Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

CHUYÊN đề hôn NHÂN và GIA ĐÌNH TRONG tư PHÁP QUỐC tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (245.81 KB, 26 trang )

CHỦ ĐỀ 5: HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Học phần: TƯ PHÁP QUỐC TẾ

DANH SÁCH NHÓM 5:
1.

Nguyễn Nguyên Cát Anh

2.

Thái Lệ Chinh

3.

Lê Minh Đông

4.

Nguyễn Trần Mai Loan

5. Tăng Gia Miêu
6.

Kiều Thị Như Ngọc

7.

Bùi Lê Quang

8.


Nguyễn Thanh Tiền

9.

Nguyễn Thị Tố Uyên

GVHD: NGUYỄN THỊ HẰNG
NHÓM 5 - VB2K19ALA01


2

MỤC LỤC

1. Báo cáo lý thuyết
1.1.

Lý luận chung về hôn nhân và gia đình trong tư pháp quốc tế
a) Cơ sở lý luận

Quan hệ hôn nhân và gia đình là một trong các bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hệ
thống pháp luật dân sự của tất cả các quốc gia. Song những khác biệt trong hệ thống pháp
luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung giữa các quốc gia là nguyên nhân
chính dẫn đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực này khi các nền văn hóa, các hệ thống
pháp luật của các quốc gia tương tác với nhau thông qua các giao lưu dân sự quốc tế.
Tính chất đặc thù của nhóm quan hệ này là chúng luôn chịu sự tác động một cách trực
tiếp và mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện tự nhiên, xã hội, dân tộc, tôn
giáo, văn hóa, kinh tế, … và thậm chí cả yếu tố chính trị. Do đó, hầu hết tất cả các quốc
gia đều ghi nhận và áp dụng một hệ thống các nguyên tắc pháp lý tiến bộ để điều chỉnh
quan hệ hộn nhân và gia đình như nguyên tắc tự nguyện, chế độ một vợ một chồng,

nguyên tắc bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái, đặc biệt ưu tiên bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em (ngoại trừ các quốc gia xây dựng dựa
trên những chuẩn mực pháp lý riêng và bới hệ tư tưởng riêng, chẳng hạn như các quốc
gia Hồi giáo, Myanmar, …)
Trong bối cảnh hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thống nhất quan điểm với
nhau trong việc tìm kiếm giải pháp hiệu quả và thiết thực để nhằm điều chỉnh và giải
quyết xung đột pháp luật trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Vì vậy, chế định pháp lý về hôn nhân và gia đình trong có yếu tố nước ngoài là một bộ
phận không thể thiếu của hệ thống tư pháp quốc tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
và việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách khoa học chế định này có vai trò trong việc củng
cố và tăng cường chất lượng của các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như
hoạt động nghiên cứu pháp lý của các quốc gia.
b) Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Khoản 25 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham
gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia
đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,


3

chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản
liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài"
Như vậy một quan hệ hôn nhân gia đình được coi là có yếu tố nước ngoài khi có một
trong những điều kiện sau:
+ Có ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài;
+ Các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài.

c) Ý nghĩa của việc xác định các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài
Việc xác định có yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình cóý nghĩa như
sau:
Thứ nhất, xác định một cách chính xác đối tượng điều chỉnh của ngành luật, giúp cơ quan
có thẩm quyền có thể áp dụng pháp luật một cách chính xác và phù hợp.
Thứ hai, xác định thẩm quyền tài phán của các quốc gia liên quan trong một quan hệ
pháp luật cụ thể phát sinh.
Thứ ba, giúp cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia định hình khả năng và cách thức
thực hiện các hoạt động ủy thác TPQT trong các vụ việc cụ thể.
d) Đặc điểm của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Quan hệ hôn nhân và gia đình là một trong những nhóm quan hệ rất quan trọng gắn liền
với đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và có sự tác động không nhỏ đến sự
ổn định và phát triển của mỗi quốc gia.Vì vậy, các quốc gia đều coi trọng và đặc biệt
quan tâm giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến hôn nhân và gia đình thông qua
việc xây dựng một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh nhóm quan hệ này.Riêng đối
với các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tính phức tạp và sự đa dạng
của chúng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia trong quá trình thực thi
pháp luật và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Một số điểm nổi
bật của các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:
Một là, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là nhóm quan hệ khá đặc biệt,
bởi chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện đặc thù mang tính chất tự nhiên
và xã hội của từng quốc gia, dân tộc hay từng khu vực, mặt khác chịu sự tác động trực
tiếp và mạnh mẽ không kém từ các hoạt động giao lưu quốc tế.
Hai là, chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đều do có liên
quan đến cá nhân người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.


4


Ba là, nội dung của quan hệ hôn nhân và gia đình thường thể hiện ở cả hai khía cạnh:
nhân thân và tài sản. Do đó, trong quá trình giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài, các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thường phải quan tâm
đến bản chất của từng nhóm quan hệ mà có biện pháp và cách thức áp dụng pháp luật
một cách phù hợp.
Bốn là, nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bao
gồm cả pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế. Trong đó, pháp luật quốc gia đóng vai trò
là nguồn cơ bản và chủ yếu nhất trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài, Điều ước quốc tế là loại nguồn có giá trị ưu tiên áp dụng trong
mọi trường hợp và khả năng áp dụng tập quán là rất ít.
1.2.

Văn bản pháp luật liên quan đến chủ đề Hôn nhân gia đình trong TPQT
Căn cứ quy định tại Điều 122 Luật hôn nhân gia đình 2014, các nguồn luật được áp dụng
điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm:
- Điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên: được ưu tiên áp dụng, kể cả trong
trường hợp quy định của điều ước quốc tế khác với quy định của Luật hôn nhân gia đình
2014 (Khoản 1, Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014).
- Pháp luật nước ngoài: được áp dụng trong trường hợp các văn bản pháp luật của Việt
Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài nếu việc áp dụng đó không trái
với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật hôn nhân gia đình 2014
hoặc trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài(Khoản 2, Khoản 3 Điều 122
Luật hôn nhân và gia đình 2014).
- Pháp luật Việt Nam: được áp dụng trong tất cả các trường hợp (kể cả trường hợp pháp
luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam) (Khoản 1, Khoản 3 Điều 122
Luật hôn nhân và gia đình 2014).

1.3.


Kết hôn có yếu tố nước ngoài
a) Khái niệm

Quan hệ kết hôn là nhóm quan hệ có tầm quan trọng đặc biệt và có tính chất quyết định
đối với hầu hết các quan hệ khác trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.Kết hôn là nền tảng
của việc xây dựng gia đình, là cơ sở để hình thành và đảm bảo cho các quan hệ hôn nhân
và gia đình khác như quan hệ giữa vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Quan hệ kết hôn trong tư pháp quốc tế là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.Nhóm
quan hệ này chủ yếu xác định dựa trên yếu tố chủ thể và sự kiện pháp lý. Do đó, một


5

quan hệ kết hôn được xác định có yếu tố nước ngoài trước hết khi có ít nhất một bên chủ
thể là tham gia là bên nước ngoài (người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư nước
ngoài) hoặc khi việc kết hôn được thực hiện tại nước ngoài.
Ví dụ: quan hệ kết hôn của một công dân Việt Nam với một công dân Anh, hoặc quan hệ
kết hôn của một công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam và một công dân Việt Nam khác
cư trú tại Hoa Kỳ, hoặc quan hệ kết hôn giữa hai công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam
được tiến hành tại nước ngoài.
b) Pháp luật các nước:
 Về điều kiện kết hôn

Điều kiện kết hôn là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu lực của quan hệ kết hôn. Điều
kiện kết hôn của chủ thể được xem xét ở 02 khía cạnh: độ tuổi kết hôn và điều kiện cấm
kết hôn.
- Về độ tuổi kết hôn: Hầu hết các quốc gia đều thống nhất độ tuổi kết hôn của đương sự
là yếu tố nhân thân quan trọng của mỗi cá nhân. Do đó, nguyên tắc áp dụng để giải quyết
xung đột pháp luật về độ tuổi kết hôn là áp dụng hệ thuộc luật nhân thân. Trong đó, các
quốc gia áp dụng nguyên tắc luật nhân thân theo các dấu hiệu quốc tịch (áp dụng nguyên

tắc luật quốc tịch) và cũng có nhiều quốc gia áp dụng dấu hiệu nơi cư trú (áp dụng luật
nơi cư trú).
- Các trường hợp cấm kết hôn: Nhiều quốc gia áp dụng nguyên tắc luật nhân thân để cách
thức thống nhất với việc áp dụng giải quyết xung đột về độ tuổi kết hôn. Tức là cá nhân
sẽ được coi đủ điều kiện kết hôn nếu thỏa mãn quy định của pháp luật của quốc gia mà
mình mang quốc tịch hoặc cư trú.Bên cạnh đó, các quốc gia còn áp dụng thêm nguyên tắc
luật nơi tiến hành kết hôn để áp dụng pháp luật xem xét nội dung. Tức là điều kiện kết
hôn nói chung của đương sự do pháp luật của nước nơi đương sự mang quốc tịch hoặc cư
trú điều chỉnh, nhưng riêng đối với các trường hợp cấm kết hôn thì còn phải tuân theo
quy dịnh của pháp luật nơi tiến hành kết hôn (hoặc pháp luật nơi có cơ quan có thẩm
quyền giải quyết việc kết hôn, có thể coi như là một hình thức thể hiện khác của hệ thuộc
Tòa án).
 Nghi thức kết hôn

Nghi thức kết hôn được hiểu là cách thức hay trình tự thủ tục tiến hành việc kết hôn.
Theo pháp luật của các quốc gia trên thế giới, nghi thức kết hôn được xem là điều kiện về
mặt hình thức để đảm bảo hiệu lực của một quan hệ kết hôn.


6

Phần lớn các nước đều quy định nghi thức kết hôn dân sự, tức là việc kết hôn được đăng
ký hay thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc
gia quy định nghi thức kết hôn tôn giáo như Iraq, Iran, Israel... Ngoài ra cũng có quốc gia
áp dụng nghi thức kết hôn hỗn hợp kết hợp cả hai nghi thức kết hôn nói trên. Như vậy,
việc kết hôn có thể xem là hợp pháp về mặt hình thức theo pháp luật của quốc gia này
nhưng có thể bị phủ nhận bởi pháp luật của quốc gia khác
Chính sự khác biệt trong quy định của các quốc gia về nghi thức kết hôn làm phát sinh
hiện tượng xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài.Để giải quyết xung đột trên đa số các quốc gia trên thế giới đều chấp nhậnnguyên

tắc luật nơi tiến hành kết hôn sẽ được áp dụng như là nguyên tắc cơ bản nhất.
c) Pháp luật Việt Nam

Theo Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Kết hôn có yếu tố nước
ngoài như sau:
“1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân
theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo
các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.
2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.”
Như vậy, căn cứ quy định trên thì pháp luật Việt Nam quy định chủ thể kết hôn phải tuân
theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài, kể cả những người nước
ngoài thường trú ở Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014
về điều kiện kết hôn.
1.4.

Ly hôn có yếu tố nước ngoài
a) Pháp luật các nước

Đa số các quốc gia cho phép việc ly hôn được tiến hành tự do thông qua các thủ tục pháp
lý do luật định. Nhưng một số quốc gia lại không cho phép việc ly hôn chẳng hạn như
Tòa thánh Vatican.
Khi một quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh, hiện tượng xung đột pháp luật
sẽ xảy ra như là hiện tượng tất yếu.Để giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật này, pháp
luật các quốc gia trên thế giới áp dụng nguyên tắc pháp lý khác nhau tùy thuộc quan điểm


7


lập pháp của từng quốc gia.Thông thường các nước áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch của
các bên đương sự, luật cư trú, luật của nước có cơ quan thẩm quyền giải quyết quan hệ ly
hôn hoặc áp dụng kết hợp đồng thời nhiều nguyên tắc.
b) Pháp luật Việt Nam theo các Hiệp định tương trợ tư pháp

Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều quốc gia như
Nga, các nước Đông Âu, Lào, Trung Quốc… Theo đó, hiện tượng xung đột pháp luật về
ly hôn được giải quyết dựa trên các nguyên tắc cơ bản:
- Luật quốc tịch chung của vợ chồng: nếu hai vợ chồng có cùng quốc tịch thì pháp luật
được áp dụng là pháp luật mà cả hai vợ chồng cùng mang quốc tịch.
- Luật tòa án: nếu hai vợ chồng khác quốc tịch thì cơ quan có thẩm quyền của quốc gia
ký kết nào thụ lý đơn xin ly hôn thì sẽ giải quyết việc ly hôn theo pháp luật của quốc gia
đó.
c) Giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

theo pháp luật Việt Nam
Thực hiện theo quy định tại Điều 127 Luật hôn gia đình 2014 về việc ly hôn có yếu tố
nước ngoài như sau:
“1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài
với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
theo quy định của Luật này.
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời
điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường
trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp
luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của
nước nơi có bất động sản đó.”
Như vậy, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam thì áp dụng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Trường hợp

bên công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì
việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng,
nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Riêng việc
giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước
nơi có bất động sản đó.


8
1.5.

Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng
a) Khái niệm

Dấu hiệu cơ bản để nhận biết yếu tố nước ngoài trong quan hệ nhân thân và tài sản giữa
vợ và chồng trong hôn nhân là quốc tịch.Bên cạnh đó, đố với trường hợp người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thì dấu hiệu nhận biết quan trọng là yếu tố nơi cư trú.Ngoài ra, yếu
tố nước ngoài trong quan hệ tài sản nói riêng giữa vợ và chồng còn được thể hiện ở dấu
hiệu nơi tài sản (tranh chấp) của vợ và chồng đang hiện hữu.
b) Pháp luật các nước

Đối với quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong hôn nhân, luật áp dụng để giải quyết
được xác định theo nguyên tắc luật nhân thân. Trong đó, các quốc gia thuộc truyền thống
pháp luật Châu Âu lục địa thường áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch.Trong khi đó, các
quốc gia thuộc truyền thống pháp luật Anh Mỹ lại áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú để
giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng.
Đối với quan hệ tài sản giữa vợ và chồng các quốc gia phương tây áp dụng nhiều nguyên
tắc giải quyết xung đột pháp luật khác nhau. Trong khi các quốc gia thuộc truyền thống
pháp luật Anh Mỹ chỉ ưu tiên áp dụng nguyên tắc nơi cư trú chung của vợ chồng thì các
quốc gia thuộc khối Châu Âu lục địa lại áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch chung của vợ
chồng hoặc nguyên tắc nơi cư trú chung của vợ chồng hay nguyên tắc luật tòa án.

Đối với các quốc gia thành viên của công ước Lahaye 1978 thì pháp luật của quốc gia
phải phù hợp với quy định của công ước, đồng thời cho phép vợ chồng được thỏa thuận
lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết quan hệ tài sản của mình thông qua một hôn ước
được ký kết giữa hai bên. Tuy nhiên, việc lựa chọn pháp luật áp dụng có phạm vi hẹp hơn
rất nhiều so với quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng của các chủ thể tham gia ký kết
hợp đồng.
c) Pháp luật Việt Nam

Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng tại Việt
Nam có 02 trường hợp sau:
- Theo các Hiệp định tương trợ tư pháp: Việc giải quyết xung đột pháp luật được áp dụng
theo nguyên tắc phải được thực hiện giải quyết theo các nguyên tắc giải quyết xung đột
pháp luật được quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Trong đó, quan trọng nhất là các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết


9

song phương với các quốc gia khác, còn đối với điều ước quốc tế đa phương như Công
ước Lahaye Việt Nam vẫn chưa là thành viên nên không bị ràng buộc trong việc thực thi.
Trong hầu hết các Hiệp định tương trợ tư pháp nguyên tắc chủ yếu được áp dụng để giải
quyết xung đột pháp luật liên quan đến quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng là
nguyên tắc Luật Quốc tịch (thường dung dấu hiệu Quốc tịch chung) hoặc nguyên tắc
Luật nơi cư trú (hay nơi cư trú chung, nơi cư trú chung đầu tiên, nơi cư trú chung cuối
cùng) hoặc áp dụng nguyên tắc Luật Tòa án.
- Theo pháp luật Việt Nam: Luật hôn nhân và gia đình 2014 không có quy phạm xung đột
xác định Luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước
ngoài. Tuy nhiên, theo Điều 6 và Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định
pháp luật áp dụng có thể là Luật Việt Nam (Luật hôn nhân gia đình và các quy định pháp
luật khác có liên quan về tài sản và nhân thân,...). Như vậy, trong trường hợp Luật áp

dụng để giải quyết về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài là Luật
Việt Nam thì các quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 điều chỉnh quan hệ nhân
thân giữa vợ và chồng trong nước sẽ được áp dụng.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không có quy phạm xung đột xác định Luật áp dụng để
điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, theo Điều
130 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định áp dụng chế độ tài sản giữa vợ và chồng
theo thỏa thuận; giải quyết hậu quả của việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài quy định: “Trong trường hợp có yêu cầu
giải quyết việc áp dụng chế độ tài sản giữa vợ và chồng theo thỏa thuận; quan hệ nam
nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các quy định của Luật này và các luật
khác có liên quan của Việt Nam để giải quyết.”
1.6.

Quan hệ giữa cha mẹ và con
a) Pháp Luật các nước

Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1989 là một cột
mốc chứng tỏ vai trò, quyền lợi của trẻ em nói chung và con cái nói riêng trong mối quan
hệ gia đình được cải thiện và bảo vệ đúng mức. Quan hệ gia đình trong bối cảnh giao lưu
quốc tế tạo ra nhiều gia đình có cha mẹ và con mang quốc tịch khác nhau, đây là dấu hiệu
cơ bản để xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ về quyền và nghĩa vụ giữa cha
mẹ và con cái.


10

Xung đột pháp luật trong các mối quan hệ này là điều tất yếu, và pháp luật các quốc gia
cũng áp dụng những nguyên tắc khác nhau để giải quyết. thông thường, ở các nước
phương Tây, nguyên tắc được áp dụng là nguyên tắc Luật Quốc Tịch của người cha (Anh,

Mỹ), nguyên tắc Luật Quốc tịch của người mẹ có thể được áp dụng khi người cha chết.
Đối với việc xác định quan hệ giữa cha, mẹ và con ngoài giá thú, được xác định theo
nguyên tắc như trên, nghĩa là theo pháp luật nơi người cha hoặc mẹ cư trú (Anh, Mỹ), nơi
người cha mang quốc tịch (Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hy Lạp…) hoặc theo pháp luật nơi người
con mang quốc tịch (Pháp)1.
b) Cơ sở pháp lý:Điều ước, Hiệp định thương trợ tư pháp hoặc pháp luật Việt

Nam
 Điều ước, Hiệp định tương trợ tư pháp:

Cơ sở pháp luật để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan
hệ giữa cha mẹ và con có yếu tố nước ngoài là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên hoặc ký kết, hoặc các Hiệp định tương trợ tư pháp (“HĐ TTTP”).
Tính đến tháng 7/2017, Việt Nam đã ký 27 HĐ TTTP với các quốc gia khác 2 như Ấn Độ,
Cam-pu-chia, Đài Loan, Nga, Pháp, Cuba …, các hiệp định này hầu hết đều có các quy
phạm giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến quan hệ giữa cha mẹ và con có yếu tố
nước ngoài. Giống như Pháp, nguyên tắc chung được áp dụng là nguyên tắc nơi cư trú
chung của cha mẹ và con hoặc nguyên tắc luật quốc tịch của con. Ví dụ, HĐ TTTP giữa
Nga và Việt Nam được ký ngày 23/04/2003, quy định về quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và
con cái tại Điều 28, khoản 1 và 2 như sau:
“1. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi
họ cùng thường trú.
2. Nếu một người trong cha mẹ và con thường trú trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, thì
quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con được xác định theo pháp luật của Bên ký kết mà
người con là công dân.

1 ĐH Luật TPHCM, 2016, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Hồng Đức, tr. 234-236
2 />
List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=414



11

3. Các vấn đề quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thuộc thẩm quyền giải tuyết của
Bên ký kết mà người con là công dân, cũng như của Bên ký kết nơi người con thường
trú.3”
Đối với vấn đề xác định cha mẹ cho con, vì các nước quy định các quy phạm pháp luật
để giải quyết khác nhau, do đó, thường các HĐ TTTP sẽ quy định nguyên tắc luật quốc
tịch/ hoặc nơi cư trú của người con hoặc nguyên tắc luật tòa án. Tương tự, đối với yêu
cầu cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, các HĐ TTTP thường ghi nhận nguyên tắc áp dụng
pháp luật của nước nơi người yêu cầu cấp dưỡng cư trú hoặc mang quốc tịch.
 Pháp luật Việt Nam

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định từ Điều 120 đến 130 cho các quan hệ hôn
nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó quy định rõ từ nguyên tắc áp dụng – Điều
121 &122, Thẩm quyền giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Điều
123, đối với quan hệ cha mẹ và con Luật này có quy định mới so với Luật Hôn nhân gia
đình 2000 ở phần xác định cha, mẹ con có yếu tố nước ngoài:
“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ,
con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công
dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài, giữa người nước ngoài
với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ
tịch.
2. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố
nước ngoài đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88, Điều 89, Điều 90, khoản 1,
khoản 5 Điều 97, khoản 3, khoản 5 Điều 98 và Điều 99 của Luật này; các trường hợp
khác có tranh chấp.”
Việc toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa quốc tế đã tạo ra các mối quan hệ hôn nhân gia
đình có yếu tố nước ngoài ngày một gia tăng, và so với luật Hôn nhân gia đình 2000, luật
Hôn nhân gia đình 2014 đã có một sự điều chỉnh thích hợp hơn phản ảnh mối quan hệ

giữa cha mẹ và con như việc xác định cha, mẹ, con.
1.7.

Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
a) Pháp luật nước ngoài

3 />
%20phuong/3.HD-TTTP/Russia%20-%20Civil,%20criminal%20matters%20(vn).pdf


12

Trên thế giới để giải quyết các xung đột pháp luật cho các quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài phát sinh, các quốc gia thường áp dụng nguyên tắc luật nhân thân của
người nhận nuôi hoặc của con nuôi. Luật của Pháp, Đức quan hệ này được điều chỉnh bởi
pháp luật của nước người con nuôi mang quốc tịch. Ngược lại, pháp luật Anh ưu tiên áp
dụng nguyên tắc luật nơi cư trú của người nhận nuôi hoặc nơi cư trú của con nuôi tùy
trường hợp.
b) Pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã ban hành Luật Nuôi con nuôi 2010, trong đó quy định rất rõ về
trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cụ thể Chương 3, từ điều 28 đến điều 43
quy định chi tiết về điều kiện của người nhận nuôi, hồ sơ thủ tục nhận con nuôi, các giấy
tờ hợp pháp hóa lãnh sự, trách nhiệm xác minh của các bên, … cho đến tổ chức con nuôi
nước ngoài tại Việt Nam.
Sau Luật nuôi con nuôi 2010, một loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về Luật
này được ban hành từ năm 2011 đến 2016 hướng dẫn về việc thực hiện, trình tự thủ tục
giấy tờ, … như NĐ 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi, TT 24/2014/TT-BTP
hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi của Bộ Tư pháp, NĐ
114/2016/NĐ-CP quy định lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, lệ phí cấp giấy phép hoạt động

của tổ chức con nuôi nước ngoài, …
1.8.

Vấn đề giám hộ trong tư pháp quốc tế
a) Pháp luật Nước ngoài

Quy định về giải quyết xung đột pháp luật trong giám hộ có yếu tố nước ngoài của các
nước có các nguyên tắc áp dụng khác nhau:


Áp dụng pháp luật của nước mà người giám hộ mang quốc tịch (hay nguyên tắc luật
quốc tịch của người dám hộ) như ở Pháp, đồng thời thực tiễn xét xử tại các tòa án của

quốc gia này cũng chấp nhận nguyên tắc áp luật tòa án trong nhiều trường hợp cụ thể.
• Áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch của người được giám hộ như Đức.
• Áp dụng nguyên tắc nơi cư trú, không quan tâm đến dấu hiệu nơi cư trú của đương sự
như nước Anh.
• Áp dụng nguyên tắc luật Quốc tịch và nguyên tắc luật nơi cư trú như Nga
• Ngoài ra, Công ước Lahaye 1902 về giám hộ cho người vị thành niên, công ước
Lahaye 1905 về giám hộ cho người thành niên cũng như nhiều HĐ TTTP được ký kết,
nguyên tắc giải quyết xung đột về giám hộ có yếu tố nước ngoài là nguyên tắc luật
quốc tịch của người được giám hộ là nguyên tắc cơ bản.


13
b) Pháp luật Việt Nam

Đối với vấn đề giám hộ có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi 2 nguồn luật quan
trọng là các HĐ TTTP, các điều ước quốc tế mà VN tham gia và các Luật Hôn nhân Gia
đình, Luật Dân sự, Luật Hộ tịch về giám hộ. Khoản 3, Điều 123, Luật Hôn Nhân gia đình

2014 quy định:
“3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái
pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha
mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư
trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới
với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.”
Điều ngày nghĩa là nguyên tắc áp dụng để giải quyết xung đột trong vấn đề giám hộ là
nguyên tắc luật tòa án.
Đối với Pháp luật Việt Nam, dấu hiệu nơi cư trú được xác định theo người giám hộ và
người được giám hộ trong trường hợp này sẽ xác định theo pháp luật của nước nơi người
giám hộ thường trú.
1.9.

Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa
Thời gian qua, Việt nam đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận về mặt lập
pháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài nói riêng, tuy nhiên, hiệu quả thực sự của quá trình đó cần phải được
kiểm chứng một cách đầy đủ và chắc chắn hơn qua thực tiễn áp dụng.
Điều quan trọng trươc tiên tại thời điểm hiện nay là Việt Nam cần xem xét bổ sung, sửa
đổi các nội dung quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình cho phù hợp với các điều ước
quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia cũng như phù hợp với các điều kiện kinh tế
- xã hội hiện đại của đất nước.
2. Nghiên cứu riêng: Về các thủ tục thực hiện trên thực tế

2.1.

Thủ tục kết hôn với người nước ngoài
Thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài gồm 6 bước sau đây:

Bước 1: Kiểm tra điều kiện kết hôn (Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

Phải đáp ứng các điều kiện sau thì mới xem xét chuẩn bị hồ sơ đăng ký kết hôn:


14

1. Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.
2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định.
3. Không bị mất năng lực hành vi dân sự.
4. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn sau:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo.
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác
hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người
đang có chồng, có vợ.
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ;
giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa
người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha
dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ (Điều 18 và 30 NĐ 123/2015/NĐ-CP)
1. Tờ khai đăng ký kết hôn
2. Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người Việt Nam và người nước ngoài.
Lưu ý đối với giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài:
Thông thường giấy này do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp, và giấy này phải còn
giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc chồng.
Nếu không cấp giấy xác nhận này thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước
ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật nước đó.
Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử
dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 38
của Luật Hộ tịch chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp.
3. Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam và của nước ngoài xác

nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận
thức, làm chủ hành vi của mình.
Lưu ý: Nếu giấy xác nhận của cơ sở y tế này không có ghi thời hạn thì chỉ có giá trị 06
tháng kể từ ngày cấp.
4. Bản sao CMND hoặc thẻ Căn cước công dân của người Việt Nam.
5. Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.


15

Trường hợp người nước ngoài không có hộ chiếu để xuất trình theo yêu cầu thì có thể
xuất trình giấy tờ đi lại quốc tế hoặc thẻ cư trú.
Lưu ý: Nếu bên kết hôn là công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy kết hôn tại cơ quan có
thẩm quyền nước ngoài thì còn phải nộp bảo sao trích lục hộ tịch về việc đã ghi vào sổ
việc ly hôn hoặc hủy kết hôn.
Còn nếu là công chức, viên chức hoặc những người đang phục vụ trong lực lượng vũ
trang thì phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận việc kết hôn với người
nước ngoài không trái với quy định của ngành đó.
Bước 3: Nộp hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngoài
Địa điểm: tại Phòng Tư Pháp thuộc UBND cấp quận, huyện
Theo quy định tại Điều 37, Luật hộ tịch 2014 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thì
thẩm quyền đăng ký kết hôn với người nước ngoài được quy định như sau:
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở
trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định
cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài
với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.
2. Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt
Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký
kết hôn.

Bước 4: Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn
Theo quy định tại Điều 38, Luật hộ tịch 2014, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
đủ giấy tờ theo quy định, công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu
thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.
Bước 5: Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn
- Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện ký 02 bản chính Giấy chứng nhận
kết hôn (Điều 38, Luật hộ tịch 2014).
(Căn cứ tình hình cụ thể, trường hợp cần thiết Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng bổ sung
thủ tục phỏng vấn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên và hiệu quả quản lý Nhà nước)
Bước 6: Trao Giấy chứng nhận kết hôn(Điều 38, Luật hộ tịch 2014)


16

Thời hạn:
- 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn,
Phòng Tư pháp trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.
Việc trao giấy này phải có mặt cả 2 bên nam, nữ. Công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý
kiến 2 bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch,
cùng 2 bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch.
Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.
Giấy chứng nhận kết hôn có giá trị kể từ ngày được ghi vào sổ và trao cho các bên.
Một số lưu ý:
1. Nếu 01 trong 02 bên không thể có mặt cùng lúc để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì
có thể đề nghị Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao nhưng tối đa không quá 60 ngày kể
từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn.
Nếu hết 60 ngày mà không đến nhận thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cấp
huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký.Sau đó, nếu 2 bên nam, nữ muốn đăng ký kết

hôn thì phải tiến hành thủ tục như ban đầu.
2. Nếu UBND cấp huyện từ chối đăng ký kết hôn thì Phòng Tư pháp thông báo bằng văn
bản nêu rõ lý do cho 2 bên nam, nữ.
2.2.

Thủ tục ly hôn với người nước ngoài
Thủ tục ly hôn với người nước ngoài gồm 4 bước sau đây:

Bước 1: Hồ sơ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Khi ly hôn với người nước ngoài, cần chuẩn bị các giấy tờ sau (Điều 39, NĐ123/2015):
– Đơn xin ly hôn hoặc Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
Lưu ý: Trường hợp người ký là người đang ở nước ngoài thì phải có xác nhận của đại sứ
quán Việt Nam tại nước ngoài (đối với người Việt Nam) hoặc xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài (đối với người nước ngoài)


17

– Bản chính giấy chứng nhận kết hôn. Nếu mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì
nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng
phải trình bày rõ trong đơn kiện.
– Giấy CMND hoặc Hộ chiếu; Hộ khẩu (bản sao chứng thực) của hai bên
– Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con)
– Bản sao chứng thực chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài
sản).
– Giấy tờ xác nhận về tình trạng hôn nhân của vợ chồng
– Hồ sơ tài liệu chứng minh việc một bên đang ở nước ngoài (nếu có)
Bước 2, 3: Thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn với người nước ngoài
Theo quy định tại Điều 35, 37 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền giải
quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp

huyện hoặc tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu đương sự cư trú tại Việt Nam thì sẽ do
UBND cấp huyện giải quyết; nếu đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài thì sẽ do UBND
cấp tỉnh giải quyết thông qua Ủy thác tư pháp). Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với
công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới thì sẽ do Tòa án nhân dân cấp
huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam giải quyết. Các đương sự cũng có quyền thỏa
thuận Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc để giải quyết. Đối với trường hợp thuận
tình ly hôn thì tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án của một trong các bên thuận tình
ly hôn.
Ngoài ra, trong trường hợp nguyên đơn không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì
nguyên đơn có quyền lựa chọn một Tòa án có thẩm quyền để giải quyết. Tòa án có thẩm
quyền giải quyết ở đây có thể là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc tòa án
nơi bị đơn có tài sản (Điều 40, BLTTDS 2015).
Bước 4: Thời hạn giải quyết ly hôn với người nước ngoài


18

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thời hạn chuẩn bị xét xử là từ 04 đến 06
tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, thời hạn mở phiên tòa là từ 01 đến 02 tháng kể từ ngày có
quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Như vậy, tổng thời gian từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa là từ 05 đến 08 tháng.
Tuy nhiên thời gian giải quyết vụ việc cũng còn phụ thuộc vào sự hợp tác của các bên
cũng như nội dung giải quyết tranh chấp của hai bên.
2.3.

Thủ tục nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài

Thủ tục nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài gồm 3 bước sau đây:

Bước 1: Hồ sơ nhận nuôi con nuôi



Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có (Điều 31, Luật nuôi con nuôi 2010)

Hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước
ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ, tài liệu sau đây:
- Đơn xin nhận con nuôi;
- Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
- Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;
- Bản điều tra về tâm lý, gia đình;
- Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe;
- Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;
- Phiếu lý lịch tư pháp;
- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;
- Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh quy định tại khoản 2 Điều 28
của Luật này.
Theo quy định tại Điều 17, NĐ 19/2011/NĐ-CP
1. Trường hợp nhận con nuôi đích danh, thì người nhận con nuôi trực tiếp nộp hồ sơ tại
Cục Con nuôi. Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục
Con nuôi, người nhận con nuôi ủy quyền bằng văn bản cho người có quan hệ họ hàng,
thân thích thường trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi hoặc gửi hồ sơ cho Cục
Con nuôi qua đường bưu điện theo hình thức gửi bảo đảm.


19

2. Trường hợp nhận con nuôi không đích danh, thì người nhận con nuôi thường trú tại
nước là thành viên của điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam nộp hồ sơ
cho Cục Con nuôi thông qua tổ chức con nuôi của nước đó được cấp phép hoạt động tại
Việt Nam; nếu nước đó không có tổ chức con nuôi được cấp phép hoạt động tại Việt

Nam, thì người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho Cục Con nuôi thông qua Cơ quan đại diện
Ngoại giao hoặc Cơ quan Lãnh sự của nước đó tại Việt Nam.


Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi (Điều 32, Luật nuôi con nuôi
2010)

- Các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;
- Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em;
- Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em theo
quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật này nhưng không thành.
Hồ sơ này được lập thành 03 bộ và nộp cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm
con nuôi thường trú.
Bước 2: Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi
Theo Khoản 2, Điều 9, Luật nuôi con nuôi 2010:
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Bước 3: Thời hạn giải quyết
Căn cứ Điều 33, 34, 36, 37 (Luật nuôi con nuôi 2010):
- Cục Con nuôi kiểm tra, thẩm định hồ sơ: 15 ngày
- Sở Tư pháp giới thiệu trẻ em: 30 ngày
- UBND cấp tỉnh cho ý kiến: 10 ngày
- Cục Con nuôi kiểm tra báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em và thông báo cho người nhận
con nuôi: 30 ngày
- Cục Con nuôi thông báo cho Sở Tư pháp ý kiến đồng ý của người xin nhận con nuôi: 15
ngày
- UBND cấp tỉnh ra quyết định cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài: 10 ngày



20
3. Ứng dụng thực tiễn

3.1. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Toà án nhân dân Tp. Đà Nẵng ngày 12
tháng 01 năm 20184.
“Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 48/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11
năm 2017, giữa:
-Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm: 1980.
Nơi ĐKHKTT: Tổ X5, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng.
Tạm trú: Số X7 đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng.
-Bị đơn: Ông Vo K, sinh năm: 1957.
Trú tại: Số X428 đường D. I. P, Hoa Kỳ.
Tạm trú: Tổ X7 phường P, quận L, thành phố Đà Nẵng.
Căn cứ Điều 212 và 213 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 04 tháng 01
năm 2018.
XÉT THẤY
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận
sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 04 tháng 01 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện
và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải
thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
- Bà Trương Thị T, sinh năm: 1980.
Nơi đăng ký NKTT: Tổ X5, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng.
Tạm trú: Số X7 đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng.
- Ông Vo K, sinh năm: 1957.

Số X428 đường D. I. P, Hoa Kỳ.
Tạm trú: Tổ X7 phường P, quận L, thành phố Đà Nẵng.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đ ương sự cụ thể như sau:
4 Căn cứ vào Quyết định số 04/2018/QĐST-HNGD của Tòa án nhân dân Tp. Đà Nẵng ngày 12 tháng 01

năm 2018.


21

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị T và ông Vo K thuận tình ly hôn.
(Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị T và ông Vo K xác định không
có).
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị T tự nguyện chịu, được khấu trừ
vào 300.000đ tạm ứng án phí Bà Trương Thị T đã nộp (biên lai thu số: 001224 ngày 15
tháng 01 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.”
3.2. Vụ kiện dân sự "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và nuôi con" giữa nguyên đơn là
ông Nguyễn Đức An, và bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc Thúy
a) Tóm tắt tình huống

Ngày 18/11/2006 bà Phạm Thị Ngọc Thúy kết hôn cùng ông Nguyễn Đức An – Việt Kiều
Mỹ. Họ có 2 con chung là Nguyễn Angelina Dior, sinh năm 2007 và Nguyễn Valentina
Dior, sinh năm 2008. Trước khi con thứ 2 ra đời 2 người đã hoàn tất thủ tục ly hôn.
Ngày 26/9/2007, ông An và bà Thúy đã gửi đơn xin ly dị tại Tòa án quận Cam (Orange
County), bang California, Mỹ. Hai bên đồng ý ly hôn, khi giải quyết vụ án này, Tòa
thượng thẩm California, Mỹ, đã ra phán quyết: "Cấp quyền giữ lại làm tài sản riêng,
không có tài sản chung mà các bên có được trong hôn nhân”. Xác nhận số tài sản tại VN
đang đứng tên bà Thúy thuộc sở hữu của ông An

(Sở dĩ có phán quyết ấy là vì trước ngày lấy bà Thúy, ông An bằng tiền của mình, đã mua
các dự án bất động sản, căn hộ, biệt thự, tài khoản, xe cộ. Sau khi lấy nhau, trong thời
gian từ năm 2007 đến đầu năm 2008, do ông An không có quốc tịch Việt Nam nên ông đã
nhờ bà Ngọc Thúy đứng tên.)
Tuy nhiên, sau đó bà Thúy không trả lại các tài sản cho ông mà có hành vi tẩu tán tài sản
(bằng cách chuyển tiền, sang tên bất động sản cho người thân, cũng như tự ý kinh doanh,
thu lợi mà không được ông An đồng ý mặc dù ông đã chấp thuận theo yêu cầu của bà
Thúy, là bán số tài sản và cho phép bà giữ lại phần lời phát sinh nên) ông An đã khởi
kiện vụ việc đến TAND quận 1, TP.HCM. Sau khi thụ lý một thời gian, TAND quận 1
chuyển toàn bộ hồ sơ lên TAND TP.HCM giải quyết.
Ông Nguyễn Đức An kiện bà Thúy để đòi lại số tài sản trị giá khoảng 288 tỉ đồng, bao
gồm 5 căn hộ nằm trong Avalon Building tại quận 1, 4 căn hộ thuộc Sailing Tower cũng
tại quận 1, Tp HCM, 13 lô đất và biệt thự thuộc Sea Links Golf & County Club, Tp Phan


22

Thiết tỉnh Bình Thuận, hai thửa đất và một lô đất ở Tp Vũng Tàu, 1 biệt thự 160m² ở
quận Bình Thạnh, Tp HCM, 31% cổ phần trong Công ty Sao Mai, Tp Vũng Tàu, một
khoản tiền quyền mua cổ phiếu của dự án Bank New Venture, toàn bộ số tiền trong tài
khoản tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam, 4 ôtô
Mercedes Benz, 1 ôtô Porsche Cayenne, 2 xe Volkwagen, 1 xe Vespa, các khoản vay
700.040 USD và 3.000.040 USD.
Bên cạnh việc đòi lại tài sản , ông An còn khởi kiện yêu cầu bà Thúy phải giao lại cho
mình quyền trực tiếp nuôi dạy hai con nhỏ là Nguyễn Angelina Dior, sinh năm 2007 và
Nguyễn Valentina Dior, sinh năm 2008.
Trong một bản tự khai tại Tòa án nhân dân quận 1, Tp HCM, là đơn vị đầu tiên thụ lý vụ
kiện, bà Trương Thị Bê - mẹ ruột “siêu mẫu” Ngọc Thúy - cũng đã thừa nhận hiện đang
đứng tên một số tài sản mà Thúy chuyển cho bà và đây cũng chính là tài sản của ông An
mà Ngọc Thúy đứng tên.

Ông An cũng đưa ra bản án của Tòa án quận Cam, Mỹ để làm căn cứ đòi sở hữu tài sản
tuy nhiên vì giữa Mỹ và Việt Nam không có hiệp định tương trợ tư pháp nên bản án này
chưa được công nhận giá trị ở Việt Nam.
Tình tiết phát sinh: ông An và Ngọc Thúy mặc dù đã làm hôn thú tại Mỹ, nhưng cả hai lại
chưa ghi chú kết hôn ở Việt Nam, nên chưa được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo
quy định, ghi chú này có ý nghĩa như một thông báo cho các cơ quan chức năng Việt
Nam, rằng một công dân Việt Nam đã lập gia đình với người nước ngoài. Như vậy, yếu tố
hôn nhân sẽ không có giá trị trong vụ tranh chấp tài sản do Tòa án Việt Nam thụ lý.
Vụ kiện đến nay vẫn chưa có hồi kết. Lý do chính là do có nhiều tình tiết phức tạp, khối
tài sản tranh chấp giá trị rất lớn, gồm nhiều bất động sản nằm ở nhiều địa phương khác
nhau.
b) Nêu vấn đề
-

Thẩm quyền giải quyết vụ việc?
Tại sao đãcó bản án rồi mà ông An vẫn phải tiến hành khởi kiện tại Tòa án Việt

-

Nam? Bản án của Tòa án Mỹ có được công nhận giá trị tại Việt Nam hay không?
Hướng giải quyết vụ việc?

c) Ý kiến của nhóm


23

Theo ý kiến của nhóm đánh giá chung về nguyên tắc xử lý theo bộ luật tố tụng dân sự
Việt Nam như sau:
-


Về nguyên tắc, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài để được thi hành
tại Việt Nam thì phải tiến hành thủ tục yêu cầu công nhận gửi đến Bộ Tư pháp Việt
Nam. Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền và
Tòa án có thẩm quyền sẽ tiến hành thụ lý, mở phiên họp xét đơn yêu cầu, quyết
định việc công nhận cho thi hành hoặc không công nhận cho thi hành bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam. Trường hợp trên chưa làm thủ tục

-

công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Theo Điều 411, BLTTDS 2005, vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với bất
động sản trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam. Như vậy, phán quyết liên quan đến các tài sản là nhà đất tại Việt Nam
giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An của toà án Hoa Kỳ sẽ không
thể được công nhận và thi hành vì những tài sản trên thuộc thẩm quyền xét xử
riêng biệt của toà án Việt Nam. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, thế nên, nếu toà án Hoa Kỳ tuyên những tài sản ấy là sở hữu của
ông Nguyễn Đức An thì bản án đó đã trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp

-

luật Việt Nam, tức là sẽ không được công nhận, thi hành.
Ông An phải chứng minh được số tài sản đang đứng tên bà Thúy là của riêng
mình, nếu không sử dụng được bản án của tòa án Mỹ cần có những chứng cứ bổ
sung như giao dịch chuyển tiền cho bà Thúy nhờ bà Thúy mua tài sản. Người làm
chứng là bà Bê – mẹ bà Thúy có xác nhận số tài sản bà Thúy chuyển tên cho bà là

-


của ông An.
Tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân không có nguồn gốc từ tặng cho riêng,
thừa kế riêng thì được tính là tài sản chung vợ chồng, sau khi ly hôn sẽ chia đôi

-

theo điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 59 LHN&GĐ năm 2014)
Nếu hôn nhân của ông An và ba Thúy không phải là hôn nhân hợp pháp thì ông
Nguyễn Đức An có thể khởi kiện tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản nhờ
người trong nước đứng tên như là một quan hệ tranh chấp độc lập thuộc thẩm
quyền tài phán của Tòa án Việt Nam.

3.3. Tranh chấp ly hôn giữa ông Kambayashi Hiroaki và bà Võ Xuân Mai
a) Tóm tắt tình huống


24

Năm 2001, ông Kambayashi Hiroaki (quốc tịch Nhật Bản) kết hôn với bà Võ Xuân Mai
sống tại quận Bình Thạnh, TP HCM. Trong thời kỳ hôn nhân, ông bán căn nhà bên Nhật
mà cha mẹ để lại cùng số tiền dành dụm được để mua một căn nhà ở quận Bình Thạnh,
một căn hộ chung cư ở quận 2 và hai lô đất ở Long Thành, Đồng Nai. Tất cả bất động sản
trên đều do vợ ông - bà Võ Xuân Mai hoặc người thân của bà đứng tên vì luật pháp Việt
Nam thời đó chưa cho người nước ngoài đứng tên bất động sản.
Năm 2009, bà Mai đã có giấy cam kết rằng tất cả tài sản trên đều thuộc về ông Hiroaki
sau khi ly hôn vì nó được mua bằng tiền của ông Hiroaki.
Trong thời kỳ hôn nhân, cả hai đã có một con chung, nhưng mâu thuẫn vợ chồng nảy
sinh, kéo dài trầm trọng buộc ông Hiroaki phải gửi đơn ly hôn ra tòa. Tòa án nhân dân
TP.HCM nhiều lần triệu tập bà Mai lên làm việc nhiều lần nhưng bà Mai luôn vắng mặt.
Cuối cùng, vụ việc cũng được đưa ra xét xử sơ thẩm ngày 4/1/2017.

Theo các văn bản thỏa thuận ngày 23/12/2011 giữa ông Kambayashi và bà Võ Xuân Mai
có nội dung: Chúng tôi thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân như: Nhà đất tọa lạc 73/18 Vạn Kiếp, p3, Bình Thạnh đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất tại tờ bản đồ số 4, thửa 304A,
địa chỉ xã Tam An, Long Thành, Đồng Nai, giấy chứng nhận 01626 DSDĐ do UBND
huyện Long Thành cấp ngày 28/2/2002. Bằng văn bản thỏa thuận này, bà Võ Xuân Mai
đồng ý để cho ông Hiroaki Kambayashi được hưởng toàn bộ giá trị tài sản nêu trên và bà
Mai đã giao cho ông Hiroaki bản chính giấy chứng nhận tài sản nêu trên.
Thế nhưng sau đó, bà Mai lại nói rằng những tài sản mà bà cam kết là tài sản riêng của
ông Hiroaki là do bị đe dọa, ép buộc. Tuy nhiên, thẩm phán cho rằng bà Mai không xuất
trình được chứng cứ chứng mình bị ông Hiroaki đe đọa, hoặc ép buộc kỳ cả hai tờ giấy
nêu trên, nên không được tòa chấp nhận. Tuy nhiên, bà Mai vẫn kháng cáo toàn bộ bản
án, kể cả việc thuận tình ly hôn giữa hai bên do liên quan đến phân chia tài sản.
b) Nêu vấn đề
- Thẩm quyền giải quyết vụ việc trên?
- Hướng giải quyết như thế nào (giả sử áp dụng BLTTDS 2015)?

c) Đề xuất giải quyết
- Thẩm quyền giải quyết vụ việc: TAND quận Bình Thạnh, Tp.HCM (Điều 35,

BLTTDS 2015)


25
-

Theo ý kiến của nhóm đánh giá chung về nguyên tắc xử lý theo bộ luật tố tụng dân
sự Việt Nam như sau:
Mặc dù tài sản được mua trong thời kỳ hôn nhân, nhưng bà Mai đã có giấy cam
kết tất cả tài sản trên đều thuộc về ông Kambayashi Hiroaki sau khi ly hôn.Ngoài

ra, theo các văn bản thỏa thuận ngày 23/12/2011 thì toàn bộ tài sản này đều thuộc
về ông Kambayashi.

-

Vụ việc này bị kéo dài do sự bất hợp tác của bị đơn, vì vậy Tòa án cần ra quyết
định cho 2 người thuận tình ly hôn, hoàn trả lại tài sản cho ông Hiroaki bởi những
cam kết đưa ra đều minh chứng cho điều này. Cục Thi hành án dân sự TP Hồ Chí
Minh phải ra Quyết định thi hành án chủ động buộc bà Mai và những người liên
quan đang cư trú ở 3 căn nhà của ông Hiroaki phải chấp hành việc đo vẽ và định
giá nhà đất tránh tình trạng kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.

4. Danh mục tài liệu tham khảo
a.
b.
c.
d.
e.
f.
g.

Luật Dân sự 2015
Luật Hôn Nhân và Gia đình 2014
Luật hộ tịch 2014
Các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước
Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015
Đại học Luật TPHCM, 2016, Giáo trình Tư Pháp Quốc tế (Phần Riêng, và Phần chung)
Lê Thị Nam Giang, 2010, Tư pháp Quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí

Minh

h. Quyết định số 04/2018/QĐST-HNGD của Tòa án nhân dân Tp. Đà Nẵng ngày 12 tháng
01 năm 2018.


×