Tải bản đầy đủ (.doc) (85 trang)

Nhận xét tình trạng mất răng, nhu cầu điều trị phục hình và một số đặc điểm cung răng khớp cắn của người cao tuổi tại tỉnh bình dương năm 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 85 trang )

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn “già hóa dân số”. Theo thống kê
mới nhất của Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệ
dân số cao tuổi - những người có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam là 9%;
và dự báo sẽ chạm ngưỡng 10% vào năm 2017 [1],[2],[3]. Cùng với sự gia
tăng về số lượng người cao tuổi là sự thay đổi về mô hình bệnh tật người cao
tuổi từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm theo mô hình của
một xã hội hiện đại. Người cao tuổi phải đối mặt với những biến đổi về sinh
lý, tâm lý và xã hội. Đó là thời kì “lão hóa” của mỗi cá thể. Các cơ quan trong
cơ thể dần thoái hóa, dẫn đến sự suy giảm của các chức năng sống. Điều đó
làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính, và làm trầm trọng hơn các bệnh đã
mắc. Bởi vậy các dịch vụ y tế dành cho người cao tuổi cần được chú trọng
hơn. Mà trong đó vấn đề sức khỏe răng miệng là một mục tiêu quan trọng của
chăm sóc và nâng cao sức khỏe người cao tuổi. Bệnh lý Răng Hàm Mặt ở
người cao tuổi cũng tuân theo quy luật chung như các bệnh mãn tính khác, và
ngoài ra còn mang một số đặc tính riêng biệt, do tình trạng răng miệng người
cao tuổi chịu tác động từ nhiều yếu tố: vùng địa lý, mức sống, kinh tế, văn
hóa, tâm lý, tập quán xã hội….
Đã có nhiều công trình nghiên cứu điều tra và đánh giá tình trạng sức
khỏe răng miệng của người cao tuổi Việt Nam trong những năm gần đây.
Nghiên cứu của tác giả Đoàn Thu Hương về người cao tuổi tại khoa Răng
Hàm Mặt - bệnh viện Hữu Nghị năm 2003, cho thấy có 94% người mất răng
từ 1 đến 30 chiếc [4]. Tỉ lệ này là 91,1% trong nghiên cứu năm 2004 của tác
giả Phạm Văn Việt thực hiện tại Hà Nội [5]. Có nhiều nguyên nhân gây nên
tình trạng mất răng, trong đó hai nguyên nhân chủ yếu được xác định là do
bệnh lý sâu răng và viêm quanh răng[6]. Mất răng nhiều làm ảnh hưởng sâu


2


sắc đến chất lượng sống của người cao tuổi[7] như chức năng ăn nhai giảm,
hạn chế về khả năng lựa chọn thức ăn, giao tiếp xã hội, thẩm mỹ..v..v. Về
phương diện nha khoa, mất răng gây ra tình trạng thay đổi về cung răng khớp
cắn; thời gian mất răng càng dài hoặc những phục hình răng được làm không
phù hợp, không đúng quy cách cũng gây nên những rối loạn về khớp cắn như
lệch lạc khớp cắn, các cản trở cắn… Đây cũng chính là một trong những yếu
tố bệnh sinh của loạn năng khớp thái dương hàm [8],[9]. Những tác động xấu
tới khớp thái dương hàm ban đầu làm nhuyễn sụn khớp, sau đó là thoái hóa và
có thể dẫn đến dính khớp. Nếu không được điều trị thì dẫn đến hư khớp, tiêu
các đầu xương, gây xơ cứng khớp, làm hạn chế vận động hàm một phần hay
toàn bộ. Ngoài ra loạn năng thái dương hàm còn thường kèm theo những tổn
thương ở răng, co thắt cơ nhai gây đau và những rối loạn của cơ quan lân cận.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tình trạng mất răng ở khu vực Đông
Nam Bộ thường được thực hiện chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, nên
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nhận xét tình trạng mất răng, nhu cầu điều tri
phục hình và một số đặc điểm cung răng khớp cắn của người cao tuổi tại
tỉnh Bình Dương năm 2015” với hai mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả tình trạng mất răng, nhu cầu điều trị phục hình của người cao
tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2015.
2. Nhận xét một số đặc điểm cung răng, khớp cắn của nhóm đối tượng
trên.


3
Chương 1

TỔNG QUAN
1.1. Một vài đặc điểm về người cao tuổi
1.1.1. Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi hay người cao niên, hay người già là những người lớn

tuổi có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên. Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam
nhận định “người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu
về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội” [10].
Trên thế giới năm 1950 có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên, đến năm
2012 số người cao tuổi tăng lên đến gấn 810 triệu người. Dự tính con số này
sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi
là 2 tỷ người. Có sự khác biệt lớn giữa các vùng, trong đó dân số người cao
tuổi ở châu Á chiếm đến 11% [11].
Tại Việt Nam tính tới năm 2010 đã có hơn 8 triệu người cao tuổi, chiếm
9,4% dân số. Số người cao tuổi tăng lên nhanh chóng trong khi tỷ lệ hỗ trợ
tiềm năng, tỷ lệ giữa dân số độ tuổi lao động và những người cao tuổi đang
giảm đáng kể.
Bảng 1.1. Tỷ lệ người cao tuổi tại Việt Nam
Năm

Tổng dân số
(Triệu người (%))

Người cao tuổi
(Triệu người (%))

1979
1989
1999
2002
2004
2006
2010

53,74 (100)

64,41 (100)
76,32 (100)
79,73 (100)
82,03(100)
84,15 (100)
86,927 (100)

3,71 (6,9)
4,64 (7,2)
6,19 (8,1)
6,47 (8,6)
7,34 (9,0)
7,74 (9,2)
8,171 (9,4)

(Giang Thanh Long, Hội nghị quốc tế về người cao tuổi dân số tổ chức
tại đại học Malaysia tháng 7 năm 2012) [2].


4
1.1.2. Biến đổi sinh lý về răng miệng ở người cao tuổi

Hình 1.1. Biến đổi về thẩm mỹ, xương hàm dưới người cao tuổi [12]
Theo qui luật chung về lão hóa của người cao tuổi, nhưng từng cơ quan,
bộ phận vùng răng miệng có biến đổi riêng theo xu hướng thoái triển từ từ,
tạo ra những rối loạn không hồi phục cả về hình thái và chức năng. Nhiều
nghiên cứu cho biết: có các biến đổi về chuyển hoá, trao đổi chất kém ở men,
ngà bị xơ hoá (các ống Tome bị vôi hoá) làm cho răng dễ bị tổn thương. Hình
thái răng, tiếp xúc giữa các răng, chiều dài trước - sau cung răng đều thay đổi.
Các biến đổi ở tuỷ răng dẫn tới điều trị phục hồi gặp rất nhiều khó khăn. Độ

dày của lớp xương răng tăng lên, đôi khi quá mức làm cho chân răng phì đại
như hình dùi trống, dẫn tới khó khăn khi phải nhổ. Các biến đổi theo tuổi làm
cho mô liên kết lợi giảm khả năng chống lại các tác động lý học. Lợi bị teo và
co gây hở chân răng. Biểu mô phủ và mô liên kết giảm mối gắn kết, giảm tính
đàn hồi và tăng sự nhạy cảm, chịu đựng kém, dễ bị tổn thương và lâu lành. Hệ
thống dây chằng quanh răng giảm, thoái triển mất vai trò đệm tựa. Xương ổ
răng tăng hiện tượng tiêu xương, giảm chiều cao. Xương hàm yếu, khi gẫy


5
thường can xấu và chậm. Khớp thái dương - hàm xơ hoá, hõm khớp nông, sụn
chêm dẹt, thể tích lồi cầu giảm, dây chằng rão, xơ, cơ nhai giảm trương lực.
Các chức năng nhai, nuốt đều ảnh hưởng. Tuyến nước bọt có hiện tượng giảm
tiết. Nước bọt ít, giảm khả năng đệm, toan hoá dễ gây sâu răng và tăng nguy
cơ viêm nhiễm ở răng miệng [13],[14],[15]. Theo Ainamo A, Ainamo J,
Barnett N.A, Ketterl W, Mallet J.P, Nitzan D.W và nhiều nghiên cứu khác một
số biến đổi được cụ thể ở bảng 1.1 [16],[17],[18],[19],[20].
Bảng 1.2. Biến đổi sinh lý về hình thái, cấu trúc, chức năng ở một số tổ chức
Vàng, mất núm, rãnh...
Tổ chức men - ngà Mòn ở men, ngà hay tuỷ làm thay đổi chiều dài thân
răng, tiếp điểm giữa các răng.
Buồng tủy, ống tuỷ hẹp, tắc, hình thái và số lượng các tế
Tuỷ răng

Lợi

bào đệm, mạch máu, thần kinh giảm, xơ hoá tăng,
thường có sự vôi hoá sạn tuỷ.
Teo, mất căng bóng, da cam, xơ, sừng hoá.


Phân bào, Thẩm thấu, Đề kháng đều giảm.
Biểu mô bám dính Di chuyển về phía chóp.
Không đều, thu hoặc giãn. Tăng xơ chun, tế bào giảm và
Dây chằng
có thể mất hoặc hoà vào xương răng.
Xương ổ răng,
Mạch máu, tạo cốt bào, bè xương giảm, xương loãng.
xuơng hàm
Biểu mô niêm mạc Teo, mỏng, vùng sừng hoá biến đổi
miệng
Mô liên kết

Tương bào B tăng, có rối loạn trao đổi chất.
Tế bào mỡ giảm, mô xơ, sợi collagen tan
Tuyến ức, tuyến nước bọt teo dần.

1.1.3. Tình trạng mất răng
1.1.3.1. Nguyên nhân gây mất răng


6
Người bệnh mất răng do những nguyên nhân sau:
- Bệnh sâu răng: Sâu răng và biến chứng của sâu răng được cho là
nguyên nhân chính dẫn đến mất răng. Ở người Việt Nam, tỉ lệ mất răng do
biến chứng sâu răng là 57 - 72% [21].
- Bệnh nha chu: Viêm quanh răng được coi là nguyên nhân thứ hai gây ra
mất răng và là nguyên nhân chính gây mất răng ở người lớn tuổi [22].
- Chấn thương hàm mặt: Theo tác giả Trịnh Hồng Mỹ có tới 66,7% các
tổn thương răng trước là do chấn thương [23].
- Ngoài ra, mất răng còn do các nguyên nhân khác như do các khối u

vùng xương hàm, nhổ răng chủ động để chạy tia hay theo yêu cầu chỉnh nha,
thiếu răng bẩm sinh…
1.1.3.2. Phân loại mất răng
Mất răng được phân làm hai loại chính: mất răng từng phần và mất răng
toàn bộ. Trong đó có rất nhiều kiểu mất răng từng phần. Người ta ước tính có
khoảng trên 65.000 kiểu mất răng ở trên một cung hàm. Vì vậy, cần phải có
phân loại mất răng từng phần để qui về một số loại mất răng có thể áp dụng
được trong lâm sàng.
Những yêu cầu cần có của một phân loại mất răng có thể được chấp nhận:
- Đơn giản, cho phép dễ nhận ra ngay loại mất răng khi khám bệnh nhân.
- Cho phép biết được loại mất răng nào có thể làm hàm giả được nâng đỡ
trên răng hoặc hàm giả vừa được nâng đỡ trên răng vừa được nâng đỡ trên
sống hàm.
- Định hướng để phác họa loại phục hình.
- Được đa số mọi người chấp nhận.
Có nhiều cách phân loại mất răng của nhiều tác giả khác nhau như:
Kennedy, Applegate, Kourliandsky, Bailyn, Skinner... Trong số đó, cách phân
loại mất răng của Kennedy được nhiều người sử dụng nhất.


7
* Phân loại mất răng của Kennedy và bổ xung Applegate
Edward Kennedy đưa ra cách phân loại mất răng từng phần đầu tiên vào
năm 1923. Ông phân ra làm 4 loại mất răng từng phần:
- Loại I: mất răng phía sau hai bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại II: mất răng phía sau một bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại III: mất răng phía sau một bên còn răng giới hạn xa.
- Loại IV: mất răng phía trước (răng cửa) đi qua đường giữa.
- Loại V: mất rang có giới hạn 2 đầu trong đó giới hạn trước là răng cửa yếu.
- Loại VI: mất răng có giới hạn 2 đầu và khoảng mất răng ngắn các răng

giới hạn tốt.

Hình 1.2. Phân loại mất răng theo Kennedy [24]
Ưu điểm của cách phân loại mất răng của Kennedy [25],[26]
- Dễ nhận biết loại mất răng.
- Gợi ý được kiểu thiết kế hàm giả cho từng loại mất răng.


8
* Trên thế giới WHO (1997) đã đặt mục tiêu toàn cầu về sức khỏe răng
miệng đến năm 2020 và một trong những mục tiêu này là vấn đề liên quan
đến mất răng với mục đích can thiệp tăng số lượng các răng còn chức năng ăn
nhai tối thiểu là 21 răng.
Bảng 1.3. Tỉ lệ hiện hành (%) mất răng toàn bộ của người cao tuổi [27]
Quốc gia
Madagasca
Mỹ
Ai Cập
Albani
Anh
Ấn Độ
Trung Quốc
Malaysia

Tỉ lệ % không có răng
25
26
7
69
46

19
11
57

Nhóm tuổi
65-74
65-69
65+
65+
65+
65-74
65-74
65+

Tỉ lệ mất răng toàn bộ của nhóm người cao tuổi ở các nước trên thế giới
là khác nhau và có liên quan chặt chẽ đến tình hình kinh tế - xã hội. Các
nghiên cứu bệnh học cho thấy người ở tầng lớp xã hội thấp, có thu nhập thấp
và các cá nhân được giáo dục kém thì thường bị mất răng toàn bộ hơn nhóm
người còn lại [27].
Bên cạnh đó số lượng răng còn tồn tại trên cung răng được chứng minh
có liên quan tới tỉ lệ tử vong của người cao tuổi. Theo nghiên cứu của tác giả
Mitsuyoshi Yoshida trong 8 năm kể từ năm 1995 trên 1030 đối tượng người
cao tuổi Nhật Bản khỏe mạnh, những người răng có điểm chạm ít nhất ở vùng
răng hàm nhỏ hai bên có nguy cơ tử vong ít hơn 0,78 lần so với người không
có điểm chạm răng ở hai hàm [27]. Tác giả Toshinobu Hirotomi (2014) trong
5 năm nghiên cứu trên 600 đối tượng độ tuổi 70 cũng đưa ra kết luận người
cao tuổi còn trên 20 răng có tỉ lệ sống sót cao hơn với những người còn 19


9

răng trên cung hàm hoặc ít hơn [28].
* Tại Việt Nam Theo kết quả điều tra của tác giả Nguyễn Văn Bài
(1994) [26] ở miền Bắc Việt Nam tỷ lệ mất răng của nhóm tuổi trên 65 là
95,21%, nhu cầu phục hình là 90,43%, tỷ lệ mất răng nói chung là 42,1% và
nhu cầu phục hình răng bằng cầu là 59,79%.
Nghiên cứu của tác giả Trương Mạnh Dũng (2007) trên 427 người cao
tuổi tại phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với các tiêu
chuẩn đánh giả của Tổ chức y tế thế giới thì tỉ lệ mất răng chiếm 81,73% [17].
Tác giả La Minh Tân và Nguyễn Trung Kiên (2011) nghiên cứu tại
Thành phố Cần Thơ trên 548 người cao tuổi, tỉ lệ mất răng là 97,63% [30].
1.1.4. Các phương pháp điều trị phục hình
1.1.4.1. Hàm tháo lắp
 Hàm tháo lắp từng phần: gồm có hàm nhựa và hàm khung.
 Hàm tháo lắp toàn bộ.
1.1.4.2. Cầu răng
 Cầu với: là cầu răng cố định có nhịp cầu với ra ngoài răng trụ. Cầu
với thực hiện với ý muốn tiết kiệm bởi răng trụ và nhịp cầu với chỉ có tác
dụng thẩm mỹ, ổn định cung răng hơn là chức năng ăn nhai.
 Cầu dán: là loại cầu răng cố định bằng kim loại đúc, phần giữ có
hình dạng tương tự như móc của hàm khung và được gắn dính vào men răng
trụ bằng keo dán riêng biệt sau khi xói mòn men răng bằng dung dịch axít.
 Cầu ngắt lực: là loại cầu răng bằng kim loại có các phần giữ được
gắn lên răng trụ, có các phần nối cứng chắc và không cứng chắc giữa phần
giữ và nhịp cầu.
 Cầu răng cổ điển (cầu bọc toàn bộ răng trụ)


10
- Cầu cổ điển là loại phục hình mất răng cố định để phục hồi răng
mất bằng cách dùng các răng bên cạnh làm răng trụ để mang, gánh răng

giả thay thế răng mất. Cầu răng cổ điển gồm khung kim loại bọc toàn bộ
thân răng trụ ở hai đầu và được phủ ngoài bằng sứ nhựa, hoặc hoàn toàn
bằng thép.
- Cầu răng được gắn chặt vào các răng trụ bằng xi măng và bệnh nhân
không thể tự tháo ra được.
- Cầu răng duy trì sự ổn định cho cung răng và mặt phẳng nhai, phục
hồi chức năng ăn nhai, phát âm và thẩm mỹ.

Phần nối

Nhịp cầu
(pontic)
Trụ cầu
(abutment)
Cùi răng

Răng trụ
Sống hàm

Hình 1.3. Cấu tạo cầu răng cổ điển, 3 đơn vị, bọc toàn bộ răng trụ
1.1.4.3. Cấy ghép răng (Implant)
Xương hàm vùng mất răng được khoan và đặt chốt kim loại vào đó. Sau
vài tháng hoặc ngay tức thì tùy từng trường hợp mà chúng ta phục hình răng
giả thay răng mất trên chốt kim loại đó. Phương pháp này có thể thay thế một
hoặc nhiều răng mất [26].
1.2. Một vài nét về cung răng, khớp cắn


11
1.2.1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cung răng, khớp cắn

Hệ thống nhai là một tổng thể, một đơn vị chức năng bao gồm nhiều
thành phần:
- Răng và nha chu.
- Các xương hàm.
- Các khớp thái dương hàm.
- Các tuyến nước bọt.
- Hệ thống môi má lưỡi.
- Các cơ hàm.
- Hệ thống mạch máu, thần kinh nuôi dưỡng, chi phối và duy trì chức
năng của các cơ quan trên.
Từng răng riêng lẻ có ý nghĩa lâm sàng quan trọng nhưng tự nó không
thể thực hiện được chức năng nhai. Chỉ khi các răng nằm trong tương quan
đúng với nhau về giải phẫu và sinh lý để tạo thành bộ răng chúng mới trở
thành một thành phần cơ bản của hệ thống nhai nghĩa là chúng cần được
nghiên cứu trong sự liên hệ với chức năng của nó.
Ngoài chức năng ăn nhai, nuốt, hệ thống nhai còn đảm nhận nhiều chức
năng quan trọng khác như chức năng ngôn ngữ, chức năng thẫm mỹ và chức
năng giao tiếp [31].
Vì vậy tình trạng mất răng ở người cao tuổi ảnh hưởng rất lớn đến hệ
thống nhai của cơ thể. Số lượng răng mất càng nhiều càng tác động tiêu cực
đến các răng trên cung hàm gây nên hiện tượng đổ nghiêng các răng kế cận
răng mất, làm các răng đối thòng dài hoặc trồi lên; rối loạn chức năng khớp
cắn: mất định vị khớp cắn, mất ổn định khớp cắn; cũng như đối với khớp thái
dương hàm, gây đến tình trạng loạn năng khớp thái dương hàm. Tuy nhiên


12
chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu đánh giá một số đặc điểm về
cung răng, khớp cắn của người mất răng.
1.2.1.1. Răng và cung răng


Hình 1.4. Cung răng hai hàm [32]
 Răng (men, ngà, xê măng) có nguồn gốc từ nang răng.
Tổ chức quanh răng (lợi, xê măng răng, dây chằng quanh răng, xương ổ
răng). Xê măng và dây chằng quanh răng biệt hóa từ túi răng và xung quanh
đó là xương ổ răng.
Hai yếu tố quyết định tính đặc trưng của mỗi răng là mặt nhai (mặt thân
răng) chịu tác động trực tiếp của những lực sang chấn và trục chân răng có vai
trò chống đỡ và truyền những lực này.
Mặt nhai là phần hoạt động của thân răng, được tạo bởi các rãnh và múi.
Có thể là một múi (răng nanh) hay nhiều múi (răng cối lớn và cối nhỏ) hay
thành bờ cắn (răng cửa).


13
Múi răng: múi răng được xếp một cách hợp lý để phù hợp với yêu cầu
sinh lý, nhằm mục đích:
- Giảm lực tác động lên răng (làm giảm khả năng gãy, vỡ) và tổ chức
quanh răng.
- Tiết kiệm năng lượng dành cho vận động cơ.
Trong sự sắp xếp bình thường của bộ răng ở tư thế lồng múi tối đa, các
múi ngoài của răng sau dưới và các múi trong của răng sau trên ăn khớp trong
phạm vi bản nhai với các răng hàm đối diện, rìa cắn các răng cửa và răng
nanh hàm dưới ăn khớp với mặt trong của răng cửa và răng nanh hàm trên,
các múi này được gọi là múi chịu.
Các múi ngoài của cung răng trên và các các múi trong của cung răng
dưới có khuynh hướng tiếp xúc nhai chỉ khi hàm dưới đang vận động trượt
theo chiều ngang, các múi này được gọi là múi hướng dẫn
Múi chịu được chia thành 3 nhóm, hai nhóm ở hàm dưới và 1nhóm ở
hàm trên:

+ Nhóm 1: Gồm các múi ngoài của răng hàm nhỏ và răng hàm lớn hàm
dưới, các múi này ăn khớp vào vùng gờ bên hoặc trũng tam giác răng đối
diện, trừ các múi xa ngoài của răng cối lớn hàm dưới ăn khớp với trũng giữa
của răng đối diện, Các điểm chịu cắn khớp của nhóm này đóng vai trò quyết
định đảm bảo cho sự ổn định cắn khớp ở tư thế LMTĐ, đây là nhóm múi chịu
quan trọng nhất.


14
Hình 1.5. Múi chịu nhóm 1
+ Nhóm 2: Gồm rìa cắn của các răng cửa và răng nanh hàm dưới, giữ vai
trò chính trong chức năng hướng dẫn chuyển động ra trước và trước bên.

Hình 1.6. Múi chịu nhóm 2
+ Nhóm 3: Gồm các múi trong của răng hàm lớn và răng hàm nhỏ hàm
trên, các múi gần trong của các răng cối lớn trên ăn khớp vào trũng giữa của
răng đối diện, các múi khác vào vùng gờ bên hoặc trũng tam giác răng đối diện.

Hình 1.7. Múi chịu nhóm 3
 Rãnh
Giữa 2 múi răng có một rãnh chính, giữa 3 múi răng có một hố (trũng).
Từ những rãnh chính tách ra các rãnh phụ đi trên mặt múi răng, giúp tăng hiệu
quả nhai và tạo đường thoát cho thức ăn. Hướng và vị trí của những rãnh này
tạo điều kiện cho vận động sang bên của múi răng đối diện, tránh tạo ra cản


15
trở cắn. Múi răng có hình cầu, tạo thành tiếp xúc dạng điểm khi các răng
đốidiện tiếp khớp với nhau.
Những tiếp xúc dạng điểm này cho phép:

- Truyền lực nhai theo trục răng.
- Chèn và ổn định các răng.
- Giảm mặt tiếp xúc tạo điều kiện để thức ăn thoát và hạn chế mòn răng.
- Đạt được hiệu quả nhai tối đa trong khi làm việc với lực tối thiểu.
Ngược lại, nếu các múi răng bị mòn phẳng đi, làm tăng mặt tiếp xúc, thì
sự lồng khớp nói chung không ổn định, tăng tốc độ mòn và làm nhai kém hiệu
quả, dễ dẫn đến mệt mỏi cơ và loạn năng TDH.
Diện nhai rất đa dạng, có thể thành múi rãnh rõ hoặc là bị mòn phẳng đi.
Độ nghiêng của sườn múi đóng vai trò quan trọng, sườn múi dốc sẽ cải thiện
hiệu quả nhai và giúp ổn định khớp cắn ở tư thế lồng múi tối đa nhưng sẽ làm
tăng nguy cơ xuất hiện cản trở cắn.
1.2.1.2. Khớp cắn lồng múi tối đa
 Định nghĩa:
Lồng múi tối đa là vị trí có tiếp xúc giữa các răng của hai hàm, trong đó
các răng có sự tiếp xúc với nhau nhiều nhất, hai hàm ở vị trí đóng khít nhất và
hàm dưới có được sự ổn định cơ học cao nhất.
 Liên quan giữa các mặt nhai ở tư thế lồng múi tối đa:
Mối liên quan giữa thành phần chịu và thành phần hướng dẫn ở lồng múi
tối đa gồm bốn loại.
- Liên hệ giữa múi chịu - gờ bên: Gờ múi của múi chịu đặt vào khoang
mặt bên của hai gờ bên răng đối diện.
- Liên hệ múi chịu - trũng giữa: Múi chịu đặt vào trũng giữa răng đối diện.


16
- Liên hệ múi chịu - trũng tam giác: Múi chịu đặt vào trũng tam giác, tạo
thành hai hoặc ba điểm.
- Liên hệ rìa cắn răng trước dưới - mặt trong răng trước trên.
Nếu theo phân loại của Angle, mối liên quan giữa các răng nanh trên và
dưới cũng được chia làm ba loại.

Loại I: Răng nanh trên ở vị trí xa nửa so với răng nanh dưới.
Loại II: Răng nanh trên nằm ở vị trí gần so với răng nanh dưới.
Loại III: Răng nanh trên nằm ở vị trí xa so với răng nanh dưới.
Bình thường ở vị trí LMTĐ có sự tiếp xúc đều của các răng trên cung hàm,
và các răng tiếp xúc với nhau ở dạng điểm. Tại vị trí này, số lượng điểm chạm của
các răng trên hai hàm là lớn nhất [33].
1.2.2. Hậu quả của tình trạng mất răng
1.2.2.1. Hậu quả tại chô

Hình 1.8. Cung răng hai hàm cân đối khi cắn chạm [34]


17

Hình 1.9. Mất răng hàm lớn phía sau và ảnh hưởng tới các răng còn lại [34]
- Các răng còn lại hai bên bị xô lệch, răng đối diện bị trồi lên.
Khi các răng trên hai hàm còn đầy đủ và ở vị trí hài hòa cân đối, những răng
sau giữ ổn định cho chiều cao tầng mặt dưới và chức năng nhai, trong khi những
răng trước giúp cắt thức ăn, bảo vệ các răng sau trong chuyển động sang bên của
hàm dưới, và thiết lập nụ cười (Hình 1.8).
Nếu mất các răng sau gây áp lực quá mức lên các răng trước, tạo ra sự dịch
chuyển nhẹ. Theo thời gian khi răng mất không được điều trị phục hình, các răng
kế cận cũng như răng đối của răng mất bắt đầu di chuyển; áp lực quá mức tác
động làm các răng phía trước trải rộng ra, đồng thời thay đổi chiều cao tầng mặt
dưới (Hình 1.9).
- Đường cong Spee và khớp cắn thay đổi xấu.
- Bệnh sâu răng, nha chu, chấn thương khớp cắn phát sinh đưa đến mất
thêm những răng khác.
- Xương ổ răng nơi răng mất bị tiêu nhanh.
- Hình dạng mặt có thể bị thay đổi do rối loạn khớp cắn [34].

1.2.2.2. Hậu quả toàn thân
- Tiêu hóa rối loạn do sự nhai nghiền thức ăn không tốt.


18
- Các răng còn lại phải hoạt động chức năng nhiều hơn gây nên tình trạng
mòn răng nhanh, nghiêng ngả làm rối loạn khớp cắn, có thể gây ra hội chứng
S.A.D.A.M (Đau khớp thái dương hàm và cơ nhai).
- Phát âm thay đổi.
- Hô hấp có thể bị ảnh hưởng (lưỡi bị nâng lên, gây hiện tượng thở bằng
miệng tăng) [34].
1.2.3. Một số nghiên cứu về cung răng, khớp cắn của người cao tuổi trên
thế giới
Như đã đề cập đến ở phần đặt vấn đề, mất răng ảnh hưởng lớn đến chất
lượng cuộc sống của người cao tuổi, và đặc biệt ảnh hưởng đến sức khỏe răng
miệng. Nhưng những tác động trực tiếp của mất răng gây nên tình trạng rối
loạn về khớp cắn, thay đổi cấu trúc giải phẫu, chức năng sinh lý của răng trên
cung hàm và hoạt động cơ học của xương hàm, là một trong năm nguyên
nhân lớn gây loạn năng khớp thái dương hàm. Đây cũng là mục tiêu nghiên
cứu của nhiều tác giả trên thế giới nhằm nâng cao sức khỏe răng miệng cho
người cao tuổi.
Ở Brazil nghiên cứu dịch tễ học năm 2003 trên 5349 đối tượng có độ
tuổi từ 65 đến 74 tuổi, tỉ lệ mất răng toàn bộ là 54,7% và chỉ 2,7% chấp nhận
được về chức năng nhai và thẩm mỹ, sự rút ngắn chiều dài cung răng cũng
chiếm 2,7% và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ [35].
Nghiên cứu tại Anh năm 2004, tác giả H. L. Craddock và C. C.
Youngson trên 120 đối tượng với 155 trường hợp có răng đối thì 83% có hiện
tượng trồi răng, dao động từ 0,5mm đến 5,4mm; 32 vị trí tham gia nhiều hơn
một điểm chạm hoặc gây cản trở cắn [36].



19
Tác giả H.C. Lin và cộng sự thực hiện đề tài trên 1573 đối tượng từ 3544 tuổi và 1515 đối tượng từ 65 đến 74 tuổi người Trung Quốc sống ở các
vùng thành thị và nông thôn, có 18% người cao tuổi ở thành thị và 27% người
cao tuổi nông thôn không có những cặp răng đối cắn chạm nhau [37].
Khảo sát dich tễ trong những năm 1980, nhóm nghiên cứu người Hà Lan
tiến hành điều tra dịch tễ học tại Hà Lan và sau này ở Tanzania cho thấy số
lượng răng và số điểm chạm các răng trên cung hàm giảm cùng sự gia tăng về
số tuổi [38].
Kết quả công trình nghiên cứu (2004) của tác giả Kaija Hiltunen trong 5
năm từ những năm 1990- 1991 trên đối tượng người cao tuổi cho thấy 8% đối
tượng có bốn điểm chạm ở vùng răng hàm nhỏ và răng hàm lớn, 22% có từ
một đến ba điểm chạm ở vùng răng hàm hoặc vùng răng trước, 70% không có
điểm chạm giữa răng hai hàm; và 34% đối tượng có triệu chứng của loạn
năng khớp thái dương hàm [39].
1.2.4. Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam, với diện tích 2694,4 km2 xếp thứ 4 trong vùng Đông Nam
Bộ. Địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên
nhiên phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2
mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến 11, mùa khô từ khoảng tháng 12
năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1.800 mm
đến 2.000 mm. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC.


20

Hình 1.10. Bản đồ địa lý tỉnh Bình Dương [40]
Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm
kinh tế - văn hóa của cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc

gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên
Á …; cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15
km… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao,
GDP tăng bình quân khoảng 14,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực,
công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ
lệ công nghiệp - xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4%.


21
Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 1.691.400 người, mật độ dân số 628
người/km². Trong đó dân số nam đạt 813.600 dân số nữ đạt 877.800 người.
Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 14,2 ‰. Trong đó dân
số sống tại thành thị đạt gần 1.084.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt
607.200 người. Trên địa bàn Bình Dương có khoảng 15 dân tộc, nhưng đông
nhất là người Kinh và sau đó là người Hoa, người Khơ Me...[41].
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020
nhằm xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết
tốt các vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong đó, năm 2003 tỉ lệ trạm y tế xã đạt
chuẩn quốc gia là 50%, tỉ lệ trạm y tế có bác sỹ là 82%. Chỉ tiêu về số cán bộ
y tế/ một vạn dân của tỉnh năm 2010 đạt 27 (có 8 bác sĩ), năm 2015 là 38 cán
bộ (có 15 bác sĩ), và tăng lên 55 cán bộ (có 30 bác sĩ) vào năm 2020. Bên
cạnh đó, mục tiêu về tuổi thọ trung bình của người dân là 75 tuổi (năm 2010);
năm 2015 là 77 tuổi, và 80 tuổi năm 2020.


22


Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Là người cao tuổi có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại tỉnh Bình
Dương (theo Luật người cao tuổi của Việt Nam năm 2009 quy định người cao
tuổi lớn hơn hoặc bằng 60 tuổi) [3].
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Những người ≥ 60 tuổi, đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu, đủ năng
lực trả lời các câu hỏi phỏng vấn, khám và có mặt đầy đủ trong quá trình
nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người > 60 tuổi, không đồng ý tham gia nghiên cứu và không
có mặt trong khi điều tra, không đủ năng lực trả lời các câu hỏi phỏng vấn:
o Là người không có mặt vào lúc điều tra do các nguyên nhân khác nhau
o Người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở khu vực lấy mẫu
o Vắng mặt tại địa bàn trong thời gian thu thập số liệu.
- Đang bị bệnh lý toàn thân cấp tính.
2.2. Đia điểm và thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Bình Dương và Viện Đào tạo Răng
Hàm Mặt, trường Đại học Y Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: tháng 9/2015 - 12/2016.


23
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu 1: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp
giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
- Mục tiêu nghiên cứu 2: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.3.2. Chọn cỡ mẫu
- Mục tiêu nghiên cứu 1 :
2
Áp dụng công thức: n  Z1  / 2

p(1  p )
x DE
d2

Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu.
p: Tỷ lệ mất răng cộng đồng tại Hà Nội của người trên 60 tuổi (91,1%)
[5]
d: Độ chính xác tuyệt đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (d=0,038).
Z2(1-α/2): hệ số tin cậy, với mức ý nghĩa thống kê  = 0,05, tương ứng với
độ tin cậy là 95% thì Z(1-α/2) = 1,96.
Do sử dụng kỹ thuật chọn mẫu 30 chùm ngẫu nhiên nên cỡ mẫu cần
nhân với hệ số thiết kế mẫu (DE = 2) để tăng độ tin cậy.
Thay vào công thức ta tính được cỡ mẫu nghiên cứu là 1020 người cao
tuổi cho toàn thành phố.
Lấy mẫu 30 chùm nên mỗi chùm ta cần 1350/30 = 45 người cao tuổi.
- Mục tiêu nghiên cứu 2 :
Áp dụng công thức: n Z12  / 2
Trong đó:

p (1  p )
x DE
d2



24
p: Tỷ lệ không có điểm chạm răng hai hàm của người ở độ tuổi 76, 81,
86 tuổi tại Phần Lan (70%) [44]
d: Độ chính xác tuyệt đối (= 10%)
Z2(1-α/2): hệ số tin cậy, với mức ý nghĩa thống kê  = 0,05, tương ứng
với độ tin cậy là 95% thì Z(1-α/2) = 1,96
Do sử dụng kỹ thuật chọn mẫu chùm ngẫu nhiên nên cỡ mẫu cần nhân
với hệ số thiết kế mẫu (DE = 2).
Do vậy, cỡ mẫu là 162 người cao tuổi.
2.3.3. Phương pháp chọn mẫu
- Mục tiêu nghiên cứu 1:
 Bước 1. Chọn 30 chùm ngẫu nhiên cho tỉnh Bình Dương, mỗi chùm là
1 xã/phường.
 Bước 2. Chọn đối tượng nghiên cứu: Lên danh sách các người cao
tuổi trong xã/phường, chọn ngẫu nhiên đơn người cao tuổi thứ nhất trong
xã/phường. Những người tiếp theo sử dụng kỹ thuật “cổng liền cổng” cho tới
khi đủ cỡ mẫu thì dừng.
Như vậy, mỗi một xã/phường sẽ chọn ít nhất 34 người cao tuổi.
- Mục tiêu nghiên cứu 2:
 Bước 1: Lên danh sách những người cao tuổi mất răng ở các xã/
phường tại tỉnh Bình Dương:
o Thành phố Thủ Dầu 1: phường Phú Thọ, Chánh Mỹ, Phú Mỹ.
o Huyện Phú Giáo: xã An Bình, An Thái, Phước Sang.
o Huyện Bắc Tân Uyên: xã Tân Bình, Tân Mỹ, Lạc An.
 Bước 2: Chọn ngẫu nhiên đơn người cao tuổi mất răng để khám về
tình trạng cung răng, khớp cắn.


25
2.3.4. Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập số liệu bằng việc sử dụng bộ công cụ để phỏng vấn từng người,
và khám răng miệng:
+ Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu để thu thập các thông tin về đặc trưng
cá nhân (tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp trước khi về hưu, học vấn,
chuyên môn, hôn nhân, sống gia đình hay độc thân, kinh tế gia đình, bảo hiểm y
tế, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất, khoảng cách từ nhà đến cơ sở
răng hàm mặt gần nhất), liên quan đến bệnh răng miệng.
+ Khám lâm sàng xác định tình trạng mất răng, đặc điểm của cung răng
khớp cắn ở người cao tuổi.
Bộ câu hỏi phỏng vấn và bệnh án: sử dụng bộ công cụ mẫu của Tổ chức
Y tế Thế giới năm 1997 (bổ sung năm 2013), và điều tra sức khỏe răng miệng
toàn quốc lần 1 năm 1990, lần 2 năm 2000; và mẫu phiếu khám của đề tài.
2.4. Các tiêu chuẩn được sử dụng
2.4.1. Tình trạng mất răng và răng đối
2.4.1.1. Tình trạng mất răng và nhu cầu điều trị
 Tình trạng mất răng
0: Không mất răng
1: Mất răng toàn bộ hàm trên, hàm dưới không mất răng hoặc mất răng
lẻ tẻ
2: Mất răng toàn bộ hàm dưới, hàm trên không mất răng hoặc mất răng
lẻ tẻ
3: Mất răng lẻ tẻ hai hàm
4: Mất răng toàn bộ hai hàm
 Mất răng theo phân loại Kennedy - Applegate
0: Không mất răng


×