Tải bản đầy đủ (.doc) (55 trang)

Bước đầu nghiên cứu phân loại họ giấp cá (saururaceae e mey ) ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.61 MB, 55 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

LÊ TRƯỜNG GIANG

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
HỌ GIẤP CÁ (SAURURACEAE E.
MEY.) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học

Hà Nội, 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

LÊ TRƯỜNG GIANG

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
HỌ GIẤP CÁ (SAURURACEAE E.
MEY.) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Đỗ Thị Xuyến
TS. Hà Minh Tâm

Hà Nội, 2018



LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ
của TS. Đỗ Thị Xuyến và TS. Hà Minh Tâm. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS. TS. Trần Thế Bách cùng tập thể cán bộ
phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ
chức và cá nhân trong và ngoài trường. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban
chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; Bảo tàng Sinh
học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HNU); đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên
của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 08 tháng 05 năm 2018
Sinh viên

Lê Trường Giang


LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.

Mey.) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Xuyến và TS. Hà Minh Tâm. Các kết quả trình bày
trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
trước đây.

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 08 tháng 05 năm 2018
Sinh viên


Lê Trường Giang


MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................................1
3. Ý nghĩa khoa học ....................................................................................................1
4. Ý nghĩa thực tiễn .....................................................................................................2
5. Điểm mới của đề tài ................................................................................................2
6. Bố cục của khóa luận ..............................................................................................2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
1.1. Trên thế giới .........................................................................................................3
1.2. Ở Việt Nam ..........................................................................................................5
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ........................................8
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................................8
2. 1. Đối tượng nghiên cứu..........................................................................................8
2. 2. Phạm vi nghiên cứu: Khắp cả nước. ...................................................................8
2. 3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018.................................8
2. 4. Nội dung nghiên cứu ...........................................................................................8
2. 5. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................8
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................12
3.1. Hệ thống phân loại và vị trí của họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) ở Việt Nam
...................................................................................................................................12
3.2. Đặc điểm phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.) ở Việt Nam .................13
SAURURACEAE E. Mey. – GIẤP CÁ ...................................................................13

3.2.1. Dạng sống........................................................................................................13
3.2.2. Lá.....................................................................................................................13
3.2.3. Hoa và cụm hoa...............................................................................................14


3.2.4. Quả và hạt .......................................................................................................14
3.3. Khoá định loại các chi và loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) ở Việt
Nam ...........................................................................................................................15
3.3.1. Lập ma trận các đặc điểm của các chi, loài thuộc họ Giấp cá ở Việt Nam.....15
3.4. Đặc điểm phân loại các chi, loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) ở
Việt Nam ...................................................................................................................18
3.4.1. Gymnotheca Decne. 1845. – Lá giấp suối ......................................................18
3.4.2. Houttuynia Thunb. 1783, nom. cons. – Giấp cá .............................................22
3.4.3. Saururus L. 1753. – Hàm ếch..........................................................................26
3.5. Giá trị tài nguyên của các loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey. 1827) ở
Việt Nam. ..................................................................................................................30
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1. KÝ HIỆU VIẾT TẮT CÁC PHÒNG TIÊU BẢN
PHỤ LỤC 2. BẢNG TRA TÊN KHOA HỌC
PHỤ LỤC 3. BẢNG TRA TÊN VIỆT NAM


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Trên thế giới cũng như ở
Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật. Trong đó,
chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng. Phân loại thực vật một cách
chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan.
Họ Giấp cá (danh pháp khoa học: Saururaceae) là một họ thực vật thuộc bộ Hồ

tiêu (Piperales), họ này hiện tại được biết với 4 chi là Anemopsis, Gymnotheca,
Houttuynia và Saururus (đồng nghĩa: Neobiondia), bao gồm 6 loài, có nguồn gốc ở
khu vực Đông Á, Nam Á và Bắc Mỹ. Ở Việt Nam chúng thường mọc hoang ở
những nơi ẩm ướt, cho đến nay tất cả các loài thuộc họ này đều được ghi nhận sử
dụng làm thuốc, một số loài dùng trong thực phẩm. Cho nên, bên cạnh giá trị về
khoa học, họ này còn có giá trị về kinh tế.
Tuy họ Giấp cá (Saururaceae) là một họ nhỏ nhưng các loài tương đối giống
nhau về mặt hình thái, việc phân loại đến loài gặp nhiều khó khăn. Để chuẩn bị cho
việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại họ Giấp cá ở Việt Nam và góp
phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử dụng các loài thuộc họ này, chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu nghiên cứu phân loại họ Giấp cá
(Saururaceae E. Mey. 1827) ở Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.
1827) ở Việt Nam một cách có hệ thống, phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí
Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan.
3. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí Việt Nam về họ Giấp cá ở
Việt Nam, bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu
cho những nghiên cứu sau này về họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey. 1827) ở Việt
Nam.

11


4. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài cung cấp những thông tin về giá trị của các loài thuộc họ
Giấp cá, phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng dụng và sản xuất nông nghiệp, y
dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,…
5. Điểm mới của đề tài

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại họ Giấp cá
(Saururaceae E.Mey. 1827) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống, giúp cho
việc tra cứu thông tin nhanh chóng, chính xác.
6. Bố cục của khóa luận
Gồm 36 trang, 5 hình vẽ, 3 ảnh, 2 bảng được chia thành các phần chính như
sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 5 trang), chương 2 (Đối tượng,
phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên
cứu: 24 trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang, tài liệu tham khảo: 36 tài liệu; bảng
tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục.

22


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Trên thế giới
Người đầu tiên nghiên cứu về chi này là Ernst Heinrich Friedrich Meyer năm
1826 trong công trình “Botanographie Élémentaire”. Sau Ernst Heinrich Friedrich
Meyer, còn một số tác giả nghiên cứu họ Saururaceae nhưng chủ yếu là những công
bố mới. Về hệ thống, không có tiến bộ đáng kể nào.
Henry Shaw (1961) “Annals of the Missouri Botanical Garden” [18] đã
nghiên cứu về hình thái và giải phẫu của họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.) theo
kiến thức lúc đó thì họ cho rằng họ này gồm 6 loài: Saururus cernuus L., S.
chinensis (Lour) Baill., Houttuynia cordata Thumb., Anemopsis californica Hook.
& Arn., Gymnotheca chinensis Decaisne., and G. involucrate P’ei. Tác giả đã mô tả
các đặc điểm hình thái và giải phẫu của họ Giấp cá.
Anthony R. Brach & Xia Nian-he (2005) “Saururaceae, Species Plantarum:
Flora of the World” [16] đã xây dựng bản mô tả, khóa định loại các chi và loài,
cung cấp một số thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố 4 chi với 7 loài ở trên
thế giới là: Saururus L. (S. cernuus, S. chinensis), Gymnotheca Decne (G. chinensis,
G. involucrate), Anemopsis Hook. & Arn. (Anemopsis californica (Nutt.)),

Houttuynia Thunb. (Houttuynia cordata Thunb.).
Các nước lân cận Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về họ
Saururaceae dưới dạng các công trình thực vật chí, như công trình của C. G. G. J.
van Steenis, Buitenzorg (1949) đã nghiên cứu phân loại họ Saururaceae ở khu vực
Malesian trong “Flora Malesiana series 1, vol 4” [25], tác giả đã xây dựng khóa
định loại, mô tả 2 chi (Houttuynia Thunb. và Saururus L.) và mô tả 2 loài có ở vùng
Malesiana là: Houttuynia cordata Thunb., Saururus chinensis (Lour.). Bên cạnh
việc cung cấp các thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, tác giả còn
cung cấp thông tin về giá trị sử dụng của các loài, có hình ảnh minh họa của 1 loài
là: Houttuynia cordata Thunb.

33


Tseng Yung Chien năm 1982, khi nghiên cứu hệ thực vật của Trung Quốc
trong công trình “Flora Reipublicae Popularis Sinicae” đã ghi nhận ở Trung Quốc

44


họ Saururaceae có 3 chi là Saururus, Houttuynia và Gymnotheca với 4 loài
Saururus (1 loài), Houttuynia (1 loài) và Gymnotheca (2 loài). Trong công trình
này, tác giả xếp họ Saururaceae thuộc bộ Hồ tiêu (Piperales).
Liu Tang-Shui and Wang Hsien-Chih (1996), khi nghiên cứu hệ thực vật Đài
Loan công bố trong công trình “Flora of Taiwan Vol 2” [22] đã mô tả mô tả 2 chi
(Houttuynia Thunb. và Saururus L.) và mô tả 2 loài: Houttuynia cordata Thunb.,
Saururus chinensis (Lour.) Hort. ex Loud. có hình ảnh minh họa của cả 2 loài,
nhưng không đề cập đến giá trị sử dụng của từng loài.
Các tác giả Trung Quốc Nianhe Xia & Anthony R. Brach (1999) trong “Flora
of China, Vol. 4” [24], mô tả mô tả 3 chi (Gymnotheca Decne., Houttuynia Thunb.

và Saururus L.) và mô tả 4 loài: Gymnotheca chinensis Decne., Gymnotheca
involucrata Pei, Houttuynia cordata Thunb., Saururus chinensis (Lour.) Hort. ex
Loud. Trong đó nhấn mạnh loài Gymnotheca involucrata Pei là loài đặc hữu của
Trung Quốc chỉ gặp ở độ cao 700-1000 m so với mực nước biển.
Đến năm 2000, Kai Larsen khi nghiên cứu hệ thực vật Thái Lan trong tác
phẩm “Flora of Thailand” [20] đã ghi nhận họ Saururaceae ở Thái Lan chỉ có 1 chi
Houttuynia Thunb. với 1 loài là Houttuynia cordata Thunb.
Trong tác phẩm “Flora of Hong Kong” [19] của tập thể tác giả Hu Qi-ming,
Wu De-lin (2007) đã mô tả họ Saururaceae. Với họ Saururaceae, tác giả đã xây
dựng bản mô tả, khóa định loại các chi và loài, cung cấp một số thông tin về danh
pháp, đặc điểm phân bố 2 loài ở Hồng Kông là: Houttuynia cordata Thunb. và
Saururus chinensis (Lour.).
A. Takhtajan (2009) [26] trong công trình “Flowering Plant” đã đưa ra quan
điểm họ Saururaceae thuộc bộ Piperales. Trong công trình này, tác giả đã lập khóa
phân loại cho các họ thuộc bộ Piperales, đối với mỗi họ, tác giả đưa ra đặc điểm
hình thái của họ dưới dạng khóa phân loại và những ghi chú về mặt phân loại học.
Theo đó, họ Saururaceae trên thế giới có 4 chi (Gymnotheca, Houttuynia, Saururus
và chi Anemopsis), với 7 loài.

55


1.2. Ở Việt Nam
Cho đến nay các công trình nghiên cứu họ Giấp cá (Saururaceae) ở Việt Nam
còn rất ít. Người đầu tiên đề cập đến họ Giấp cá ở Việt Nam là Loureiro Trong công
trình “Flora of Cochinchinensis” công bố năm 1793 tác giả đã công bố 2 loài thuộc
họ Saururaceae là loài Spathium chinense Lour. 1790. có ở miền Bắc Việt Nam, về
sau loài này được coi là tên đồng nghĩa của loài Saururus chinensis; loài Polypara
cochinchinensis Loureiro về sau trở thành tên đồng nghĩa của loài Houttuynia
cordata Thunb. [23]

Sau công trình của Lourreiro, một số công trình nghiên cứu về họ Saururaceae
ở Việt Nam như Năm 1910, H. Lecomte [21] đã nghiên cứu phân loại họ
Saururaceae ở khu vực Đông Dương trong “Flore Générale de l’Indo-Chine”, tác
giả đã mô tả họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.) với 2 chi (Houttuynia Thunb. và
Saururus L.) và 2 loài là Houttuynia

cordata

Thunb. và Saururus

chinensis

(Lour.). Trong công trình này, tác giả đã mô tả các đặc điểm hình thái để phân biệt
các chi và loài dưới dạng khóa phân loại, có hình ảnh minh họa của 2 loài trên.
Năm 1993, Trần Đình Lý, tác giả cuốn “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” [15]
đề cập đến họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.) có 3 chi với 3 loài là Gymnotheca
chinensis Decne., Houttuynia cordata Thunb., Saururus chinensis (Lour.). Tác
giả đã tóm tắt công dụng và đặc điểm phân bố của các loài.
Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999) [8], tác giả
đã cung cấp các thông tin cơ bản để nhận biết 3 loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae
E. Mey.) ở Việt Nam là: Gymnotheca chinensis Decne., Houttuynia

cordata

Thunb., Saururus chinensis (Lour.) Hort. ex Loud. Công trình “Cây cỏ Việt Nam”
tuy có nhiều hạn chế như: Bản mô tả còn sơ sài, không có tài liệu trích dẫn, không
có mẫu nghiên cứu,... nhưng cho đến nay, đây là tài liệu quan trọng cho việc định
loại sơ bộ các loài thực vật ở Việt Nam.
Nguyễn Kim Đào (2003) [7], trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”
[3] đã chỉnh lý danh pháp và đưa ra danh lục các loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae


55


E.Mey.) gồm 4 chi và 4 loài có ở Việt Nam là chi

Circaeocarpus với loài

Circaeocarpus saururoides C. Y. Wu.; chi Gymnotheca với loài Gymnotheca

66


chinensis Decne.; Chi Houttuynia với loài Houttuynia cordata Thunb. và chi
Saururus với loài Saururus chinensis (Lour.) Hort. ex Loud. Tác giả cung cấp một
số dẫn liệu về vùng phân bố, dạng sống và sinh thái, cũng như giá trị sử dụng các
loài.
Tuy nhiên hiện nay, chi Circaeocarpus Wu. với loài Circaeocarpus
saururoides C. Y. Wu. đã được chuyển sang họ Piperaceae (Theo các tác giả
Phạm Hoàng Hộ trong cuốn Cây cỏ Việt Nam, tác giả Nianhe Xia & Anthony R.
Brach trong cuốn Flora of China). Do vậy, sự tồn tại của chi Circaeocarpus Wu.
với loài Circaeocarpus saururoides C. Y. Wu. trong họ Saururaceae không còn
được chấp nhận nữa. Vì vậy, Họ Saururaceae hiện biết ở Việt Nam với 3 chi, 3 loài.
Ngoài ra còn một số công trình đề cập đến họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.)
dưới dạng danh lục hay giá trị tài nguyên như:
+ Trong công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (2004) [10] của
Đỗ Tất Lợi đã đề cập đến giá trị sử dụng, nguồn gốc, phân bố, sự phát triển, sinh
thái của 1 loài có ở Việt Nam là Houttuynia cordata Thunb..
+ Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] trong “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ
thực vật hạt kín ở Việt Nam”. Tác giả đã xếp họ Giấp cá (Saururaceae) và họ Hồ

tiêu (Piperaceae) vào chung một bộ mang tên bộ Hồ tiêu (Piperales). Theo công
trình này, họ Giấp cá được đặc trưng bởi các đặc điểm Cỏ nhỏ, lá đơn, mọc cách,
hoa thành bông hay chùm dày đặc (đôi khi có dạng cụm hoa đầu), có tổng bao gồm
những lá bắc lớn (có khi có dạng cánh hoa), không có bao hoa. Thường đặc trưng
bởi lá noãn còn hơi mở, núm nhụy nem dọc theo đường nối. Họ này ghi nhận có 4
chi ở Việt Nam là Circaeocarpus, Gymnotheca, Houttuynia và chi Saururus và 4
loài.
+ Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng
Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiên, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim
Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004) với “Cây thuốc và động vật
làm thuốc ở Việt Nam” [3], ….

77


+ Võ Văn Chi (2012), trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã công bố có
3 loài thuộc họ Giấp cá có ghi nhận làm thuốc là Gymnotheca chinensis Decne.;
loài Saururus cordata Thunb. và loài Saururus chinensis (Lour.) Hort. ex Loud.
Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và có hệ thống về họ họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) ở Việt
Nam.

88


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2. 1. Đối tượng nghiên cứu
Các chi, loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey. 1827) ở Việt Nam, dựa
trên cơ sở mẫu vật và tài liệu.

+ Tài liệu: Các tài liệu về phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey. 1827)
trên thế giới và của Việt Nam, đặc biệt là các tài liệu chuyên khảo về phân loại học.
+ Mẫu vật: Các mẫu thực vật thuộc thuộc chi họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.
1827) ở Việt Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật như phòng Tiêu
bản thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), phòng Tiêu bản thực
vật, Bảo tàng Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà
Nội (HNU), phòng Tiêu bản thực vật – Viện Dược liệu Hà Nội (HNPM) và các mẫu
vật tươi sống được thu thập từ thực địa.
2. 2. Phạm vi nghiên cứu: Khắp cả nước.
2. 3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018.
2. 4. Nội dung nghiên cứu
– Phân tích các hệ thống phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey. 1827) trên
thế giới và Việt Nam, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp các chi, loài
thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey. 1827) ở Việt Nam.
– Xây dựng bản mô tả đặc điểm hình thái họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.
1827) ở Việt Nam.
– Xây dựng khoá định loại các chi, loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.
1827) ở Việt Nam.
– Xây dựng bản mô tả đặc điểm hình thái các chi, loài thuộc họ Giấp cá
(Saururaceae E. Mey. 1827) ở Việt Nam.
– Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.
1827) ở Việt Nam.
2. 5. Phương pháp nghiên cứu.

99


Để nghiên cứu phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey. 1827), chúng tôi sử
dụng phương pháp Hình thái so sánh, theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007). Đây là
phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất

trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta. Phương pháp này dựa
trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ
quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến
đổi bởi tác động của môi trường. Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các
cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành
so sánh với cây cây trưởng thành, nụ so với nụ, hoa so sánh với hoa, …).
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời
cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp.
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu
thập mẫu vật, chụp ảnh quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi,
quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác.
Đối với các loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.), tôi đã điều tra ở ven
các mương nước, ven đường đi, các trảng cỏ, bãi hoang,…
Công tác nội nghiệp: Xử lý và bảo quản mẫu vật. Việc nghiên cứu các mẫu
vật khó được tiến hành tại các phòng thí nghiệm. Tại đây, các mẫu vật được phân
tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật
chuẩn, các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân
cận) để phân tích, so sánh và định loại.
Việc nghiên cứu phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) được tiến hành
theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về họ Giấp cá
(Saururaceae E.Mey.). Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân
loại chi này ở Việt Nam.
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc họ Giấp cá (Saururaceae
E.Mey.) hiện có.

10
1
0



Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu,
tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác.

11
1
1


Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây
dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo
luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề
tài.
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và
quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố
tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học,
năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập
đến, các tên đồng nghĩa, tên Việt Nam khác, mô tả, loài chuẩn của chi, ghi chú.
Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố
tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học,
năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập
đến, tên đồng nghĩa gốc, các tên đồng nghĩa, tên Việt Nam khác, mô tả, địa điểm
thu mẫu chuẩn (Loc. class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo
quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng,
ghi chú.
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền
tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ...) đến cơ
quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt).
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về

loài đó, sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typus (nếu có), từ
đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài.
Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài
trong chi. Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác
(thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), tôi sẽ có những ghi chú bổ
sung.
– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, tôi lựa chọn cách
xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau:

12
1
2


Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc
điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ
nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon). Trong mỗi nhóm, lại tiếp
tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như
vậy đến khi phân biệt hết các taxon.
– Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện
hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam và tài liệu “Nguyên tắc
phân loại sinh vật” của tập thể tác giả Nguyễn Anh Diệp (chủ biên), Trần Ninh,
Nguyễn Xuân Quýnh (2007).

13
1
3


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Hệ thống phân loại và vị trí của họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) ở Việt
Nam
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại họ Giấp cá trong các công trình thực
vật chí ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam như: Tseng Yung Chien (1982),
Nianhe Xia & Anthony R. Brach (1999), Hu Qi-ming, Wu De-lin (2007), Kai
Larsen (2000), Phạm Hoàng Hộ (1999), A. Takhtajan (2009),… tôi nhận thấy hệ
thống phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) là khá đồng nhất. Các tác giả đều
đưa ra quan điểm họ Saururaceae được tổ hợp bởi các chi và các loài, hệ thống phân
chia họ trực tiếp đến bậc chi mà không qua bậc phân loại tông hay bậc phân họ
được hầu hết các tác giả sử dụng.
Trong công trình này, tôi đi theo quan điểm của Tseng Yung Chien (1982) để
phân loại họ Giấp cá ở Việt Nam. Vì đây là hệ thống được hầu hết các tác giả trên
thế giới sử dụng và phù hợp với việc sắp xếp các taxon ở Việt Nam. Trên cơ sở của
hệ thống này, họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.) được phân chia trực tiếp đến bậc
chi.
Về vị trí của họ Giấp cá, hầu hết các tác giả đều xếp họ Giấp cá vào bộ Hồ tiêu
(Piperales), phân lớp Mộc lan (Magnoliidae), lớp ngọc lan (Magnoliopsida), ngành
ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae).
Theo đó, họ Giấp cá (Saururaceae) ở Việt Nam hiện biết có 3 chi với 3 loài là:
+ Chi Gymnotheca với loài Gymnotheca chinensis Decne.
+ Chi Houttuynia với loài Houttuynia cordata Thunb.
+ Chi Saururus với loài Saururus chinensis (Lour.) Hort. ex Loud.

14
1
4


3.2. Đặc điểm phân loại họ Giấp cá (Saururaceae E. Mey.) ở Việt Nam
SAURURACEAE E. Mey. – GIẤP CÁ

E. Mey.; Lecomte, 1910. Fl. Gen. Indoch., 5: 59; Phamh. 1999. Fl. Illus. Vietn, 1:
288; Nianhe Xia & Anthony R. Brach, 1999. Fl. China, 4: 108; Kai Larsen, 2000.
Fl. Thail, 7(2): 344.
3.2.1. Dạng sống
Thân thảo lâu năm, có mùi thơm hoặc hăng, thân cây đứng thẳng hoặc bò lan,
phân đốt rõ ràng, thường là thân rễ ở dưới mặt đất. Thân có nhiều gợn và rãnh nông,
có lông hay không có lông.
3.2.2. Lá
Lá đơn, mọc cách, các lá kèm kết hợp hoặc mọc đính với gốc của lá tạo thành
bẹ như vỏ bọc, bẹ ngắn (S. chinensis) hay bẹ rất dài (G. chinensis). Phiến lá nguyên,
thường hình tim hay hình trứng, gần tròn; gân gốc thường 3-5 cái, tạo thành gân
hình cung; chóp lá tròn, tù hay nhọn.

1

2

3

Hình 1. Một số hình dạng lá thuộc họ Giấp cá
1. Lá hình tim (G. chinensis, H. cordata); 2. Lá hình trứng – mác (S. chinensis); 3.
Lá hình trứng (H. cordata, S. chinensis)
(1, 2. HU Qi-ming, Wu De-lin, 2007; 3. theo Kai Larsen, 2000)
15
1
5


3.2.3. Hoa và cụm hoa
Cụm hoa bông (Gymnotheca, Houttuynia) hoặc chùm (Saururus). Cụm hoa

thường ở đỉnh cành hay đối diện với lá. Đôi khi giống một bông hoa đơn lẻ khi có
nhiều lá bắc hình cánh hoa xuất hiện ở gốc (Houttuynia); các lá bắc hoa rất nhỏ
nhưng dễ nhận ra rõ ràng (Houttuynia, Saururus) hoặc không dễ nhận thấy
(Gymnotheca).
Hoa nhỏ, cuống hoa ngắn, lưỡng tính.
+ Không có bao hoa.
+ Bộ nhị: thường là 3-8 nhị hoa, chỉ nhị thường tự do hoặc gắn với bầu nhụy,
chỉ nhị ngắn hơn vòi nhụy (Gymnotheca) hay dài hơn vòi nhụy (Houttuynia,
Saururus); bao phấn 2 ô, mở ra theo chiều dọc.
+ Bộ nhụy: Bầu thuộc loại bầu trên (Saururus) hay bầu trung (Houttuynia,
Gymnotheca); có 3 hoặc 4 lá noãn, lá noãn có thể rời nhau (Saururus) hoặc dính
một phần rất nhỏ ở dưới gốc (Saururus) hay dính lại với nhau (Houttuynia,
Gymnotheca), mỗi lá noãn có 2-4 noãn hay nhiều hơn (10-13 noãn); vòi nhụy
thường tự do, cong; núm nhụy hình tròn.
Gymnotheca

Houttuynia
2

Saururus
3

1

Hình 2. Một số hình dạng bộ nhị và nhụy thuộc họ Giấp cá.
1 và 2. bộ nhụy dính (Gymnotheca, Houttuynia); 3. bộ nhụy rời (Saururus)
(Hình 1 theo Anthony R. Brach & Xia Nian-he, 2005; hình 2, 3 theo LIU, TangShui and Wang, Hsien-Chih, 1996)
3.2.4. Quả và hạt
+ Quả là loại quả nang mở (Houttuynia, Gymnotheca) hay nang không mở
(Saururus); hình dạng có kiểu gần hình cầu (Houttuynia, Saururus) hay hình thoi

(Gymnotheca).
16
1
6


+ Hạt 1 (Saururus) hoặc nhiều trong mỗi phân quả (Houttuynia, Gymnotheca);
hạt có nội nhũ nhỏ, nhiều ngoại nhũ, phôi nhỏ.
Typus: Saururus L.
Có 4 chi và khoảng 7 loài trên toàn thế giới, phân bố ở phía đông châu Á và
phía bắc châu Mĩ; Trung Quốc có 3 chi và 4 loài, ở Hồng Kông có 2 chi và 2 loài.
Việt Nam hiện biết có 3 chi và 3 loài, phân bố rải rác khắp cả nước.
3.3. Khoá định loại các chi và loài thuộc họ Giấp cá (Saururaceae E.Mey.) ở
Việt Nam
3.3.1. Lập ma trận các đặc điểm của các chi, loài thuộc họ Giấp cá ở Việt Nam
Trên cơ sở các mẫu vật có được, chúng tôi phân tích đặc điểm hình thái của
các loài, các chi, lập bảng so sánh các đặc điểm hình thái thu được. Kết quả được
trình bày ở bảng sau:
Bảng 1: Bảng tổng hợp các đặc điểm hình thái của các loài thuộc họ Giấp cá ở
Việt Nam
Gymnotheca

Đặc điểm

chinensis

Thân thảo

Thân bò


Lông trên thân
Chiều

cao

Houttuynia cordata

Thân bò rồi đứng
không lông hoặc có

không lông
thân

30-65

(cm)
Thân có nhiều gợn

Hình dạng phiến lá

30-60



và rãnh
Cuống lá dài

lông tơ trên các mấu

Bằng hay dài hơn

phiến


Ngắn hơn phiến

Thận, tim

Trứng hoặc tim

17
1
7

Saururus
chinensis
Thân bò rồi đứng
có lông tơ
>100

Ngắn hơn phiến
Mác, trứng, tim,
gần thận


Chóp lá

nhọn hoặc tròn

Cụm hoa


Bông

Vị trí cụm hoa

Hơi nhọn hoặc nhọn
hẳn
Bông

Chùm

Đối diện lá, đỉnh

Đối diện lá, đỉnh

cành

cành

không



Không

Có, dễ nhận thấy

Có, khó nhận thấy

Có, dễ nhận thấy


Mác ngược

Không rõ

Trắng

Trắng

5, 6, 7

3, 4

6, 8, 3

Dài hơn vòi nhụy

dài hơn vòi nhụy

Đỉnh cành

Lá bắc cụm hoa
giống cánh hoa
Lá bắc hoa
Hình dạng lá bắc
hoa
Màu của lá bắc hoa
hay lá bắc cụm hoa
Số lượng nhị

Ngắn hơn vòi


Chiều dài nhị

nhụy

Chiều dài chỉ nhị

Tù, tròn

< gấp 2 lần bao

Gấp 3 lần bao phấn

phấn

Hình thìa, phía
dưới hình đường
Trắng, hiếm khi
vàng nhạt

< gấp 2 lần bao
phấn

Vị trí bầu

trung

trung

Các ô bầu


dính

dính

4

3

4

Loại quả

Nang mở

Nang mở

Nang không mở

Hình dạng quả

Hình thoi

Gần hình cầu

Gần hình cầu

10-13

6-9


2-4

Nhiều

Nhiều

1

Số lượng ô bầu

Số

lượng

noãn

trong một giá noãn
Số lượng hạt trong
mỗi phân quả

16

Trên
rời, dính một
phần ở gốc


×