi biết rằng việc rèn cho học sinh kĩ năng làm bài nghị luận văn học mà tôi
đưa ra không còn là mới nữa, nhưng tôi tin nó vẫn luôn là mối băn khoăn trăn trở
của rất nhiều đồng chí giáo viên tâm huyết với nghề. Chính vì vậy mà:
- Xuất phát từ một trong những nhiệm vụ năm học là đổi mới kiểm tra đánh
giá, đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nầng cao chất lượng giáo dục trong
các trường trung học.
- Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của trường .
- Xuất phát từ thực trạng làm văn nghị luận văn học của học sinh lớp 9
trường tôi, khi viết bài văn nghị luận văn học thường mắc các lỗi cơ bản sau:
+Học sinh không xác định được dạng bài, kiểu bài làm văn nghị luận văn
học.
Học sinh viết theo cảm tính, nghĩ gì viết đấy không cần biết có đúng yêu cầu
hay không. Có những bài văn, khi chấm tôi đọc mà không hiểu được học sinh của
mình viết gì, muốn nói điều gì.
+ Học sinh chưa biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận.
Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ: Học sinh chủ yếu diễn xuôi đoạn thơ.
Nghị luận về một tác phẩm truyện, hoặc đoạn trích: học sinh sa vào kể lại tác phẩm.
+ Học sinh chưa biết lấy dẫn chứng và phân tích dẫn chứng. Trong các bài
viết học sinh thường liệt kê dẫn chứng mà không có ý thức phân tích dẫn chứng.
Đứng trước tình trạng đó, tôi và nhiều đồng nghiệp khác của trường đã không
khỏi băn khoăn. Chính vì vậy mà tổ khoa học xã hội, đặc biệt là nhóm Ngữ văn,
trường THCS Cẩm Chế lựa chọn chuyên đề: Rèn kĩ năng làm bài nghị luận văn học
cho học sinh lớp 9.
II. Mục đích lựa chọn chuyên đề.
Trong phạm vi chuyên đề này chúng tôi không có tham vọng đưa ra một
phương pháp tối ưu để giúp học sinh viết bài nghị luận văn học thật hay, thật chuẩn
2
mà chỉ đưa ra một vài việc làm cụ thể mà chúng tôi đã thực hiện để giúp học sinh
lớp 9 có kĩ năng làm văn nghị luận văn học, giúp các em vững tin khi làm bài nghị
luận văn học, đặc biệt là khắc phục tâm lí ngại học văn, sợ học văn, tự tin đối diện
với kì thi vào Trung học phổ thông sắp tới.
III. Phạm vi và đối tượng áp dụng.
Trong chuyên này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc rèn kĩ năng làm
bài nghị luận văn học đối với hai kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ;
Nghị luận về một tác phẩm truyện,hoặc đoạn trích.
Nội dung của sáng kiến có thể áp dụng cho học sinh khối 9.
IV. Thực trạng của việc dạy và học kiểu bài nghị luận văn học trong Trường
Trung học cơ sở hiện nay.
I. Khảo sát thực trạng về hứng thú và kết quả viết đoạn văn nghị luận văn học
của học sinh.
a. Phương pháp khảo sát:
- Điều tra trắc nghiệm về hứng thú học tập và thói quen lập dàn bài của học sinh đối
với bộ môn Ngữ văn.
- Khảo sát chất lượng học tập của học sinh qua thực tế giờ dạy bằng cách viết đoạn
văn.
b. Đối tượng khảo sát:
Trong phạm vi chuyên đề này, tôi xin áp dụng ở 2 lớp 9A và 9B của trường tôi.
c. Kết quả khảo sát.
Tôi tiến hành hai phiếu khảo sát. Phiếu số 1 và 2 là khảo sát trắc nghiệm để tìm
hiểu hứng thú học văn và thói quen lập dàn bài của học sinh.Phiếu số 3 là tìm hiểu
kĩ năng tạo lập đoạn văn nghị luận văn học.
Câu hỏi khảo sát:
Phiếu số 1
Câu hỏi: Cảm xúc của em như thế nào mỗi khi bước vào tiết học môn Ngữ văn?
A. Thích thú và mong đợi
B. Bình thường
C. Ngại và sợ
Phiếu số 2.
Câu hỏi: Khi đứng trước một đề văn, em có hay lập dàn bài không?
A. Luôn lập dàn bài.
B. Đề lập, đề không.
C. Không lập
Phiếu số 3:
Câu hỏi: Viết đoạn văn với câu chủ đề: Nét nổi bật nhất ở Vũ Nương là người vợ ân
nghĩa,thùy mị nết na,thủy chung son sắt với chồng.
Kết quả tôi thu được như sau:
Phiếu số 1:Điều tra hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn Ngữ văn.
Kết quả
3
Lớp
Sĩ số
Thích
thú
Tỉ lệ
Bình
Tỉ lệ
thường
Ngại
và sợ
Tỉ lệ
9A
34
12
35.3 %
13
38.2 %
9
26.5 %
9B
33
13
39.4 %
10
30.3 %
10
30.3 %
Phiếu số 2:Thói quen lập dàn bài
Lớp
Sĩ số
9A
34
9B
33
Luôn
lập dàn
bài
8
10
Tỉ lệ
23.5 %
Kết quả
Đề lập Tỉ lệ
Không
đề
lập
không
14
41.2 %
12
30.3 %
9
27.3 %
14
Tỉ lệ
35.3 %
42.4 %
Phiếu số 3:Kĩ năng tạo dựng đoạn văn nghị luận
Kết quả
Lớp
Sĩ số
Đạt yêu cầu
Tỉ lệ
Chưa đạt yêu
Tỉ lệ
(%)
cầu
%
9A
34
16
47.1 %
18
52.9%
9B
33
15
45.6 %
18
54.4 %
2. Nhận xét, đánh giá:
Qua kết quả điều tra trắc nghiệm, tôi nhận thấy hầu hết các em đều không
mang tâm lí sợ và ngại học văn. Tuy nhiên ở phần khảo sát chất lượng qua bài làm
của các em thì tỉ lệ chưa đạt yêu cầu vẫn còn ở mức cao. Đi sâu vào tìm hiểu, tại
sao kết quả vẫn còn thấp như vậy, tôi nhận ra một số nguyên nhân về thực trạng
dạy, học của giáo viên và học sinh trong giai đoạn hiện nay như sau:
a. Về phía giáo viên:
Đa số giáo viên đứng trên bục giảng đã chú ý đến việc đổi mới phương pháp
dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, sáng tạo, tìm tòi, băn khoăn, trăn trở với nghề.
Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa đảm bảo được sự kết
hợp hài hòa giữa phần văn bản, tiếng Việt và Tập làm văn.
Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả
cao. Học sinh học thụ động, buộc giáo viên phải thuyết giảng nhiều. Chính điều này
làm tê liệt sự hào hứng học văn bản. Các em không nắm được kiến thức văn
chương, từ đó dẫn đến thiếu vốn kiến thức Tập làm văn.
Giờ học tiếng Việt đòi hỏi phải dạy cho học sinh dùng được tiếng Việt một
cách chính xác để giao tiếp, để cảm thụ cái đẹp của ngôn từ và có cách diễn đạt tốt
trong văn bản. Nhưng trong tiết học, học sinh chưa được tận dụng tối đa các tình
huống giao tiếp. Thời gian luyện tập chưa nhiều. Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh
viết còn sai chính tả, dùng từ, đặt câu chưa đúng ngữ pháp. Đây là một trong những
4
nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng làm văn.
Giờ Tập làm văn, học sinh chưa được học đến nơi, đến chốn. Thực tế sách
giáo khoa vẫn còn có một số bài trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh.
Việc ra đề nhiều khi cũng chưa được chú trọng đúng mức, có khi yêu cầu
quá cao, có khi lại là quá thấp, hoặc vấn đề đưa ra quá quen thuộc không tạo được
sự hứng thú nơi học sinh.
Việc chấm bài cũng có nhiều thiếu sót, việc chữa bài chưa được chi tiết, còn
cụ thể chung chung. Tiết trả bài chưa được đầu tư nhiều ngay từ khâu soạn giáo
án... Vì thế học sinh không có nhiều cơ hội để tự nhìn bài bạn và sửa bài mình....
b. Về phía học sinh:
Phần lớn học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài thật kĩ trước khi đến
lớp.Những thông tin có liên quan đến những tác phẩm văn học chưa chịu khó tìm
tòi để mở rộng và đào sâu kiến thức.
Đối với phân môn Tập làm văn, học sinh học tập một cách máy móc và đầy
phụ thuộc.
Nhiều bài làm chưa đạt yêu cầu do bài viết chưa biết cách lấy dẫn chứng, chưa
biết phân tích dẫn chứng, khiến cho bài viết nghèo nàn hoặc nguy hại có thể dẫn
đến hiểu sai ý đồ của tác giả.
Các em thiếu năng lực phân tích cần thiết khi đứng trước một tác phẩm văn
chương.Vì vậy khi làm văn phân tích, có những em chỉ là suy diễn nôm na.
Một số học sinh còn chưa biết cách chuyển đoạn, chuyển ý và không làm theo
trình tự các bước tạo lập một văn bản.Nhiều bài viết ngổn ngang, câu què, câu cụt,
câu diễn đạt vòng vo... khiến giáo viên khó đọc nổi hoặc khó hiểu khi đứng trước
bài viết của học trò.
Tình trạng sai lỗi chính tả còn phổ biến. Có bài còn sai cả dấu câu hoặc thiếu
dấu câu. Chính vì những lí do đó mà bài nghị luận văn học của các em chất lượng
còn thấp và các em ngại học kiểu bài này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
5
I. MỘT SỐ VIỆC LÀM CỤ THỂ ĐỂ RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ
LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH KHỐI 9.
Đứng trước những thực trạng như đã nêu ở trên, chúng tôi xin mạnh dạn đưa
ra một số việc làm sau:
1. Định hướng cho học sinh thế nào là một bài văn hay?
Để thực hiện được đề tài, yếu tố đầu tiên mà chúng tôi quan tâm đó là đối
tượng học sinh, đặc biệt là học sinh khối 9. Đối với các em, năng lực cảm thụ văn
học còn nhiều hạn chế. Tâm lí chung của các em là lười suy nghĩ, ít hiểu biết các
tác phẩm văn học, không thích đọc các tác phẩm văn học, thích đọc truyện tranh
hoặc những truyện có nội dung dễ hiểu hoặc thích sa đà vào các trò chơi điện tử.
Chính vì vậy các em rất thiếu hiểu biết về các tác phẩm văn học, kĩ năng viết văn
còn non yếu. Quan niệm của các em về một bài văn hay đôi lúc còn chưa thật sự là
sâu sắc. Nên bước đầu tiên chúng tôi muốn chỉ cho các em cảm nhận đúng thế nào
là một bài văn hay, có thể chạm được đến trái tim người đọc, người nghe.
Một bài văn hay là một bài văn phải đảm bảo hai yêu cầu: viết đúng và viết hay.
Bài văn viết đúng là bài văn cần phải đảm bảo được các điều kiện sau đây:
- Thứ nhất: Đúng về yêu cầu của đề. Khi các em làm văn bao giờ cũng bàn
luận về một vấn đề nào đó trong tác phẩm mà đề bài đã đưa ra. Chính vì vậy mà khi
thực hiện bài viết các em cần phải tuân theo những gì mà đề đã yêu cầu nếu không
các em sẽ rơi vào tình trạng sau:
+ Lạc đề: lạc về nội dung, phương pháp và cách thức nghị luận.
+Lệch đề: Đáng lẽ phần trọng tâm cần bàn luận thì lại hời hợt qua loa, phần
phụ lại trở thành cốt lõi.....
+ Lậu đề: Đó chính là tình trạng thiếu ý trong bài viết của các em.
Ví dụ: Truyện ngắn “ Làng” của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về
những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì
kháng chiến chống thực dân Pháp.
Khi thực hiện đề này , học sinh phải biết rằng đề yêu cầu bàn luận về sự
chuyển biến mới mẻ trong tư tưởng của người nông dân thông qua hình tượng nhân
vật ông Hai chứ không phải phân tích nhân vật hay cảm nhận về nhân vật.... Và
trọng tâm của đề chính là tình huống mà nhà văn xây dựng khi để ông Hai nghe tin
làng mình lập tề theo giặc chứ không phải là lúc trước lúc nghe tin dữ hoặc sau khi
nghe tin cải chính.
- Thứ 2: Đúng kiến thức trọng tâm.
Ông cha ta đã từng nói “ Có bột mới gột nên hồ”. Kiến thức cơ bản trọng tâm
chính là bột. Kiến thức cơ bản nó thể hiện tầm kiến thức rộng hay hẹp của người
viết mà ở đây là các em học sinh khối 9. Để viết được một bài nghị luận văn học
các em cần rất nhiều kiến thức cơ bản khác nhau:
+ Kiến thức về văn học sử. Đứng trước một tác phẩm văn học, các em cần
nắm được nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Sự tác động của hoàn cảnh
đến tác phẩm văn học.Không được nhớ lẫn lộn các tác giả, tác phẩm ở những giai
6
đoạn văn học khác nhau, nếu không sẽ rơi vào tình trạng “ râu ông nọ cắm cằm bà
kia”.
Ví dụ: Khi tìm hiểu bài thơ “ Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu phải nhớ
rằng đây là bài thơ được sáng tác sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch
biên giới Việt Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp chứ không được đặt bài
thơ này vào thời kì chống Mĩ.Bởi hai thời kì chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc
mặc dù hình tượng người lính đi vào thơ ca cách mạng đều rất thực và đẹp đẽ
nhưng ở mỗi thời kì lại có cách thể hiện khác nhau.
Hoặc khi tìm hiểu về Chính Hữu không thể nói ông viết rất nhiều và viết rất
hay về những cô thanh niên xung phong và những anh lính lái xe Trường Sơn . Bởi
đó là những nét nổi bật ở nhà thơ Phạm Tiến Duật.
+ Kiến thức về tác phẩm: Nếu là tác phẩm truyện hoặc đoạn trích thì cần
phải nắm được các chi tiết tiêu biểu điển hình, nắm được tình huống truyện ... Nếu
là tác phẩm thơ thì cần phải thuộc thơ. Nếu không đảm bảo được những điều đó thì
bài viết sẽ trở nên chung chung thậm chí nguy hại hơn là còn dẫn đễn “tán” sai cả
dụng ý nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ...Kiểu như “ Anh thanh niên trong truyện
ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long luôn ung dung, hiên ngang,
vượt lên bom đạn của kẻ thù để hoàn thành công việc.”
+ Kiến thức về bố cục của một văn bản, về phương pháp lập luận và cách
trình bày một đoạn văn, bài văn. Khi viết bài cần phải đúng bài viết có bố cục đủ ba
phần là mở bài, thân bài và kết bài. Không được viết bài làm liền thành một khối
hay không có mở bài hoặc kết bài...
+ Kiến thức về ngôn ngữ và cách dùng câu. Khi đặt bút viết bài cần phải hiểu
rõ nghĩa của từ và dùng câu cho đúng. Tránh dùng sai từ, sai về cấu trúc câu.
Đã xác định đúng rồi giờ tiến đến viết hay. Viết hay là khi viết các em sẽ khơi
gợi được sự thích thú, say mê của người đọc, người nghe.Muốn vậy thì ta phải dùng
những từ đắt giá, ngôn ngữ giàu hình ảnh, lời văn cô đọng nhưng hàm súc. Trong
bài viết phải thể hiện được rõ ràng quan điểm của cá nhân, phải có điểm nhấn ở
những chi tiết nghệ thuật độc đáo của tác phẩm.
2. Những việc làm cụ thể để xây dựng bài nghị luận văn học.
Muốn nghị luận tốt một tác phẩm hay một vấn đề nào đó trong tác phẩm văn
học thì phải làm gì và làm như thế nào?
2.1. Hướng dẫn học sinh đọc để tích lũy kiến thức:
Nghị luận văn học là kiểu bài văn hướng tới các vấn đề đặt ra trong các tác
phẩm văn học: nội dung, nghệ thuật, hoặc các khía cạnh khác như tình huống, diễn
biến tâm lí của nhân vật..... trong bài viết thể hiện rõ năng lực cảm thụ văn học của
người viết. Cho nên người viết phải hiểu biết kĩ về tác phẩm văn học đó: từ tác giả,
hoàn cảnh sáng tác đến nội dung, nghệ thuật của tác phẩm như đã nói ở trên.Muốn
có được những hiểu biết ấy, trước tiên các em cần phải đọc. Vậy đọc như thế nào?
Khi đọc nên đọc liền mạch, không đọc lướt quá nhưng lần đầu chưa cần kĩ
quá, để cảm thụ lấy cái âm hưởng chung, cái tinh thần chung của tác phẩm và
7
những thành công cơ bản của tác giả thể hiện trong tác phẩm.Khi đọc cần lưu ý đến
đặc điểm về mặt thể loại. Nếu là thơ thì khi cảm nhận nên thiên về tình và cảnh
trong thơ. Nếu là tác phẩm tự sự thì sự cảm nhận hướng nhiều về cốt truyện, tính
cách, số phận của nhân vật, cách nhà văn thể hiện đối tượng trong tác phẩm.
Chẳng hạn khi đọc xong truyện ngắn “ Làng” của Kim Lân, cần cảm nhận
được Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện bất ngờ, gay cấn, từ tình huống
truyện nhà văn làm nổi bật tình yêu làng và tình yêu kháng chiến, sự chung thủy với
kháng chiến của nhân vật ông Hai. Từ nhân vật ông Hai liên tưởng đến những
người nông dân cùng thời ấy.Trong tác phẩm Kim Lân đã sử dụng nhiều ngôn ngữ
đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm để miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật.Và
cuối cùng là cảm nhận xem từ nhân vật ông Hai nhà văn muốn thể hiện điều gì
trong tác phẩm và từ đó để lại trong em cảm xúc gì?
Như vậy khi đọc cần theo trình tự đó là: Đọc thông suốt toàn văn bản → hiểu
hình tượng nghệ thuật → hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả → thưởng thức văn học
(những cảm xúc của bản thân sau khi đọc tác phẩm).Khi tiếp xúc một tác phẩm
không nên bó hẹp cục bộ trong tác phẩm của nhà văn hay nhà thơ mà cần mở rộng
liên hệ với những nhà thơ, nhà văn khác.
Sau khi ghi nhận được cái tinh thần chung của tác phẩm và những đặc sắc lớn
về nghệ thuật thì mới nói đến chuyện bàn luận về tác phẩm.
Bên cạnh việc tìm đọc các tác phẩm văn học để tích lũy kiến thức, tôi khuyến
khích học sinh khi đọc phải có thói quen ghi chép.
Sau khi đọc xong một tác phẩm văn học, học sinh có thể ghi chép:
- Tóm tắt tác giả, tác phẩm.
- Những chi tiết, hình ảnh chọn lọc.
- Những câu văn, thơ hay; những hình ảnh đẹp, những câu nói "có cánh" của
nhân vật.
- Biết đánh giá tác phẩm văn học đó.
- Ghi lại những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của bản thân sau khi đọc về tác
phẩm, về nhân vật hoặc một chi tiết mà bản thân tâm đắc nhất trong tác phẩm.
Ví dụ: Sau khi đọc xong đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều” trích Truyện Kiều
của Nguyễn Du cần ghi chép lại:
- Nguyễn Du (1765 - 1820), quê ở làng Tiên Điền-Nghi Xuân - Hà Tĩnh, một đại
thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn
ngữ....
- Truyện Kiều: Tập đại thành của ngôn ngữ văn học dân tộc, một đỉnh cao của
dòng văn học Trung đại Việt Nam.
- Đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều” được trích từ phần đầu của kiệt tác. Đoạn trích
miêu tả chân dung hai chị em Kiều.
- Những chi tiết tiêu biểu:
+ Những hình ảnh ước lệ, ẩn dụ :” ả tố nga”, “ mai”, “ tuyết”, “ trăng” “ hoa” , “
ngọc”, “ mây”, “ làn nước mùa thu.”...
8
- Đánh giá:
+ Đoạn trích thể hiện được tài năng của thi hào Nguyễn Du khi xây dựng chân
dung nhân vật. Dùng những hình ảnh ước lệ mà vẫn gợi tả được vẻ đẹp riêng của từng
người và dự báo được cuộc đời nhân vật.Thúy Vân hiền thục, thùy mị nết na, cao sang
quý phái , dự báo cuộc đời bình yên; Thúy Kiều sắc sảo mặn mà, dự báo cuộc đời nhiều
trái ngang, bất hạnh.Cách dùng từ độc đáo....
+ Thi hào có một trái tim nhân đạo, trân trọng vẻ đẹp, tài năng của người phụ nữ.
- Cảm xúc: Khâm phục, yêu mến, tự hào...
2.2 Rèn kỹ năng tìm hiểu đề và tìm ý.
Khi tìm hiểu đề và tìm ý chính là lúc các em bắt đầu chuẩn bị chất liệu cho bài
viết. Để làm được việc này, các em cần thực hiện qua hai bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề:
Đặt ra và giải đáp 3 câu hỏi sau:
1. Vấn đề cần nghị luận là gì?
2. Thuộc kiểu bài nào? Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận về một
tác phẩm truyện,đoạn trích hay một ý kiến bàn về tác phẩm.....
3. Cần dựa vào đâu để có thể huy động kiến thức?
Ví dụ: Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ
Nương ở “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Trả lời ba câu hỏi trên:
1. Vấn đề cần bàn luận là thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân
vật Vũ Nương ở “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
2. Thuộc kiểu bài nghị luận ( nêu suy nghĩ, nhận xét, đánh giá ) về tác phẩm
truyện.
3. Cơ sở để huy động kiến thức (phạm vi dẫn chứng)
- Dẫn chứng trong « Chuyện người con gái Nam Xương » của Nguyễn Dữ.
Ngoài ra có thể liên hệ đến “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du và thơ Hồ Xuân Hương
sau này.
Bước 2: Tìm ý.
Bước này chính là các em xác định những ý cơ bản, khái quát cần có trong
bài viết của mình. Nó sẽ làm cơ sở để các em thực hiện lập dàn bài một cách dễ
dàng hơn.
Làm bước này giáo viên cũng nên hướng dẫn các em cách đặt câu hỏi và trả
lời câu hỏi.Khi trả lời được những câu hỏi đặt ra sẽ là lúc tìm ra những ý cơ bản cho
bài viết. Có thể đặt những câu hỏi như:
Tác phẩm hay ở chỗ nào? ( hoặc vấn đề nghị luận được thể hiện ở những
phương diện nào?)
Cái hay của tác phẩm được thể hiện bằng những hình thức nghệ thuật nào?
Nó để lại trong ta những cảm xúc bởi những tư tưởng, tình cảm gì?
Muốn trả lời được những câu hỏi này, bắt buộc các em đã trải qua khâu đọc,
tiếp xúc với tác phẩm. Tuy nhiên khi đặt câu hỏi tìm ý cho kiểu bài nghị luận về tác
9
phẩm truyện hoặc đoạn trích dễ dàng hơn khi đặt câu hỏi cho kiểu bài nghị luận về
bài thơ, đoạn thơ.
Ví dụ 1: Suy nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “ Lặng lẽ
Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.
Đề tìm ý cho đề văn này giáo viên hướng dẫn cho học sinh đặt và trả lời
những câu hỏi khái quát sau:
- Trong truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, anh thanh
niên được hiện lên qua những vẻ đẹp nào? Vẻ đẹp nào là trọng tâm?
- Anh đại diện cho những ai?
- Anh để lại trong em những cảm xúc gì?
- Để làm nổi bật vẻ đẹp của anh thanh niên, nhà văn đã có những thành công
nào về nghệ thuật?
Từ những câu hỏi ấy, học sinh dễ dàng tìm ra được câu trả lời dựa vào phần
kiến thức đã được đọc và được học.
- Anh thanh niên là người:
+ Yêu đời, yêu nhề và có tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian
khổ của mình. ( vẻ đẹp trọng tâm )
+ Cởi mở, chân thành, hiếu khách đến nồng nhiệt và biết quan tâm đến người
khác.
+ Khiêm tốn.
Anh đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam, cho những con người lao động mới
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
- Cảm xúc: yêu mến, , khâm phục, học tập, noi theo.... tự hào về cả thế hệ trả
Việt Nam thời chống Mĩ.
- Nghệ thuật: cốt truyện nhẹ nhàng, trong sáng, lời văn thấm đẫm chất trữ
tình....
Ví dụ 2: Phân tích hai khổ đầu bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của nhà thơ
Huy Cận.
Học sinh lại tiếp tục đặt câu hỏi:
- Hai khổ thơ đầu của bài thơ, Huy Cận thể hiện cảnh gì?
- Cái hay của hai khổ thơ mà Huy Cận để lại trong lòng độc giả?
- Huy Cận đã có những nét đặc sắc nào về nghệ thuật trong hai khổ thơ đó?
- Cảm xúc của em?
Trả lời:
- Cảnh ra khơi.
- Cái hay mà độc giả cảm nhận được ở hai khổ thơ là nhà thơ đã phác họa
bức tranh của cảnh biển lúc hoàng hôn và khí thế ra khơi của người dân chài cũng
như niềm mong ước của những con người lao động.
- Nghệ thuật: Bút pháp lãng mạn, trí tưởng tượng bay bổng, nghệ thuật so
sánh và nhân hóa...
- Cảm xúc: yêu vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, trân trọng những con người
10
lao động, khâm phục tài năng của tác giả...
Có thể nói việc tìm hiểu đề, tìm ý tưởng chừng như rất đơn giản, không mất
nhiều thời gian nhưng lại rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành
bài viết. Vì vậy giáo viên cần tạo thói quen cho học sinh cần phải tìm hiểu đề và tìm
ý trước khi lập dàn bài và viết bài.
2.3 Rèn kĩ năng lập dàn bài
Lập dàn bài là một khâu quan trọng. Nó giúp các em không bỏ sót những ý
cơ bản, trọng tâm, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết và trình tự sắp
xếp các ý được mạch lạc, lôgic hơn. Đây là lúc các em xây dựng hình hài, xương
cốt cho bài văn.Lập dàn bài tốt, có thể sẽ viết dễ dàng hơn, nhanh hơn và hay hơn.
Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý từng kiểu bài,chúng tôi đưa ra mô
hình tổng quát của một bài văn nghị luận cho học sinh tham khảo:
Mô hình tổng quát một bài văn nghị luận:
Mở bài (còn gọi là đặt vấn đề):
Mở bài
Dẫn dắt từ vấn đề rộng hơn thu hẹp
dần đến việc giới thiệu luận đề.
Thân bài (còn gọi là giải quyết vấn đề):
Luận điểm
Bao gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn
1
văn là một luận điểm. Các luận điểm
đều tập trung làm nổi bật luận đề ở
Thân bài
Luận điểm 2
phần ở bài.
Kết bài (còn gọi là kết thúc vấn đề):
Tổng hợp lại từ các luận điểm đã
Luận điểm 3
trình bày, đánh giá và gợi mở.
Kết bài
Từ mô hình tổng quát đó,chúng tôi hướng dẫn các em lập dàn ý của từng kiểu bài.
Để lập được dàn ý chúng tôi yêu cầu học sinh:
- Nắm vững cách làm bài của từng kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ, đoạn
thơ; Nghị luận về một tác phẩm truyện, đoạn trích.
- Xác định được các luận điểm, luận cứ. Sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo
một trật tự lôgic, chặt chẽ.
a. Kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ:
Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả
- Giới thiệu bài thơ, đoạn thơ (Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ)
- Trích dẫn đoạn thơ. ( nếu là từ 10 câu trở xuống )
Thân bài:
Luận điểm 1: Cảm nhận chung về bài thơ, đoạn thơ
- Cấu tứ
11
- Thể thơ
- Giọng điệu.
Luận điểm 2: Phân tích những nét chính về nội dung, nghệ thuật trong đoạn
thơ, bài thơ.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ
+ Nhịp thơ, vần => Giọng điệu.
+ Các biện pháp tu từ - hiệu quả thẩm mĩ của các phép tu từ đó.
+ Hình ảnh thơ.
- Nội dung:
+ Triển khai các luận điểm theo yêu cầu của đề bài.
+ Có thể phân tích theo bố cục của văn bản (từng khổ thơ)
Luận điểm 3: Nghệ thuật, so sánh với các tác phẩm cùng đề tài, cùng tác giả (
nếu có thể )
Kết bài:
- Khái quát chung về bài thơ, đoạn thơ.
- Đóng góp của tác giả cho văn học dân tộc.
Ví dụ : Cảm nhận về đoạn thơ sau :
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
Dàn bài :
* Mở bài :
- Chính Hữu (1926 - 2007), trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống
Pháp, thường viết về người lính và chiến tranh.
- Đồng chí là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Chính Hữu, viết
về hình tượng những anh lính nông dân, áo nâu ra trận trong buổi đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp.
- Bảy câu thơ đầu thể hiện cơ sở của tình đồng chí ( trích thơ).
* Thân bài :
- Luận điểm 1 : Cảm nhận chung về đoạn thơ :
+Đoạn thơ để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc bởi sự chân chất, mộc mạc,
giản dị trong cách diễn đạt nhưng lại vô cùng cô đọng và dồn nén trong cảm xúc
làm nổi bật lên một cách chân thực và cảm động những nét tương đồng của những
anh lính nông dân trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Luận điểm 2 : Tình đồng chí được bắt nguồn từ sự tương đồng về cảnh ngộ :
Quê hương anh nước mặn đồng chua
12
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
+ Giọng thơ như một lời trò chuyện tâm tình, chất thơ mộc mạc, lời thơ bình dị
+Thành ngữ ‘ nước mặn đồng chua”, “ đất cày lên sỏi đá”: gợi tả cái đói, cái nghèo
+Anh bộ đội Cụ Hồ là những người có nguồn gốc xuất thân từ nông dân
+Các anh từ khắp mọi miền quê nghèo của đất nước, từ miền núi, trung du, đồng
bằng, miền biển,cùng giống nhau ở điểm thiên nhiên khắc nghiệt, cảnh đời lam lũ.
Họ là những người nông dân mặc áo lính.
- Luận điểm 3: Họ chung mục đích, chung lý tưởng cao đẹp.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
+ súng gợi liên tưởng đến nhiệm vụ, đầu gợi liên tưởng đến lí tưởng
+ Phép điệp từ: súng, đầu, bên, nhấn mạnh sự gắn kết của những người lính.
- Luận điểm 4: Tình đồng chí đồng đội nảy nở và trở nên bền chặt trong sự
chan hoà chia sẻ mọi gian lao
“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”.
+ Đó là tình cảm tri kỷ của những người bạn, những người đồng chí.
+ Đồng chí là những người cùng chung lý tưởng cách mạng đấu tranh giải phóng
dân tộc.
- Câu thơ số 7 đặc biệt chỉ có 2 tiếng như khép lại tình cảm đặc biệt của khổ thơ
1… nó như dồn nén, chất chứa, bật ra thật thân thiết và thiêng liêng như tiếng gọi
tha thiết của đồng đội, ấm áp và xúc động là cao trào của mọi cảm xúc, mở ra
những gì chứa đựng ở những câu sau....
- Luận điểm 5: Nghệ thuật: Ngôn ngữ mộc mạc giản dị như tiếng lòng của
người lính, những thành ngữ được nhà thơ vận dụng một cách linh hoạt đã tạo nên
chất thơ dung dị, bình yên.
* Kết bài:
- Đoạn thơ nói riêng, bài thơ nói chung rất độc đáo khi viết về anh bộ đội cụ
Hồ trong thời kì kháng chiến chống Pháp, làm phong phú hơn vườn thơ dân tộc về
hình tượng những con người “ Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.
b. Kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích
Kiểu bài này có nhiều dạng khác nhau, chủ yếu là phân tích khía cạnh của tác
phẩm văn xuôi như: Phân tích nhân vật, phân tích giá trị nhân đạo, phân tích tình
huống,....
Chúng tôi tập trung hướng dẫn và rèn kĩ năng cho học sinh cách làm các
dạng bài này như sau:
b.1 Dạng bài: Phân tích nhân vật trong tác phẩm văn học:
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu nhân vật cần nghị luận.
Thân bài:
Luận điểm 1: Hoàn cảnh sống, lai lịch, ngoại hình của nhân vật:
Luận điểm 2: Tính cách, tâm hồn
13
Luận điểm 3: Số phận
Luận điểm 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Kết bài:
- Thông qua việc xây dựng nhân vật, nhà văn muốn nói lên điều gì.
- Tác phẩm có đóng góp gì cho nền văn học nước nhà.
Lưu ý: Không phải nhân vật nào trong tác phẩm văn học cũng có lai lịch, ngoại
hình nên khi phân tích học sinh phải linh hoạt.
Ví dụ : Vẻ đẹp của Phương Định trong truyện ngắn « Những ngôi sao xa
xôi » của Lê Minh Khuê.
a. Mở bài :
- Là cây bút chuyên về truyện ngắn ,trong chiến tranh Lê Minh Khuê viết về
cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn . “Những ngôi sao xa
xôi” là tác phẩm đầu tay của bà ,được viết năm 1971 giữa lúc cuộc kháng chiến
chống Mỹ của dân tộc đang diễn ra rất ác liệt.
- Trong truyện, nhân vật Phương Định – nhân vật chính và cũng là người kể
chuyện –là hình ảnh tiêu biểu cho cho vẻ đẹp giản dị trong tinh thần, tính cách và
phẩm chất anh hùng của tuổi trẻ Việt Nam nói chung, của thanh niên xung phong
nói riêng trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
b. Thân bài :
- Luận điểm 1 : Hoàn cảnh sống, ngoại hình :
+ Phương Định là một nữ sinh Hà Nội, vào chiến trường đã được ba
năm., ở giữa vùng trọng điểm nơi tập trung nhiều bom đạn nhất trên tuyến đường
Trường Sơn, hằng ngày phải phơi mình trên cao điểm bị địch bắn phá kinh hoàng,
đầy gian lao, khốc liệt.
+ Ngoại hình : Trẻ trung, xinh xắn “Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái
khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa
kèn”; còn đôi mắt thì dài, nâu, “có cái nhìn sao mà xa xăm”, nheo lại như chói
nắng.
- Luận điểm 2 : Tính cách :
+ thích ngắm mình trong gương, thích ngồi bó gối mơ màng; thích những bài
hành khúc bộ đội, dân ca quan họ dịu dàng, thích“Ca-chiu-sa” của Nga, dân ca Ý…
+ luôn yêu mến đồng đội, luôn quan tâm, chăm sóc và yêu thương đồng đội
như chị em; cảm phục các anh bộ đội
- Luận điểm 3 : Tâm hồn : mơ mộng, nhạy cảm và trong sáng, hồn nhiên, có
cả chút “kiêu” duyên dáng và đầy nữ tính…
- Luận điểm 4 : Anh hùng, gan dạ, dũng cảm, có tinh thần trách nhiệm cao
trong công việc. ( xung phong vào tuyến đường Trường Sơn để chiến đấu, làm
nhiệm vụ khó khăn, cái chết luôn rình rập nhưng coi cái chết rất mờ nhạt...)
- Luận điểm 5 : Những đặc sắc nghệ thuật :
+ ngôi kể thứ nhất, góp phần làm nổi bật thế giới nội tâm
+cách kể linh hoạt, tự nhiên, ngôn ngữ trẻ trung, sinh động. Đặc biệt, nhà văn
14
sử dụng nhiều câu ngắn, câu rút gọn, câu đặc biệt phù hợp với không khí căng
thẳng, khẩn trương của chiến trường. Nghệ thuật đồng hiện, bút pháp miêu tả, biểu
cảm hợp lí. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế và sinh động.
c. Kết bài :
Những trang cuối cùng của truyện khép lại nhưng dư âm của câu chuyện vẫn
còn đọng mãi .
Vẻ đẹp tâm hồn của Phương Định ,những chiến công lặng thầm của cô cùng
những nữ thanh nên xung phong mãi toả sáng ,lung linh , lấp lánh và bí ẩn như
những ngôi sao xa xôi.
b2: Dạng bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học
Mở bài: Giới thiệu giá trị nhân đạo được thể hiện trong tác phẩm văn học.
Thân bài:
Luận điểm 1: Khái quát giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học.
Luận điểm 2: Phân tích những biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm:
-Tác phẩm đã phát hiện, trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của
con người trong tác phẩm như thế nào?
- Tác phẩm thể hiện niềm cảm thông với ai? Và thể hiện cụ thể như thế nào?
- Tác phẩm đã tố cáo, lên án ai? Lên án, tố cáo như thế nào?
Luận điểm 3: Đánh giá.
Kết bài:
- Khẳng định giá trị nhân đạo trong tác phẩm.
- Sự đóng góp cho tính đa dạng, sinh động của truyền thống
nhân đạo.
Ví dụ : Suy nghĩ về giá trị nhân đạo trong « Chuyện người con gái Nam
Xương » của Nguyễn Dữ.
Mở bài :
- Nguyễn Dữ ( ? - ? ), quê ở Trường Tân, nay là Thanh Miện,tỉnh Hải Dương, học
trò xuất sắc của Tuyết Giang phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, học rộng tài cao nhưng
chỉ làm quan một năm...
- Truyền kì mạn lục là một tác phẩm được coi là thiên cổ kì bút của ông. « Chuyện
người con gái Nam xương » là câu chuyện thứ 16.
- Trong truyện thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo của nhà văn thông qua cuộc đời, số
phận của nhân vật Vũ Nương.
Thân bài :
* Luận điểm 1 : Khái quát giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học.
- Tình yêu thương con người, tiếng nói ca ngợi, đề cao, sự cảm thông sâu sắc và lên
án tố cáo những bất công trong xã hội....
* Luận điểm 2 : Tinh thần nhân đạo trước hết thể hiện ở việc Nguyễn Dữ trân trọng,
ngợi ca, đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội thông qua hình tượng nhân
vật Vũ Nương.
- có đầy đủ vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam với bốn đức tính : công, dung, ngôn,
15
hạnh.
+ Đối với chồng : rất mực dịu dàng, yêu thương và thủy chung hết mực (dẫn chứng
minh họa)
+ Đối với mẹ chồng : hiếu thảo, hết lòng phụng dưỡng ( khi mẹ ốm, khi mẹ mất...)
+ Đối với con, nàng hết lòng yêu thương.
+ Là người phụ nữ đảm đang, coi trọng danh dự, nhân phẩm, giàu lòng vị tha (thay
chồng chu toàn mọi việc, bị nghi oan... tự vẫn để minh oan....)
* Luận điểm 3 : Tinh thần nhân đạo thể hiện ở thái độ cảm thông, đau xót của tác
giả trước những bi kịch cuộc đời của nhận vật Vũ Nương.
- Thể hiện nỗi đau của nhân vật bằng những lời văn đầy cảm thông, trân trọng :
+ Chờ chồng đằng đẵng, chồng về chưa một ngày vui, sóng gió đã nổi lên từ một
nguyên cớ vu vơ ( cái bóng hàng đêm nàng chỉ bóng mình trên vách...)
+ Hết mực van xin để cởi mối nghi ngờ nhưng không được.
+ Ra bến sông tự vẫn....
+ Con người trong trắng bị xúc phạm nặng nề, bị vùi dập tàn nhẫn.
+ Sáng tạo ra thế giới kì ảo đề nhân vật của mình được sống, được hưởng niềm vui,
càng đẹp hơn về nhân cách...
* Luận điểm 4 : Lên án thế lực đen tối chà đạp lên khát vọng chính đáng của con
người.
- Tố cáo chiến tranh phi nghĩa
- Tố cáo những hủ tục lạc hậu đã đè nặng lên đôi vai người phụ nữ.
- Tố cáo sự chuyên quyền, ích kỉ của Trương Sinh, một hiện thân của chế độ nam
quyền lúc bấy giờ....
Kết bài :
Trải qua gần 500 năm, bụi thời gian đã xóa nhòa đi rất nhiều điều nhưng tác
phẩm vẫn luôn luôn tươi mới, vẫn để lại cho bạn đọc ngàn đời ấn tượng sâu sắc về
cuộc đời về con người của những người phụ nữ hồng nhan mà bạc phận trong xã
hội xưa.
b3: Dạng bài: Phân tích tình huống truyện.
Mở bài: Giới thiệu tình huống truyện.
Thân bài:
Luận điểm 1: Giải thích: Tình huống truyện là gì?
Luận điểm 2: Phân tích tình huống truyện:
+ Đó là tình huống nào?
+ Phân tích những biểu hiện của tình huống truyện.
Luận điểm 3: Ý nghĩa của tình huống truyện.
Luận điểm 4 : Những thành cong về nghệ thuật.
Kết bài: Khẳng định xây dựng tình huống truyện là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc
của tác giả.
Ngoài những dạng bài trên chúng tôi còn giới thiệu thêm một số dạng khác
có thể gặp trong các kì thi: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật; Phân tích nhóm
16
nhân vật cùng tác giả, nhóm nhân vật cùng đề tài..... để học sinh tham khảo.
C3:Dạng bài: Nghị luận về một nhóm tác phẩm, nhóm nhân vật:
- Dạng bài này không có tiết dạy lí thuyết, song trong thực tế ta hay gặp trong
các đề thi học sinh giỏi huyện, tỉnh.
Với dạng đề này chúng tôi hướng dẫn các em nắm vững cách làm bài:
Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (Nhóm tác phẩm? Nhóm nhân vật?)
Thân bài:
- Luận điểm 1: Phân tích những nét chung (nhóm nhân vật, nhóm tác phẩm)
- Luận điểm 2: Phân tích những nét riêng của tác giả, tác phẩm (hoặc tác giả,
nhân vật).
- Luận điểm 3: Đánh giá chung.
Kết bài:
- Khẳng định vẻ đẹp (nhóm tác phẩm, nhóm nhân vật)
- Đóng góp cho nền văn học.
Ví dụ:Cảm nghĩ của em về hình tượng người lính trong cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ qua hai bài thơ « Đồng chí » - Chính Hữu và « Bài
thơ về tiểu đội xe không kính » - Phạm Tiến Duật.
Mở bài :
- Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt chống
Pháp và chống Mỹ. Lẽ tất nhiên, ở đất nước hơn ba mươi năm chưa rời tay súng,
hình ảnh anh “Bộ đội cụ Hồ” là hình ảnh “con người đẹp nhất” đáng yêu nhất trong
văn thơ và là niềm tự hào lớn của dân tộc.
- Cùng với nhiều bài thơ khác, bài thơ “Đồng chí” sáng tác vào đầu năm 1948 khi
tác giả Chính Hữu chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc, Bài thơ về tiểu đội xe
không kính” sáng tác năm 1969 khi tác giả Phạm Tiến Duật tham gia họat động ở
tuyến đường Trường Sơn đã khắc họa thành công về đề tài người lính.
- Hình tượng anh bộ đội được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ trong văn chương
Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời kỳ lịch sử.
Thân bài :
* Luận điểm 1 : Những nét chung
Đây là người lính của nhân dân nên họ cùng mang những vẻ đẹp chung:
- Yêu nước, yêu quê hương, yêu đồng chí:
+ Có thể phân tích các câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra trận” (Đồng chí)
và “Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước” (Bài thơ về tiểu đội xe không kính).
+ cử chỉ nắm tay chất chứa bao tình cảm không lời trong cả hai bài thơ thể hiện sự
gắn bó của tình đồng chí
- Vượt qua mọi khó khăn gian khổ để quyết tâm tiêu diệt giặc hoàn thành nhiệm vụ:
+ Tất cả những khó khăn gian khổ, thử thách được tái hiện bằng những chi tiết hết
sức thật, không né tránh, không tô vẽ trong cả hai bài thơ.
+ Thế mà, các chiến sĩ đều có một tư thế ngoan cường “chờ giặc tới”, “ung dung
17
nhìn thẳng”.
- Lạc quan tin tưởng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tinh thần lạc quan của người lính.
Từ “miệng cười buốt giá” của anh bộ đội kháng chiến chống Pháp đến “nhìn nhau
mặt lấm cười ha ha” của anh lính lái xe thời chống Mỹ đều thể hiện tinh thần lạc
quan, khí phách anh hùng.
* Luận điểm 2 : Những nét riêng :
- Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện người lính nông dân thời kỳ đầu cuộc
kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí
thiêng liêng hòa quyện khi lý tưởng chiến đấu đã rực sáng trong tâm hồn.
“Súng bên súng đầu sát bên đầu.
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.
Đồng chí!”
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật thể hiện người lính lái xe
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng. Đây là thế hệ
những người lính có học vấn, có bản lĩnh chiến đấu, có tâm hồm nhạy cảm, có tính
cách riêng mang chất “lính”đáng yêu. Họ tất cả vì miền Nam ruột thịt với trái tim
yêu nước cháy bỏng.
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Luận điểm 3: Đánh giá chung
- Hình tượng người lính dù ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến
chống Mỹ đều mang phẩm chất cao đẹp của “anh bộ đội cụ Hồ” thời đại đã cung
cấp cho các nhà thơ những nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên những hình tượng làm
xúc động lòng người.
- Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng đội
của mình. Vì thế, hình tượng người lính hiện lên đầy chân thực và sinh động.
Kết bài :
Đã đi qua hơn nửa thế kỉ nhưng những bài thơ viết về đề tài chiến tranh - người
lính vẫn mãi khắc sâu trong tâm hồn người Việt Nam về hình tượng người lính bất
tử.
Vẻ đẹp của người lính ở cả hai bài thơ là vẻ đẹp chung của hình tượng người lính
trong suốt hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc.
2.4 : Rèn kĩ năng viết đoạn văn, bài văn:
a. Rèn kĩ năng viết mở bài:
Mở bài là phần đầu tiên, là phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người
đọc ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài văn. Phần
này có một vai trò và tầm quan trọng khá đặc biệt vì một câu mở bài gọn gàng, hấp
dẫn sẽ tạo được hứng thú ở người đọc và thường báo hiệu một nội dung tốt. Do đó
mở bài tưởng như là rất dễ viết nhưng thực ra lại là tương đối khó. M.Gorki đã từng
nói « Khó hơn cả là phần đầu, cụ thể là câu đầu. Cũng như trong âm nhạc, nó chi
phối giọng điệu của cả tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu ». Vì vậy muốn
18
có một mở bài hay chúng ta cần tránh những điểm sau :
- Tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mãi mới đi được gần đến yêu cầu của đề.
- Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề nghị luận kẻo không bị lạc đề.
- Tránh nêu vấn đề quá chi tiết, có gì nói luôn rồi thân bài lặp lại.
Có hai cách mở bài đó là mở bài trực tiếp hay còn gọi là trực khởi. Mở bài
gián tiếp còn gọi là lung khởi. Mở bài trực tiếp là đi thẳng vào vấn đề nghị luận,
còn mở bài gián tiếp là nêu vấn đề nghị luận sau khi dẫn ra một ý khác có liên quan
gần gũi, có thể là đi từ đề tài, từ những câu thơ, câu ca dao, câu hát...Để bài viết có
không khí tự nhiên và có chất văn chương, người ta thường mở bài theo kiểu gián
tiếp. Tuy nhiên để mở bài bằng cách này, đòi hỏi các em phải có lực học khá môn
Ngữ văn. Còn thông thường thì các em mở bài bằng con đường trực tiếp.Nhưng dù
viết theo cách nào đi nữa thì mở bài hay là mở bài cần phải ngắn gọn, đầy đủ, độc
đáo và tự nhiên. Và nó thường theo mô hình sau :
Dẫn dắt nêu vấn đề giới hạn phạm vi vấn đề.
Ví dụ :
Đề 1 : Hình tượng người lính trong « Bài thơ về tiểu đội xe không kính » của Phạm
Tiến Duật.
Sau đây tôi xin trích ra một số mở bài của các em học sinh.
“ Xe ta bon bon trên dặm đường kìa đoàn xe ta bon bon ra chiến trường...” Câu
hát rạo rực niềm vui ấy đã phần nào thể hiện được vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe
Trường Sơn. Trong những năm đánh Mĩ hào hùng, rất tự nhiên, hình ảnh người lính
đã đi vào thơ văn một cách chân thực và đầy lãng mạn. Có nhiều nhà thơ, nhà văn
đã viết rất thành công về đề tài này như nhà thơ Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa
Điềm,Nguyễn Minh Châu... Nhưng viết về người lính lái xe Trường Sơn chân thực
và cảm động nhất vẫn là nhà thơ Phạm Tiến Duật. Ông có khá nhiều tập thơ hay
viết về đề tài này :Vầng trăng - quầng lửa » (1970), « Dấu võng Trường Sơn »... Và
« Bài thơ về tiểu đội xe không kính » là 1 bài thơ xuất sắc đoạt giải cao nhất trong
cuộc thi thơ báo văn nghệ năm 1969. Ở bài thơ này, nhà thơ đã khắc họa chân thực
và đẹp đẽ hình tượng những anh lính lái xe.
( Phạm Diệp My - Lớp 9A)
Đề 2 : Hình ảnh anh thanh niên trong truyện ngắn « Lặng lẽ Sa Pa » của Nguyễn
Thành Long.
Có những tác phẩm văn học đọc xong gấp sách lại là ta quên ngay, có những
nhân vật chỉ gặp một lần rồi không nhớ nữa, cho đến khi cầm lại ta mới chợt nhớ ra
là mình đã đọc và cũng đã gặp rồi. Nhưng cũng có những trang truyện, những nhân
vật như dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng chạm khắc trong tâm
khảm mà ta khó lòng quên được.Hình ảnh anh thanh niên trong trang truyện ngắn «
Lặng lẽ Sa Pa » của Nguyễn Thành Long là một con người như thế.
( Bùi Thị Quỳnh - Lớp 9B)
Đề 3 : Cơ sở của tình đồng chí trong bài thơ « Đồng chí » của nhà thơ Chính Hữu.
Chính Hữu (1926- 2007), là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến
19
chống Pháp.Thơ ông không nhiều nhưng cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh
chọn lọc, thường viết về đề tài người lính và chiến tranh. « Đồng chí » là bài thơ
đặc sắc và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ ông khi viết về
hình tượng người lính nông dân thời chống Pháp.Ở bài thơ này, nhà thơ đã để lại
dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả về cơ sở của tình đồng chí qua bảy câu thơ đầu
của bài thơ :
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí !
( Mạc Thị Thủy - Lớp 9B)
b. Rèn kĩ năng viết kết bài.
Kết bài là phần cuối cùng, vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở cuối bài, là phần
sau hết đến với người đọc, tạo cho người đọc cảm giác, ấn tượng cuối cùng về bài
viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài. Một kết bài hay vừa phải đóng lại, chốt
lại, vừa phải mở ra, nâng cao và cứ ngân nga mãi trong lòng người đọc (nghe).
Tôi lại xin trích dẫn một số kết bài của học sinh lớp tôi :
Ví dụ 1 : Cảm nhận của em về bức tranh lao động trong bài thơ « Đoàn
thuyền đánh cá » của nhà thơ Huy cận.
Xuyên suốt bài thơ là hai nguồn cảm hứng, đó là cảm hứng về thiên nhiên vũ
trụ và con người lao động cùng bút pháp lãng mạn.Nhịp thơ khỏe khoắn, trí tưởng
tượng mới mẻ, độc đáo, nhà thơ Huy Cận đã gợi ra một bức tranh nên thơ, tráng lệ
về biển, về con người lao động, những con người làm chủ thiên nhiên đất nước,
nhiệt tình lao động với tất cả tình yêu biển, yêu nghề. Bài thơ là một khúc tình ca
tha thiết về biển và cũng là một khúc tráng ca lao động với cái nhìn đầy tin yêu lãng
mạn của nhà thơ về đất nước, về con người.
( Lê Thị Lâm Hường - lớp 9A)
Ví dụ 2 : Suy nghĩ về vẻ đẹp của ba cô gái thanh niên xung phong trong
truyện ngắn « Những ngôi sao xa xôi » của Lê Minh Khuê.
Những trang cuối cùng của truyện khép lại nhưng dư âm của câu chuyện vẫn
còn đọng mãi .Vẻ đẹp tâm hồn của họ, những chiến công lặng thầm của họ mãi toả
sáng, lung linh, lấp lánh và bí ẩn như những ngôi sao xa xôi.
( Đặng Thị Quỳnh - lớp 9B)
Ví dụ 3: Phân tích bài thơ “ Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Trong làng thơ dân tộc, đã và sẽ có những bài thơ hay viết về thu. Nhưng có
lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên một chớm “ Sang thu” của Hữu Thỉnh, một mùa thu
nhẹ nhàng, nữ tính nhưng lại đằm thắm vô cùng.
20
( Lờ Th L Hnh - lp 9A)
Giỏo viờn cn lu ý cho hc sinh dung lng v di ca kt bi phi cõn
xng vi m bi v thõn bi.Trỏnh vit lan man, di dũng khụng n khp vi phn
trờn.
c. Rốn cỏch trin khai tng lun im ( on vn ) thõn bi.
Mt on vn phi m bo hai tiờu chớ. Mt l nm gia hai ch xung
dũng, lựi u dũng, vit hoa ch cỏi u tiờn v kt thỳc bng du chm xung
dũng.Hai l cha mt ý tng i hon chnh. Nhng ý trin khai trong lun im
phi cú nhim v l xoay quanh ch ca vn bn v lm sỏng t ch cho bi
vit.
Cú rt nhiu cỏch trỡnh by mt on vn nhng tu trung li trong
chng trỡnh Ng vn lp 9 cỏc em thng gp nhng kiu trỡnh by :Trỡnh by
on vn theo cỏch din dch (cõu ch ng u on.Cỏc cõu tip theo dn
gii, trin khai ni dung ca cõu ch ). Trỡnh by on vn theo cỏch quy np
(cõu cht ng cui on), tng phõn hp ( on vn hn hp din dch vi quy
np), múc xớch ( cõu n lm tin xut hin cõu kia.), gi thit... V ng phỏp
thụng thng cõu ch thng l cõu n cú y ch ng, v ng.
- Da vo khung dn ý bi vn luyn vit tng lun im. Hoc cho hc sinh la
chn lun im thớch hp vit.
- Hng dn hc sinh vit theo tin trỡnh:
+ Th nht: chuyn lun im thnh cõu ch .
+ Th hai: Trờn c s phõn tớch cỏc khớa cnh ca lun im, vit cỏc cõu
trin khai.
+ Th ba: Vit cõu cú tớnh cht kt on.
Vớ d 1: Giỏo viờn cho hc sinh vit on vn vi cõu ch sau: Hai cõu th:
Ngy xuõn con ộn a thoi
Thiu quang chớn chc ó ngoi sóu mi
ca on trớch Cnh ngy xuõn là một bức tranh thiên nhiên hữu
tình với những gam màu mát mắt, thanh nhã đ lại trong lòng ngời đọc những ấn tợng thật đẹp về cảnh mùa xuân trong tiết
thanh minh.
Hs tin hnh vit nh sau:
Hai cõu th:
Ngy xuõn con ộn a thoi
Thiu quang chớn chc ó ngoi sỏu mi
ca on trớch Cnh ngy xuõn là một bức tranh thiên nhiên hữu
tình với những gam màu mát mắt, thanh nhã đ lại trong lòng ngời đọc những ấn tợng thật đẹp về cảnh mùa xuân trong tiết
thanh minh. Mu xanh ca c non trải dài tri rng tới tận chân mây
21
mặt đất mở ra một không gian thoáng đãng, vô tận. Trờn nn xanh
mát của cỏ cây sáng bừng sắc trng hoa lê thanh khiết. Cõu thơ
Cành lên trắng im mt vi bụng hoa thể hiện sự tinh tế, tài hoa
trong cách dùng từ, dùng câu chữ của nhà thơ. Nghệ thuật đảo
ngữ đa tính từ trắng lên trớc ng từ điểm nh mt du nhn đã làm
nổi bật sắc trắng của hoa lê. Đồng thời khiến cho sự vật trở nên
sinh động, có hồn,tràn đầy sức sống v vụ cựng thanh khit. Dờng
nh Nguyễn Du đã thổi hồn mình và tình yêu thiên nhiên của
mình vào bức tranh xuân to nờn mt bức ha ngy xuân đẹp nh
một bức gấm thêu, cao rộng, khoáng đạt, tinh khôi và tràn đầy
sức sống. Bc ha y cú cỏi mờnh mụng bao la ca t tri xuõn, cú cỏi m m
ca khớ xuõn v c to nờn bng ngh thut ca ngụn t.
( on vn din dch )
Vớ d 2: Vit on vn vi cõu ch : Ba cụ gỏi trong truyn ngn
Nhng ngụi sao xa xụi ca Lờ Minh Khuờ l nhng ngi dng cm, gan gúc, cú
tinh thn trỏch nhim cao trong cụng vic, khụng s gian kh, hi sinh.
Truyn xoay quanh ba nhõn vt n thanh niờn xung phong trong t trinh sỏt
mt ng . H l ba ngi nhng cụng vic gn bú h thnh mt khi thng nht.
H cựng sng v chin u tronh hon cnh vụ cựng gian kh , ỏc lit : trờn mt
cao im trng yu ca tuyn ng Trng Sn, lm cụng vic c bit nguy
him: khi cú bom n thỡ o khi lng t lp vo h bom ,m bom cha n v
nu cn thỡ phỏ bom . Ngha l h ni tp trung nhiu bom n , lm cụng vic
luụn i mt vi cỏi cht . H cm nhn rừ rng : t bc khúi , khụng khớ bng
hong , mỏy bay ang m ỡ xa dn .Thn kinh cng nh chóo , tim p bt chp c
nhp iu ,chõn chy m vn bit rng khp chung quanh cú nhiu qu bom cha n
. Cụng vic thng ngy mo him y ũi hi h phi l nhng ngi dng cm
,gan gúc cú tinh thn trỏch nhim cao trong cụng vic ,khụng s gian kh hy sinh .
( on vn quy np )
Khi hng dn vit on vn, giỏo viờn cn lu ý cho hc sinh l phi s dng
kiu cõu cho linh hot, dựng t cho ỳng v phi s dng cỏc phng tin liờn kt
cõu v liờn kt on vn. Cú nh vy bi vit mi cú th thu hỳt c ngi c,
ngi nghe. Mi khi chuyn on, cn cú nhng t, cm t, cõu, thm chớ l c mt
on chuyn ý cho bi lm thờm mch lc v lụgic.
2.5. Rốn thúi quen sa bi cho hc sinh.
õy l bc tng chng nh rt n gin nhng li khụng th b qua.Khi
cỏc em hon thnh bi vit hay l on vn i chng na, giỏo viờn cn to cho cỏc
em thúi quen c li bi, bi l õy s l lỳc cỏc em nhỡn li bi vit chnh sa
ch thiu, ch tha, du cõu v chớnh t to ra mt vn bn hon chnh v ni
dung v cú s liờn kt cht ch v mt hỡnh thc.V khi sa bi khụng ch c bi
ca riờng mỡnh m giỏo viờn cũn nờn khuyn khớch cỏc em cú thúi quen c vn
ngi sa vn mỡnh.Cú nh vy cỏc em mi cú th tin b trong quỏ trỡnh hc
22
văn.
II. Những kết quả bước đầu:
Qua việc áp dụng một số giải pháp trên, chúng tôi nhận thấy kết quả như sau:
- Học sinh hứng thú hơn mỗi khi giờ văn đến.
- Cả giáo viên và học sinh đều có tâm thế thoải mái khi đứng trước một đề Tập làm
văn nghị luận văn học. Việc tìm ý, lập dàn bài và luyện viết đoạn văn diễn ra trong
không khí thoải mái và sôi nổi.
- Tỉ lệ học sinh yếu kém về kĩ năng tạo lập bài nghị luận văn học cũng giảm được
phần nào.Lúc này tôi lại tiến hành khảo sát với những nội dung giống như ban đầu
và thu được kết quả như sau:
Phiếu số 4:
Kết quả
Lớp
Sĩ số
Thích
Tỉ lệ
Bình
Tỉ lệ
Ngại
Tỉ lệ
thú
thường
và sợ
9A
34
19
55.9 %
10
29.4 %
5
14.7 %
9B
33
20
60.6 %
9
27.3 %
4
12.1 %
Phiếu số 5:Thói quen lập dàn bài
Lớp
Sĩ số
9A
34
9B
33
Luôn
lập dàn
bài
22
23
Tỉ lệ
64.7 %
Kết quả
Đề lập Tỉ lệ
Không Tỉ lệ
đề
lập dàn
không
bài
9
26.5 %
3
8.8 %
69.7 %
7
21.2 %
3
9.1 %
Phiếu số 6:Kĩ năng tạo dựng đoạn văn nghị luận
Với phiếu số 6, chúng tôi khảo sát với câu hỏi sau:
Dựa vào bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, viết đoạn văn với câu chủ đề: Ở
chiến trường, người lính gặp phải muôn vàn những khó khăn nhưng họ đã cùng
nhau chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn.
Kết quả
Lớp
Sĩ số
Đạt yêu cầu
Tỉ lệ
Chưa đạt yêu
Tỉ lệ
(%)
cầu
%
9A
34
28
82.4 %
6
17.6 %
9B
33
28
84.8 %
6
15.2 %
III. Bài học kinh nghiệm
Từ thực tế giảng dạy chúng tôi rút ra một số vấn đề về rèn kĩ năng làm văn
nghị luận văn học cho học sinh lớp 9:
1. Giáo viên cần phải hiểu tâm lí, khả năng nhận thức, vốn hiểu biết các tác
23
phẩm văn học, khả năng cảm thụ văn học của học sinh để vận dụng phương pháp
phù hợp với khả năng tiếp nhận của từng em.
2. Hướng dẫn học sinh tích lũy kiến thức về văn học trong các tác phẩm văn
học được học, đọc thêm và thông qua các môn học khác như Giáo dục công dân,
Lịch sử, Sinh học, Địa lí.....Các phương tiện thông tin đại chúng…
3. Giáo viên cần rèn cho học sinh thói quen: Phân tích đề, lập dàn ý trước khi viết
bài.
Trong các bài kiểm tra 2 tiết tôi yêu cầu các em nộp cả dàn ý để chấm (Tuy
nhiên phần dàn ý không lấy điểm. Chủ yếu tạo thói quen lập dàn ý và viết theo dàn
ý cho các em).
4. Trong giờ dạy học Ngữ văn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh giải thích
các từ ngữ, khái niệm và chú ý tích hợp giáo dục môi trường, giáo dục kĩ năng
sống, phát huy trí tưởng tượng phong phú của các em.
5. Việc ra đề kiểm tra đánh giá cần được coi trọng, giáo viên nên ra những đề
“mở” để phát huy năng lực sáng tạo của học sinh, đồng thời khơi gợi hứng thú cho
học sinh tìm hiểu các tác phẩm văn học.
24
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh là rèn khả năng tư duy
logic, tư duy khoa học, khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học, sự nhạy cảm trước
những cái hay, cái đẹp của văn chương. Công việc đó không chỉ làm trong ngày
một, ngày hai mà phải là một quá trình lâu dài đòi hỏi sự kiên trì và rất nhiều tâm
huyết của giáo viên.
Trên đây chỉ là một vài việc làm cụ thể để rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn
học cho học sinh lớp 9, các em sắp đối mặt kì thi quan trọng vào Trung học phổ thông.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng để khơi gợi hứng thú đối với phần làm văn nghị luận
văn học, ngoài lí thuyết gọn nhẹ, dễ hiểu, các kỹ năng được chia nhỏ để học sinh rèn
luyện từng phần một cách thuần thục thì một việc không kém phần quan trọng là giáo
viên cần tìm những đề bài hay đảm bảo tính vừa sức, nhưng vẫn kích thích sự sáng tạo,
tạo cơ hội cho học sinh được phát biểu những suy nghĩ riêng, được nói bằng tiếng nói
của riêng mình. Có thế thì việc học văn, làm văn nghị luận văn học trong nhà trường
mới có kết quả.
Không có một kinh nghiệm nào là duy nhất có thể dùng chung cho tất cả mọi
người. Không có một phép lạ dễ dàng nào để đi đến sự thành công. Tất cả các giáo
viên dạy môn Ngữ văn đều đã, đang và sẽ dạy học một cách say sưa, kiên trì.Chúng
tôi tin tưởng rằng với nhiệt tình, tâm huyết của giáo viên và sự cố gắng, khả năng
sáng tạo của học sinh thì chất lượng môn Ngữ văn sẽ ngày càng nâng lên. Trên đây
là một số kinh nghiệm của nhóm Ngữ văn trường THCS Cẩm Chế trong quá trình
giảng dạy. Chúng tôi hy vọng sẽ giúp học sinh say mê và hứng thú học văn hơn và
cũng rất mong được sự góp ý của bạn bè đồng nghiệp.
2. Kiến nghị:
* Đối với giáo viên:
- Bên cạnh việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra
đánh giá, chúng ta hãy luôn nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng, hãy có trách
nhiệm, có tâm huyết với nghề để giờ dạy của chúng ta “ Trẻ mãi không già.”
* Đối với tổ chuyên môn:
- Cần thường xuyên dự giờ, hội giảng vào các tiết Tập làm văn nói chung, tiết
nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích; nghị luận về đoạn thơ, bài thơ nói
riêng, giúp cho bạn bè đồng nghiệp được học tập, tích lũy kinh nghiệm cho bản
thân.
* Đối với nhà trường:
- Đầu tư trang thiết bị ,đồ dùng trực quan ,đặc biệt là đầu tư công nghệ thông
tin để hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy.
- Đối với các lớp học phụ đạo, cần lựa chọn những giáo viên có năng lực
chuyên môn, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao phụ trách đứng lớp.
* Đối với phòng giáo dục
- Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn Ngữ văn trong từng năm
25