Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Niên luận rủi ro Fintech

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (732.2 KB, 33 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NIÊN LUẬN

ĐỀ TÀI:

RỦI RO CỦA FINTECH, KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ
BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : Đào Phương Đông
Sinh viên thực hiện

: Lại Thanh Tùng

Lớp

: QH 2016E – TCNH

Khoa

: Tài Chính – Ngân Hàng

Mã Sinh Viên

: 16051711

Hà Nội, 2019
1



LỜI CAM ĐOAN
Tên đề tài : “Rủi ro của fintech, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt
Nam”.
Tên sinh viên thực hiện: Lại Thanh Tùng
Mã Sinh Viên: 16051711
Lớp: QH 2016E
Khoa: Tài Chính – Ngân Hàng
Giáo viên hướng dẫn: Đào Phương Đông
Lời cam đoan:
Tôi xin cam đoan đề tài “Rủi ro của fintech, kinh nghiệm quốc tế và bài
học cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu do chúng tôi soạn thảo. Chúng
tôi không sao chép từ bất cứ tài liệu nào đã được công bố mà không trích dẫn
nguồn gốc. Nếu có bất kì sự vi phạm nào chúng tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà nội, ngày 15 tháng 8 năm 2019.
Người cam kết

Lại Thanh Tùng

2


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AML
CNTT
KHĐT
KYC
NHNN

P2P
PSP

Anti Money Laundring (chống rửa tiền)
Công Nghệ Thông Tin
Kế Hoạch Đầu Tư
Know Your Customer (thấu hiểu khách hàng
hay xác định danh tính)
Ngân hàng Nhà nước
Peer to Peer (cho vay ngang hàng)
Payment Service Provider (cổng thanh toán)

----------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1

Các công ty Fintech tại Việt Nam 2019 (Fintech

3


Hình 2

Vietnam Starup Map)
Mô hình hệ sinh thái Fintech ở nước ngoài

----------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ so sánh số lượng các cuộc tấn công mạng
Biểu đồ
vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam năm 2017 và
1
2018

----------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1

Một số chính sách phát triển fintech tại các quốc gia

4


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiêt của đề tài
Trong thời đại mới cuộc cách mạng 4.0 đang thúc đẩy và phát triển mạnh
mẽ. Cuộc cách mạng diễn ra khởi nguyên trên ba lĩnh vực chính công nghệ sinh
học, kỹ thuật số và vật lý. Cuộc cách mạng có tốc độ diễn biến nhanh chóng len
lỏi và thâm nhập vào mọi lĩnh vực mọi người trong xã hội ảnh hưởng tới nền
kinh tế, chính trị, xã hội mang tính chất toàn cầu, toàn diện. Chính vì vậy lĩnh
vực kinh tế tài chính – ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng dần dần hình thành
nhiều công ty tài chính công nghệ mới được gọi chung là các công ty fintech
tham gia vào thi trường.
Khi mạng internet, điện thoại thông minh ngày càng trở nên thông dụng
phổ biến và cần thiết là điều kiện giúp các công ty này tham gia vào thị trường
dựa trên ưu thế về công nghệ đã phát triển nhanh chóng. Điều này đã khiến cho
việc đẩy việc phổ biến về kiến thức tài chính, thúc đẩy nhanh chóng quá trình

trao đổi kinh doanh mua bán của người dân, các công ty. Ngoài ra các công ty
fintech còn giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn so
với các tổ chức truyền thống. Do đó lợi ích mà fintech mang lại là vô cùng to
lớn và fintech là trở thành hướng đi phát tiển tất yêu của các công ty tài chính
trong kỷ nguyên số.
Song như một điều tất yếu mọi sự việc, sự vật đều có tính hai mặt: tốt và
xấu, fintech cũng không nằm ngoài quy luật này. Bên cạnh những lợi ích khủng
lồ mà nó mang lại thì nó cũng tiềm tàng nhiều rủi ro nguy hiểm thậm chí có thể
khiến xảy ra thêm một cuộc khủng hoảng kinh tế. Vì cuộc cách mạng diễn ra
với tốc độ nhanh trong khi các luật pháp, điều lệ, quy ước đặc biệt về an toàn
trong hoạt động của các tổ chứ tín dụng chưa kịp thay đổi tạo nên những lỗ
hổng khiến cho kẻ xấu có thể lợi dụng thực hiện các hành động lừa đảo, rửa
tiền, mua bán hàng cấm,..Do đó các quốc gia đang nhanh chóng nguyên cứu
5


soạn thảo chỉnh sửa để hoàn thiện khung pháp lý trong đó có Việt Nam. Hơn
nữa Fintech và các ứng dụng của nó đang ngày càng phổ biến và phát triển
nhanh chóng đem lại nhiều nguồn lợi lớn cho nhiều người khiến người dân lôi
kéo nhau đầu tư tham gia vào các loại hình như góp quỹ, mua bán tiền ảo,…
nhưng chưa có kiến thức cũng như nhận biết được những rủi ro nguy hiểm tiềm
ẩn mà fintech mang lại.
Như vậy để sáng tỏ vấn đề về các rủi ro tiền tàng của fintech và kinh
nghiệm giải pháp quốc tế từ đó vận dụng đưa ra những giải pháp để khắc phục
tại Việt Nam, tôi đã nguyên cứu và phân tích đề tài: “Rủi ro của fintech, kinh
nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”
2. Tổng quan tài liệu
-

Bài nghiên cứu “ Fintech trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam” của

ThS. Dương Tấn Khoa Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã
trình bày khái quát nhất về fintech giúp người đọc đưa có nhìn cái
nhìn tổng quan về fintech nhưng chưa đi sâu và chỉ rõ cụ thể của

-

fintech.
Luận án thạc sĩ “ Fintech ecosystem in Vietnam” của Đăng Thị Ngọc
Anh, Trường university of turku của Nhật Bản đã trình bày cụ thể,
phạm vi nghiên cứu rộng, so sánh hợp lý về tình hình fintech giữa

-

Việt Nam với Singapore.
Bài nghiên cứu “ Bàn về mô hình pháp lý cho doanh nghiệp điện tử”
của TS. Trần Vân Long Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ
Chí Minh đi tìm hiểu sâu về vấn đề pháp lý của doanh nghiệp điện tử
nói chung chưa tìm hiểu cụ thể về các công ty fintech.

3. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
 Mục tiêu nguyên cứu:
-

Chỉ ra và làm rõ các loại rủi ro của fintech tại Việt Nam

6


-


Tìm hiểu các sự việc kinh tế trên thế giới từ đó đưa ra giải pháp nhằm
hạn chế khắc phục phòng ngừa rủi ro của fintech

 Đối tượng nguyên cứu:
-

Thực trạng của fintech và rủi ro của nó tại Việt Nam bao gồm ngân
hàng,các công ty tài chính, nhà đầu tư, người dân,…

4. Phạm vi đề tài
-

Không gian : Rủi ro của fintech tại Việt Nam và một số nước trên thế

-

giới
Thời gian: từ năm 2010 – 2019

5. Phương pháp nguyên cứu
-

Phương pháp tổng hợp và phân tích

6. Kết cấu đề tài
-

Chương 1: Tổng quan khái quát về fintech và rủi ro của fintech
Chương 2: Thực trạng tình hình fintech và rủi ro fintech tại Việt Nam
Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam


7


PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHÁI QUÁT VỀ FINTECH,
RỦI RO CỦA FINTECH
I.

Fintech
1. Khái niệm:
Theo Cafef, Fintech là từ viết tắt của financial technolody, fintech được sử

dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng internet, điện thoại di động, công
nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở nhằm mục đích nâng
cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư.
Theo Wikipedia, Fintech hay công nghệ tài chính là công nghệ mới và đổi
mới nhằm cạnh tranh với các phương pháp tài chính truyền thống trong việc
cung cấp các dịch vụ tài chính.
2. Đặc điểm của fintech:
Tác động mạnh mẽ và to lớn tới mọi vấn đề trong lĩnh vực tài chính
Fintech được ứng dụng hầu như mọi khía cạnh của lĩnh vực tài chính như
a)

bảo hiểm, cho vay, tiền gửi, quản lý rủi ro,…Đồng thời fintech hướng tới mọi
đối tượng khách hàng cả các cá nhân đến các tổ chức doanh nghiệp.
b) Sự phát triển đi liền với việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao
Do mục đích của fintech là sử dụng công nghệ nhằm khắc phục các khó
khăn hạn chế trong lĩnh vực tài chính nên việc phát triển phát triển luôn luôn đi
liền với việc ứng dụng và ngày càng tối ưu công nghệ cao. Hơn nữa việc cạnh

tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính và việc sản phẩm dễ bị lỗi thời do sự ngày
càng phát triển của công nghệ đòi hỏi việc nâng cao và áp dụng công nghệ kỹ
thuật mới không ngừng.
c) Tiềm ẩn rủi ro cao
Rủi ro pháp lý, rủi ro hệ thống an ninh mạng, rủi ro lừa đảo, rủi ro nghiệp
vụ,… đều là những rủi ro mà các công ty fintech cần quan tâm và quản trị đặc
8


biệt là các công ty liên quan đến huy động vốn, gây quỹ. Các công ty fintech
đều là các công ty trẻ thiều kinh nghiệm trong việc quản trị rủi ro, thông tin của
khách hàng dễ bị đánh cắp. Ngoài ra việc khung pháp lý quy định về các công
ty fintech chưa được hoàn thiện nên không có những quy định đảm bảo về an
toàn tín dụng như các tổ chức dịch vụ tín dụng truyền thống.
d) Đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao
Các công ty fintech đòi hỏi nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao hơn
trước. Ngoài lĩnh vực tài chính các công ty fintech còn cần nhân viên biết an
hiểm công nghệ thông tin.
e) Dễ dàng tiếp cận với người dùng
Gần như hầu hết các sản phẩm của các công ty fintech đều được sử dụng
trên điện thoại thông minh, máy tính. Điều này hoàn toàn phù hợp do điện thoại
thông minh và máy tính càng trở nên phổ thông và phổ cập rộng rãi nên người
dùng dễ dàng tiếp cận sản phẩm.
f) Chi phí thấp
Các công ty fintech ứng dụng công nghệ làm cho việc thu thập quản lý
phân tích theo dõi dữ liệu khách hàng trở nên nhanh chóng và dễ dàng khiến có
thể cắt giảm chi phí quản lý giảm thiểu chi phí sử dụng cho người dùng hơn rất
nhiều so với các tổ chức truyền thống.
3. Phân loại fintech:
3.1


Theo Business Insider Intelligence, fintech được chia làm 7 nhóm sau:
a) Rô bốt tư vấn và tài chính cá nhân (Robo Advisors and Personal

Finance)
Rô bốt tư vấn hay Robo Advisors là các thuật toán, công nghệ được ứng
dụng vào quản lý đầu tư để hình thành nên nền tảng tự động với chi phí thấp
giúp người dùng quản lý tài chính cá nhân như đầu tư, tiết kiệm…
b) Công nghệ Blockchain và tiền ảo Bitcoin (Blockchain and bitcoin)
Công nghệ Blockchain là một hệ thống cơ sở dữ liệu chứa thông tin được
dùng để lưu trữ và chia sẻ thông tin. Blockchain có khả năng truyền tải an toàn,
được mở rộng theo thời gian và được quản lý bởi tất cả mọi người tham gia hệ
thống thay vì chỉ một bên như trước.

9


Tiền ảo hay tiền kỹ thuật số là loại tiền được mã hóa có thể trao đổi trực
tiếp mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào.
c) Công nghệ bảo hiểm (Insurtech)
Insurtech là từ viết tắt của Insurance Technology chỉ việc ứng dụng công
nghệ vào trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm tạo sự đột phá khai thác triệt để các
mảng kinh doanh bảo hiểm mới đồng thời hỗ trợ tính phí thông kê, theo dõi và
quản lý. Từ đó Insurtech sẽ giúp các công ty bảo hiểm nâng cao doanh thu giảm
thiểu chi phí quản lý. Insurtech tập trung vào 5 mảng: dữ liệu lớn trí tuệ nhân
tạo, bảo hiểm trên nền tảng số, internet vạn vật, bảo hiểm rủi ro trên không gian
mạng, y tê sức khỏe.
d) Công nghệ quản lý (Regtech)
Regtech là một từ viết tắt của Regulatory Technology hay công nghệ quản
lý. Regtech được dùng để chỉ chung các giải pháp giải pháp nhằm giải quyết các

khó khăn về mặt pháp lý bằng công nghệ mới. Regtech giúp các tổ chức dịnh vụ
tài chính có thể tự động hóa các việc tuân thủ và giảm thiểu rủi ro pháp lý liên
quan đến việc thực hiện các quy định và nghĩa vụ báo cáo của mình.
e) Ngân hàng số (Digital Banks)
Ngân hàng số là ngân hàng thực hiện hầu hết tất cả giao dịch ngân hàng
trên internet mà không cần thông qua bất cứ một chi nhánh hay phòng giao dịch
nào. Hầu như mọi giấy tờ, hóa đơn,.. đều được số hóa và thực hiện trực tuyến.
Đại diện điển hình ngân hàng số tại Việt Nam là Timo Bank.
f) Dịch vụ thanh toán và chuyển tiền (Payments & Remittances)
Dịch vụ thanh toán và chuyển tiền là hình thức thanh toán, chuyển tiền trực
tiếp không dùng tiền mặt ví dụ như GrabPay, MoMo, ZaloPay, VTCPay,
BankPlus, VinID,….
g) Các phương án tài chính thay thế (Alternative Finance)
Các phương án tài chính thay thế đề cập đến các kênh quy trình, công cụ
tài chính khác không phải là các hệ thống tài chính truyền thống như các ngân
hàng, thị trường vốn,…Các kênh khác như cho vay trực tuyến, cho vay ngang
hàng, chợ trực tuyến, buôn bán hóa đơn của các nền tảng thanh toán bên thứ ba.
Công cụ tài chính khác như tiền kỹ thuật số, trái phiếu mini (SME),…
3.2 Theo sản phẩm, fintech được chia làm 2 nhóm:
10


a)

Nhóm thứ nhất: các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng, các công ty
kỹ thuật số và công nghệ khác để cải thiện cách các cá nhân vay

mượn, quản lý tiền bạc, tài trợ vốn cho các startup.
Các sản phẩm này bao gồm:
- Ứng dụng trong việc thanh toán: Ví điện tử MoMo, GrabPay,

b)

ZaloPay,..Tiền kỹ thuật số: BitCoin, Ethereum, Litecoin,..
Tiền gửi, cho vay: Huydong, Comicola, Betado,…
Dịch vụ tài chính cá nhân: Timo, Misa, MoneyLover,…
….
Nhóm thứ hai: các sản phẩm công nghệ “back – office” nhằm hỗ trợ

cho hoạt động của các Fintech và các định chế tài chính.
3.3 Theo ASIC, Bảng dưới đây phân loại một số đổi mới FinTech nổi bật:
a) Thanh toán, thanh toán bù trừ và giải quyết:
- Thanh toán trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt
- Tiền kỹ thuật số
- Công nghệ sổ cái phân tán
b) Tiền gửi, cho vay và huy động vốn:
- Cho vay trên thị trường
- Góp vốn, gây quỹ
c) Thị trường cung cấp:
- Tập hợp điện tử
- Hợp đồng thông minh
- Dữ liệu lớn
- Nhận dạng kỹ thuật số
d) Quản lý đầu tư:
- Robot tư vấn
- Giao dịch điện tử
II.

Rủi ro của fintech:
1. Khái niệm:
Theo Wikipedia, có 2 trường phái quan điểm về rủi ro:

Trường phái truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm

hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc không chắc chắn có
thể xảy ra cho con người

11


Trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang
tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang lại tổn thất mất mát
cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu
tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa,
hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp
cho tương lai.


Rủi ro fintech là tất cả các rủi ro mà nhà đầu tư, khách hàng nhận phải
khi tham gia đầu tư, sử dụng sản phẩm của các công ty fintech.

2. Đặc điểm:
-

Hậu quả của rủi ro fintech đem lại lớn:
Đối với các công ty fintech gây quỹ, cho vay nếu không quản trị rủi ro hợp

lý sẽ khiến cho công ty thu lỗ thậm chí phá sản hoặc có thể làm đánh mất thông
tin khách hàng từ đó gây ra thiệt hại nghiêm trọng vì số lượng người dùng lớn
đồng thời làm mất niềm tin của người dùng. Ngoài ra khung pháp lý đối với các
công ty fintech chưa hoàn thiện nên việc truy cứu trách nhiệm và xử phạt chưa
được quy định cụ thể nên người sử dụng luôn là người chịu thiệt nhất.

- Rủi ro của fintech phần lớn là tiềm tàng khó nhận diện:
Do fintech ứng dụng công nghệ nhưng không phải người dùng nào cũng
am hiểm trên lĩnh vực công nghệ nên người dùng rất khó có thể nhận diện.
Đồng thời fintech mới chỉ phát triển mấy năm tại Việt Nam nên việc nhận thức
và cách kiến thức về fintech còn ít rất khó tìm hiểu làm cho rủi ro fintech tiềm
ẩn rất khó phát hiện.
3. Phân loại rủi ro fintech:
-

Rủi ro bảo mật, an ninh mạng: là tập hợp các mối đe dọa, lỗ hổng, hậu quả

-

của hệ thống mạng máy tính của doanh nghiệp.
Rủi ro lừa đảo: là tập hợp khả năng bị cá nhân tổ chức thực hiện hành vi
gian dối nhằm khiến người khác tin tưởng để đạt được mục đích vụ lợi trái
pháp luật.

12


-

Rủi ro pháp lý: là những sự kiện khách quan, xảy ra đột xuất liên quan đến
pháp lý gây thiệt hại cho doanh nghiệp, bị gây nên bởi yếu tố chủ quan của
doanh nghiệp và yếu tố khách quan từ bên ngoài xảy ra trong quá trình
hoạt động.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH FINTECH
VÀ RỦI RO CỦA FINTECH TẠI VIỆT NAM

I.

Thực trạng chung tình hình fintech tại Việt Nam
Theo thống kê của Topica Founder Institute (2016), tổng giá trị các thương

vụ liên quan tới startup Fintech tại Việt Nam là 129 triệu USD (chiếm 63% tổng
giá trị các thương vụ startup) [7]. Trên diễn đàn TheLEADER (diễn đàn của các
nhà quản trị) công bố số liệu, thị trường Fintech Việt Nam đã đạt 4,4 tỉ USD
năm 2017 và sẽ tăng lên mức 7,8 tỷ USD vào năm 2020 theo nguyên cứu của
công ty tư vấn Solidiance. Tại năm 2017, Việt Nam có 67 công ty fintech hoạt
động. Đến năm 2019, Việt Nam có khoảng 120 công ty fintech hoạt động. Với
35 startup và nền tảng, thanh toán là phân khúc có nhiều công ty Fintech tham
gia nhất.
13


Hình 1: Các công ty Fintech tại Việt Nam 2019 (Fintech Vietnam Starup Map)
Nguồn: BAJ (Be Advanced Partner)
Trong đó phân khúc thanh toán bao gồm: ví điển tửMoMo, ứng dụng thanh
toán di động Moca, ví điện tử ZaloPay… Cho vay ngang hàng là phân khúc
đứng thứ hai bao gồm Tima, Growth Wealth, HuyDong... Tiếp theo là phân
khúc Blockchain,Tiền kỹ thuật số với 17 startup. Ngoài ra thị trường còn một số
phân khúc khác như gọi vốn cộng đồng, nền tảng so sánh, ngân hàng số...
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới vào tháng 7/2018, Việt Nam là
quốc gia có lượng giao dịch phi tiền mặt thấp nhất trong khu vực khi chỉ đạt
4,9%, trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 26,1%, còn Thái Lan là 59,7% [18].
Mới đây, Chính phủ yêu cầu không dùng tiền mặt thanh toán tiền điện, nước,
14



học phí ở đô thị đồng thời thanh toán không dùng tiền mặt với các khoản chi phí
sinh hoạt được Chính phủ yêu cầu thực hiện trước tháng 12/2019 [18]. Điều này
nhằm mục đích khuyến khích người dân sử dụng thanh toán không dùng tiền
mặt, thanh toán trực tuyến. Thanh toán điện tử là một trong những biện pháp
được Chính phủ đẩy mạnh nhằm thúc đẩy chuyển dịch nền kinh tế sang kinh tế
số. Đồng thời việc các ứng dụng gọi xe, gọi đồ ăn, mua sắm trực tuyến như
Grab, Go Viet, AbnB, Be,… đã làm thay đổi dần dần thói quen hình thức chi
tiêu mua sắm của người tiêu dùng. Việc này đã tạo điều kiện thuận lợi phát
triển nền tảng thanh toán trên điện thoại, các ví điện tử. Ở góc độ cơ quan quản
lý nhà nước, Việt Nam đã cấp phép cho 30 đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán
trung gian PSP, và vẫn còn nhiều đơn vị khác tiến hành đăng ký. Ngoài ra ngày
16/6 hàng năm được chọn làm Ngày không dùng tiền mặt, nhằm khuyến khích
người dân, sử dụng các phương thức thanh toán kỹ thuật số. Việc này cho thấy
sự quan tâm của chính phủ tới sự chuyển dịch sang nền kinh tế số nói chung
cũng như đến sự phát triển của fintech nói riêng. Khối lượng và giá trị giao dịch
thanh toán di động toàn cầu tăng bình quân hàng năm 42% trong giai đoạn
2011-2016 với giá trị thị trường vào khoảng 617 tỷ USD với 448 triệu người
dùng vào năm 2016 [4, 53-54]. Số liệu trên đã minh chứng cho xu thế thanh
toán qua điện thoại di động là tất yếu và đang ngày càng phát triển nhanh cho do
sự thuận tiện của hình thức này mang lại.
Ở khía cạnh tiếp cận nguồn vốn, vẫn còn nhiều daonh nghiệp vừa và nhỏ,
nười dân chưa tiếp cận được nguồn vốn từ ngân hàng. Một thống kê cho thấy,
dù daonh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 90% số các doanh nghiệp đang hoạt
động nhưng chỉ khoảng hơn 30% các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn
chính thức từ các ngân hàng, còn lại phải tiếp cận nguồn vốn phi chính thức mà
trong đó có nhiều khoản đến từ tín dụng đen với lãi suất rất cao [1]. Tỷ lệ dân số
Việt Nam kết nối với Internet cũng như sử dụng smartphone khá cao. Trong khi
đó, độ phổ cập của các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam hạn chế, với 30,86% dân
15



số Việt Nam trên 15 tuổi có tài khoản ngân hàng – thấp hơn rất nhiều so với con
số trung bình 60% của thế giới [2, 63-64].Song với sự phát triển của công nghệ,
các công ty fintech có thể dựa trên công nghệ đánh giá và giảm thiểu rủi ro do
xây dựng được cơ sở dữ liệu lớn từ khách hàng. Điều này giúp các khách hàng
không có lịch sử tín dụng tốt hay chưa có lịch sử vay thế chấp có thể tiếp cận
được nguồn vốn dễ dàng hơn. Hiện tại chính phủ đang sửa đổi văn bản pháp
luật liên quan đến eKYC. Trong thời gian ngắn hoạt động cho vay ngang hàng
có thể hoạt động hiệu quả. Theo Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng (7/2019) cho
biết tỷ lệ tăng trưởng tín dụng tăng 7,33% trong 6 tháng đầu năm. Điều này cho
thấy tác động của các công ty fintech trong việc cung cấp dịch vụ tín dụng và
việc ngân hàng ứng dụng công nghệ đã góp phần việc đẩy mạnh tỷ lệ tăng
trưởng tín dụng này giúp người dân tiếp cận được nguồn vốn tăng mức độ tiêu
dùng, kinh doanh trong nền kinh tế.
II.

Các loại rủi ro của Fintech:
1. Rủi ro bảo mật, an ninh mạng:
Trong thời buổi kỉ nguyên số, việc bảo mật thông tin, an ninh mạng ngày

càng trở nên cấp thiết. Theo Bkav Corporation (2018) công bố thiệt hại do virus
máy tính gây ra đôi với người dùng Việt Nam đã lên mức kỷ lục 14.900 tỷ đồng
tương đương 642 triệu USD, nhiều hơn 21% so với mức thiệt hại của năm 2017.

Biểu đồ 1: Biểu đồ so sánh số lượng các cuộc tấn công mạng vào các hệ thống
thông tin tại Việt Nam năm 2017 và 2018
Nguồn: Theo Thống kê về số lượng các cuộc tấn công mạng vào các hệ thống
thông tin tại Việt Nam năm 2017 và năm 2018 của Bkav Corporation
Hay vụ việc bùng nổ virus mã hóa dữ liệu GandCrab, WannaCry tấn công
người dùng, các hacker tống tiền các doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp mua lại

16


các dữ liệu mà họ đánh cắp. Do đó việc bảo mật thông tin trong lĩnh vực tài chính
càng phải chú trọng. Các ngân hàng hàng luôn quan tâm tới vấn đề này và đã xây
dựng được các hệ thống bảo mật bảo vệ nhưng họ vẫn lo lắng về tình hình bảo
mật thông tin khách hàng. Trong khi các công ty fintech còn non trẻ mới được
thành lập thiếu sự bảo mật đối với thông tin khách hàng tiềm ẩn rủi ro lớn gây
thiệt hại khi các tin tặc, hacker tấn công vào hệ thống của các công ty này.
Trên thế giới, trung bình đầu tư cho an toàn, bảo mật thông tin trong các dự
án CNTT của các tổ chức chiếm 15 - 25%, thì tại Việt Nam chỉ gần 5%. Trong 6
tháng đầu năm 2019, Bộ Công an đã phát hiện trên 2.500 trang tin, cổng thông
tin điện tử tên miền quốc gia Việt Nam bị tấn công; hàng trăm ngàn máy tính bị
nhiễm mã độc [3]. Đáng lưu ý, Việt Nam xếp thứ 4 trong Top 10 quốc gia bị
kiểm soát bởi mạng máy tính ma botet [3]. Theo thống kê của cục an toàn thông
tin thuộc bộ thông tin và tuyên truyền năm 2018 có 42% máy PC người dùng
Việt Nam bị nhiễm mã độc so với trung bình thế giới là 23%. Về nhận thức và
hành vi của người dùng trong việc đảm bảo an toàn thông tin khi truy cập mạng
thì người dùng Việt Nam thuộc diện yếu thế giới.Việc này do thói quen sử dụng
các phần mềm miễn phí đã crack thay vì sử dụng các phần mềm bản quyền, thói
quen click vào các đường dẫn, tệp file không xác định mail,...Ngoài ra việc
người dân thường không chú ý tên miền cũng khiến cho tin tặc dễ dàng giả mạo
các cơ quan tổ chức lừa đảo người dân trên các trang web số điện thoại giả. Tại
Việt Nam đã phát sinh một số vụ việc lừa đảo, đánh cắp thông tin đăng nhập hệ
thống ngân hàng điện tử, ví điện tử, mã OTP để thực hiện hành vi đánh cắp tiền.
Hơn thế, Việt Nam đứng thứ 9 trên thế giới về việc bị lội thông tin trên
Facebook. Các công ty fintech đã phần là các công nghệ trẻ vừa thành lập ít chú
trọng vào việc an toàn an ninh mạng cùng với những lỗ hổng an ninh có săn
khiến tin tặc dễ dàng tấn công vào hệ thống đánh cắp đi thông tin, dữ liệu của
khách hàng.


17


2. Rủi ro lừa đảo:
Kết quả nghiên cứu năm 2014, tỷ lệ người trưởng thành có ít nhất một
khoản vay trong vòng 1 năm trở lại đây là 46,8%, tuy nhiên tỷ lệ người có
khoản vay tại các tổ chức chính thức ở mức 18,4%. Đặc biệt 20,9% người được
khảo sát cho biết không thể tiếp cận bất cứ hình thức tín dụng nào khí có nhu
cầu tài chính khẩn cấp [12]. Việc này đã tạo khiến chính phủ khuyến khích các
phương thức kinh doanh mới phi truyền thống như cho vay ngang hàng, mở
rộng thanh toán không dùng tiền mặt,… để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người
dân. Song việc khung pháp lý chưa theo kịp đã dẫn đến các đối tượng xấu lợi
dụng xây dựng các app vay tiền online giả mạo với hình thức cho vay ngang
hàng để cho vay với lãi suất cao. Đây đã trở thành hình thức tín dụng đen bằng
công nghệ. Các app này thường quảng cáo với lãi suất thấp nhưng các chuyên
gia đã cảnh báo lãi suất thực cao quá mức không giống như quảng cáo do hình
thức lãi suất núp bóng thu phí. Khoản thu phí lớn kia thực chất là lãi suất cho
vay đồng thời người đi vay còn phải chịu một phần tiền lãi khác nên lãi suất
thực tế là vô cùng cao. Một trường hợp phản ánh chính xác nhận định trên: “
Bạn đọc T.B Studio vay 1,8 triệu đồng qua app VĐỒNG nhưng chỉ nhận được
1,26 triệu đồng. Sau 14 ngày, ngân hàng yêu cầu trả 1,8 triệu đồng và 540.000
đồng (lãi suất 42,8% trong 14 ngày) ” [13].
Rủi ro lửa đảo cũng hiện hữu trong việc đầu tư tiền ảo của các loại tiền ảo:
Bitcoin, Onecoin, Leocoin, Ilcoin, Octacoin, Swiscoin, Gemcoin,…Đây là hình
thức đa cấp biến tướng. Việc mua bán Bitcoin để thu lợi nhuận chênh lệch trên
các sàn giao dịch tiền ảo Bitcoin đem lại lợi nhuận ban đầu cao khiến người dân
thi nhau mua bán đồng tiền ảo này khiến đồng tiền bị đẩy giá nên quá cao so với
thực chất song chắc chắn người mua cuối cùng sẽ là người chịu tổn thất lớn.
Việc giá nên quá cao khiến các người đang sử hữu Bitcoin đi lừa những người

khác để họ mua lại đồng tiền này từ mình để chuyển rủ ro cho người khác. Đến
khi giá Bitcoin giảm sâu đem lại thua lỗ lớn cho các nhà đầu tư. Hay một minh
18


chứng khác cho rủi ro lừa đảo này là Sự việc người dân thị xã An Khê, Gia Lai
sau khi tin vào những lời quảng cáo siêu lợi nhuận bị lừa đảo đầu tư vào
FXMT4 hay còn gọi là “ngân hàng cộng đồng bitcoin”. Người dân muốn tham
gia vào FXMT4 cần tạo một “ ví tiền ảo bitcoin” và phải mua ít nhất 1 bitcoin
với giá trị thị trường lúc đó là 13 triệu đồng. Với lợi nhuận được quảng cáo lên
tới 144%/tháng cùng với hoa hồng khi giới thiệu thêm người tham gia nên
không ít người đã tham gia vào và giới thiệu người thân của mình cùng tham gia
để nhận hoa hồng. Đến khi thu được số tiền ước tính khoảng 20 tỷ đồng, tên lừa
đảo này đã biến mất. Lúc đấy có khoảng 1000 người đang tham gia FXMT4.
Hiện ở Việt Nam chưa có bất cứ quy định nào về hoạt động kinh doanh tiền ảo.
Tiền ảo bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác như onecoin, ilcoin, gemcoin…
không phải là tiền tệ, không phải là hàng hóa và không phải là phương tiện
thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Do vậy, việc sử dụng bitcoin và các loại tiền
ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán không được pháp luật thừa nhận.
Nên nếu thực hiện đầu tư kinh doanh vào loại tiền này, nhà đầu tư sẽ chịu thiệt
hại lớn bởi không có bất cứ cơ sở pháp lý nào để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu
tư khi xảy ra rủi ro, sự cố..
3. Rủi ro pháp lý:
Việc fintech phát triển nhanh chóng đã tạo ra áp lực không nhỏ cho các cơ
quan chính phủ trong việc nghiên cứu, xây dựng hành lang pháp lý phù hợp.
Việc hành lang pháp lý chưa theo kịp đã hạn chế lớn khả năng hoạt động pháp
triển của các công ty Fintech. Điều này thể hiện rõ qua trao đổi với các công ty
fintech về hành lang pháp lý cho ví điện tử, các công ty fintech quản lý ví điện
tử chấp nhận hoạt động bó hẹp trong phạm vi được cho phép Hiện tại, các đơn
vị này phải thực hiện theo Thông tư 39/2014 của NHNN, tức khách hàng phải

thực hiện liên kết tài khoản ngân hàng/thẻ ATM với VĐT mới có thể sử dụng ví
điện tử. Việc bắt buộc này đã tạo khó khăn lớn cho việc phát triển, nắm bắt thời
cơ của các công ty fintech này.
19


Ngoài ra việc hành lang pháp lý còn thiếu hụt đã khiến cho hình thức cho
vay ngang hàng (P2P Lending) tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các đối tượng lừa đảo lợi
dụng việc pháp lý chưa đầy đủ còn hạn chế để thực các hành vi phạm tội lừa
đảo của mình. Các cơ quan thực thi pháp luật rất khó có thể truy vấn xử lý các
đối tượng trên khi không có văn bản pháp lý quy định rõ ràng. Từ đó người dân
bị lừa đảo không thể lấy lại được tài sản của bản thân. P2P Lending là hình thức
giao dịch dân sự và trong pháp luật hiện hành chưa có quy định giao cho cơ quan
chức năng nào quản lý hoạt động này. Hình thức này có những điểm thuận lợi là
việc giải ngân nhanh, nhưng cũng có mặt tiêu cực và có thể gây hệ lụy cho những
người tham gia do chưa có cơ chế kiểm soát. Khi bên vay không trả được nợ, hoặc
công ty P2P Lending dùng tiền đầu tư sai mục đích, quản lý kém hoặc phá sản...
dẫn đến khả năng mất một phần vốn của nhà đầu tư thì trách nhiệm như thế
nào? Khi rủi ro xảy ra, bên cho vay hay nhà đầu tư có ủy quyền, ủy thác cho công
ty P2P Lending thu nợ hay không cũng là vấn đề [6]. Vì người vay và người cho
vay không gặp nhau, mà qua công ty trung gian này mà ở đây không phải là trung
gian tài chính, mà là trung gian công nghệ nên nếu các công ty P2P Lending phá
sản thì ai sẽ là người bảo vệ nhà đầu tư? Rủi ro tín dụng ai chịu? Nếu mất vốn thì
sao?...[6]. Tất cả các vấn đề trên cần có các quy định pháp lý cụ thể cũng như quy
định về điều kiện kinh doanh đối với hình thức cho vay ngang hàng này.
4.

Rủi ro vĩ mô

Có 4 rủi ro vĩ mô mà fintech mang lại: “Rủi ro vĩ mô đầu tiên mà fintech

mang lại gây ra hiệu ứng tạo động dây chuyền của các công ty fintech. Thứ hai,
khi mọi chủ thể kinh tế đều có thể tham gia vào các hoạt động tài chính, ngoài
lợi ích đa dạng hóa, có tác dụng như tấm đệm giảm chấn như đã đề cập thì cũng
dẫn đến rủi ro cộng hưởng (procyclicality), khiến cho những biến động gây ra
tác động mạnh hơn đến hệ thống tài chính. Thứ ba, fintech sẽ làm gia tăng sự
bất ồn đặc biệt về giá cả. Thứ tư, nguy cơ rủi ro đạo đức vô cùng lớn.” [2, 6869]
20


CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM
A. Kinh nghiệm quốc tế:
I.

Một số trường hợp sản phẩm, công ty fintech trên thế giới gặp phải
rủi ro và giải pháp khắc phục:
1. Landbay
Landbay là một trong các sản phẩm đầu tư cho vay ngang hàng phổ biến ở

Anh, Mỹ, Trung Quốc và đang phát triển ở Việt Nam. Bên cạnh nó là các sản
phẩm như thanh toán qua mạng di động và internet, ví tiền số, các sản phẩm đầu
tư và quản lý tài sản trên mạng. Mặc dù hữu ích song sản phẩm này tiềm ẩn
nhiều rủi ro tiềm tàng cho nhà đầu tư. Thực chất Landbay không phải là một tổ
chức tín dụng mà chỉ là một sản phẩm trung gian cho nên khi xảy ra sự việc
không thu hồi được nợ Landbay không chịu trách nhiệm pháp lý. Hơn nữa
Landbay không có bảo hiểm tiền gửi, thiếu minh bạch trong việc xét duyệt,
đánh giá khoản vay và thuật toán phân bổ vốn. Ngoài ra do không phải là tổ
chức tín dụng nên lợi tức được đánh giá mang lại cho nhà đầu tư chỉ là kỳ vọng
không phải cam kết nên các nhà đầu tư sẽ mất hết tiền nếu các khoản vay này
vỡ nợ ở diện rộng khiến cho Landbay phải đóng cửa. Mặc dù Landbay chịu

quản lý của cơ quan kiểm soát các định chế tài chính FCA (Financial Conduct
Authority), họ phải công bố sản phầm của mình là một sản phẩm đầu tư thế
nhưng trong trang web của Landbay khi đó các quảng cáo với lợi nhuận kỳ
vọng tràn lan trong khi cảnh báo rủi ro lại không được làm nổi bật nằm giữa các
dòng thông tin khác. Nhận thấy các rủi ro trên Landbay đã buộc phải chịu một
số quy định do chính phủ liên bang yêu cầu như lập quỹ dự trữ, các khoản vay
phải có tài sản thế chấp,… Đồng thời Landbay cũng đã tham gia sự phân tích
của MIAC (Mortgage Industry Advisory Corporation – công ty dữ liệu và phân
21


tích hàng đầu về giá cả, quản lý rủi ro của Mỹ). Song giải pháp trên chỉ làm hạn
chế bớt rủi ro cho các nhà đầu tư nhưng rủi ro tiềm ẩn vẫn cao đặc biệt khi
Landbay không nằm trong chương trình FSCS ( The Financial Services
Compensation Scheme – Chương trình bồi thường dịch vụ tài chính).
2. Ezubao:
Năm 2016, Trung Quốc xuất hiện nhiều vụ đổ vỡ lớn về cho vay ngang
hàng, bộc lộ những rủi ro đối với thị trường này trong đó Ezubao là một ví dụ
điển. Ezubao đã bị phát hiện áp dụng mô hình Ponzi lừa đảo nhà đầu tư (Mô
hình Ponzi là hình thức vay tiền người này để trả cho người khác. Kẻ đi vay đưa
cam kết trả lợi tức cao cho người cho vay và quảng cáo hấp dẫn). Ezubao huy
động vốn hơn 59 tỷ nhân dân tệ và khi bị cấm kinh doanh thì họ đang nợ của
nhà đầu tư hơn 38 tỷ nhân dân tệ mà không có khả năng chi trả. Chủ tịch Ding
Ning của Ezubao đã rút ruột hơn 1,5 tỷ nhân dân tệ của công ty để chi tiêu cho
bản thân. Cho vay ngang hàng đã trở thành hình thức mà những kẻ lừa đảo sử
dụng nhằm thực hiện hành vi lừa gạt chiếm đoạt tài sản. Ezubao chỉ là một
trường hợp tiêu biểu trong rất nhiều trường hợp tại Trung Quốc. Trên Microsoft
News thống kê có 50 triệu người tham gia các sàn giao dịch cho vay ngang hàng
tại Trung Quốc mất trắng, nợ nần.Chính phủ Trung Quốc đang xem xét kiến
nghị Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Ngân hàng trung ương Trung Quốc) sẽ

đánh giá cấp phép cho các hoạt động tín dụng có lãi đặc biệt các công ty cho
vay ngang hàng. Thị trường bắt đầu thay đổi sau khi chính quyền Trung Quốc
nỗ lực hạn chế tín dụng, bất chấp tăng trưởng kinh tế chậm lại. Chính phủ Trung
Quốc đã chỉ đạo các ngân hàng kiếm tra nghiêm ngặt các khoản vay P2P, 80%
doanh nghiệp cho vay P2P không tách vốn hoạt động khỏi các quỹ quản lý.
3. Hacker tấn công sàn giao dịch Coincheck (Nhật)
Sàn Coincheck là một sàn giao dịch tiền ảo lớn nhất Nhật Bản. Nhưng năm
2018, sàn Coincheck bị tin tặc tấn công và lấy cắp 523 triệu đơn vị tiền điện tử
NEM trị giá 62 tỷ Yên (khoảng 530 triệu USD). Giới chức giám sát tài chính
22


đánh giá rằng vụ việc này là hậu quả của việc Coincheck đã không có các
biện pháp an ninh đầy đủ để ngăn chặn tin tặc và dịch vụ chăm sóc khách
hàng của công ty này không đạt yêu cầu. Việc này đã tạo những sơ hở và
lỗ hổng để tin tặc xâm nhập tấn công hệ thống cướp đi số tiền ảo trị giá 62
tỷ Yên và ảnh hưởng tới 260000 người dùng. Sàn giao dịch đã phải thanh
toán cho người dùng bị thiệt hại bằng tài sản của mình.
4. MT.Gox bị sập sàn
Tháng 02/2014, MT.Gox chính thức đệ đơn phá sản. MT. Gox tuyên bố
rằng gần 750.000 đồng Bitcoin của khách hàng, cũng như kho 100.000 BTC của
sàn, đã bị đánh cắp Lượng tiền thất thoát khi ấy chiếm đến 7% nguồn cung hiện
thời của Bitcoin, trị giá khoảng 473 triệu USD theo tỉ giá mua bán lúc ấy. Sự
kiện tấn công Mt. Gox 2014 được biết đến rộng rãi khắp cộng đồng người dùng
tiền điện tử, và ảnh hưởng của nó vẫn có thể được cảm nhận ở hiện tại. Vào
Ngày 24/02: Mọi hoạt động mua bán trao đổi đều bị đình trệ và website của sàn
sập hoàn toàn. Việc tuyên bố phá sản của MT.Gox kéo theo gần 500 triệu USD
vào thời điểm đó biến mất. Hậu quả sinh ra khiến giá trị đồng tiền điện tử
Bitcoin tụt thê thảm 36%.
5. Liberty reserve

Đây là đồng tiền ảo được quảng cáo là lâu đời nhất, an toàn nhất và thông
dụng nhất từng có hàng triệu người dùng trên thế giới. Nhưng đồng tiền này đã
bị chính phủ Mỹ đóng cửa vào năm 2013 với cáo trạng đây là công cụ rửa tiền
hơn 6 tỷ USD.Mặc dù rất nhiều người không dính líu đến hành vi này nhưng
vẫn trắng tay khi website đóng cửa. Chính phủ Mỹ sau vụ việc đã thắt chặt thêm
các thủ tục, luật và quy định nhằm ngăn chặn việc thực hiện hoạt động động rửa
tiền.

23


6. API
Tại Singapore các ngân hàng và các công ty fintech hợp tác với nhau hiệu
quả và có tính ràng buộc kiểm soát an toàn cao. Chìa khóa cho sự hợp tác hiệu
quả ấy là sử dụng các giao diện lập trình ứng dụng (API). API kết nối các hệ
thống khác nhau của các ngân hàng và công ty (Pennington 2017). Hiệu suất
của ba ngân hàng lớn ở Singapore bao gồm UOB, OCBC và DBS trong ba
tháng cuối năm 2017 cho thấy bước nhảy vọt 27%. Tất cả ba ngân hàng này xác
nhận đầu tư nghiêm túc vào fintech giải thích kết quả tốt như vậy.
II.

Một số chính sách phát triển fintech tại các quốc gia:

Quốc Gia
Mỹ

Anh

Úc


Hồng Kông

Nhật Bản

Một số chính sách phát triển fintech
Fintech thường được quy định ở Hoa Kỳ ở cấp liên bang và
tiểu bang. Nhìn chung, quan điểm chính sách nhằm điều chỉnh
Fintech là thúc đẩy đổi mới, đồng thời đảm bảo cho người tiêu
dùng luôn được sự bảo vệ theo luật pháp.
Mục tiêu chủ yếu của chính phủ là đảm bảo sự hỗ trợ cho việc
phát triển mô hình kinh doanh mới và công nghệ mới. Việc
khuyến khích đổi mới dịch vụ tài chính được cho là ưu tiên
hàng đầu, chính phủ tạo ra môi trường pháp lý phù hợp để đảm
bảo rằng các công ty sáng tạo có thể cạnh tranh và phát triển.
Chính phủ cam kết thiết lập trung tâm Fintech thông qua: Tăng
đầu tư vào nghiên cứu khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học
(STEM); cấp giấy phép khi hội đủ điều kiện. Các doanh
nghiệp có thể thử nghiệm và hiệu chỉnh các sản phẩm của
mình mà không cần phải đáp ứng được các yêu cầu về giấy
phép trong thời gian 12 tháng,..
Chính phủ thúc đẩy phát triển, Cơ quan tiền tệ Hồng Kông
đóng vai trò tiên phong thúc đẩy ứng dụng công nghệ
DLT/Blockchain để thanh toán liên ngân hàng, chứng khoán,
cho vay và xếp hạng tín dụng và nhận dạng số. Tiến hành
nhiều chương trình để hỗ trợ việc mở rộng Fintech Tăng cường
vốn đầu tư mạo hiểm cho khu vực tư nhân cho các doanh
nghiệp khởi nghiệp Fintech với nguồn tài chính công bổ sung.
Xây dựng các quy định mới API, đầu tư ngân hàng trong các
dự án Fintech, gọi vốn và tiền kỹ thuật số, cũng như các yêu
cầu tài chính để đáp ứng các công nghệ mới. Hình thành Bộ

phận hỗ trợ Fintech và các ủy ban để thúc đẩy hoạt động
Fintech. Việc sửa đổi Đạo luật Ngân hàng Nhật Bản có hiệu
24


Trung Quốc

Singapore

Thái Lan

Malaysia

lực vào tháng 4/2017 và cho phép các ngân hàng hoặc công ty
ngân hàng sở hữu hơn 5% vốn của công ty công nghệ, tạo
nhiều thuận lợi cho các ngân hàng tham gia liên kết với các
công ty Fintech.
Đưa ra các yêu cầu cơ bản cho các hoạt động tài chính trên
internet như cho vay ngang hàng, thanh toán qua internet/di
động, mua tài sản thông qua internet và bảo hiểm internet. Vào
tháng 11/2016, ban hành Luật An ninh mạng có hiệu lực vào
ngày 01/6/2017, đặt ra các quy tắc về xây dựng, vận hành, duy
trì và sử dụng mạng, theo dõi và quản lý an ninh mạng cũng
như bảo vệ dữ liệu mạng được áp dụng cho tất cả các nhà khai
thác mạng, có tác động đáng kể đến hoạt động Fintech của
Trung Hoa
Vào tháng 5/2016 Văn phòng Quỹ Nghiên cứu Quốc gia về
Fintech được ra mắt để phục vụ toàn diện cho tất cả các vấn đề
liên quan đến Fintech, thúc đẩy Singapore trở thành trung tâm
Fintech và Ủy ban tiền tệ Singapore đã cam kết 225 triệu đô la

Singapore trong khoảng thời gian 5 năm để hỗ trợ đổi mới. Gia
tăng hoạt động khởi nghiệp Fintech, tăng cường nghiên cứu và
nâng cao học tập, phát triển các nhà đầu tư và kết nối với các
thị trường khu vực. Ở cấp độ toàn cầu, tham gia hoạt động thỏa
thuận và hợp tác với các nhà quản lý ở các quốc gia Úc, Thụy
Sĩ, Nhật Bản, Pháp.
Vào tháng 02/2017, quy định cho phép các công ty tham gia
thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ tài chính trong thời gian tối đa
một năm mà không phải tuân thủ các yêu cầu cấp phép áp
dụng cho tư vấn đầu tư, quản lý quỹ tư nhân và môi giới chứng
khoán, kinh doanh và tư vấn. Để đủ điều kiện, người nộp đơn
phải chứng minh có kế hoạch cung cấp "dịch vụ tài chính sáng
tạo", có đủ vốn, hệ điều hành và nhân sự để cung cấp các sản
phẩm, dịch vụ có liên quan, cũng như chiến lược rút lui rõ ràng
khi hết hạn hoạt động. Nếu các sản phẩm, dịch vụ thử nghiệm
được chứng minh là thành công, sẽ được xem xét cho phép các
công ty này có giấy phép để thực hiện việc kinh doanh có liên
quan.
Vào tháng 12/2015, ban hành hướng dẫn về nhận dạng thị
trường, quản lý các quỹ gọi vốn. Đến tháng 10/2016 ban hành
Khung về Quy tắc Fintech, thử nghiệm các giải pháp Fintech
trong một thời gian nhất định. Mặt khác, tạo ra môi trường
thân thiện với Fintech, Liên minh cộng đồng Fintech lập vào
tháng 9/2015 đóng vai trò là trung tâm nâng cao nhận thức,
nuôi dưỡng cho sự phát triển của Fintech. Nhóm thúc đẩy
Công nghệ Tài chính được thành lập vào tháng 6/2016, chịu
25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×