Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ mang thai về bệnh sâu răng và bệnh quanh răng tại hà nội năm 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (546.62 KB, 78 trang )

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sâu răng, bệnh quanh răng là những bệnh phổ biến trong các bệnh
răng miệng, bệnh sâu răng đứng hàng thứ nhất trong các bệnh về răng hàm
mặt, tiếp đến là bệnh quanh răng. Bệnh quanh răng có nguyên nhân và cơ chế
bệnh sinh rất phức tạp, chính vì vậy mà hiện nay chưa có phương pháp phòng
và chữa đặc hiệu. Bệnh sâu răng là một bệnh dễ phát hiện và điều trị đơn giản,
có thể phòng chống được.
Bệnh sâu răng, bệnh quanh răng thường gặp ở mọi tầng lớp nhân dân,
mọi lứa tuổi. Gần đây trong việc điều trị bệnh răng miệng tại khoa Răng Hàm
Mặt ở các bệnh viện đa khoa, các bác sĩ răng hàm mặt thường phải tiếp nhận
rất nhiều bệnh nhân các loại, một trong số đó là phụ nữ mang thai. Phụ nữ
mang thai là những người có thay đổi tâm sinh lý rất sâu sắc nên cần phải có
chế độ chăm sóc đặc biệt, điều trị hiệu quả an toàn cho sản phụ và thai nhi.
Biểu hiện bệnh quanh răng thường gặp ở phụ nữ mang thai là viêm lợi.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm lợi lúc mang thai chiếm từ 35% (theo Hanson, 1960)
đến 100%
Theo các nhà nghiên cứu tiên phong, Offen Baker và cộng sự (1996) chỉ
ra các bằng chứng là bệnh quanh răng chưa được điều trị ở phụ nữ mang thai
là một yếu tố nguy cơ quan trọng làm mẹ đẻ non dưới 37 tuần và trẻ đẻ nhẹ
cân dưới 2,5 kg. Do đó, việc chăm sóc sức khỏe răng miệng cho phụ nữ mang
thai có thể làm giảm ảnh hưởng của thay đổi hormone lên mô lợi và là một
nhiệm vụ quan trọng, cần thiết cho ngành răng hàm mặt và mọi quốc gia .
Ở Việt Nam chưa có nhiều thông tin về bệnh quanh răng và sâu răng ở
phụ nữ mang thai. Việc phòng ngừa và điều trị bệnh quanh răng, sâu răng ở


2


đối tượng này chưa được quan tâm đúng mức. Phụ nữ Việt Nam còn chưa
hiểu biết đầy đủ về việc chăm sóc sức khỏe răng miệng lúc mang thai. Hơn
nữa, người mẹ đóng vai trò quan trọng trong thực hành và chuyển giao thói
quen chăm sóc răng miệng tốt cho trẻ nên việc thực hiện các biện pháp phòng
ngừa và kiểm soát bệnh răng miệng là vấn đề cần đặt ra góp phần mang lại
sức khỏe tối ưu cho trẻ, thai nhi và bộ răng tốt cho trẻ trong tương lai.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ mang thai về
bệnh sâu răng và bệnh quanh răng tại Hà Nội năm 2014" với mục tiêu:
1.

Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ mang thai về
bệnh sâu răng và viêm quanh răng tại các quận Cầu Giấy và Tây
Hồ, Hà Nội.

2.

Nhận xét một số yếu tố liên quan kiến thức, thái độ và thực hành
của phụ nữ mang thai về bệnh sâu răng và viêm quanh răng tại các
quận Cầu Giấy và Tây Hồ, Hà Nội.


3

Chơng 1
Tổng quan tài liệu
1.1. Giải phẫu và sinh lý học của răng, vùng quanh răng

1.1.1. Cu to ca rng
Bao gm men rng, ng rng v tu rng

1.1.1.1. Men rng
Men rng cú ngun gc t ngoi bỡ, l mụ cng nht trong c th, cú t
l cht vụ c cao nht (96%). Men rng ph mt ngoi ng thõn rng dy
mng tu v trớ khỏc nhau, dy nht nỳm rng khong 1,5mm v mng nht
vựng c rng. Men rng khụng cú s bi p thờm m ch mũn dn theo
tui, nhng cú s trao i v vt lý v hoỏ hc vi mụi trng trong ming.
V mt lý hc: Men rng cng, dũn, trong, cn tia X, vi t trng t 2,3
3 so vi ng rng. Bỡnh thng thỡ men trong, song men cú th thay i mu
sc do cú mt s yu t tỏc ng khỏc.
V mt hoỏ hc: Cht vụ c chim 96%, ch yu l 3[(PO 4)2Ca3]Ca(0H)2
(hydroxy apatit), cũn li l cỏc mui cacbonat ca magie, mt lng nh
clorua, fluorua v mui sunfat ca kali v natri. Thnh phn hu c khong
1% trong ú ch yu l Protit.
Cu trỳc hc ca men rng: quan sỏt qua kớnh hin vi thy hai loi ng võn.
- ng Retzius: trờn tiờu bn ct ngang thõn rng l cỏc ng chy song
song nhau v song song vi ng vin ngoi ca lp men cng nh vi ng
ranh gii men ng phớa trong chỳng cỏch nhau bi nhng khong cỏch khụng
u nhau. Trờn tiờu bn ct dc thõn rng ng Retzius hp vi ng ranh
gii men ng cng nh vi mt ngoi ca men to thnh mt gúc nhn.


4

- Đường trụ men: Là đơn vị cơ bản tạo nên lớp men răng, chạy suốt theo
chiều dày của men và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng,
đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của trụ men. Khi cắt ngang trụ
men thấy tiết diện của nó có các loại hình thể: vảy cá 57%, lăng trụ 30%,
không rõ ràng 10%. Trụ men có đường kính từ 3 – 6 µm, hướng đi của trụ
men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter-schrenge.
1.1.1.2. Ngà răng

Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp
hơn men (75%). Trong ngà có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của
nguyên bào ngà.
Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào
ngà. Ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tuỷ răng, làm hẹp dần
ống tuỷ.
Về tổ chức học: ngà được chia làm hai loại:
- Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá
trình hình thành răng, bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà, dây Tôm.
- Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành, gồm ngà thứ phát
sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt.
Ống ngà: có số lượng từ 15.000 -50.000/mm 2, đường kính ống từ 3-5
µm, ống ngà chính chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chốt ở
ranh giới men ngà, ống ngà phụ là ống nhỏ hoặc nhánh bên, nhánh tận cùng
của ống ngà chính.
Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với
ống ngà
Dây Tôm: nằm trong ống ngà là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào
tạo ngà.


5

1.1.1.3. Tủy răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân. Tủy
răng trong buồng tủy gọi là tủy thân hoặc tủy buồng, tủy răng trong ống tủy
gọi là tủy chân. Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy.
Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của
nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng. Trong tủy răng
có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.

Về tổ chức học, tủy răng gồm hai vùng: vùng cạnh tủy gồm các lớp tế
bào tạo ngà (2-3 lớp) và lớp không có tế bào gồm những tổ chức sợi tạo keo.
Vùng giữa tủy là tổ chức liên kết có nhiều tế bào, ít tổ chức sợi.
1.1.2. Vùng quanh răng:
Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng cùng với
răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể. Với quan niệm "parôdông",
chúng ta hiểu đó là toàn bộ những tổ chức bao bọc quanh răng. Vùng quanh
răng và răng có mối quan hệ gắn bó chức năng vì nó là một phần của bộ máy
nhai [11].
Vùng quanh răng bao gồm lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và
xương ổ răng.

§Ønh

nhó

lîi
Nhó lîi
BiÓu m«
Lîinèi
tù do
Lîi dÝnh
§êng viÒn lîi niªm
Niªm
m¹cm¹c x¬ng æ

X¬ng r¨ng
r¨ng
D©y ch»ng quanh
X

¬ng æ r¨ng
r¨ng
B¶n x¬ng phÝa lìi
X¬ng xèp phÝa lìi


6

1.1.2.1. Lợi
- Lợi là phần biệt hóa của niêm mạc miệng liên quan trực tiếp với răng,
bám vào cổ răng, xương răng và một phần xương ổ răng. Niêm mạc lợi giống
niêm mạc hàm ếch, là một tổ chức niêm mạc sợi, ở phía ngách lợi má, giữa
niêm mạc lợi và niêm mạc di động của miệng có một đường ranh giới rõ rệt.
- Cấu tạo lợi gồm ba phần: nhú lợi, lợi tự do và lợi bám dính. Nhú lợi
giữa các răng là phần lợi che kín các kẽ răng, có một nhú phía ngoài và một
nhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm, mào xương ổ răng, giữa các
răng được tạo bởi phần niêm mạc giống lợi bám dính. Đường viền lợi không
dính vào răng mà ôm sát vào ổ răng, chiều cao khoảng 0,5 mm [7].
- Lợi dính là phần lợi bám vào chân răng và xương ổ răng. Bề rộng nhất
của lợi dính ở vùng răng cửa và hẹp nhất ở vùng răng hàm nhỏ. Bề rộng của
lợi dính có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ cho vùng quanh răng bình
thường. Về mặt vi thể, người ta đã xác định niêm mạc lợi có cấu trúc gồm hai
thành phần: biểu mô và tổ chức liên kết đệm.
1.1.2.2. Dây chằng quanh răng
Cấu trúc chính là những sợi keo với chức năng cơ học ở lợi và khe quanh
răng, tạo nên những dây chằng và được sắp xếp tùy theo chức năng của răng
và vùng quanh răng, nó giữ cho ổ răng và vùng quanh răng đảm bảo sự liên
quan sinh lý giữa răng và ổ răng nhờ những tế bào liên kết đặc biệt trong tổ
chức dây chằng [8]. Những tế bào này có khả năng tạo hoặc phá hủy xương
răng và xương ổ răng. Dây chằng quanh răng có nguồn gốc trung mô. Các dây

chằng quanh răng bám vào xương răng suốt cả chiều dài chân răng cột giữ
chân răng tạo cho răng bền vững tối đa với tất cả các chuyển động.


7

1.1.2.3. Xương răng
Xương răng là một dạng đặc biệt của xương. Nó bao phủ ngà chân răng
và có nguồn gốc trung mô, nó được hình thành trong quá trình hình thành
chân răng. Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hình thành hệ
thống cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộng
cần thiết cho vùng dây chằng quanh răng [7].
1.1.2.4. Xương ổ răng
- Xương ổ răng là phần lõm của xương hàm để giữ chân răng, nó là một
bộ phận của xương hàm, gồm có lá xương thành trong huyệt răng và tổ chức
xương chống đỡ xung quanh huyệt răng.
- Lá xương thành trong huyệt ổ răng là một lá xương mỏng và xốp, trên
bề mặt có những bó sợi của dây chằng quanh răng bám vào.
- Tổ chức xương chống đỡ xung quanh ổ răng phía ngách lợi, hàm ếch
và lưỡi là tổ chức xương đặc, phần xương ổ răng ở mặt trên kẽ giữa hai răng
nhô lên nhọn gọi là mào xương ổ răng. Mào này ở dưới đường nối men xương răng khoảng 1 mm. Xương ổ răng cũng có quá trình tiêu và phục hồi
luôn cân bằng thì xương luôn chắc và đảm bảo chức năng. Nếu mất cân bằng,
quá trình tiêu xương lớn hơn phục hồi dẫn đến tiêu xương gặp ở quá trình
bệnh lý quanh răng, sang chấn khớp cắn.
1.1.2.5. Tuần hoàn quanh răng
Răng, dây chằng quanh răng và xương ổ răng có một mạch máu nuôi
dưỡng. Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt là mạng lưới nối
tĩnh mạch ở vùng quanh răng tập trung quanh lỗ cuống răng.
- Vùng dây chằng quanh răng giàu mạng lưới mạch máu và cũng giàu
các sợi cảm giác. Có hai loại: tự vận động và thần kinh ngoại biên.



8
1.2. Nh÷ng kh¸i niÖm c¬ b¶n vÒ bÖnh s©u r¨ng, quanh
r¨ng

1.2.1. Sâu răng
Sâu răng là một quá trình bệnh lý, xuất hiện sau khi răng đã mọc, tổ
chức cứng của răng bị phá huỷ và tạo thành một hố gọi là lỗ sâu.
Do sâu răng đã xuất hiện từ lâu đời nên đã có rất nhiều tác giả
nghiên cứu nguyên nhân sâu răng.
Trước năm 1970, giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chú ý nhiều
đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus Mutans và giải thích bệnh căn
sâu răng bằng sơ đồ KEY như sau:
Đường

Vi
khuẩn

Răng
Sơ đồ Key (sơ đồ 1)
Theo sơ đồ Key, việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn
hạn chế đường, tiến hành vệ sinh kỹ răng miệng song kết quả phòng bệnh
sâu răng vẫn bị hạn chế.
Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ hơn căn nguyên bệnh sâu răng
và giải thích bằng sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn của sơ đồ KEY
(chất đường) bằng vòng tròn chất nền (Substrate) nhấn mạnh vai trò nước
bọt (chất trung hoà - Buffers) và pH của dòng chảy môi trường xung quanh
răng. Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Fluor khi gặp Hydroxyapatite
của răng kết hợp thành Fluoroapatit rắn chắc, chống được sự phân huỷ của

axít tạo thành thương tổn sâu răng.


9

Vi
khuẩn

Răng

Chất
nên
Nước bọt

white cycle ( 1975) (s¬ ®å 2)
Người ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học sâu răng bằng hai
quá trình huỷ khoáng và tái khoáng. Mỗi quá trình đều do một số yếu tố
thúc đẩy. Nếu quá trình huỷ khoảng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ
xuất hiện sâu răng:
Với những nghiên cứu về căn nguyên của sâu răng, người ta thấy sâu
răng là một bệnh, các lỗ sâu chỉ là dấu hiệu của bệnh đang hoạt động.
Theo Peter Cleaton 98% những nguy cơ chủ yếu gây sâu răng ở trẻ em là do
ăn uống thiếu Fluor, vệ sinh răng miệng kém và ăn chất ngọt (đường) mà
không kiểm soát được. Năm 1995 Hội Nha khoa Hoa Kỳ đã đưa ra khái
niệm sâu răng là bệnh nhiễm trùng với vai trò gây bệnh của vi khuẩn và giải
thích nguyên nhân sâu răng bằng sơ đồ với ba vòng tròn của các yếu tố vật
chủ (răng: gồm men răng, ngà răng, xương răng) môi trường (thức ăn có khả
năng lên men chứa carbohydrate) và tác nhân (vi khuẩn chủ yếu là



10

Streptococcus Mutans và Lactobacillus) như sau:
Vật
chủ

Bệnh Tác
nhân

Môi
trường

Nguyên nhân sâu răng theo Hội Nha khoa Hoa kỳ
Cũng từ những hiểu biết mới về căn nguyên của sâu răng, người ta
cho rằng bất cứ một phương pháp nào có thể ngăn cản được phản ứng sâu
răng theo chiều từ trái sang phải (mất khoáng) hoặc làm gia tăng chiều
từ phải sang trái (tái khoáng) đều có thể được xem là một biện pháp phòng
ngừa sâu răng. Có 4 chiến lược được ghi nhận để thay đổi tốc độ tấn công
của sâu răng cho cộng đồng. Đó là: Vệ sinh răng miệng, chế độ ăn uống có
kiểm soát chất đường và tinh bột, trám bít hỗ rãnh, sử dụng Fluor. Cải thiện
vệ sinh răng miệng, thay đổi chế độ ăn uống sẽ làm giảm lượng mất khoáng,
trong khi đó, trám bít hố rãnh có thể ngăn ngừa được sự tiếp cận của axít
phân huỷ từ thức ăn tới răng. Fluor có cả hai tác dụng làm giảm mất khoáng
và làm tăng tái khoáng.
1.2.2. Định nghĩa bệnh quanh răng
Bệnh quanh răng là tình trạng viêm tổ chức quanh răng, bệnh gồm hai
quá trình: quá trình tổn thương viêm và quá trình thoái hóa. Bệnh bao gồm hai
thể: viêm lợi và viêm quanh răng (VQR) được gọi chung là bệnh quanh răng.
Ở giai đoạn nặng, viêm phá hủy tổ chức quanh răng làm răng lung lay ảnh
hưởng chức năng nhai và cuối cùng làm mất răng.

- Những triệu chứng chung nhất của bệnh quanh răng là:


11

+ Viêm lợi cấp và mãn: lợi sưng đỏ chảy máu tự nhiên hoặc do hình
thành cao răng (CR) và mảng bám răng (MBR).
+ Viêm quanh răng biểu hiện: có túi lợi bệnh lý ở các mức độ khác trong
đó chứa: dịch viêm và mủ; miệng hôi; lợi co; hở cổ và chân răng, răng đau
nhức khó chịu, có biểu hiện tổn thương dây chằng quanh răng, xương ổ răng
và xương răng. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm thì xương ổ răng
tiêu, răng lung lay, ăn nhai hạn chế, cuối cùng phải nhổ bỏ răng.
1.2.3. Cơ chế bệnh sinh bệnh quanh răng
Từ lâu người ta đã nhận thấy các phản ứng qua lại phức tạp của yếu tố toàn
thân, tại chỗ, ngoại cảnh đối với sự hình thành và phát triển của bệnh [11].
Từ năm 1960 trở lại gần đây, người ta thấy vai trò của vi khuẩn với men
và độc tố là mắt xích đầu tiên trong quá trình phá hủy tổ chức quanh răng [6].
Quan niệm mới hiện nay về sinh bệnh học bệnh VQR được thống nhất
rằng sự khởi phát bệnh tổ chức quanh răng và sự chuyển tiếp từ viêm lợi sang
VQR phụ thuộc vào hai yếu tố chính là [6].
- Vai trò của vi khuẩn trong MBR, trong đó có các chủng vi khuẩn đặc
hiệu chiếm ưu thế.
- Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể.
1.2.3.1. Mảng bám răng
Mảng bám răng được xem là tác nhân ngoại lai quan trọng nhất trong
bệnh sinh của bệnh quanh răng.
- Cấu tạo: Mảng bám răng bản chất là mảng vi khuẩn. Trung bình 1 mm 3
có 108 vi khuẩn, gồm 200 loại khác nhau.
- Sự hình thành mảng vi khuẩn thường trải qua hai giai đoạn: giai đoạn
đầu là hình thành màng vô khuẩn 2 giờ sau khi chải răng, màng này có nguồn



12

gốc nước bọt do men carbohydrate hay men neuraminidase tác động lên axít
sialic của mucin nước bọt làm cho nó kết tủa lắng đọng trên bề mặt răng.
Giai đoạn tiếp theo: Vi khuẩn đến ký sinh trên màng vô khuẩn, hình
thành và phát triển mảng bám vi khuẩn. Hai ngày đầu, trên mảng bám chủ yếu
là các cầu khuẩn, trực khuẩn gram (+). Các ngày tiếp theo mảng bám có các
thoi xoắn khuẩn, vi khuẩn hình sợi gram (-), xoắn trùng, vi khuẩn gram (-), vi
khuẩn ái khí, yếm khí. Mảng bám hoàn chỉnh sau 14 - 21 ngày và có khả năng
gây bệnh.
Theo vị trí, người ta chia ra: MBR trên lợi và MBR dưới lợi.
+ Mảng bám răng trên lợi: lúc đầu mới hình thành mảng bám trên lợi có
ít vi khuẩn chỉ có nhiều tế bào bong ra của niêm mạc miệng. Sau đó vi khuẩn
tiếp tục tích tụ lại, có tới 90% là cầu khuẩn và trực khuẩn gram (+), 10% là
cầu khuẩn gram (-). Dần dần mảng bám tích tụ thêm các loại vi khuẩn khác và
số lượng vi khuẩn tăng lên. Mảng bám răng có vi khuẩn yếm khí và trực
khuẩn gram (-) tăng, khởi điểm cho tổ chức viêm nhận thấy trên lâm sàng.
+ Mảng bám răng dưới lợi: là mảng bám hình thành ở dưới lợi. Theo
một số tác giả: khi lợi phù nề do viêm, nó phủ một phần MBR để trở thành
MBR dưới lợi, nó phát triển độc lập với sự tham gia của dịch rỉ viêm, làm
thức ăn cho vi khuẩn phát triển, vi khuẩn yếm khí ngày càng tăng, đánh răng
lúc này không còn kết quả. Tuy chưa biết hết các loại vi khuẩn nhưng người
ta cũng đã thấy trong bệnh quanh răng có nhiều vi khuẩn gram (-) và một số
vi khuẩn đặc biệt gây bệnh.


13


1.2.3.2. Cao răng
Cao răng được hình thành từ quá trình vô cơ hóa MBR hoặc do sự lắng
cặn muối canxi trên bề mặt răng, cổ răng, là tác nhân gây hại quan trọng thứ hai
sau MBR. Cao răng bám vào răng và chân răng dẫn đến tình trạng lợi mất chỗ
bám dính gây tụt lợi. Vi khuẩn trên bề mặt CR đi vào bờ lợi, rãnh lợi gây viêm.
Cao răng được chia thành hai loại theo vị trí bám:
- Cao răng trên lợi: dễ nhìn thấy, có màu vàng hoặc nâu xám, thường có
ở những răng cạnh lỗ tiết nước bọt, mặt ngoài răng 6-7 hàm trên, mặt trong
nhóm răng cửa và răng 6 hàm dưới.
- Cao răng dưới lợi: có thể nhìn rõ khi lợi bong ra khỏi cổ răng, màu xám,
bám chắc vào răng, có thể nhìn thấy qua lợi, ánh sáng đèn và phim sau ổ răng.
1.2.3.3. Vi khuẩn trong mảng bám răng
Vai trò gây bệnh của vi khuẩn đã được chứng minh từ những công trình
gây viêm thực nghiệm của Lee (1965). Đây là nguyên nhân chủ yếu gặp hầu
hết trong các bệnh quanh răng.
Qua nhiều năm nghiên cứu các quần thể khác nhau, các tác giả trên thế
giới thấy rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa MBR (hay mảng bám vi khuẩn)
với tỷ lệ bệnh quanh răng và mức độ trầm trọng của bệnh.
Cho đến nay bệnh quanh răng phải được coi như là những bệnh nhiễm
khuẩn (Page và Schroeder 1992), trong đó mỗi bệnh được đặc trưng bởi sự
chiếm ưu thế của một hay nhiều vi khuẩn đặc hiệu:
- Viêm quanh răng cấp ở người trẻ:
+ Actinobacillus Actinomycetemcomitans (Slots và cộng sự 1980)
+ Bacteroides Gingivalis (Tanner và cộng sự 1979)


14

+ Eikenella Corrodens (Mandel 1984)
- Viêm quanh răng tiến triển nhanh:

+ Bacteroides Gingivalis
+ Bacteroides Fusiforme
+ Spirochetes (Tanner và cộng sự 1979)
- Bệnh quanh răng ở người lớn thể nặng: Actinobacillus Actinomyces
Temcomitans, Bacteroides Gingivalis, Bacteroides Intermedius (Slots 1976).
- Viêm lợi loét hoại tử: Treponema, Bacteroides Intermedius, Fusobacterium,
Selenomonate (Locsche và cộng sự 1980).
1.2.3.4. Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể [12]
Tuy những vi khuẩn tác động tại chỗ nhưng theo sự khác nhau trong
phản ứng của cá thể, có khi cùng một lượng mảng bám răng cũng sẽ gây ra
những mức độ viêm khác nhau ở những cá thể khác nhau.
Hiện nay, sức đề kháng của vùng quanh răng chúng ta hiểu như là khả
năng của tổ chức quanh răng chống lại sự phát sinh của MBR bao gồm:
- Sự sắp xếp giải phẫu của vùng quanh răng là tối ưu nhất.
- Phản ứng miễn dịch của vùng quanh răng là có tác dụng và có ý nghĩa
nhất trong sự bảo vệ các mô vùng quanh răng chống MBR. Phản ứng miễn
dịch gồm có: phản ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu.
+ Miễn dịch không đặc hiệu bao gồm: nước bọt và các thành phần nước
bọt trong miệng có tác dụng sát trùng, làm tiêu vi khuẩn bằng các enzym, đại
thực bào và gamma globulin.
+ Miễn dịch đặc hiệu gồm:


15

. Miễn dịch dịch thể: là điều kiện để tạo thành những kháng thể của các
globulin miễn dịch, chúng sản xuất plasma có vai trò quan trọng trong bệnh
VQR. Kháng thể kết hợp với kháng nguyên tạo thành phức hợp kháng nguyên
- kháng thể mà trong đó kháng nguyên được trung hòa, tại nơi tạo thành của
phức hợp phát sinh hoại tử.

. Miễn dịch tế bào: là đáp ứng miễn dịch chậm, những lymphocyte
nhạy cảm được làm môi giới và huy động tới kháng nguyên, trung hòa kháng
nguyên giải phóng tế bào lympho gây viêm.
Cơ chế bệnh sinh của bệnh quanh răng thực sự phức tạp. Sự khởi bệnh
VQR phụ thuộc hai yếu tố chính: những vi khuẩn MBR tác động tại chỗ và
đáp ứng miễn dịch khác nhau của chủ thể. Cùng một lượng MBR sẽ gây ra
các mức độ viêm khác nhau ở các cá thể khác nhau.
1.2.4. Phân loại bệnh quanh răng
Phân loại bệnh quanh răng là cần thiết cho chẩn đoán và điều trị. Từ
trước tới nay có rất nhiều tác giả phân loại: Năm 1984, Rhein đã đưa ra phân
loại đầu tiên. Hội Răng miệng Quốc tế (FDI) và Hội nghiên cứu bệnh quanh
răng (ARPA) đưa ra phân loại năm 1958. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng
đưa ra phân loại vào các năm 1961, 1978 và 1982.
Hệ thống phân loại trong y học cũng như trong ngành quanh răng học
có thể được phân loại như sau:
- Theo sự khu trú (viêm quanh răng nông, sâu).
- Theo hình thái (viêm lợi loét, viêm lợi phì đại).
- Theo bệnh học (viêm, u, xơ).
- Theo bệnh căn (viêm lợi do thai nghén...).
Hiện nay, theo quan niệm mới, bệnh VQR được phân loại như sau:


16

- Viêm quanh răng cấp ở người trẻ tuổi.
- Viêm quanh răng tiến triển nhanh.
- Viêm quanh răng mãn ở người lớn tuổi.
- Viêm lợi loét hoại tử VQR.
- Viêm quanh răng ở bệnh nhân HIV/AIDS.
1.3. BÖnh S¢U R¡NG, quanh r¨ng ë phô n÷ mang thai


1.3.1. Biểu hiện bệnh sâu răng ở phụ nữ mang thai
Trong những tháng đầu tiên khi mang thai, bệnh răng miệng ở sản phụ
chưa tăng đáng kể, nguyên nhân thường thấy cú thể là do phụ nữ có thai hay
nôn và buồn nụn (nhất là từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 12 của thai kỳ và nhất là ở
những phụ nữ mang thai lần đầu). Chính điều này làm thay đổi môi trường pH
trong khoang miệng, làm xáo trộn khả năng tự bảo vệ khiến dễ phát sinh bệnh
lý. Các thay đổi sinh lý khỏe bao gồm cả sự thay đổi chế độ ăn như thèm ăn
một số loại thức ăn đặc biệt, và thường xuyên ăn bữa phụ giữa các bữa ăn
chính, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng, dễ gây sâu răng. Các
thức ăn, thức uống dễ gây sâu răng là đồ ngọt và các nước uống cú ga chứa
carbonate. Các thức ăn này có thể làm dịu cảm giác buồn nôn, tuy nhiên nguy
cơ sâu răng rất cao.
1.3.2. Biểu hiện bệnh quanh răng ở phụ nữ mang thai
Bệnh quanh răng là một nhiễm trùng vi khuẩn kị khí gram (-) ở miệng
liên quan đến lợi răng và các bộ phận nâng đỡ răng như xương ổ răng, lớp
xương răng bọc quanh chân răng và dây chằng quanh răng. Bệnh xuất hiện
phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, gây viêm cấp hoặc mãn tính làm rối
loạn mất cân bằng bộ phận nâng đỡ răng. Có tính chất phá hủy bộ phận nâng
đỡ răng, bằng con đường trực tiếp (các sản phẩm của mảng bám vi khuẩn) và


17

gián tiếp (đáp ứng miễn dịch của ký chủ) [4]. Hai thể bệnh phổ biến nhất của
bệnh quanh răng là viêm lợi và VQR.
1.3.2.1. Viêm lợi
Viêm lợi là quá trình viêm khu trú ở lợi. Viêm lợi có thể xảy ra ở mọi lứa
tuổi. Nguyên nhân của viêm lợi thường là tại chỗ do vi khuẩn của mảng bám
răng, cao răng, răng giả kém vệ sinh [4]. Các triệu chứng của viêm lợi là:

- Lợi đổi màu: Thường xảy ra ở đường viền lợi trở thành đỏ sẫm hay đỏ tươi,
phát hiện bằng cách so sánh màu viền lợi với màu lợi dính của răng kế cận.
- Sưng hay phù nề: Viêm lợi thường trên mô xung quanh lỏng lẻo, hơi to
lên, lợi không ôm chặt vào răng.
- Lợi chảy máu khi thăm dò với áp lực vừa phải: Đây là dấu hiệu khách
quan. Một khe lợi khỏe mạnh thì không chảy máu khi thăm dò bằng cây đo
túi. Do đó chảy máu khi thăm dò là cách phát hiện vị trí nhiễm trùng đơn
giản, không gây đau và nhanh. Chảy máu khi thăm dò rất hữu ích trong việc
phát hiện những vị trí nhiễm trùng nằm sâu ở đáy túi quanh răng, nhưng nếu
nhìn bằng mắt thường thì lợi biểu hiện như lợi khỏe mạnh.
Trong đó lợi đổi màu và chảy máu lợi là hai triệu chứng chủ yếu dùng để
chẩn đoán bệnh.
Thuật ngữ "viêm lợi thai nghén" được Pinard sử dụng từ năm 1877 để
chỉ tình trạng viêm lợi xảy ra trong lúc mang thai [14]. Theo Laine (2002),
những thay đổi của mô răng liên quan đến mang thai thường biểu hiện rõ rệt ở
lợi đặc biệt là hệ thống mạch máu lợi. Biểu hiện lâm sàng đặc trưng là lợi đỏ,
phù nề, quá sản và dễ chảy máu. Biểu hiện có thể viêm nhẹ đến viêm nặng, có
quá sản, đau và chảy máu.


18

H×nh 1.1. Viªm lîi møc ®é

H×nh 1.2. Viªm lîi møc ®é

nhÑ

nÆng


Tình trạng mang thai không gây viêm lợi nhưng làm bệnh sẵn có nặng
lên. Nếu loại bỏ được các kích thích tại chỗ, lợi sẽ trở về trạng thái như lúc
không mang thai sau sinh vài tháng
Theo nghiên cứu của Silness và Loở, dấu chứng đầu tiên của viêm lợi
xuất hiện vào tháng thứ 2 của thai kỳ. Những thay đổi ở lợi tiếp tục xảy ra đến
tháng thứ 8, cải thiện dần vào tháng cuối của thai kỳ. Sau khi sinh, lợi trở lại
tình trạng giống như tháng thứ 2 của thai kỳ [17].
- Raber - Durlacher (1994) thấy rằng tình trạng phù nề của lợi làm tăng
độ sâu túi lợi, túi quanh răng và làm lung lay răng tạm thời, đồng thời lợi
vùng răng trước sưng và chảy máu nhiều hơn vùng răng sau dù mảng bám ở
vùng răng sau nhiều hơn [13].
1.3.2.2. Viêm quanh răng
- Bệnh VQR mang tính chất phá hủy. Tình trạng phá hủy lan rộng đến các
mô quanh răng khác ở sâu bên trong như xương ổ răng, dây chằng nha chu.
- Đặc điểm của VQR là sự thành lập túi nha chu. Túi nha chu là sự biến
đổi của khe lợi do biểu mô kết nối di chuyển về phía chóp gốc răng theo sau
sự phá hủy dây chằng quanh răng bởi các độc tố và enzym của vi khuẩn (như
hyaluronidaza, collagenaza). Đó là biểu hiện của mất bám dính. Triệu chứng


19

thường là: có túi nha chu, phá hủy xương ổ răng và dây chằng quanh răng,
răng trở nên lung lay và di chuyển - các răng thưa ra, miệng có mùi hôi, cao
răng nhiều... Di chứng của VQR nặng sau điều trị ổn định thường là lợi co, hở
cổ và chân răng, răng lung lay ít, dễ bị ê buốt do lộ cổ răng.
- Viêm quanh răng ở PNMT chủ yếu có trước khi mang thai. Theo Cohen
(1969) và Hugoson (1971), độ sâu túi quanh răng lúc mang thai có thể tăng
lên do lợi bị phù nề và/hoặc tăng sản nhưng không phải là dấu hiệu của phá
hủy quanh răng thật sự. Kết quả nghiên cứu của Cohen (1969) và Tilakaratne

(1994) đều không tìm thấy ảnh hưởng của thai kỳ lên mức độ bám dính của
mô quanh răng. Mất bám dính thực sự là tình trạng viêm lợi mãn tính kéo dài
hơn 9 tháng của thai kỳ [17].
1.3.2.3. U lợi thai nghén (Epulis)
Một biểu hiện đặc biệt của bệnh quanh răng trong lúc mang thai là "u lợi
thai nghén", tỷ lệ từ 0,2 - 9,6%. Đây là sự tăng sinh của lợi dạng u, thường
xuất hiện ở nhú lợi và không phân biệt được về lâm sàng cũng như mô học
với u hạt sinh mủ ở người không mang thai hoặc đàn ông. Thủ thuật cắt bỏ u
thường được thực hiện sau khi sinh. Trong một số trường hợp, u lớn gây cản
trở chức năng hay dễ chảy máu thì có thể cắt bỏ nhưng có khả năng tái phát
rất nhanh [17].


20
H×nh 1.3. Epulis ë phô n÷ mang thai
1.3.3. Thay đổi sinh lý của phụ nữ mang thai
Ngoài những thay đổi của cơ quan sinh dục, thay đổi về chuyển hóa,
huyết học và những thay đổi khác của cơ thể người mẹ, tình trạng hormone
của PNMT biến đổi một cách sâu sắc ngay từ đầu thai kỳ [1].
1.3.4. Nguyên nhân của bệnh quanh răng trong lúc mang thai
Hugoson (1971) cho rằng viêm lợi thai nghén là một đáp ứng viêm quá
mức với mảng bám răng. Đặc trưng lâm sàng: lợi viêm đỏ, phù nề tăng sinh
và dễ chảy máu. Tuy nhiên, Silness và Loở (1964) xác định rằng mối liên
quan giữa số lượng mảng bám với mức độ viêm lợi lúc không mang thai cao
hơn lúc mang thai [17]. Điều này gợi ý một yếu tố nguyên nhân khác gây
viêm lợi thai nghén. Nồng độ hormone giới tính gia tăng lúc mang thai có khả
năng làm hư hỏng hệ thống mạch máu lợi, rối loạn đáp ứng miễn dịch, thay
đổi hệ vi khuẩn bình thường dưới lợi [14]Các thụ thể của estrogen và
progesterone cũng được tìm thấy ở mô lợi của người, chứng tỏ về mặt sinh
hóa mô lợi là mục tiêu tác động của hormone giới tính [10Ảnh hưởng của tình

trạng mang thai lên viêm lợi sẵn có bắt đầu từ tháng thứ 2 hay tháng thứ 3,
trùng với thời điểm tăng nồng độ progesterone và estrogen, tăng dần đến
tháng thứ 8 và giảm vào tháng thứ 9 [14].
1.3.4.1. Ảnh hưởng của sự gia tăng nồng độ hormone giới tính trên mô lợi
Mảng bám vi khuẩn là yếu tố nguyên nhân khởi phát bệnh nha chu (Loë
và cộng sự, 1965). Tuy nhiên, nếu không có sự nhạy cảm của ký chủ thì mảng
bám cần nhưng chưa đủ gây bệnh, còn có nhiều yếu tố hoặc tình trạng tổng
quát có ảnh hưởng đến tỷ lệ, tiến triển và độ trầm trọng của bệnh trong đó có
hormone giới tính.


21

Trong lúc mang thai, nồng độ progesterone đạt mức 100 ng/mL, cao gấp
10 lần ở thì hoàng thể của chu kỳ kinh nguyệt. Estradiol huyết tương cao gấp
30 lần so với chu kỳ kinh nguyệt. Nồng độ hormone giới tính trong mô lợi,
nước bọt, huyết thanh và dịch lợi cao có thể làm đáp ứng viêm trở nên mạnh
hơn [14]. Estrogen và progesterone có nhiều tác dụng sinh học quan trọng có
thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ quan, bao gồm cả khoang miệng [19].
Ảnh hưởng của estrogen trên mô lợi [14]:
- Làm tăng sinh tế bào mạch máu.
- Giảm sừng hóa trong khi tăng glycogen biểu mô.
Ảnh hưởng của progesterone trên mô lợi [14]:
- Làm tăng giãn mạch dẫn đến tăng tính thẩm thấu gây phù nề và tập
trung các tế bào viêm.
- Gia tăng tình trạng tăng sinh các mạch máu mới làm lợi có khuynh
hướng dễ chảy máu.
- Gây rối loạn tốc độ và kiểu sản xuất collagen.
- Tăng phân hủy từ chuyển hóa folate (thiếu folate có thể ức chế sửa
chữa mô, chậm lành thương).

- Giảm yếu tố ức chế hoạt hóa plasminogen type 2 và do đó làm tăng
phân hủy protein của mô.
1.3.4.2. Thay đổi thành phần mảng bám dưới lợi
- Tăng tỷ lệ vi khuẩn kị khí so với ái khí.
- Tăng tỷ lệ Prevotella intermedia (do hormone giới tính thay thế cho
chất tăng trưởng của chúng là vitamin K) và Bacteroides melaninogenicus từ
2,2% lên 10,1%.


22

1.3.4.3. Đáp ứng miễn dịch ở người mẹ
Những thay đổi, lệch lạc về thành phần miễn dịch của mẹ trong lúc mang
thai làm tăng khả năng viêm lợi do:
- Giảm miễn dịch qua trung gian tế bào.
- Giảm hóa ứng động bạch cầu trung tính.
- Giảm tỷ lệ tế bào T giúp đỡ so với tế bào T ức chế (CD4/CD8).
- Giảm tuyệt đối số lượng CD3, CD4 và CD19 trong máu ngoại vi.
- Kích thích sản xuất prostaglandin: là chất trung gian gây đáp ứng viêm.
Nhưng prostaglandin hoạt động như một chất ức chế miễn dịch nên có thể
tăng viêm lợi khi nồng độ chất này tăng.
1.3.5. Dịch tễ học bệnh quanh răng và tình trạng mang thai
Các yếu tố như tuổi, tiểu đường và thuốc lá đã được xác định là nguy cơ
đối với bệnh quanh răng. Mang thai là một tình trạng đặc biệt, có ảnh hưởng
đến bệnh quanh răng do nồng độ hormone giới tính tăng cao. Nhiều nghiên
cứu trong 10 năm trở lại đây còn cho thấy VQR cũng có tác động ngược trở
lại tình trạng mang thai (gây ra một kết quả sản khoa bất lợi: trẻ sinh non
hoặc/và trẻ có trọng lượng sinh thấp). Ngoài ra, bệnh quanh răng trong lúc
mang thai nói chung còn chịu ảnh hưởng của yếu tố: tuổi, nghề nghiệp, trình
độ học vấn, thời gian mang thai, số con, việc chăm sóc răng miệng trước lúc

mang thai...
1.3.5.1. Tình trạng viêm lợi lúc mang thai
Viêm lợi là thể bệnh quanh răng thường gặp nhất ở PNMT với tỷ lệ từ
35-100% [17]. Để đánh giá tình trạng viêm lợi, các tác giả thường sử dụng chỉ
số lợi (GI). Tại Việt Nam, Đặng Huệ Hồng (2001) nghiên cứu tình trạng bệnh
quanh răng của 116 PNMT tại bệnh viện phụ sản Hùng Vương cho thấy tỷ lệ


23

viêm lợi là 70,6%, Có nghiên cứu cho rằng có thể không có những thay đổi
trầm trọng ở lợi trong lúc mang thai so với không mang thai.
Theo Hugonson (1970), tình trạng mang thai không ảnh hưởng lên mô
lợi khỏe mạnh. Khi kiểm soát được sức khỏe nha chu và duy trì tình trạng
không MBR ở PNMT, tỷ lệ mới mắc của viêm lợi chỉ là 0,03%. Trong lúc
mang thai, sự mất cân bằng nội tiết tố càng làm cho đáp ứng viêm mạnh thêm,
kết quả là lợi bị phì đại, hình thành túi giả và làm gia tăng độ sâu túi quanh
răng. Ảnh hưởng của sự gia tăng nồng độ hormone giới tính lên mô lợi khỏe
mạnh bị bất hoạt khi loại bỏ được các yếu tố tại chỗ.
1.4. VẤN ĐỀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG Ở PHỤ NỮ
MANG THAI

Quản lý thai nghén đã được đặc biệt quan tâm triển khai ở nước ta cũng
như nhiều quốc gia trên thế giới, song đối với việc chăm sóc sức khỏe răng
miệng nói riêng ở PNMT còn ít được quan tâm và triển khai một cách hệ
thống. Phụ nữ mang thai do có những thay đổi về tâm sinh lý nên họ thường
có hành vi thiếu sự chăm sóc cá nhân, thiếu những thông tin cần thiết để tự
chăm sóc bảo vệ sức khỏe răng miệng. Bản thân họ cũng không tích cực trong
việc thực hiện các biện pháp vệ sinh răng miệng như: ít chải răng hay thực
hiện các thói quen không tốt cho răng miệng như xỉa răng bằng tăm, kiêng

chải răng sau khi sinh con.
Khi gặp các vấn đề về răng miệng, họ ít đi khám nha sĩ, chỉ quan tâm
đến sự phát triển của thai nhi, không dám lấy cao răng, vệ sinh răng miệng vì
nghĩ rằng lấy cao răng sẽ làm ảnh hưởng đến thai nhi và sợ chảy máu lợi, sợ
lây nhiễm bệnh. Cũng vì vậy, nguyện vọng của họ thường rất thấp so với nhu
cầu thực tế cần được chăm sóc điều trị.


24

1.4.1. Đặc điểm chung
Sức khỏe là biểu hiện của nhiều yếu tố tác động, trong đó vấn đề kiến
thức, thái độ, thực hành, sức khỏe đóng vai trò rất quan trọng, nó có thể thúc
đẩy tình trạng sức khỏe tốt lên hay xấu đi. Phụ nữ mang thai chưa có nhiều
hiểu biết về sức khỏe răng miệng, họ chỉ dựa vào kinh nghiệm tích lũy của
bản thân hoặc do người khác truyền lại. Hơn nữa, theo nghiên cứu của
Machuca (1999), Yalcin (2002), Taani (2003) và Sarlati (2004) cho thấy: kiến
thức chăm sóc răng miệng của PNMT liên quan đến nhiều yếu tố như trình độ
văn hóa, xã hội, nghề nghiệp, khu vực sinh sống, số con đã có, thời gian mang
thai. Mặt khác, người mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành về
chuyển giao thói quen chăm sóc răng miệng tốt cho trẻ nên việc thực hiện các
biện pháp phòng ngừa và kiểm soát răng miệng của PNMT là rất quan trọng,
góp phần mang lại sức khỏe tối ưu cho mẹ, thai nhi và bộ răng tốt cho trẻ
trong tương lai.
1.4.2. Các yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe
răng miệng ở phụ nữ mang thai
Sức khỏe răng miệng của PNMT chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Khi
có thai, do sự thay đổi nội tiết tố làm đáp ứng viêm mạnh hơn, dễ viêm lợi và
bệnh sẽ trở nên trầm trọng hơn khi có mảng bám cao răng hay VSRM kém.
Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể do trình độ học vấn, nghề nghiệp, tập quán

văn hóa, số con đã có, thời gian mang thai và nhất là yếu tố không được chăm
sóc sức khỏe răng miệng trước khi mang thai tại các cơ sở dịch vụ nha khoa.
Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được tìm hiểu để đưa ra
các giải pháp can thiệp hợp lý. Nhằm tăng cường nhận thức, thay đổi thái độ,
hành vi sức khỏe cho PNMT, chúng ta cần giúp họ có ý thức tự chăm sóc sức
khỏe răng miệng, bỏ thói quen có hại như xỉa tăm, kiêng đánh răng sau khi


25

sinh con và có ý thức thăm khám răng định kỳ tại các cơ sở nha khoa. Đây là
một quá trình cần có sự tác động nhiều mặt nhưng ý thức bản thân luôn luôn
là yếu tố quyết định quan trọng.
1.5. VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG CHO PHỤ NỮ MANG THAI

Tỷ lệ mắc bệnh viêm lợi ở PNMT rất cao, nếu không được điều trị kịp
thời thì bệnh sẽ tiến triển thành viêm quanh răng, dẫn đến mất răng, ảnh
hưởng đến hệ tiêu hóa thức ăn, do đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai
nhi. Vì thế, với PNMT, chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng cũng
phải được quan tâm, tập trung ba biện pháp là giáo dục nha khoa, tổ chức các
cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh định kỳ và kiểm tra theo dõi thường xuyên
trong suốt thời kỳ mang thai và sau khi đẻ.
1.5.1. Vấn đề giáo dục nha khoa
Vấn đề giáo dục cho PNMT cần được thực hiện thông qua các hình thức
truyền tải nội dung giáo dục như truyền thanh, truyền hình, báo, tờ rơi... với
các nội dung như giáo dục kỹ năng chải răng, sử dụng chỉ tơ nha khoa, nước
súc miệng không có cồn... Khuyến cáo loại bỏ thói quen có hại như bỏ xỉa
tăm, kiêng đánh răng sau khi sinh để từ đó PNMT có thêm các hiểu biết về
phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe răng miệng, qua đó mà có thái độ cũng như
thực hành phù hợp. Khuyến khích giáo dục cá nhân thông qua gặp gỡ, tiếp

xúc, thảo luận ngay tại các phòng khám chữa răng hay ở bệnh viện.
1.5.2. Các biện pháp phòng bệnh tích cực
Khám định kỳ 3 - 6 tháng/lần cho PNMT để phát hiện bệnh sớm và can
thiệp kịp thời để ngăn chặn sự phát triển của bệnh. Cần khai thác kỹ tiền sử,
chú ý đến những biến chứng mà bệnh nhân bị trong thời kỳ mang thai hay
thông tin về những lần sẩy thai trước. Sau đó liên hệ với bác sỹ sản khoa để
thảo luận về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, nhu cầu điều trị nha khoa và
kế hoạch điều trị.


×