Tải bản đầy đủ (.doc) (65 trang)

Đánh giá hiệu quả điều trị ung thư biểu mô khoang miệng tại bệnh viện k hà nội giai đoạn 2009 2013

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 65 trang )

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Các tổn thương của khoang miệng rất phong phú và đa dạng, bao gồm
các tổn thương viêm, các u lành tính (của biểu mô và mô đệm), các u ác tính
(u biểu mô và liên kết ác tính) và các u ít gặp (u hắc tố). Tuy nhiên, trong các
loại tổn thương trên, các u ác tính của khoang miệng được quan tâm hơn cả vì
tần suất bệnh khá cao. Những ung thư biểu mô nguyên phát của khoang
miệng là các u ác tính phát sinh từ biểu mô phủ toàn bộ khoang miệng, bao
gồm: Ung thư môi, lợi hàm trên, lợi hàm dưới, khe liên hàm, khẩu cái cứng,
lưỡi (phần di động), niêm mạc má và sàn miệng. Trên thế giới, ung thư biểu
mô khoang miệng thay đổi tùy theo khu vực, như tại Hoa Kỳ, ung thư khoang
miệng chiếm 30% số ung thư đầu cổ và chiếm khoảng 5% tổng số ung thư.
Tại Việt Nam, theo các số liệu thống kê cho thấy ung thư khoang miệng
chiếm từ 5-10% tổng số các loại ung thư và chiếm 2-3% tổng số các bệnh
nhân tử vong do ung thư, là một trong 10 loại ung thư phổ biến nhất), bệnh
thường gặp ở tuổi trung niên, lứa tuổi đang là nguồn lao động chính của gia
đình, xã hội đồng thời đây là nhóm ung thư có vị trí dễ phát hiện sớm và hầu
hết các ung thư biểu mô thuộc typ ung thư biểu mô vảy và các phương pháp
điều trị chính là phẫu thuật và xạ trị. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về ung
thư khoang miệng song hầu hết là các nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng,
phương pháp điều trị của một loại ung thư của ung thư khoang miệng, do vậy
chưa cho thấy được cái nhìn toàn cảnh của bệnh và cũng ít đề tài đề cập đến
hiệu quả điều trị của toàn bộ các ung thư của vùng này. Bởi vậy, đề tài “Đánh
giá hiệu quả điều trị ung thư biểu mô khoang miệng tại bệnh viện K Hà Nội
giai đoạn 2009-2013” được thực hiện nhằm mục tiêu sau:
1.

Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, giai đoạn bệnh và tỷ lệ ung
thư biểu mô khoang miệng theo vị trí.


2.

Đánh giá kết quả điều trị của các bệnh nhân ung thư biểu mô
khoang miệng tại bệnh viện K Trung ương từ 2009 đến 2013.


2

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Dịch tễ học và nguyên nhân gây bệnh
1.1.1. Dịch tễ học
Tuổi: Thường gặp ở độ tuổi từ 50-60 tuổi. Giới: nam/nữ = 3/1 [35]
Tại Pháp ung thư khoang miệng chiếm từ 11- 16% ung thư ở nam giới,
khoảng 75% ung thư khoang miệng gặp ở nam giới và trong đó 18% là ung
thư lưỡi [51]. Tại Mỹ hàng năm có khoảng 7100 trường hợp ung thư lưỡi mới
mắc. Trên thế giới Ấn Độ là nước có tỷ lệ mắc ung thư lưỡi cao nhất [42].
Theo ghi nhận ung thư của bệnh viện K Hà Nội năm 11995-1996 cho
thấy: tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam: 2,7/100000 dân/ năm, ở
nữ:2,9/100000 dân/ năm. Theo ghi nhận ung thư của trung tâm Ung bướu
thành phố Hồ Chí Minh năm 1997 cho thấy: Tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng
ở nam: 4,0/100000 dân/năm, ở nữ: 2,7/100000 dân/năm[1].
1.1.2. Nguyên nhân gây bệnh
Ở hầu hết các trường hợp ung thư lưỡi không tìm được nguyên nhân
bệnh sinh, tuy nhiên người ta thấy rằng có một số yếu tố nguy cơ liên quan
đến bệnh bao gồm:
+ Hút thuốc lá: Trong thuốc lá có chứa các Nitrosamin là yếu tố gây ung
thư. Nghiên cứu của Gehanno thấy nếu hút 15 điếu / ngày kéo dài 20 năm, nguy
cơ mắc bệnh ung thư cao gấp 5 lần so với người không hút thuốc [50]. Nguyễn

Văn Vi và CS thấy nguy cơ mắc UTL do hút thuốc đứng hàng thứ 3 sau ung thư
môi và niêm mạc má, gặp ở nam giới chiếm tỷ lệ 92,4% [17].


3

+ Rượu: Bên cạnh thuốc lá, rượu cũng là yếu tố liên quan đến UTL.
Theo Nguyễn Văn Vi và CS thấy nguy cơ mắc UTL do rượu đứng hàng thứ 3
sau ung thư môi và niêm mạc má, gặp ở nam giới chiếm tỷ lệ 74,6%[17].
Theo tác giả Brian, nếu hút thuốc và uống rượu thì nguy cơ mắc ung thư đầu
cổ tăng lên 10-15 lần [33].
+ Nhai trầu: Là yếu tố nguy cơ trong ung thư khoang miệng. Người
nhai trầu có nguy cơ mắc cao gấp 4-35 lần so với người không nhai trầu.
+ Tình trạng vệ sinh răng miệng: Vệ sinh răng miệng kém, hàm răng
giả không tốt, răng mẻ kích thích lâu ngày đưa đến dị sản và ung thư.
+ Nhiễm vi sinh vật: nhiễm vi rút HPV đặc biệt là type 2, 11, 16 đã được
chứng minh là thấy nhiều trong những bệnh nhân bị ung thư khoang miệng.
+ Chế độ dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng thiếu vitamin A, E, D, sắt, hoa
quả cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư khoang miệng [25], [19], [42].
Những tiến bộ y học gần đây cho phép con người có những hiểu biết sâu
hơn về cơ chế sinh học phân tử của ung thư. Người ta đó xác định được một số
gen liên quan đến ung thư lưỡi: Gen Bcl-2, Bax, P53 [35], [29], [39], [45].
1.2. Phân loại và bệnh học u khoang miệng
1.2.1. U lành tính
1.2.1.1. U nhú
U nhú miệng là loại u phổ biến nhất trong các u khoang miêng. Trong
vài thập niên mới đây, người ta thấy khoang miệng cũng là nơi có những tổn
thương do các loại virus sinh ra u nhú ở người (HPV) gây ra và cách tiến triển
cũng tương tự như ở nhiều HPV ở đường sinh dục như mụn cơm thông
thường (verruca vulgaris), conđilôm nhọn đỉnh (condyloma ), u nhú vẩy

(squanous papilloma) và những năm gần đây, người ta đã mô tả loại condilôm
phẳng (condylome planus) của lưỡi những đàn ông đầy tính luyến ái (u


4

thường ở dọc theo bờ bệu của lưỡi). Tuy nhiên, nguyên nhân do HPV cũng
chưa được khẳng định trong mọi trường hợp vì sao có những trường hợp xét
nghiệm HPV âm tính. U gặp ở mọi lứa tuổi song thường ở người lớn.
a. Đại thể: U biểu hiện dưới dạng các nhú lồi lên như mụm cơm, không
đau, đường kính thường dưới 1cm song cũng có thể lớn hơn 3cm, mầu hồng
trắng tuỳ mức đồ sừng hoá. U có thể đơn độc hay nhiều, thường gặp ở mặt
trong má trên lưỡi, vòm khẩu cái, lợi và môi. Mật độ u mềm hay chắc.
b. Vi thể: Các nhú (có thể phân nhánh) có biểu mô phủ loại vẩy, quá
nhiều tầng, dầy lớp gại rõ và ít nhiều sừng hoá hay á sừng bao quanh một lõi
liên kết xơ giầu mạch, có xâm nhập kín đáo – tương bào. Không có sự đảo lộn
của lớp tế bào vẩy cũng như tính không điển hình tế bào mà có thể bị loét,
nhiễm canđida ở miệng. Trong những u bội nhiễm, cơ thể đội khi những thay
đổi của biểu mô tái tạo cho cơ quá sản tế bào đáy, dầy lớp gai với tế bào vằng
không điển hình (hiếm có loại sản rõ) khó phân biệt với một ung thư biểu mô
nhiễm trùng.
c. Chẩn đoán phân biệt:
- Mụm cơm thông thường (verruca nilgarin hay common wart): ít gặp ở
vùng miệng, ở trẻ em, thường gặp ở môi có thể lấy nhiều virus từ một tổn
thương da. Nếu không phát hiện được có thể trong thế bào vẩy, rất khó chẩn
đoán phân biệt với các u nhú khác.
- Conđilôm nhọn đỉnh: Giống ở cơ quan sinh dục, ở miệng, có thể thấy
một hay nhiều u nhú nhọn định. Không thể chẩn đoán phân biệt với các loại u
nhú khác nếu không có á sừng và các tế bào bóng không điển hình như ở cơ
quan sinh dục.

- Bệnh u nhú đường thở tiêu hoá trên: Thường do nhiễm HPV (típ 6,11)
ở trẻ em, gồm nhiều tổn thương u nhú, thường có vị trí ưu tiên là thanh quản
tuy cùng gặp ở miệng.


5

- Quá sản như viêm hay bệnh u nhú vóm miệng: Là tổn thương lành
tính, thường gặp ở vòm miệng những người có hàm răng giả và biểu hiện về
đại thể bằng những tổn thương hoại cục (nốt) hoặc lát sỏi hơn là nhú.
- Quá sản biểu mô từng ổ (bệnh Heck): Trên lâm sàng, bệnh biểu hiện
bằng một nhú lồi nhạt, có cuống, khu trú rõ của viêm mạc miệng, tuy không
liên quan ưng thư nhưng rất hay gặp ở những người gốc Mỹ và Eskimô.
- Quá sản nhú viêm (quá sản giả ung thư biểu mô): Có thể gây ra do
răng giả tồi, răng sắc nhọn làm rách và vệ sinh răng miệng tồi. Trên 80% các
tổn thương này xẩy ra ở vòm miệng: niên mạn, gây quá sản mạch tế bào vẩy
tạo ra những xuống không đều và khi phát triển rất mạnh, có thể bị xoắn vặn
thành những tế bào vẩy, thậm chí tách thành những đám nhỏ tế bào vẩy riêng
biệt trong các tế bào mềm dầy đặc làm ngộ nhận một ung thư biểu mô vẩy.
Tổn thương trên sẽ hết nếu giải quyết được nguyên nhân gây viêm hoặc điều
trị hết viêm.
1.2.1.2. U tế bào hạt
Loại u này gặp chủ yếu ở lưỡi dưới dạng các cục nhỏ ranh giới không
rõ. Tế bào u to, nhân nhỏ, đặc nằm ở giữa tế bào; bào tương ưa acid, có hạt
nhỏ hay hốc háo. Mặc dầu lành tính, ở người lớn, u thường có quả sản mạnh
biểu mô vẩy, có thể làm chẩn đoán nhầm với ung thư biểu mô vẩy.
1.2.1.3. U dây thần kinh
Là loại u không phổ biến ở vùng miệng, có thể gặp ở lưỡi, môi, niêm
mạc vùng cổ, thậm chí quanh amidan.U thần kinh đám rối của môi và lưỡi là
bộ phận cấu thành của hội chứng Sipple, chủ yếu được xếp vào nhóm u tế bào

ưa crôm ở một hoặc cả hai bên của tuỷ thượng thận mà đôi khi, vào bệnh u xơ
thần kinh của Von Reckling Hausen.


6

1.2.2. Tổn thương tiền ung thư
Tổn thương tiền ung được coi là tổn thương mà ở đó sự phát triển về
thành ung thư trở thành phổ biến. Ở viêm mạc miệng, các vết bạch sản, hồng
sản, đặc biệt ở những người nghiện thuốc lá, nghiện rượu, được coi là tổn
thương tiền ung thư.
1.2.2.1. Bạch sản (leucoplakia)
Là một thuật ngữ lâm sàng được Pinhong và cs (1968) định nghĩa như sau:
Một đốm hay mảng trắng, đường kính không dưới 5mm không thể tẩy
sạch và không thể xếp loại vào một bệnh nào khác của miệng. Theo những
thống kê rộng rãi, tỉ lệ tổn thương bạch sản ở vùng miệng gặp từ 1-6% (tuỳ
nước) thường liên quan thuốc lá, rượu, ăn trầu, các bệnh của răng mất vệ sinh
hoặc đánh răng quá mức... sống ở nhiều bệnh nhân, không thấy rõ nguyên
nhân. Khoảng 6% các bạch sản sẽ có biến đổi thực sự ác tính về sau, được
phát hiện trên bệnh phẩm sinh thiết làm đầu qua theo dõi bệnh nhân hàng
chục năm.
Bạch sản thường gặp ở người từ 50-70 tuổi và ở nam nhiều hơn ở nữ,
không có triêụ chứng hay chỉ biểu hiện bằng một vùng ở bất kể chỗ nào của
miệng nhưng hay gặp ở rãnh lợi miệng và những định vị dễ có nguy cơ loạn
sản và ung thư biểu mô vẩy là sản miệng, mặt bụng bên ngoài lưỡi và môi.
Tổn thương có thể khu trú hay lan toả, có thể không sờ thấy hoặc biểu hiện
như những vùng trong mờ, tối, dầy lên hoặc những vết rạn, cứng bề mặt tổn
thương bạch sản thường hơi nhăn nhúm, như có loại sờ có cảm giác ráp vì hơi
xù xì. Một số tổn thương khác là phần hoặc có ránh sâu, hoặc dạng mụn cơm,
đôi khi mầu xám, vàng trắc và ở người nghiện thuốc lá, mầu nâu vàng. Những

tổn thương nhỏ, lấm chấm đỏ, bờ không rõ hoặc đầy , có vết rạn cũng có nguy
cơ loạn sản và ung thư cao hơn; chúng cho phép sự báo khả năng biết đổi ung
thư sớm nên dù không cóbiểu hiện lâm sàng nào nổi bất, nhất thiết phải coi


7

sinh thiết là bắt buộc. Pindlong và cs chia bạch sản làm 2 típ: loại lốm đốm
vàc loại đồng nhất, ở loại tổn thương trên 60% số trường hợp có hội nhiễm
cadidan cllbicaus
1.2.2.2. Hồng sản (Erythroplaka)
Được Querat mô tả lần đầu tiên ở đầu dương vật của người đứng tuổi bị
giang mai và sau đó được mô tả ở âm hộ và ở miệng những người không bị
giang mai.
Tổn thương hồng sản được công nhận là tổn thương tiền ung vì trên
sinh thiết thấy có tổn thương loại sản hay tân sản nội biểu mô. Theo định
nghĩa của Tổ chức y tế thế giới, đây là “tổn thương viêm mạc miệng biểu hiện
như những mảng nhung đỏ sáng không thể có đặc điểm về lâm sàng hay giải
phẫu bệnh như bất kỳ một tình trạng nào khác”. Chẩn đoán lâm sàng hồng sản
là một chẩn đoán loại trừ vì ở miệng, có nhiều bệnh sinh ra tổn thương mầu
đỏ như nêu dưới đây:
* Tổn thương lành tính: U huyết quản, viêm lợi mạn, viêm hạt ưa acid,
viêm hạt tế bào khổng lồ ngoại vi, viêm hạt sinh mủ, viêm hầu giữa hình
trám, bệnh Candidaman.
* Tổn thương tiền ung thư, ung thư: nuốt khó, thiếu sắt, hồng sản và
ung thư biểu mô vẩy, u và bệnh bạch cầu, sacôm kaposi.
Định nghĩa về hồng sản không chỉ ra đó là một chẩn đoán mô bệnh
nhưng hầu hết các tổn thương này trên sinh thiết được chứng mình là loạn sản
vẩy hay ung thư biểu mô vẩy và yếu tố nguy cơ hồng sản cũng là của ung thư
biểu mô vẩy.

Đa số tổn thương hồng sản không có triệu chứng, thường có mầu đỏ
sáng thuần nhất hoặc biểu hiện dưới dạng những chấm, mảng như nhung đôi
khi nổi cục ở bề mặt hoặc là những chấm trắng hoặc vàng do sừng hoá trên
một nền đỏ. Khi có sự pha trộn các vùng trắng và đỏ thì gọi là hồng sản đốm


8

và những tổn thương có đốm đỏ sẽ có tỷ lệ ác tính cao. Bệnh thường gặp ở
người 60-70 tuổi, không có ưu tiên giới, hay gặp ở sàn miệng, trụ trước vòm
miệng mềm, phức hợp sau răng hàm, bờ bụng bện mặt sau. 2/3 lưỡi và đó là
những định vị có nguy cơ cao với ung thư biểu mô vẩy. Chính vì thế, khoảng
90% những bệnh phẩm sinh thiết ở những nơi này cho thấy có ung thư biểu
mô vẩy xâm nhập, ung thư biểu mô tại chỗ hoặc loạn sản nặng. Số còn lại
(10%) là các tổn thương loạn sản nhẹ và vừa. Cần lấy hết tổn thương hồng sản
để kiểm tra vi thể mối có chẩn đoán chắc chắn.
1.2.2.3. Nuốt khó thiếu sắt (hội chứng Paterson kelly hay hội chứng Plummer
Vinson)
Là bệnh có biểu hiện thiếu máu, thiếu sắt, viêm gây khó nuốt, viêm
thanh hầu, loét họng thực quản hay gặp ở phụ nữ trong khoảng 40-50 tuổi.
Ngoài thiếu máu, bệnh nhân thường có những vết nứt, rạn ở góc miệng; lưỡi
nhăn, đỏ, đau, teo vỡ sau lại nhú lên dạng nấm, xuất hiện bạch sản và khó
nuốt do co thắt hay hẹp thực quản. Bệnh nhân có nguy cơ mắc ung thư ở hốc
miệng, ở họng, phần thực quản trên.
1.2.2.4. Xơ hoá hạ niêm mạc miệng
Là bệnh mãn tính thầm lặng ở vùng Đông Nam á, có thể do ăn trầu và
là tai kích thích. Ban đầu xuất hiện viêm, về sau có lãng đọng chất tạo keo ở
hạ niêm mạc. Tổn thương có thể phát triển ở bất kỳ nơi nào của miệng, đôi
khi cả ở họng dần tối mất di động, co cứng hàm (chứng khít hàm – Trismus)
khiến bệnh nhân không ăn được, tổn thương có xu hướng tiến triển thành ung

thư biểu mô ở miệng.
1.2.3. U ác tính nguyên phát
Cũng như nhiều u khác, u ác tính của khoang miệng tuỳ thuộc vào cuộc
đấu tranh giữa u và cơ thể bệnh nhân song thời gian sống thêm trung bình sau
khi phát hiện bệnh thường từ 12-16 tháng. Dù vị trí khác nhau, các u này


9

thường có đặc điểm chung về hình thái học, giải phẫu bệnh học tiến triển...
Tuy nhiên, tính riêng biệt của từng loại u giúp định hướng chính xác cách
điều trị.
Ung thư khoang miệng thường có ảnh hưởng sớm đến các chức năng
nhai, nuốt và nói. Những di chứng sau điều trị vẫn khá nặng nề và phẫu thuật
sửa chữa, phục hồi kể cả thẩm mỹ cóthể làm dịu bớt. Do đó, chẩn đoán sớm
luôn luôn là vấn đề quyết và phải được giải quyết thuộc phạm vi chuyên khoa.
1.2.3.1. Ung thư biểu mô tại chỗ
Ung thư biểu mô vẩy tại chỗ thường là tiền thân của ung thư xâm nhập
ở miệng. Ngươì ta còn chưa biết rõ tần suất cũng như thời gian tiến triển của
nó. Tổn thương, thậm chí đã tiến tới vi xâm nhập, thường có thành phần mầu
đỏ là những tổn thương mới trên lâm sàng có thể nhìn thấy được khi không có
triệu chứng. Nắn cứng là đã xâm nhập.
Tổn thương mô bệnh học của ung thư biểu mô tại chỗ vùng miệng chủ
yếu giống với loại tương ứng ở các màng niêm mạc khác, đặc biệt ung thư cổ
tử cung; cấu trúc biểu mô lộn xộn (đảo lộn) dầy lên và có tính không điển
hình của tế bào vẩy khá rõ, lớp bề mặt không dẹt nữa và cũng không bị kéo
dài theo chiều ngang trong khi màng đáy vẫn nguyên vẹn. Khi sinh thiết phát
hiện có ung thư tại chỗ, cần tính đến khả năng nó chỉ là tổn thương ở ngoại vi
của một ung thư biểu mô xâm nhập
1.2.3.2. Ung thư biểu mô xâm nhập

- Khoảng 96% các ung thư xâm nhập ở vùng miệng là ung thư biểu mô
và dù ở bất cứ nơi nào của miệng, hầu như chỉ ung thư biểu mô vẩy (dạng
biểu bì) nên trên thực tế, ung thư biểu mô niêm mạc miệng hầu như đồng
nghĩa với ung thư biểu mô vẩy. Ung thư biểu mô tuyến rất hiếm. Nguyên
nhân chưa được nghiên cứu sâu. Ngoài những tổn thương tiền ung đã nêu,
bệnh Bovine, hiếm ở miệng, biểu hiện bằng những chấm tròn hay nhiều thuỳ,


10

mầu đỏ sẽ phát triển thành ung thư sùi, loét, thuốc lá và rượu được coi là
nguyên nhân chính qua rất nhiều bằng chứng thống kê và điều tra dịch tễ học
ở nhiều nước. Tỷ lệ mắc ung thư tăng lên theo liều lượng và thời gian hút
thuốc, uống rượu. Virus EBV có liên quan u và ung thư biểu mô mũi họng,
nhất là loại không biệt hoá nhưng ít liên quan ung thư biểu mô vẩy ở miệng.
Vius cự bào chủ yếu liên quan sacôm Kaposi. Còn một số tip HPV ngoài gây
u đường sinh dục, có thể kết hợp gây u nhú đường tiêu hoá - hô hấp trên vôi
ung thư biểu mô vẩy, kể cả loại dạng mụn cơm. Virus ecpet đơn giản cũng
thấy có liên quan với ung thư môi. Nhiễm candida mạn tính, giang mai được coi
là yếu tố thúc đẩy hơn phát sinh ung thư. Một số tác giả cũng đã chứng minh có
những sai lệch, di tật của nhiễm sắc thể cũng như việc sắp xếp lại các nhiễm sắc
thể (ví dụ khuyết tật ở nhiễm sắc thể 3p, 19) biến dị của p53 và yếu tố cụ thể
biểu bì tăng quá mức cũng có vai trò quan trọng trong tạo ung thư ở miệng.
- Vị trí: Có thể ở mọi nơi trong miệng: Theo M.C Fasland M và ở Mỹ
năm 1996 có 29.600 ung thư hốc miệng và họng với 90% là ung thư biểu mô
vẩy của miệng, họng có tỷ lệ sống thêm 5 năm là 53% ung thư là ở lưỡi là
30%, 17,09% ở môi và 16,4% ở sâu miệng ung thư biểu mô có tỷ lệ tử vong
cao nhất ở lưỡi, thấp nhất ở môi và tỷ lệ ung thư ở khoang miệng gấp 3 lần ở
họng (47% so với 17%) nhưng theo tài liệu của Ackerman’s Surgical
pathology, ung thư biểu mô miệng họng được xếp loại định khu (tuỳ vị trí

xuất phát) như sau:
+ Môi, bao gồm bề mặt đỏ kể cả môi trên và dưới, nơi tiếp giáp nhau ở
vùng mép.
+ Sàn miệng: vùng hình chữ u có ranh giới là lợi dưới và phần lưỡi miệng.
+ Lưỡi miệng: Đoạn của lưỡi trước tới quanh chân nhú.
+ Niêm mạc miệng: phủ mặt trong má, môi.


11

+ Lợi (rìa hốc): niêm mạc phủ hàm dưới xương hàm từ rãnh lợi miệng
tới gốc của niêm mạc di động.
+ Vùng tam giác sau răng hàm: một diện nhỏ hình tam giác nằm sau
sương hàm thứ ba phủ nhánh lên các hàm dưới.
+ Vòm miệng cứng: một vùng bán nguyệt nằm giữa bờ hốc trên và
màng niêm mạc phủ đuôi vòm miệng của các xương hàm.
+ Đáy lưỡi.
+ Vùng amidan: gồm các cột amidan trước, sau và hố amidan.
+ Vòm mềm.
+ Vách họng.
Trên những thống kê lớn tại các bệnh viện Anderson, Houston, Texas
các định vị u lần lượt như sau: lưỡi 45%, sàn miệng: 16%, niêm mạc miệng:
10%, lợi dưới: 12%, lợi trên và vòm cứng: 15% []. Trong các u của môi, trên
90% u là ở môi dưới. Nghiên cứu kỹ các ung thư biểu mô vẩy của miệng có
triệu chứng sớm, Mashberg và cs (cancer 2149-2157, 1976) đã thống đại đa
số ung thư biểu mô của khoang miệng xẩy ra ở 3 vị trí [].
+ Sàn miệng (đặc biệt ở nhú và lỗ ra ống Warton).
+ Phức hợp sau xương hàm – trụ trước – vòm miệng.
+ Hình thái bụng bên của phần di động ở lưỡi.
- Biểu hiện lâm sàng của ung thư biểu mô vẩy

Theo Anderson’s Datthology (1996), có thể thấy 11 nhóm triệu chứng
của ung thư biểu mô vẩy vùng khoang miệng và họng như sau.
+ Có loét niêm mạc, bờ loét nhấp nhô, nếu bét cứng hoặc loét lan tối cơ
xuơng hàm.
+ Một u lồi lên, phần lớn u lan ra ngoài nền u.
+ Một u lồi vào trong, cố định các cơ quan, mô ở phía dưới (xương
chẳng hạn).


12

+ Vết thương không lành được (ban đầu không đau, khi cơn đau hành
hạ, thường đã có xâm lấn dây thần kinh).
+ Hạch to không đau, hạch to chắc do di căn ung thư và cũng với thời
gian, hạch sẽ cố định mô kế cận (do xâm lấn).
+ Bị chứng cứng khít hàm (trismus) có đau (làm hạn chế há miệng);
không kết hợp, xẩy ra khu ung thư ở phần sau lưỡi hay sau miệng xâm lấn cơ
nhai, đặc biệt cơ chân bướu (pterygoid) trong.
+ Chứng hồng sản.
+ Chứng bạch sản, đặc biệt ở lưỡi, sàn miệng, môi.
+ Răng lung lay không giải thích được do bệnh quanh chân răng chỉ ra
khả năng có ung thư biểu mô của lợi hay niêm mạc ở răng.
+ Ngạt mũi một bên hay chẩy mũi, phù một bên hoặc phình một bên bờ
hốc hàm, vòm, nếp viêm mạc miệng hoặc mặt dưới, mặt bên mặt (có thể chỉ
điểm một ung thư biểu mô vẩy đã muộn của xoang hàm).
+ Đau họng, khàn tiếng, khó nuốt, có cảm giác có khối u ở họng, chẩy
máu cam, đau nhói một bên tai họng cổ hoặc đau khi lưỡi cử động (đó là
những dấu hiệu lâm sàng kèm cả ít nhiều đặc điểm đại thể… Ngoài những
biểu hiện lâm sàng kèm cả ít nhiều đặc điểm đại thể vừa nêu trên, Cabanne và
cs nêu: khi điển hình, tổn thương là một vết loét xâm nhập có chẩy máu khi sờ

nắn thì không khó chẩn đoán vì gợi ngay tính chất ác tính. Tuy nhiên, các tác
giả này lưu ý là ung thư vùng miệng luôn có tính đa hình thái về đại thể, dễ bị
nhầm khi u còn mới, do đó nhất thiết phải làm sinh thiết và cố gắng lấy đủ
mọi tổn thương vùng miệng, họng dù là vết sước, vết loét hay tổn thương xâm
nhập những tổn thương có thể coi là mới.
- Xạ chảy máu, nguỵ trang một cục thịt, khu trú tương đối rõ ở niêm mạc.
- Vết sước nhỏ nứt nẻ.
- Vết sước nhỏ ở lợi, nơi cắm răng.


13

- Ung thư nhỏ của họng ẩn náu trong một nếp niêm mạc rất khó phát
hiện bằng các kỹ thuật nội soi.
- Ung thư bề mặt: thường tiến triển thầm lặng, không đau, có thể dưới
dạng sước loét không điển hình, một nụ giả một bệnh u nhú quá sừng, tái
phát, lan rộng ở bề mặt.
Ngoài những tổn thương như đã nêu, thông thường về hình thể, ung thư
khoang miệng loại biểu mô vẩy cũng tương tự loại tương ứng ở các định vị
khác, biểu hiện dưới 3 hình thái: loét, sùi và loét sùi.
* Thể loét: thường gặp nhất, bờ thường không đều, cứng, lồi lên đôi khi
bị lộn. Bên ngoài (bờ ngoài) chỉ có niêm mạc xung huyết hay có vẻ lành phủ,
mái trong loét thẫm máu đỏ), kéo tới tận đáy loét, nham nhỏ, sùi, động chạm
vào dễ chẩy máu, đôi khi dính chất hoại tử. Loét trên một nền cứng, chứng tỏ
u đã xâm nhập và tuỳ độ lan rộng có thể cố định cơ quan kế cận, gây co kéo.
Khi sờ nắn trong miệng, cần đánh giá đúng ranh giới u bởi vì cách xử trí và
tiên lượng tuỳ thuộc mức. Đôi khi vết loét có hình thái nứt kẽ dấu trong nếp
gấp niêm mạc như ở rãnh chân lưỡi nên khó thấy.
* Thể sùi: ít gặp hơn thể loét, biểu hiện dưới dạng các nụ thịt thường
gặp ở niêm mạc lành, cứng không bằng thế loét thường gặp ở màn hầu, má.

* Thể sùi loét: gồm cả 2 đang tổn thương trên, song điều đáng chú ý là
sự lấn sâu ở lưỡi.
- Ung thư biểu mô dạng đáy: U có nguồn gốc từ tế bào đáy, tiến triển
chậm, tiên lượng tốt, ít di căn nhưng dễ tái phát. Bệnh cần chẩn đoán phân
biệt với u tế bào nhỏ của tuyến nước bọt và u men răng ngoại vi.
- Ung thư biểu mô tế bào hình thoi (dạng sacom): U có thể xuất hiện
như một khối loét, xâm nhập hay một u dạng polip ở môi, lưỡi, hay những
phần khác của khoang miệng.


14

1.3. Các hình thái tiến triển
Hình thái tiến triển của ung thư khoang miệng thường phụ thuộc vào định
khu u nguyên phát, các điểu kiên xâm nhập mô kế cận, cách xâm lấn (1hay cả 2
bên) các nhóm hạch bạch huyết khác nhau (dưới hàm.dưới cằm,dưới cơ nhị
thâm, vai móng, cạnh cổ,cổ ngang và tủy sống ). Ở nhiều nước thường ngày lần
khám đầu tiên đã phát hiên hạch to có trước đó do di căn.
- Ung thư môi: Gặp ở môi dưới với tần suất 10 lần nhiều hơn ở môi
trên, thường ở vùng phân cách niêm mạc với da và tiến triển theo kiểu ung
thư da, nếu phát triển theo phía bờ da của môi còn. Khi phát triển theo bờ
niêm mạc thì dễ có di căn hạch cổ. Khi tổn thương ở mép và lan dọc bó mạch
thần kinh về phía cằm thì tiên lượng tồi.
- Ung thư biểu mô niêm mạc miệng: Rất hay gặp ở vùng đối diện răng
hàm dưới đặc biệt khi sâu răng. U tiến triển chậm trừ khi phát triển về phía
mép và cụcmỡ bichat, thường di căn theo nhóm hạch bạch huyết dưới cằm và
nhóm hạch cổ trên sâu, tần suát thay đổi:10-15% mọi ung thưi miệng ở châu
âu Bắc Mỹ, trên 50% ở Ấn Độ, Philippin.
- Ung thư biểu mô lợi: Được coi như ung thư biểu mô xương vi xâm
lấn rất sớm xương hàm, vị trí ưu tiên ở 1/3 sau và hay ở dưới hơn ở trên, ung

thư biểu mô của lợi dưới được coi là loại ung thư biểu mô vùng sau cổ. Loại u
này có thể xâm nhập mô dưới da đặc biệt là hố chậu hướng hàm và theo các
cơ châu bướm, gây chứng cứng khít hàm.Hạch to thường gặp ở dưới hàm,
cạnh cổ. Ung thư biểu mô của lợi trên có thể lan tới rãnh lợi cổ trên và đôi khi
xoang hàm. Hạch to thường xuất hiện muộn và ở dưới hàm.
- Ung thư biểu mô lưỡi: Chia làm 2 nhóm:
+ Loại ở phần di động(2/3 trước), tiên lượng tốt , trừ khi mọc ở các bờ
tiếp giáp tuyến niêm mạc hoặc ở mặt dưới theo hương sàn miệng


15

+ Loại ở phần đáy(1/3 sâu, sau V lưỡi) tiến triển đáng sợ do lan về phía
lưỡi thanh thiệt và hầu như bao giờ cũng nổi hạch to, lan dần ở dưới cơ nhị
than va được coi như một ung thư biểu mô miệng họng. Cần nhớ là ở vùng V
lưỡi, việc phân biệt một ung thư biểu mô vùng đáy với quá sản biểu mô của
amidan lưỡi không phải bao giờ cũng dễ dàng.
- Ung thư biểu mô sàn miệng: Hầu như bao giờ cũng ở bên đường giữa
lan nhanh dọc theo các tuyến và cơ dính vào mỏm xương gối.Tường có sớm
va cả 2 bên hạch cổ to.
- Ung thư biểu mô vòm miệng: Thường xuất hiện ở trên màn hầu và các
bờ của nó hơn là ở trên vòm hầu và trái với các u của các tuyến nước bọt nhỏ, u
liên quan chủ yếu đến vòm cứng. Ung thư xâm nhập theo kiểu kế cận đặc biệt
xương và các cấu trúc kề bên. Hạch to thường ở 2 bên và có chọn lọc, vùng
dưới cơ nhị than đối với ung thư màn hầu và rất hiếm với ung thư vòm hầu.
- Ung thư biểu mô amidan: Thường phát sinh và biểu mô lót, các vách
của amidan, các cột và rãnh của amidan, hầu hơn là là biểu mô phủ thực sự
các cột và rãnh amidan và các khe.
- Ung thư biểu mô họng: Bao gồm toàn bộ những dịch vị ở vùng họng
có chung cáu trúc mô học( thương tip kém biệt hóa) và xâm nhạp mạnh va có

xu hướng sâm lấn sớm các hạch bạch huyết vùng cổ trên và giữa, khả năng di
căn mạnh, tiên lượng xấu.
1.4. Chẩn đoán
1.4.1. Chẩn đoán xác định
Để chẩn đoán ung thư lhoang miệng cần phải kết hợp nhiều phương pháp
như hỏi kỹ bệnh sử, thăm khám lâm sàng một cách tỉ mỉ, phối hợp với cận lâm
sàng, đặc biệt là sinh thiết vùng rìa tổn thương để làm chẩn đoán mô bệnh học.


16

1.4.2. Chẩn đoán giai đoạn
Trong các ung thư khoang miệng, ung thư lưỡi chiếm đa số, theo hiệp
hội quốc tế chống ung thư ( UICC) năm 2002 ung thư lưỡi được phân loại
như sau: [44]
T: U nguyên phát
+ Tx: không đánh giá được u nguyên phát.
+ To: không có u nguyên phát.
+ Tis: ung thư biểu mô tại chỗ.
+ T1: đường kính u ≤ 2cm.
+ T2: 2cm < đường kính u ≤ 4cm.
+ T3: đường kính u >4cm.
+ T4a: u xâm lấn lan rộng ra cơ quan lân cận: vỏ xương hàm dưới, trụ
trước amydal, cơ lưỡi, da, xương hàm.
+ T4b: U xâm lấn lan rộng ra xoang bướm, nền sọ, động mạch cảnh trong.
N: Hạch vùng
+ Nx: Không xác định được hạch vùng
+ No: Không di căn hạch vùng
+ N1: Di căn 1 hạch duy nhất cùng bên≤ 3cm
+ N2: N2a: 3cm < di căn 1 hạch duy nhất cùng bên đường kính ≤6cm.

N2b: Di căn nhiều hạch cùng bên đường kính ≤6cm
N2c: Di căn hạch 2 bên hoặc hạch đối bên đường kính≤6cm
+ N3: Hạch di căn đường kính >6cm.
M: Di căn xa
Mx: Không đánh giá được tình trạng di căn xa.
Mo: Chưa di căn xa
M1: Có di căn xa


17

Giai đoạn bệnh:
+ Giai đoạn 0: TisNoMo
+ Giai đoạn 1:T1NoMo
+ Giai đoạn 2: T2NoMo
+ Giai đoạn 3: T3NoMo
T1,2,3N1Mo
+ Giai đoạn 4: T4N0,1M0
Bất kỳ T, N2,3M0
Bất kỳ T, bất kỳ N, M1
1.5. Điều trị
1.5.1 Phẫu thuật
* Đối với u nguyên phát
- T1: cắt rộng u, đảm bảo diện cắt cách rìa u >1cm, nếu cóđiều kiện làm
sinh thiết tức thì diện cắt.
- T2, T3(UTL): Phẫu thuật cắt lưỡi bán phần+ vét hạch cổ.
- T4: Tùy theo tình trạng bệnh nhân có thể phẫu thuật rộng rãi: cắt nửa
lưỡi + cắt nửa sàn miệng+ cắt xương hàm dưới+/- tạo hình sàn miệng bằng
vạt da cơ có cuống mạch máu nuôi thì I hoặc II + vét hạch cổ.
- Hiện nay đối với giai đoạn T3, T4 thì điều trị hóa chất trước phẫu

thuật nhằm mục đích thu nhỏ kích thước u sau đó phẫu thuật cắt nửa lưỡi +
vét hạch cổ.
* Đối với hạch vùng:
- Vét hạch triệt căn: bao gồm vét tất cả các nhóm hạch, cắt cơ ức đòn
chũm, cơ nhị thân, tĩnh mạch cảnh trong, thần kinh gai, tuyến dưới hàm.
- Vét hạch chức năng: giữ lại một hoặc nhiều cấu trúc mà trong vét
hạch triệt căn phá hủy, đồng thời vẫn lấy được các vùng hạch.
- Vét hạch chọn lọc: chỉ quan tâm đến vét một hoặc vài nhóm hạch.


18

- Đối với hạch không sờ thấy trên lâm sàng: chỉ cần vét hạch chọn lọc
là đủ (vét hạch nhóm I, II, III vì tỉ lệ di căn thường gặp ở nhóm I và II).
- Đối với hạch sờ thấy trên lâm sàng:
+ Kích thước hạch ≤ 3cm thì vét hạch cổ chức năng.
+ Kích thước hạch >3cm thì vét hạch cổ triệt căn vì người ta thấy rằng
trong trường hợp này khoảng 80% hạch đó bị phá vỡ vỏ nên việc bóc tách vỏ
hạch ở tĩnh mạch cảnh trong hoặc thần kinh nhóm gai là nguy hiểm.
+ Hạch cố định, dính nhiều vào tổ chức xung quanh không có khả năng
phẫu thuật thì hóa trị hoặc xạ trị trước sau đó xét khả năng phẫu thuật.
Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh ung thư lưỡi với
mục đích điều trị triệt căn cần phải phẫu thuật rộng để lấy hết tổ chức ung thư
đôi khi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh: Ảnh hưởng đến
thẩm mỹ, chức năng nhai, nuốt, nói… của bệnh nhân[2],[19],[51].
1.5.2. Xạ trị
* Xạ từ ngoài vào (máy Cobalt 60, máy gia tốc):
- Xạ trị đơn thuần
Áp dụng trong các trường hợp ung thư lưỡi giai đoạn III, IV không còn
chỉ định phẫu thuật. Mục đích của xạ trị là phân bố một liều xạ để điều trị triệt

căn khối u và hạch, không gây ra các biến chứng nặng cho người bệnh.
Liều xạ tại u là 70Gy, liều xạ dự phòng hạch cổ nếu hạch không sờ thấy
trên lâm sàng là 50Gy. Khi hạch sờ thấy trên lâm sàng thì xạ trị dự phòng toàn
cổ 50Gy, nâng liều tại vùng hạch sờ thấy trên lâm sàng đến 60 - 70Gy.
- Xạ trị hậu phẫu
Tại u: khi phẫu thuật triệt căn liều xạ hậu phẫu trung bình 50Gy, khi
phẫu thuật tiếp cận liều xạ trung bình 70 Gy. Phân liều 9Gy đến 10Gy tuần,
1,8- 2 Gy ngày, 5 ngày / tuần.


19

Tại hạch: xạ trị toàn hạch cổ 45 - 55Gy, nếu hạch đó phá vỡ vỏ thì nâng
liều từ 10 - 15Gy trên vùng hạch đã phá vỡ vỏ.
* Xạ trị tại chỗ (xạ trị áp sát): nguồn phóng xạ thường đặt hoặc cắm vào các
mô ung thư, các dạng hay dùng như kim Radium 226 sợi Iridium 192
- Thường chỉ định điều trị kết hợp xạ ngoài với xạ áp sát trong các
trường hợp nhằm điều trị triệt để.
Xạ trị đóng vai trò điều trị triệt căn hoặc bổ trợ trong điều trị bệnh ung
thư lưỡi, tuy nhiên cũng gây ra một số tác dụng phụ như khô miệng, viêm
miệng, sạm da, cháy da, lột da, khít hàm…[14],[33],[24],[42],[43].
1.5.3. Hóa chất
- Áp dụng với giai đoạn muộn.
Có thể dùng đường toàn thân hoặc đường động mạch lưỡi, có thể đơn
hóa chất hoặc đa hóa chất. Các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng đa hóa chất
cho kết quả đáp ứng tốt hơn [2].
+ Điều trị phối hợp đa hóa chất: Cisplatin + 5FU
Ngày đầu: Cisplatin 100mg/m2 da
Ngày 1-5: 5FU 1000mg/m2 da.
Chu kỳ 21-28 ngày.

+ Điều trị đơn chất: 5FU 1000mg/m2 da/ngày trong 7 ngày.
- Ngoài phác đồ CF, cũng có nhiều phác đồ khác tuy nhiên đối với ung
thư đầu cổ áp dụng phác đồ CF thấy kinh tế và hiệu quả[2],[18].
- Sau hóa chất: đánh giá lại u và hạch để quyết định điều trị tiếp theo
bằng PT hoặc tia xạ hoặc phối hợp cả PT và tia xạ.
1.5.4. Điều trị tái phát
- Tại u: Xét khả năng phẫu thuật và xạ trị hoặc phối hợp phẫu thuật và xạ trị.
- Tại hạch: Xét khả năng phẩu thuật và xạ trị hoặc phối hợp phẫu thuật
và xạ trị.


20

1.6. Một số yếu tố tiên lượng:
- Trên thế giới có rất nhiều tác giả ở các trung tâm nghiên cứu ung thư đã
đưa ra các yếu tố tiên lượng khác nhau. Các yếu tố tiên lượng được nhận định
bằng sự phân tích từng yếu tố, các yếu tố này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.
* Kích thước u: kích thước u càng lớn thì tiên lượng càng xấu. Theo
nghiên cứu của Myers[31], tỉ lệ sống thêm 2 năm cho những BN có kích
thước u T1, T2 là 93% so với những bệnh nhân có kích thước u T3, T4 là
43%. Theo nghiên cứu của Decroix [24],[49]. tỉ lệ sống thêm 5 năm với T1 là
80%, T2 là 56%, T3 là 25%. Theo nghiên cứu của viện Memorial thì tỉ lệ
sống thêm 5 năm với T1 là 70%, T2 là 61%, T3 là 10%. Vì vậy những khối u
có kích thước lớn thì đi kèm theo thời gian sống thêm giảm.
* Độ xâm lấn của hạch cổ di căn: độ xâm lấn của hạch càng lớn thì
tương ứng với tỉ lệ sống thêm giảm. Theo nghiên cứu của Decrorix[24] tỉ lệ
sống thêm 5 năm theo mức độ di căn hạch với N0 là 59%, N1 là 35%, N2 là
27%, N3 là 8%.
- Thời gian sống thêm giảm ở những trường hợp có hạch di căn vi thể.
Theo nghiên cứu của Brasnu[47], tỉ lệ sống thêm 5 năm ở những trường hợp

hạch di căn vi thể là 23%, trong khi đó những trường hợp chưa có hạch di
căn, thì tỉ lệ sống thêm sau 5 năm là 40,9%. Theo nghiên cứu của Chiu[21],
thì tỉ lệ sống thêm 5 năm cho những trường hợp chưa di căn hạch cổ là 62%, đã
di căn hạch chỉ còn 20%. Ngoài ra tỉ lệ di căn ẩn cũng rất cao. Theo nghiên cứu
của Chiu[21] tỉ lệ di căn hạch ẩn là 42%. Chính vì thế mà ngày nay có xu hướng
vét hạch cổ dự phòng cho cả trường hợp hạch không sờ thấy trên lâm sàng.
* Tái phát:
+ Tái phát tại hạch liên quan nhiều đến chỉ định điều trị đối với hạch
vùng. Theo nghiên cứu của Yii[46], về điều trị hạch không sờ thấy trên lâm
sàng đối với UTL, tỉ lệ tái phát tại vùng sau 2 năm là 17% với những trường


21

hợp được vét hạch và 43% với những trường hợp không được vét hạch. Còn
theo nghiên cứu của Persky[34], thì tỉ lệ tái phát tại vùng ở nhóm không được
vét hạch là 50%, trong khi đó nhóm được vét hạch chỉ có 11%.
+ Tái phát tại u: Diện cắt được coi là sát (diện cắt không đầy đủ), khi
cách rìa u < 1cm. Theo nghiên cứu của Hicks[26], thì tỉ lệ tái phát tại chỗ đối
với diện cắt đầy đủ là 9% và diện cắt không đầy đủ là 15% và diện cắt không
đầy đủ thường gặp ở T3, T4. Thời gian tái phát trung bình là 11,5 tháng.
- Ngoài ra còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến tiên lượng
+ Tuổi, giới: đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Một số tác giả cho rằng
UTL ở người trẻ thì tiên lượng xấu hơn người già. Tuy nhiên có một số tác giả lại
cho là ngược lại. Theo nghiên cứu của Mc-Gregor những BN tuổi ≤ 40 tuổi được
điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau, thì thấy rằng tỉ lệ sống thêm 2 năm là
78% và tỉ lệ này cao hơn nhiều so với nhóm BN > 40 tuổi. Còn theo nghiên cứu
của Atula thì cho rằng không có sự khác biệt về tiên lượng giữa người già và
người trẻ. Decroix[24] cho rằng không có sự khác biệt về sống thêm giữa nam, nữ
và tỉ lệ sống thêm giống nhau giữa nhóm tuổi < 40 và nhóm tuổi > 40.

+ Ngoài ra sự xâm lấn thần kinh, mạch máu và xâm lấn sang bên đối
diện, độ dày của u là yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh.
+ Độ mô học của u: một số tác giả cho rằng những u có độ biệt hóa rõ,
thì có kết quả tốt hơn những u có độ biệt hóa kém.


22

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 183 bệnh nhân ung thư biểu mô khoang miệng được chẩn
đoán và điều trị tại bệnh viện K Hà Nội từ 01/2009 đến 31/12/2013.
a. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
+ Bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng và mô bệnh học là ung thư biểu
mô nguyên phát của khoang miệng (bao gồm các ung thư môi, lợi hàm trên,
lợi hàm dưới, khe liên hàm, khẩu cái cứng, lưỡi (phần di động), niêm mạc má
và sàn miệng) trong khoảng thời gian nghiên cứu.
+ Có đầy đủ hồ sơ lưu trữ về lâm sàng, các kết quả cận lâm sàng, có địa
chỉ và hoặc điện thoại để liên lạc được.
+ Bệnh nhân được điều trị đầy đủ theo phác đồ chuẩn của bệnh viện.
+ Bệnh nhân đồng ý hợp tác nghiên cứu.
b. Tiêu chuẩn loại trừ
+ Tất cả các bệnh nhân không thỏa mãn bất kỳ một tiêu chuẩn nào
trong mục lựa chọn đối tượng nghiên cứu.
+ Bệnh nhân bỏ dở điều trị (không kể các trường hợp tử vong vì ung
thư biểu mô khoang miệng trong khi đang thực hiện phác đồ điều trị).
+ Bệnh nhân tái phát đến khám và điều trị tiếp.
+ Các ung thư thứ phát, các ung thư không phải biểu mô.
c. Thời gian và địa điểm

Nghiên cứu được tiến hành từ 1/1/2014 đến 31/7/2014 tại khoa Phẫu
thuật đầu cổ- bệnh viện K Hà Nội.


23

2.2. Phương pháp nghiên cứu
a. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc.
b. Cỡ mẫu và chọn mẫu:
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích nên không cần công thức tính cỡ mẫu.
c. Biến số nghiên cứu
- Các đặc trưng cá nhân:
+ Tuổi, giới, nghề nghiệp
+ Tiền sử: Hút thuốc, ăn trầu
- Các triệu chứng cơ năng:
+ Đau
+ Khối u sưng to
+ Thay đổi màu sắc da
+ Loét mạn tính không khỏi (loét điều trị 2 tuần không khỏi)
+ Chảy máu trong khoang miệng
+ Giảm hay mất chức năng sinh lý của miệng (mất hay giảm vận động
của lưỡi, cơ mở miệng)
+ Biểu hiện bất thường của hàm, răng, lợi (sưng hàm, răng lung lay...)
+ Biến dạng mặt
+ Nổi hạch
- Các triệu chứng thực thể:
+ Vị trí: Môi, lợi, hàm, sàn miệng, lưỡi,khe lien hàm, khẩu cái.
+ Hình thái tổn thương
* Kích thước u (đường kính lớn nhất)

* Hình thái: Sùi/loét/thâm nhiễm/ phối hợp
* Mật độ: Chắc cứng, mềm, mủn
* Màu sắc: Trắng đục, vàng, loang lổ


24

+ Hạch to
+ Liệt mặt
- Triệu chứng cận lâm sàng:
+ Typ mô bệnh học: Theo phân loại của WHO (2005)
- Giai đoạn lâm sàng: Chia thành 4 giai đoạn như sau:

- Xác định tỷ lệ các loại ung thư khoang miệng theo vị trí.
- Phương pháp điều trị:
* Phẫu thuật đơn thuần
* Phẫu thuật + Xạ trị
* Phẫu thuật + hóa trị
* Tổ hợp liệu pháp
- Tỷ lệ tái phát theo thời gian: Sau 6 tháng, sau 12 tháng, sau 24 tháng
- Thời gian sống thêm:
+ Tỷ lệ sống thêm toàn bộ
+ Tỷ lệ sống thêm không bệnh
+ Tỷ lệ tử vong
- Phân tích đơn biến các yếu tố sau với thời gian sống thêm:
+ Tuổi
+ Giai đoạn bệnh
+ Phẫu thuật triệt để đơn thuần



25

+ Phẫu thuật triệt để phối hợp xạ trị
+ Phẫu thuật hạn chế phối hợp hóa xạ trị
- Một số khái niệm/định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu
+ Hút thuốc: Là những người thường xuyên hút thuốc lào, thuốc lá, thời
gian hút ít nhất 12 tháng liên tục.
+ Ăn trầu: Thói quen ăn trầu hàng ngày (có kèm hay không kèm nhai
thuốc lào), thời gian ăn trầu > 12 tháng liên tục.
+ Thời gian sống thêm toàn bộ được tính từ khi bắt đầu điều trị (ngày
vào viện) tới lúc tử vong hoặc khi có thông tin cuối cùng
2.3. Quy trình nghiên cứu
- Thu thập các số liệu về tuổi, giới, nghề nghiệp, tiền sử, địa chỉ/số điện
thoại ở hồ sơ lưu trữ theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
- Thu thập các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng theo kết quả lưu trữ tại
hồ sơ bệnh án.
- Thu thập và đánh giá lại giai đoạn lâm sàng.
- Gọi điện/viết thư để đánh giá tình trạng tái phát, di căn và sống thêm
- Tổng hợp và phân tích số liệu theo mục tiêu nghiên cứu.
- Theo dõi sau điều trị: chúng tôi gửi thư thăm dò, thiết kế bộ câu hỏi
dễ hiểu, dễ trả lời để đánh giá tình trạng bệnh nhân sau điều trị. Một số trường
hợp chúng tôi trực tiếp khám BN và cho làm xét nghiệm khi nghi ngờ tái phát
hoặc di căn, kết hợp với kết quả của BN ghi trong hồ sơ sau những lần khám
lại. Loại trừ các trường hợp không điều trị hoặc mới ra viện hoặc không có
thư trả lời. Chúng tôi thu thập được 157 trường hợp có thông tin sau điều trị.
Các thông tin được xử lý như sau:
* Tình hình tái phát tại u, tại hạch: trường hợp qua thư thăm dò và BN
được khám lại trực tiếp, xác định là tái phát tại u hoặc tại hạch hoặc những
trường hợp có thư trả lời mà không đến khám lại, nhưng có khám lại và được



×