Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

KHOI KIEN THUC THU 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (253.83 KB, 31 trang )

KHỐI KIẾN THỨC THỨ HAI
ĐƯỜNG LỐI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NN
Vấn đề ôn tập 1: Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1. Khái niệm kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường. Đó là
cơ chế điều tiết nền kinh tế bởi các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
2. Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa
trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XII đã có bước phát triển mới về nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường,
đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền
kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”.
3. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Về mục tiêu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Ngoài mục tiêu của nền kinh tế thị trường là lợi nhuận thì mục tiêu phát triển của nền kinh tế định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm:
+ Phát triển lực lượng sản xuất;
+ Giải phóng sức lao động của xã hội;
+ Từng bước xây dựng tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
- Mặt khác, phát triển kinh tế thị trường thúc đẩy sản xuất phát triển tạo nhiều hàng hóa, phong phú và
chủng loại và nâng cao chất lượng hàng hóa để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Ở nước ta vừa thực hiện mục tiêu kinh tế, vừa thực hiện mục tiêu xã hội.
- Về đặc trưng sở hữu: ...là nền kinh tế “phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các
loại hình doanh nghiệp” và “mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo” để góp phần định hướng nền kinh tế phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa.


- Về chế độ phân phối trong nền KTTT định hướng XHCN là “công bằng trong phân phối các yếu tố sản
xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển. Phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao
động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua
phúc lợi xã hội".
- Về vai trò Nhà nước, sự điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta phải định hướng xã
hội chủ nghĩa trong sự phát triển của nền kinh tế thông qua xây dựng và thực hiện quy hoạch, chiến lược, kế
hoạch và chính sách phát triển kinh tế xã hội để từng bước xây dựng tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời, để đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước
tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự điều tiết của
Nhà nước vào nền kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia: khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia
(trong ngắn hạn, dài hạn), bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển kinh tế bền vững; bảo vệ lợi ích của nhân
dân, lợi ích người lao động, thực hiện các chính sách xã hội (xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội).
Liên hệ:
- Thành tựu và hạn chế trong lãnh chỉ đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của địa
phương.


+ Thành tựu,
+ Hạn chế,
- Giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XNCH trong thời gian tới.
Các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
1. Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy vai trò của
kinh tế nhà nước.
2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi
trường
3. Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường
4. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
5 Mở rộng kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Địa phương hiện nay:
Một là, Tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách; trọng tâm là xây dựng các cơ chế, chính sách thu hút
các nguồn lực đầu tư để phát triển KT-XH.
Hai là, đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp; tái cơ cấu nông nghiệp; phát triển dịch vụ theo
hướng phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương. Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch vùng sản xuất
nông nghiệp công nghệ cao. Mở rộng diện tích sản xuất vải thiều, rau chế biến, rau an toàn theo tiêu chuẩn
VietGap, GlobalGap.
Ba là, huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đô thị, giảm nợ đọng
xây dựng cơ bản. Rà soát các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử
dụng đất của các địa phương, bảo đảm sự đồng bộ giữa các quy hoạch để tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu
tư. Tăng cường huy động, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển, xây dựng danh
mục và đẩy mạnh thực hiện đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP); khuyến khích khu vực ngoài nhà
nước đầu tư kết cấu hạ tầng.
Bốn là, đẩy mạnh công tác thu ngân sách; nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước. Tăng
cường thanh tra, kiểm tra, khai thác triệt để nguồn thu, tăng thu, chống thất thu ngân sách. Tiếp tục thực hiện
cải cách thủ tục hành chính thuế. Điều hành chi ngân sách nhà nước bảo đảm hiệu quả gắn với các mục tiêu
phát triển của tỉnh.
Năm là, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều
hành của chính quyền các cấp. Rà soát thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt nhất để giảm chi phí gia nhập thị
trường và thời gian thực hiện các quy định cho DN, nhà đầu tư. Đổi mới tư duy, cách làm, giải quyết sáng tạo,
đúng quy định, phù hợp với tình hình địa phương những kiến nghị của DN, nhà đầu tư.
Sáu là, nâng cao vai trò của khoa học - công nghệ trong phát triển kinh tế, quản lý, khai thác có hiệu quả
nguồn lực đất đai, giải quyết ô nhiễm môi trường.
Bảy là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; nâng cao
chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; phát triển văn hóa, thể dục, thể thao.
Tám là, thực hiện đồng bộ, toàn diện và có hiệu quả các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo, đào
tạo nghề, giải quyết việc làm. Đổi mới, nâng cao hiệu quả dạy nghề gắn với giải quyết việc làm.
Chín là, tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển KT-XH.
Mười là, thực hiện tốt sự phối hợp với MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, các

đoàn thể nhân dân trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH. Tiếp tục phát động các
phong trào thi đua yêu nước gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”; thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tạo bước chuyển biến mạnh về chất trong các phong trào thi
đua.
Vấn đề ôn tập 2: Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản săc dân tộc


Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này
đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát
triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ
VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản
của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục
tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1. Những nhiệm vụ chủ yếu
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã xác định 8 nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện
trong quá trình xây dựng vền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Một là: XD con người VN phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển.
Để xd con người phải đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực của con người VN thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để phát
huy nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý
thức tuân thủ pháp luật.
Hai là: Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Vấn đề xây dựng môi trường văn hóa đã được đề cập trong các nghị quyết trước đây, song trong bối cảnh
tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì
cần chú trọng các vấn đề: xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa trong hệ thống chính trị, trong mỗi
địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình… góp

phần giáo dục, rèn luyện con người; đặc biệt là xây dựng môi trường văn hóa gắn với thực hiện chiến lược
phát triển gia đình Việt Nam cũng như các hình thức tổ chức cộng đồng xã hội khác thật sự là trung tâm văn
hóa giáo dục, rèn luyện con người; đồng thời thường xuyên quan tâm xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn
minh trong đời sống xã hội gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và chăm lo đời sống văn hóa người dân”.
Ba là: Đề cao nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế
Đây là nhiệm vụ mới, liên quan đến sự đổi mới tư duy về đặt văn hóa ngang bằng với các lĩnh vực kinh tế
và chính trị, đồng thời nhận thức đúng đắn mối quan hệ hữu cơ, đan xen, chuyển hóa biện chứng giữa văn hóa
với kinh tế và chính trị. Do đó cần chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà
nước, các đoàn thể như là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị. Đồng thời, thường xuyên quan
tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân… vì sự phát triển
bền vững của đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa
Hoạt động văn hóa trước hết phải coi trọng chất lượng, hiệu quả. Phải huy động sức mạnh toàn xã hội để
bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc.
Phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, chăm lo bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo
của đội ngũ văn nghệ sỹ. Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học nghệ thuật
Năm là: Làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản
Không phải ngẫu nhiên mà ở các nước tiên tiến, người ta coi lĩnh vực này như là quyền lực thứ tư (sau các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, tương dung như quyền giám pháp). Trong đó, các vấn đề hết sức quan
trọng là quy hoạch, sắp xếp hợp lý, phát triển lành mạnh, quản lý hiệu quả hệ thống báo chí, xuất bản, phát
thanh, truyền hình, các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ.
Sáu là: Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm
văn hóa


Đây là một nhiệm vụ mới, liên quan đến sự đổi mới tư duy về phát triển văn hóa phù hợp với tiêu chí của
sự nghiệp công nghiện hóa, hiện đại hóa. Tất nhiên, cần phân định xác đáng giữa hai tư cách của công nghiệp
văn hóa: tư cách bộ phận của nền kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế với tư cách một phương thức vận hành nền

văn hóa, đem lại giá trị văn hóa từ một lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần phải: có
cơ chế khuyến khích đầu tư để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa; tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp văn
hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch… phát triển; đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để
xây dựng, phát triển thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa; tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam...
Bảy là: Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Cần chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại,
đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa
văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. Đồng thời, cần chủ động đón nhận cơ hội phát triển,
vượt qua các thách thức để giữ gìn bản sắc dân tộc; hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái…
Tám là: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước đối với lĩnh vực văn hóa
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí
phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong sáng tạo.
Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững. Hoàn thiện các thiết chế văn hóa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa,
về quyền tác giả, các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Xây dựng chiến
lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa, nhất là chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở. Tăng mức đầu tư của
Nhà nước cho văn hóa một cách thỏa đáng gắn với mở rộng xã hội hóa nguồn đầu tư.
2. Liên hệ
Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị T.Ư 9 (khóa XI) về “Xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, tỉnh Bắc Giang đã đạt
được những kết quả quan trọng.
Nhận thức của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội
có chuyển biến, ngày càng được đề cao. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" thu được
kết quả thiết thực. Năm 2017, toàn tỉnh có 87,8% số hộ dân đạt danh hiệu 'Gia đình văn hóa'; 76,4% số làng,
bản, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa; 29,9% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và văn
minh đô thị. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số được quan tâm,
nhiều di sản đã được UNESCO công nhận; các di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt, các giá trị
di sản văn hóa ở địa phương được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Trình độ dân trí tiếp tục nâng lên; xây dựng con

người mới tiếp tục được quan tâm chăm lo cả về đời sống vật chất và tinh thần.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực cũng còn nhiều vấn đề cần lưu
ý trong xây dựng con người và môi trường văn hóa, nhất là văn hóa gia đình. Trong sự phát triển mạnh mẽ của
mọi mặt đời sống KT-XH đất nước còn có những bất cập, trong đó môi trường văn hóa bị xâm hại, xuất hiện
nhiều hiện tượng trái với thuần phong mỹ tục, nhất là trong một bộ phận thanh, thiếu niên.
Mặt trái của cơ chế thị trường nảy sinh nhiều vấn đề tác động đến đời sống gia đình Việt Nam nói chung, ở
tỉnh Bắc Giang nói riêng. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ,
đảng viên làm tổn hại đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân. Một bộ phận thanh, thiếu niên có biểu hiện
lệch lạc, méo mó về nhân cách, sống dựa dẫm, buông thả, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Hiện tượng những thôn, bản, xóm, làng, tổ dân phố “vắng lặng” ngày càng tăng...
Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan là do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự giao lưu
và xâm nhập của các loại văn hóa ngoại lai nhưng về mặt chủ quan là do một số cấp ủy đảng, chính quyền ở
cơ sở chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hoá và tính chất đặc thù của văn
hoá gia đình. Đầu tư cho phát triển văn hóa chưa tương xứng với đầu tư phát triển kinh tế.


Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị, xã hội nghề nghiệp còn nặng tính hành chính và hình thức,
chưa thu hút được quần chúng tham gia vào các phong trào hành động. Vai trò, chức năng của các tổ chức
quần chúng trong giải quyết các vụ việc nổi cộm, bức xúc của ngành và các địa phương còn hạn chế. Công tác
quản lý nhà nước về văn hóa chậm đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ.
Thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới ở Bắc Giang theo 5 đức
tính được nêu trong Nghị quyết T.Ư 5 (khóa VIII) chưa thực sự rõ nét. Công nhận danh hiệu gia đình văn hóa
ở một số địa phương còn hình thức, chạy theo thành tích.
Từ những vấn đề nêu trên và từ định hướng của Đảng trong Nghị quyết Hội nghị T.Ư 9 (khóa XI) về “Xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”, trong thời
gian tới, để thực hiện tốt Chương trình hành động số 75 ngày 20-4-2015 của Tỉnh ủy, Kế hoạch số 61 ngày 285-2015 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị T.Ư 9 (khóa XI), trước hết cần:
Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về vai trò,
tầm quan trọng của xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng con người Bắc Giang. Tiếp tục chăm lo xây
dựng, giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa, đức tính cao đẹp của người Bắc Giang với các đức tính
cơ bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, có lòng tự hào dân tộc, đạo đức

lối sống lành mạnh, luôn khát vọng vươn lên và cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
tỉnh…
Hai là, chú trọng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục
chính trị tư tưởng, truyền thống dựng nước giữ nước, truyền thống cách mạng; giáo dục đạo đức, lối sống cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Quan tâm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và có nhiều giải pháp đủ
mạnh để đấu tranh loại bỏ các yếu tố đang tác động tiêu cực đến môi trường văn hóa, gây tác hại, ảnh hưởng
xấu đến quá trình xây dựng và phát triển của con người Bắc Giang trong giai đoạn mới.
Ba là, tập trung xây dựng môi trường văn hóa gia đình và gia đình văn hóa nhằm tạo môi trường văn hóa
trong lành để giáo dục, xây dựng và hình thành chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người ngay tại từng gia
đình, xem việc giáo dục của gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến việc hình thành
nhân cách, đạo đức con người.
Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong trường học. Trường học không chỉ là nơi đào tạo
con người về tri thức khoa học mà còn giáo dục con người về đạo đức, nhân cách, kỹ năng sống và lý tưởng
cách mạng… Vì thế phải xây dựng môi trường văn hóa trường học thật sự trong lành, phải thật sự là nơi “kỷ
cương, tình thương, trách nhiệm”. Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương tiêu biểu về đạo đức, lối sống, giữ
nghiêm kỷ luật, kỷ cương, giữ gìn tư cách, đạo đức của người thầy giáo - một thiên chức được xã hội tôn vinh.
Năm là, chú trọng các biện pháp nhằm duy trì và nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn
hóa và nội dung các tiêu chí công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, tránh xu hướng chạy theo thành tích. Các
tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa phải phù hợp và có ý nghĩa thiết thực với đời sống của nhân dân, công tác
bình xét danh hiệu gia đình văn hóa phải được tiến hành trên nguyên tắc công bằng, dân chủ, đáp ứng được
nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, tạo được sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân.
Sáu là, tiếp tục nghiên cứu xây dựng các mô hình gia đình văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa với những giá trị mới tiên tiến, cần tiếp thu chuẩn mực đạo đức tích cực của gia đình truyền thống và
những tiến bộ của gia đình hiện đại trong xây dựng gia đình trong thời kỳ mới. Tạo điều kiện để nhân dân chủ
động tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng. Nêu cao vai trò gương mẫu của bậc cha mẹ đối với con cái.
Bảy là, phải có sự đầu tư về kinh phí, nguồn lực cho phong trào xây dựng gia đình văn hóa kết hợp với xây
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, tạo nền tảng cho sự phát triển
chung của toàn xã hội. Thường xuyên tổng kết, sơ kết phong trào xây dựng gia đình văn hóa kết hợp với các
phong trào khác để đạt được hiệu quả thiết thực.

Tám là, phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, nhất là cấp cơ sở trong xây
dựng văn hóa và con người. Thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng, cung cấp kiến thức văn hóa gia đình và nội


dung công tác xây dựng gia đình văn hóa cho cán bộ chỉ đạo hướng dẫn phong trào xây dựng gia đình văn hóa
các cấp, nhằm trang bị kiến thức xây dựng gia đình văn hóa trong đời sống xã hội hiện đại để cập nhật trước
yêu cầu đổi mới của thời đại và có định hướng hướng dẫn nhân dân thực hiện lâu dài.
Vấn đề ôn tập 3 : Quan điểm phát triển khoa học – công nghệ
- Khái niệm khoa học: Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Hệ thống tri thức này được nghiên cứu, khái quát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm.
- Khái niệm công nghệ: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, công cụ, phương tiện
dùng để biến đổi nguồn lực tự nhiên, nguồn lực sản xuất trung gian thành sản phẩm.
- Hoạt động khoa học công nghệ: Là hoạt động có liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra, nâng cao, phổ
biến, áp dụng các tri thức kho học – công nghệ vào sản xuất đời sống.
Quan điểm phát triển KH-CN
Tại Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương khóa XI (2012), Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị
quyết về phát triển khoa học- công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nhấn mạnh những quan điểm sau:
Một là, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực
quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung
đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của
Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành
công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ.
Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, hoạt động, xây dựng chiến lược,
kế hoạch phát triển khoa học-công nghệ; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự
chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí
tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ.
Bốn là, ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển khoa học và công nghệ. Nhà nước có

trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm
lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng
và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới ứng dụng và chuyển giao
công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường khoa học và công nghệ. Quan tâm đúng mức đến
nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Năm là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến của thế
giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia
các dự án khoa học và công nghệ của Việt Nam. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên
cứu sinh, thực tập sinh sau khi được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc.
Những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về phát triển khoa học công nghệ mà Đảng và Nhà nước đề ra có
thể thực hiện thắng lợi hay không là do quá trình tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng và chính quyền, các cơ
quan quản lý khoa học, đội ngũ các nhà khoa học, các doanh nghiệp và của toàn thể nhân dân. Vì vậy, nâng
cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực khoa học - công nghệ hiện nay là
một đòi hỏi bức thiết để tạo tiền đề và cơ hội cho khoa học công nghệ phát triển, đáp ứng được đòi hỏi khách
quan của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Quán triệt sâu sắc và toàn diện những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục - đào tạo và
khoa học - công nghệ trong hoạt động thực tiễn, nêu cao vai trò trách nhiệm lành đạo của Đảng và quản lý của
chính quyền các cấp, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và các nhà giáo, huy
động mọi lực lượng xã hội tham gia tổ chức và thực hiện tốt chính sách phát triển giáo dục - đào tạo và khoa
học - công nghệ là cơ sở để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hướng tới
đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Liên hệ việc phát triển khoa học và công nghệ


Khoa học và công nghệ (KH&CN) là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh
và bền vững. Đối với Bắc Giang, tỉnh luôn quán triệt các cấp ủy, chính quyền quan tâm đầu tư cho KH&CN,
coi KH&CN là động lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Trong những năm gần đây, lĩnh vực KH&CN đã có những bước tiến nổi bật trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Hoạt động KH&CN ngày càng gắn với kinh tế - xã hội, chú trọng tới
tính hiệu quả, hướng tới doanh nghiệp, thị trường và khẳng định được vai trò trong việc nâng cao hiệu quả sản

xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của ngành KH&CN Việt
Nam, ngành KH&CN tỉnh Bắc Giang đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, những kết quả này được thể hiện trên các mặt công tác tham mưu quản lý nhà nước về hoạt động
KH&CN; triển khai các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ; sở hữu trí tuệ; an toàn bức
xạ hạt nhân; tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng; thanh tra; thông tin khoa học… đặc biệt là hoạt động triển khai
các đề tài, dự án đã góp phần quan trọng đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất và đời sống.
Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, trong những năm tới, hoạt động KH&CN của tỉnh tập
trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp và nông
thôn. Đặc biệt là công nghệ sinh học để tuyển chọn giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt
đưa vào sản xuất, đi đôi với các biện pháp thâm canh tiến bộ, phòng trừ dịch bệnh để phát triển các vùng sản
xuất hàng hóa tập trung cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu ứng dụng đổi mới công nghệ gắn với việc áp dụng
hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo ra hàng hóa có giá trị, đủ sức cạnh
tranh trong quá trình hội nhập và bảo vệ môi trường. Tập trung nghiên cứu các vấn đề xã hội, nhằm phát huy
yếu tố tích cực của con người và các giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa các dân tộc trong tỉnh. Nghiên cứu,
ứng dụng các phương pháp mới trong giáo dục, đào tạo, y tế.
Đẩy mạnh hoạt động thông tin KH&CN, ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác hiệu quả các
thành tựu KH&CN, đồng thời hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý xã hội, tổ chức điều hành sản xuất kinh
doanh và dịch vụ. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, sở hữu trí tuệ, an
toàn bức xạ và hạt nhân bảo đảm cho sự cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng quyền lợi người tiêu dùng.
Nâng cao trình độ khoa học – công nghệ nhằm tăng năng suất lao động, chất lượng, khả năng cạnh tranh
của các sản phẩm địa phương. Đưa khoa học – công nghệ gắn liền với sản xuất một số sản phẩm nông sản chủ
lực để nâng cao chất lượng, đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu.
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, hoạt động của các tổ chức khoa học – công nghệ; khuyến khích liên kết
các cơ sở sản xuất với các viện nghiên cứu, trường đại học. Từng bước hình thành quỹ phát triển khoa học của
tỉnh. Hỗ trợ các cá nhân, tổ chức trong đổi mới công nghệ, xây dựng và quản bá thương hiệu.
Tăng nguồn vốn đầu tư cho khoa học – công nghệ. Quan tâm phát triển đội ngũ trí thức của tỉnh để nâng
cao năng lực trong việc tham gia nghiên cứu, xây dựng các chính sách phát triển của tỉnh; xây dựng cơ chế,
chính sách đặc thù nhằm đào tạo thu hút và sử dụng nhân lực khoa học – công nghệ, đặc biệt là nhân lực trình

độ cao.
Vấn đề ôn tập 4: Thành tựu và hạn chế của sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện
nay.
1. Khái niệm về giáo dục – đào tạo
- Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm
người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu.
- Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh
vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để
chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.
2. Những thành tựu và hạn chế của sự nghiệp phát triển giáo dục – đào tạo.
Thành tựu:


- Quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo tiếp tục được mở rộng, cả nước hiện có gần 24 triệu cán bộ
quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh, sinh viên.
- Hệ thống giáo dục - đào tạo các cấp từ cơ sở đến đại học, dạy nghề được tổ chức lại một bước.
- Quan tâm đầu tư cho giáo dục - đào tạo được chú ý hơn, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo
đạt trên 20% tổng chi ngân sách.
- Chất lượng giáo dục - đào tạo có bước tiến bộ. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục - đào tạo được cải thiện và
có bước hiện đại hóa.
- Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh. Công tác quản lý giáo dục - đào tạo có bước chuyển biến.
Chủ trương đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người, cho phát triển đã được các cấp ủy, chính quyền
quan tâm chỉ đạo thực hiện và nhận được sự ủng hộ của toàn xã hội.
Hạn chế:
- Giáo dục - đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển.
- Chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề
nghiệp.
- Hệ thống giáo dục - đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục - đào tạo;
còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành.
- Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động

trong và ngoài nước; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống và kỹ năng
làm việc.
- Phương pháp giáo dục, thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất, còn chạy theo bệnh
thành tích.
- Quản lý giáo dục - đào tạo có mặt còn yếu kém.
- Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu.
- Đầu tư cho giáo dục - đào tạo còn dàn trải, chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục - đào
tạo chưa phù hợp.
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thiếu thốn và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về giáo dục – đào tạo.
Kế thừa, phát triển các quan điểm của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, nghị quyết của các kỳ Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI về giáo dục, đào tạo, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI đã ra Nghị quyết “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” (Nghị
quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013) hệ thống bảy quan điểm chỉ đạo như sau:
Một là, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội.
Hai là, đổi mới căn bản toàn diện giáo dục - đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ
quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực
hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục
- đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học,
ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp
thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc.
Đổi mới phải đảm bảo tính hệ thống,tầm nhìn dài hạn, phù hợp với tùng loại đối tượng và cấp học; các giải
pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
Ba là, phát triển giáo dục - đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển
mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người
học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo
dục xã hội.



Bốn là, phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ
quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục đào tạo từ
chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Năm là, đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và
giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục - đào tạo.
Sáu là, chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục - đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và
ngoài công lập, giữa các vùng miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó
khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách.Thực hiện dân
chủ hóa, xã hội hóa giáo dục - đào tạo.
Bảy là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục - đào tạo, đồng thời giáo dục - đào
tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
3. Liên hệ phát triển giáo dục, đào tạo ở địa phương
*Thực trạng:
Tỉnh Bắc Giang có 838 cơ sở giáo dục và đào tạo. Mạng lưới các trường được bố trí hợp lý, bảo đảm mỗi
xã có đủ 3 trường (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở); cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được đầu tư nâng cấp
theo hướng kiên cố, hiện đại và từng bước chuẩn hóa.
Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục phát triển về số lượng và tiếp tục nâng cao về chất lượng, 100%
đội ngũ cán bộ, giáo viên đã đạt chuẩn và trên chuẩn. Công tác quản lý và giáo dục và phương pháp dạy học
có nhiều đổi mới.Chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học có nhiều chuyển biến tiến bộ.
Công tác đào tạo nghề được quan tâm đầu tư, từng bước gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh
nghiệp, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm; mỗi năm, các cơ sở trên địa bàn đào tạo nghề cho gần 3 vạn
lao động.
*Hạn chế:
Giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng cho học sinh chuyển biến chậm. Tư tưởng, đạo đức, lối sống của
một bộ phận thanh thiếu niên đang có những biểu hiện lệch lạc, xuống cấp.
Trình độ nghề của người lao động còn thấp. Công tác đào tạo nghề chưa sát với nhu cầu của doanh
nghiệp. Các cơ sở dạy nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trình độ trung cấp nghề có quy mô tuyển sinh nhỏ,

chủ yếu các cơ sở dạy nghề tuyển sinh đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng; việc đổi mới để
nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình đào tạo nghề đáp ứng thị trường lao động còn nhiều hạn chế.
* Giải pháp:
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ và chất lượng, hiệu quả
giáo dục và đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân. Nâng cao chất lượng dạy nghề
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Để triển khai nhiệm vụ trên cần tập trung thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI. Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng, nâng
cấp cơ sở giáo dục - đào tạo. Hoàn thiện hệ thống giáo dục - đào tạo và dạy nghề theo hướng hệ thống giáo
dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng chú trọng
phát huy năng lực của người học; rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Đầu tư trọng tâm đề án giáo dục ngoại
ngữ Tiếng Anh cho giáo viên và học sinh, tạo nền tảng phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; tích cực áp dụng phương pháp dạy học mới. Đổi mới
công tác quản lý giáo dục, đào tạo và dạy nghề; tăng quyền tự chủ và tựu chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo
dục - đào tạo và dạy nghề. Đẩy mạnh công tác khuyến học, xây dựng xã hội học tập; kết hợp chặt chẽ giữa gia
đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục. Quan tâm đầu tư cho giáo dục vùng miền núi, vùng dân tộc, con em
gia đình chính sách. Làm tốt công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh gắn với từng bước nâng cao chất
lượng đào tạo nghề; chuẩn bị các điều kiện để Bắc Giang trở thành trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao của
khu vực.
Vấn đề ôn tập 5: công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam


Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và ngày càng nhanh chóng như hiện nay, quốc gia nào muốn phát
triển phải đi nhanh vào nền kinh tế tri thức. Bởi vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức là bước đi tất yếu mà Việt Nam sẽ phải trải qua. Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng đều đưa ra những chủ trương,
đường lối, chính sách thiết thực nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay.
1. Khái niệm:
- Khái niệm công nghiệp hóa: CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công
nghiệp, từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp.

- Khái niệm hiện đại hóa: Là quá trình chuyển dịch căn bản từ XH truyền thống lên XH hiện đại, quá trình
làm cho nền KT và đời sống XH mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay
- Khái niệm kinh tế tri thức: là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ
yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế
- Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến khoa học, công nghệ, tạo năng suất lao động xã hội cao.
2. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triền kinh tế tri thức ở
Việt Nam:
- Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức là con đường tất yếu của mọi quốc
gia trong quá trình phát triển trong bối cảnh ngày nay. CNH, HĐH là tất yếu đối với mọi quốc gia trên con
đường trở thành một xã hội hiện đại. Thêm vào đó, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp và các nền
kinh tế phải đối mặt với cạnh tranh. Để tồn tại và phát triển, các chủ thể kinh tế phải đổi mới công nghệ, tiết
kiệm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực. Đòi hỏi
đó tất yếu thúc đẩy quá trình chuyển việc sản xuất chủ yếu dựa vào công cụ lao động thủ công lên sản xuất
bằng máy và lên trình độ ngày càng cao hơn. Đây chính là quá trình CNH, HĐH.
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mức độ cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt hơn. Việc tìm và tạo
lợi thế cạnh tranh, tham gia phân công lao động trong nước và quốc tế để tồn tại và phát triển là yêu cầu bắt
buộc đối với mọi chủ chủ doanh nghiệp và mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó, những lợi thế do những biến đổi
chủ quan thông qua hoạt động của con người ngày càng trở lên quyết định hơn so với lợi thế do phân bố ngẫu
nhiên về tài nguyên và vị trí của đất nước. CHính vì thế, CNH, HĐH tất yếu ngày càng đạt trình độ cao hơn,
hoạt động kinh tế có năng suất và hiệu quả cao hơn.
- Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất nước sớm ra
khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển.
Nước ta tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đang
diễn ra mạnh mẽ chưa từng có, các nước đang trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chuyển mạnh lên
kinh tế tri thức. Ở trong nước, tuy đã có những phát triển tích cực, nhưng về cơ bản, chúng ta vẫn chưa thoát
khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển. Đất nước vẫn phải đương đầu với những thách thưc gay gắt và
những nhiệm vụ nan giải. Khi các yếu tố cho phát triển kinh tế - xã hội không chỉ đơn thuần là vốn, lao động,

tài nguyên thiên nhiên mà còn có thêm yếu tố tri thức với ý nghĩa ngày càng có vai trò quan trọng, trực tiếp và
quyết định, nếu không nhanh chóng nắm bắt và vận dụng được tri thức mới thì sẽ không thể tránh khỏi sự tụt
hậu, cách xa so với các nước phát triển. Trong điều kiện đó, nước ta không thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải
pháp bứt phá, tức là phải khai thác “lợi thế nước đi sau” nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế
tri thức.
Chỉ có mạnh dạn đi vào phát triển kinh tế tri thức mới có khả năng đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH, hội nhập
quốc tế. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức còn là cần thiết để cải thiện và nâng cao mức
sống người dân.


- Thứ ba, đẩu mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu bắt buộc để
tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; củng cố an ninh, quốc phòng trong thời đại toàn cầu
hóa.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn, hiện đại với cơ cấu kinh tế hợp lý,
trình độ xã hội hóa cao, dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ kế thừa những thành quả văn minh nhân loại đã đạt được trong
chủ nghĩa tư bản, mà còn được phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học,
công nghệ, tham gia tích cực và có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Đối với các nước đã qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội,
việc xác lập cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được tiến hành thông qua kế thừa, điều chỉnh và
hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật đã đạt được trong CNTB theo yêu cầu của chế độ mới và phát triển nó lên
trình độ cao hơn. Tạo lập cơ sơt vật chất – kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực là đòi hỏi có tính
bắt buộc đối với tất cả các nước muốn quá độ lên CNXH. Đòi hỏi này càng trở nên cấp thiết đối với một nước
có điểm xuất phát thấp như Việt Nam. Con đường cơ bản để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH,
củng cố tiềm lực quốc phòng an ninh ở nước ta hiện nay tất yếu phải là đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức.
- Thứ tư, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tể sâu hơn, đầy đủ hơn.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu hướng phát triển nổi trội hiện nay, Trong xu hướng này, nhân
loại đang đẩy nhanh việc đi đến một thị trường thế giới thống nhất, một hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu,

phát triển, phân công lao động quốc tế hướng mạnh theo chiều sâu, giao lưu khoa học và công nghệ giữa các
nước ngày càng mở rộng. Hội nhập quốc tế thúc đẩy các doanh nghiệp và các quốc gia sẵn sàng hợp tác với
nhau để cùng hưởng lợi do hợp tác mang lại.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra cơ hội cho sự phát triển nhảy vọt của nước đi sau, nhưng nó
cũng đặt ra không ít thách thức đòi hỏi mỗi nước phải biết lựa chọn gải pháp phát triển. Đối với nước ta, để
chủ động hội nhập sâu hơn, đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương có hiệu quả,
một đòi hỏi mang tính bắt buộc là phải đẩy mạng CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phải coi tri
thức là đòn bẩy làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, thúc đẩy quá
trình hội nhập.
* Liên hệ:
- Đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn,
nông dân, trước hết là tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo mô hình hợp tác xã kiểu mới. Đẩy mạnh hợp tác
và tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của Nhật Bản, Israen nhằm khai
thác, phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước, tạo ra nguồn nông sản chất lượng cao, sản lượng lớn, đáp ứng
nhu cầu xuất khẩu. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng. Xây
dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất
lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và
lâu
dài.
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của cả hệ thống
chính trị dưới sự lãnh đạo của Ðảng; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí
thức thành nền tảng bền vững bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Nguồn nhân lực chất lượng cao cso vai trò quyết
định tốc độ và chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ững yêu cầu của CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt nam cần chú ý các giải pháp cụ
thể là:



Cải cách toàn diện giá dục và đào tạo: coi đó là nhiệm vụ cấp bách. Phải chuyển trọng tâm của việc giáo
dục từ trang bị tri thức sang bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng
lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển.
Xây dựng xã hội học tập dưới nhiều hình thức và biện pháp, tạo cơ hội và khuyến khích mọi người dân
tham gia học tập, nâng cao tính chủ động cho người học trên cơ sở gắn kết với những yêu cầu đẩy mạnh CNH,
HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Nâng cao chất lượng toàn diện cho người lao động. Trong thời gian tới phải đào tạo ra được đội ngũ nhân
lực có lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, có tinh thần trách nhiệm và ý thức cộng đồng khi thực hiện các công việc
được giao; phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có phương pháp và kỹ năng thực hành bảo đảm năng suất,
chất lượng và hiệu quả công việc được giao; có sự năng động, sáng tạo trong công việc, có ý thức tự giác học
hỏi, dám đương đầu với những thách thức và có sức khỏe tốt.
- Thúc đẩy phát triển Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ có vai trò là động lực, quyết định lợi thế
cạnh tranh và tốc độ phát triển của toàn bộ quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Để thúc đẩy Khoa học công nghệ theo yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế
tri thức, cần thực hiện một số giải pháp như: xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường
lối, chủ trương CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh; đẩy mạnh
nghiên cứu khoa học; xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; thực hiện
chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên
lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao; phát triển nhanh thị trường khoa học và công nghệ; Đổi mới
cơ chế quản ký khoa học và công nghệ, có cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đi thẳng vào
công nghệ tiên tiến, công nghệ chất lượng cao…
- Tạo lập nguồn vốn đầu tư cho đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức: Vốn là điều kiện
quan trọng nhát để bảo đảm việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trở thành hiện thực.
Vốn được tạo lập từ hai nguồn là tích lũy trong nội bộ nền kinh tế và thu hút từ bên ngoài. Đảng ta xác định, về
cơ bản, lâu dài, vốn trong nước là chủ yếu, là quyết định, vốn từ bên ngoài là rất quan trọng nhất là trong thời
kỳ đầu. Phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đa dạng hóa nguồn
vốn đáp ững yêu cầu đầu tư vào phát triển.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại: Thông qua quan hệ kinh tế này phát huy lợi thế của nền
kinh tế và mở rộng thị trường, đồng thời tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ bên ngoài phục vụ cho

sự nghiệp đẩy mạng CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.
- Bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu
lực quản lý của Nhà nước: Quá trình tiến hành CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức không phải hoàn
thành trong một sớm một chiều, mà phải trải qua thời gian khá nhiều năm. Việc bảo đảm ổn định về chính trị,
kinh tế, xã hội cho quá trình này là rất cần thiết và đây chính là điều kiện tiên quyết của sự tăng trưởng và phát
triển.
Câu 6: Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam;
- K/n: Mô hình tăng trưởng kinh là một công cụ lý thuyết mô tả các quá trình kinh tế thông qua các biến số
kinh tế và những mối quan hệ logic và định lượng giữa các biến số đó. Mô hình có thể được diễn đạt dưới
dạng lời văn, sơ đồ hoặc các biểu thức toán học
- Tính cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
+ Xuất phát từ hạn chế, yếu kém của mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng ở Việt Nam giai đoạn
1991 – 2010…
+ Xuất phát từ xu hướng đổi mới mô hình tăng trưởng sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu…
+ Xuất phát từ yêu cầu chủ động thích ứng trong hội nhập kinh tế quốc tế…
- Các nguyên tắc đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
+ Chuyển dần tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.


+ Phải coi trong hiện đại hóa, lấy hiện đại hóa làm nền tảng để đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và
dài hạn.
+ Phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và phát triển tất cả các vùng.
+ Phải hài hòa vai trò Nhà nước và thị trường trong phân bổ các nguồn lực tăng trưởng.
+ Phải gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
+ Phải đổi mới mô hình tăng trưởng một cách toàn diện, đồng bộ và có hệ thống.
Câu 7. Những giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH.
- Khái niệm công nghiệp hóa: CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công
nghiệp, từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp.
- Khái niệm hiện đại hóa: Là quá trình chuyển dịch căn bản từ XH truyền thống lên XH hiện đại, quá trình

làm cho nền KT và đời sống XH mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay
- Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến khoa học, công nghệ, tạo năng suất lao động xã hội cao.
+ Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quyết định tốc độ và chất lượng của sự phảt triển kinh tế - xã hội.
Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, cần phải chăm lo phát triển
nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, phải ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo, thực sự coi đó là
quốc sách hàng đầu1.
Để thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cac đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tể tri thức ở Việt Nam cần chú ý các giải pháp cụ thể là:
Cải cách toàn diện giáo dục và đào tạo, coi đó là nhiệm vụ cấp bách. Phải chuyển trọng tâm của việc giáo
dục từ trang bị tri thức sang bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng
lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển.
Xây dựng xã hội học tập dưới nhiều hình thức và biện pháp, tạo cơ hội và khuyển khích mọi người dân
tham gia học tập, nâng cao tính chủ động cho người học trên cơ sở gắn kết với những yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gan với phát triển kinh tế tri thức.
Nâng cao chất lượng toàn diện cho người lao động. Trong thời gian tới phải tạo ra được đội ngũ nhân lực có
lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, có tính thần trách nhiệm và ý thức cộng đồng khi thực hiện các công việc được
giao; phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có phương pháp và kỹ năng thực hành bảo đảm năng suất, chất
lượng và hiệu quả công việc được giao; có sự năng động và sáng tạo trong công việc, có ý thức tự giác học hỏi,
dám đương đầu với những thách thức và có sức khỏe tốt.
Văn kiện Đại hội XII xác định: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân
lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục đào tạo theo hướng mở, hội nhập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối
sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân... Phát triển giáo dục đại học theo hướng hình thành
cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng và cơ sở giáo dục
đại học định hướng thực hành”1.
+ Thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ có vai trò là động lực, quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của toàn bộ
quá trình đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đảng ta xác định khoa
học và công nghệ cùng với giáo dục vả đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước2.
Để thúc đẩy phát hiển khoa học và công nghệ theo yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, cần phải:
Xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối, chủ trương công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh.


Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học để đánh giá chính xác nguồn tài nguyên quốc gia, nắm bắt tri thức mới
và các công nghệ cao cùng với những thành tựu mới nhất về khoa học của thế giới; hướng mạnh vào việc nâng
cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và
của nền kinh tế trên thị trường.
Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Trước mắt, đẩy nhanh tiến
trình xây dựng 2 trung tâm quốc gia về công nghệ cao ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đầu tàu,
là mô hình tiêu biểu cho phát triển công nghệ của cả nước.
Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng,
kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tạy nghề cao. Khuyến khích đu học sinh ra nước ngoài học
tập và có chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút số du học sinh này về nước làm việc hay lập nghiệp.
Phát triển nhanh thị trường khoa học và công nghệ để bảo đảm mọi tri thức, công nghệ đều được trao đổi,
mua bán, chuyển giao thuận lợi trên thị trường, được nuôi dưỡng bằng tinh thần cạnh tranh bình đẳng.
Có cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đi thẳng vào các công nghệ tiên tiến, công nghệ chất
lượng cao.
Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù
sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động khoa học và công nghệ.
+ Tạo lập nguồn vốn đầu tư cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức
Vốn là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức trở thành hiện thực.

Vốn được tạo lập từ hai nguồn là tích lũy trong nội bộ nền kinh tể và thu hút từ bên ngoài. Đảng ta xác định,
về cơ bản, lâu dài, vốn trong nước là chủ yếu và quyết định, vốn từ bên ngoài là rất quan trọng nhất là trong
thời kỳ đầu.
Việc tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh;
Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải quyết nguồn vốn trong nước. Giải quyết tốt mối
quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng tròng nhân dân trên quan điểm tiết kiệm là quốc sách. Sử dụng có hiệu quả
vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Chống lãng phí, thất thoát vốn.
Để thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài, phải tiếp tục hoằn thiện cơ chế mở cửa nền kinh tế, sử dụng nhiều
hình thức: thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay vốn, hợp tác liên doanh, thành lập các đặc khu kinh tế, các
khu kinh tế mở, V.V.. Kiện toàn hệ thống pháp luật về kinh tế đối ngoại, thực hiện hợp lý các chính sách ưu
đãi, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để người và tổ chức nước ngoài vào Việt Nam hợp tác đầu tư.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đa dạng hóa nguồn vốn đáp ứng yêu
cầu đầu tư phát triển.
+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Trong xu thế toàn cầu hóa, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại là một đòi hỏi thiết yếu. Thông
qua quan hệ kinh tế này mà phát huy lợi thế của nền kinh tế và mở rộng thị trường, đồng thời tranh thủ vốn, kỹ
thuật, công nghệ tiên tiển từ bên ngoài phục vụ cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát ứiển kinh tế tri thức.
Để hiện thực hóa những yêu cầu trên, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách kinh tế đối ngoại, nhất là cơ
chế, chính sách hợp tác về khoa học và công nghệ, hợp tác đầu tư, hợp tác giáo dục và đào tạo và phải bảo đảm
các hình thức hợp tác vừa có hiệu quả kinh tế cao, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vừa giữ
vững độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc.
+ Bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao
hiện lực quản lý của Nhà nước
Quá trinh tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức không phải hoàn thành
trong một sớm một chiều, mà phải trải qua thời gian khá nhiều năm. Việc bảo đảm ổn định về chính trị, kinh
tế, xã hội cho quá trình này là rất cần thiết và đây chính là điều kiện tiên quyết của sự tăng trưởng và phát triển.


Phải bảo đảm tính nhất quán, tính đồng bộ và ổn định lâu dài của hệ thống luật pháp, của đường lối, chính

sách nói chung và đường lối, chính sách kinh tế nói riêng.
Phải bảo đảm sự ổn định về kinh tế, trước hết là ổn định thị trường, giá cả, phải kiểm soát được lạm phát,
môi trường cạnh tranh phải lành mạnh.
Phải bảo đảm sự ổn định về xã hội, người dân tin tưởng vào hoạt động đầu tư của mình, trật tự an toàn xã
hội phải được giữ vững.
Đại hội XI của Đảng yêu cầu: “Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường quốc
phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất
nước phát triển nhanh và bền vững”1.
Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức
mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng
quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”2.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gấn với phát triển kinh tế tri thức là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Vì
thế, sự đồng thuận xã hội là một tiền đề có ý nghĩa quyết định. Để tạo lập tiền đề này, cần tiếp tục hoàn thiện cơ
chế, chính sách và tổ chức bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước với phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Kinh nghiệm trên thế
giới cho thấy, chính sách kinh tế của nhà nước đóng vai trò quyết định sống còn đối vơi sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HTCT, NHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT XHCN
Câu 1. Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; phương hướng, nhiệm vụ xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XII.
* Khái niệm NNPQ XHCNVN:
Là Nhà nước XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về ND; đảm bảo
tính tối cao của HP, quản lý XH bằng PL nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của ND, do Đảng tiền phong của
giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước ND và chịu sự giám sát của ND.
* Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:

- Là Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà thuộc về nhân dân
+ Mọi quyền hành NN đều thuộc về ND, ND là chủ của đất nước, được hưởng đầy đủ các quyền của con
người, tự do, mưu cầu hạnh phúc
+ Nhà nước PQVN là kết tinh của khối đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là công nông trí thức. Tất cả
người dân không phân biệt đều là chủ đất nước, tham gia vào công việc của NN, có TN xây dựng đất nước.
+ ND thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua cơ quan NN do ND bầu; hoặc trực tiếp tham gia quản
lý NN và XH; k. tra, giám sát hoạt động của CQNN, CBCC, bãi miễn những người không xứng đáng với sự
uỷ nhiệm của nhân dân. Còn những người đại diện cho nhân chỉ là người uỷ quyền của nhân dân, thay mặt
nhân dân quản lý đất nước. Hồ Chí Minh khẳng định: “các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc đến làng đều là
công bộc của dan, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ
dưới quyền thống trị của Pháp Nhật”.
- Nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
+Nhà nước Việt Nam là nhà nước của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Và nhân dân thực
hiện quyền lực của mình thông qua bầu cử những người đại diện cho mình thựchiện quyền lực đó. Những


người được nhân dân bầu sẽ thay mặt nhân dân tham gia vào thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp trong các cơ quan của bộ máy nhà nước.
+ Nguyên tắc tập trung quyền lực phân công phân nhiệm trong thực hiện quyền lực NN thể hiện tính dân
chủ, trí tuệ tập thể, đảm bảo tính khoa học, hợp lý, hiệu quả trong việc thựchiện quyền lực, sự chuyên môn hoá
cao trong BMNN. Tổ chức và thực hiện nguyên tắc này chính là sự thể hiện đầy đủ nhất ý chí của nhân dân
trong việc tổ chức quyền lực nhà nước.
+ Tránh sự lạm dụng quyền lực của mỗi cơ quan nên các cơ quan trong bộ máy NN đều có sự phối hợp lẫn
nhau, ràng buộc, hợp tác và giám sát lẫn nhau nhằm đảm bảo mỗi cơ quan làm đúng chức năng, nhiệm vụ,
thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật.
- Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các
đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo
đó, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp và pháp luật; được làm tất
cả những việc mà Hiến pháp và pháp luật cho phép làm; hoạt động trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp

và pháp luật; công cụ quản lý xã hội của Nhà nước chủ yếu bằng Hiến pháp và pháp luật.
- Nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo đảm quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; bảo đảm
trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con
người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng
- Là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự
giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng
vạch ra đường lối chính trị, những chủ trương và phương hướng lớn, quyết định những vấn đề quan trọng về
tổ chức bộ máy, chỉ đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để thông qua Nhà nước thể chế hóa
các chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật để áp dụng chung, thống nhất trên quy mô toàn xã hội,
thực hiện và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn các cơ quan
nhà nước hoạt động theo đúng đường lối của Đảng và đào tạo cán bộ tăng cường cho bộ máy nhà nước.
- Là Nhà nước thực hiện đường lối hòa bình, hữu nghị với nhân dân các dân tộc và các nhà nước trên thế
giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau và cùng có lợi; đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước
quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.Việc xây dựng NNPQVN không chỉ thể hiện trong đường lối đối nội
của nhà nước ta mà còn được thể hiện trong các chính sách đối ngoại. Chính sách đó thể hiện khát vọng hòa
bình của nhân dân ta, thể hiện mong muốn hợp tác trên tinh thần hoà bình, hữu nghị, cùng có lợi với các nước
trên thế giới với phương châm: VN muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới; thêm bạn bớt thù vì thế
NN ta không ngừng thiết lập mối quan hệ hữu nghị với các nước, chúng ta không phân biệt quốc gia có hình
thức chính thể nào mà đều tham gia hợp tác với mong muốn đôi bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền
của nhau. Nhờ vậy, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế đã có cách nhìn nhận mới và ngày càng
được nâng lên rõ rệt.
* Phương hướng xây dựng NNPQ XHCN VN:
- Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền dân chủ ND, tất cả quyền lực NN thuộc về ND
- Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện PL
- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt đông của QH

- Đẩy mạnh cải cách hành chính
- Đẩy mạnh cải cách tư pháp
- Xây dựng đội ngũ CB, CC có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu của NNPQ của ND, do ND và vì
ND
- Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước.


- Đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng đối với NN trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN của ND, do ND và
vì ND
* Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN theo Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.
- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm
vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị:
Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và
phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn. Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng
bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh
gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp
và pháp luật.
- Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp
năm 2013, đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Phân
định rõ hơn vai trò và hoàn thiện cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.
Trong những năm tới, đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng
cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà
nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất
nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội.
Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực

giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực
nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn
cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền. Tiếp tục phân định rõ
thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính
quyền địa phương.
- Hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước:
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn
lực của đất nước. Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, bảo
đảm cơ cấu và tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng đại biểu, tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách một
cách hợp lý. Hoàn thiện cơ chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt
động lập pháp của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, cơ chế giám sát, đánh giá đối với người giữ chức vụ do Quốc
hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với
kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của nhân dân.
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Đẩy
mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân
chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể
chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước;
giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công
vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức;
đẩy nhanh việc áp dụng chính phủ điện tử.
Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công


dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và
cá nhân. Phân định rành mạch thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong tổ
chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Cụ thể hóa đầy đủ các nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ

của Tòa án nhân dân và hoạt động xét xử. Tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử; bảo đảm nguyên tắc độc
lập, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, của đương sự. Tiếp tục xã
hội hóa một số hoạt động tư pháp và bổ trợ tư pháp có đủ điều kiện. Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án; tăng cường
trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra. Kiện toàn tổ chức cơ quan điều tra, xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan điều tra. Nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của luật sư, bổ trợ tư pháp.
Về chính quyền địa phương : Trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của nền
hành chính quốc gia, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi cấp chính quyền địa
phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của
chính quyền địa phương gắn kết hữu cơ với đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội ở các cấp. Hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm ở
nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo luật định.
- Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Đảng tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán
bộ, công chức. Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức,
mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong
sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Thực hiện thí điểm dân
trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý.
Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền
hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ
chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài.
Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết
kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Câu 2. Nội dung đổi mới hệ thống chính trị; nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về đổi mới hệ thống chính
trị đối với hệ thống tổ chức của Nhà nước ở Trung ương theo Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (khóa
XII).

1. Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (cơ quan nhà nước, đảng chính trị, phong
trào xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, v.v.) được xây dựng theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành trên
những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.
2. Nội dung đổi mới hệ thống chính trị
Đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta cần tuân thủ những định hướng nội dung lớn được Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX (2001) vạch ra. được khẳng định trong Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, XI và gần dây lả Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI năm 2013, cụ thể
như sau:
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dàn, vì nhân dân do Đảng Cộng
sản lãnh đạo.
+ Cải cảch thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước. Trong đó:
Hoàn thiện hệ thống bầu cử, nhằm nâng cao chất lượng của đại biểu dân cử các cấp; thực hiện tổt Quy chế
dân chủ cơ sở; đổi mới cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể chính
trị trong các hoạt động chung; phát huy dân chủ, giữ gìn trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế.


Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Trọng tâm là công
tác lập pháp, xây dựng chương trình, quy trình làm luật, ban hành luật và hướng dẫn thi hành luật. Bổ sung
một số thẩm quyền cho uỷ ban thường vụ quốc hội. tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách.
+ Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong hiến pháp và pháp luật xác định rõ và cụ thể hơn quyền hạn và
trách nhiệm của chủ tịch nước, quan hệ giữa chủ tịch nước với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp;
quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của bộ chính trị, ban bí thứ đối với chủ tịch nước.
+ Xây dựng mội nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá.
Quản lý nhả nước các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng hệ thống luật pháp và chính sách đồng bộ, hoàn
chỉnh.
+ Phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương.
Tổ chức hợp lý Hội đồng nhân dân, kiện toàn ủy ban nhân dân và bộ máy chính quyền cấp xã, phường, thị
trấn… Cơ bản giữ ổn định số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã, trên cơ sở có phân biệt tổ chức
chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, các đặc khu. V.V.. Thực hiện mô hinh Bí thư cấp ủy đồng thời

là hủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp; Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện đối với
những nơi có đủ điều kiện, chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt không phải là người địa
phương. Quy định dưới xã, phường, thị trấn là thôn, tổ dân phố và tương đương chủ yếu hoạt động theo hình
thức tự quản của cộng đồng dân cư, hạn chế tối đa việc sử dụng kinh phí từ ngân sách. Khoán kinh phí hoạt
động cho các tổ chức chính trị xã hội cở cấp xã, thôn, tổ dân phố và tương đương.
+ Xây dựng đội ngũ cán hộ, công chức trong sạch có năng lực.
Thực hiện chế độ kiêm nhiệm các chức danh phù hợp và tiếp lục thí điểm khoán kinh phí hành chính để
khuyến khích giảm biên chế. Tăng cường kiêm nhiệm công việc, khoán quỹ phụ cấp để giảm dần số lượng
những người hoạt động không chuyên trách gắn với việc tăng thu nhập của cán bộ, công chức cáp xã.
Gắn chính sách tinh giản biên chế với cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập cho cán bộ, công
chức, viên chức. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên ưu tú ở địa
phương bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Thi tuyển các chức danh quản lý ở Trung ươg (đến cấp
vụ trưởng), ở địa phương (đến cấp giám đổc sở) và tương đương.
+ Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử;mở rộng thẩm quyền xét xử xử của tòa án đối với các
khiếu kiện hành chính, giải quyết tranh chấp về đất đai; đổi mới cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm. Tổ chức hệ
thống viện kiểm sát nhân dân.
Về phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nưóc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội đại
biểu toàn quôc lần thứ XII của Đảng xác định: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Hoàn thiện thế chế, chức
năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu qủa của Nhà nước pháp quyền xả
hội chủ nghĩa. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Chú trọng công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Xây dựng, chinh đốn đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Giáo
đục tư tuởng, chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục đổi mới công tác cán
bộ. Xây dựng, củng cố các tổ chức, cơ sở đảng. Bổ sung, hoàn thiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng đoàn, ban cán sự đảng và cấp ủy đảng
các cấp theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm, mở rộng dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Thực hiện
chủ trương không nhất thiết ở Trung ương có ban đảng, đảng bộ nào thì ở địa phương cũng phải có ban đảng,

đảng bộ đó.
Về phương hướng, nhiệm vụ xây đựng đảng hiện nay. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII xác định là
kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI; chú trụng xây dựng Đảng về chinh trị;
đổi mới công tác tư tưởng, lý luận; tăng cường rèn luyện phân chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá


nhân, cơ hội, thực dụng; tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; kiện toàn
tồ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng
viên; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đổi mới, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tiếp tục đổi mớ,. nâng cao hiệu quả công tác dân vận,
tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng
phí; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc VN và các đoàn thê nhân
dân
Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Kiện toàn tổ chức bộ máy cùa Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể chính trị xã hội tinh gọn rõ chức năng, nhiệm vụ không chồng chéo.
Thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp, quy định về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc vả
các đoàn thê chính trị - xã hội, cơ chế đế nhân dân tham gia góp ý xây dụng Đảng, chính quyền. Quy đinh
chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của các hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt
động và tuân thủ pháp luật. Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước gắn liền với các chương trình phát tnến
kinh tế - xã hội của cả nước, từng địa phương và địa bàn dân cư. Hướng mạnh các hoại động về cơ sở, cộng
đồng dân cư và từng gia đình.
Những quy định có tính giải pháp này cần phải được thực hiện trong điều kiện tích cực chống nạn quan
liêu, tham nhũng, bảo đảm sự phát triển bền vững nền kinh tế và thực hiện một bước công bằng xã hội.
3. Nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về đổi mới hệ thống chính trị đối với hệ thống tổ chức của Nhà nước
ở Trung ương theo Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (khóa XII).
- Thực hiện tăng tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra; nghiên cứu việc giảm hợp lý số
lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp. Quy định số lượng với tỉ lệ hợp lý
giữa lãnh đạo, uỷ viên thường trực, uỷ viên chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội
theo hướng giảm số lượng cấp phó và uỷ viên thường trực. Sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong của Văn

phòng Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu quả.
- Chính phủ, các bộ, ngành tiếp tục thực hiện đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tập
trung vào quản lý vĩ mô, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, luật pháp, cơ chế, chính sách; nâng cao
năng lực chỉ đạo, điều hành và hiệu quả tổ chức thực hiện; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp
hành.
- Khẩn trương rà soát, cương quyết sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm, mối quan hệ công tác giữa các bộ, ngành và các tổ chức trực thuộc các bộ, ngành; khắc phục triệt để sự
trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ để một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, nhưng một việc chỉ
do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Rà soát, sắp xếp theo hướng giảm các tổ chức phối hợp liên
ngành, nhất là các tổ chức có bộ phận giúp việc chuyên trách.
- Các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ chủ động rà soát, sắp xếp, tinh gọn đầu mối bên trong, giảm cơ
bản số lượng tổng cục, cục, vụ, phòng; không thành lập tổ chức mới, không thành lập phòng trong vụ, trường
hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền quyết định. Giảm tối đa các ban quản lý dự án. Kiên quyết hợp nhất, sắp
xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập để thu gọn đầu mối, giảm biên chế; thực hiện cơ chế khoán kinh
phí theo nhiệm vụ được giao và sản phẩm đầu ra. Chuyển một số nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà
Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm.
- Rà soát nhiệm vụ, quyền hạn để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Chính phủ với các bộ,
ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương để góp phần tinh gọn bộ máy, tinh giản
biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao tinh thần trách nhiệm
của từng cấp, từng ngành gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện Luật Tổ chức chính
quyền địa phương, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã;
quy định rõ cơ chế phân cấp, uỷ quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi được phân cấp, uỷ quyền giữa
các cấp chính quyền địa phương.


- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính gắn kết chặt chẽ với việc kiện toàn tổ
chức, giảm đầu mối, bỏ cấp trung gian, tinh giản biên chế của các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, bảo
đảm dân chủ, công khai, minh bạch, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân.
- Đối với một số lĩnh vực được tổ chức theo ngành dọc, như: Thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, bảo hiểm
xã hội... tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức theo khu vực liên tỉnh hoặc liên huyện để thu gọn đầu mối, tinh giản

biên chế. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng tổ chức bộ máy phù hợp với việc phân cấp ngân sách nhà nước, phát
huy vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và chủ động của ngân sách địa phương.
- Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương xây dựng đề án riêng rà soát, kiện toàn, sắp xếp tổ
chức bộ máy đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng quân đội, công an theo hướng cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với
lực lượng vũ trang, phù hợp với quy định chung của hệ thống chính trị và tính đặc thù của từng lực lượng.
- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của một số
bộ, ngành, nhất là những bộ, ngành có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, trùng lắp để có giải pháp phù hợp và
thực hiện kiện toàn, sắp xếp tổ chức, thu gọn đầu mối trong nhiệm kỳ tới, như: Ngành giao thông - xây dựng;
tài chính - kế hoạch đầu tư; lĩnh vực dân tộc - tôn giáo…
- Tiếp tục nghiên cứu, từng bước sắp xếp thu gọn đầu mối cơ quan điều tra đáp ứng yêu cầu công tác điều
tra hình sự, phòng, chống tội phạm và phù hợp với tổ chức, hoạt động của viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân
dân theo tinh thần cải cách tư pháp.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi
hoạt động, mối quan hệ công tác của Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan kiểm tra, thanh tra các cấp để không
chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ.
Câu 3. Đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta; nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về đổi mới hệ thống
chính trị đối với chính quyền địa phương theo Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (khóa XII).
* Khái niệm hệ thống chính trị
HTCT là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (cơ quan nhà nước, đảng chính trị, phong trào xã hội,
tổ chức chính trị xã hội, …) được xây dựng theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành trên những
nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị.
* Nội dung đổi mới HTCT

Sai
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do ĐCS
lãnh đạo.
+ Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước. Hoàn thiện hệ thống bầu cử, nhằm nâng
cao chất lượng của đại biểu dân cử các cấp; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Kiện toàn tổ chức, đổi mới
phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên

trách.
+ Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp và pháp luật nhằm xác định rõ và cụ thể hơn
quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước.
+ Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa.
+ Phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương. Tổ chức hợp lý Hội đồng
nhân dân, kiện toàn Ủy ban nhân dân và bộ máy chính quyền cấp xã.Thực hiện mô hình Bí thư cấp ủy đồng
thời là Chủ tịch HĐND các cấp. Khoán kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, thôn, tổ
dân phố.


+ Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch có năng lực. Thực hiện chế độ kiêm nhiệm các chức
danh phù hợp và tiếp tục thí điểm khoán kinh phí hành chính để khuyến khích giảm biên chế. Gắn chính sách
tinh giản biên chế với cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức.
+ Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp. Tổ chức hệ thống Tòa án
theo thẩm quyền xét xử. Đổi mới cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm. Tổ chức hệ thống viện kiểm sát nhân dân
phù hợp với hệ thống tổ chức của tòa án nhân dân.
- Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị.
Giáo dục tư tưởng, chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục đổi mới công
tác cán bộ. Xây dựng, củng cố các tổ chức, cơ sở đảng. Bổ sung, hoàn thiện Quy chế làm việc của Ban Chấp
hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng đoàn, ban cán sự đảng và cấp ủy
đảng các cấp theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm, mở rộng dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Thực
hiện chủ trương không nhất thiết ở Trung ương có ban đảng, đảng bộ nào thì ở địa phương cũng phải có ban
đảng, đảng bộ đó.
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của MTTQVN và các đoàn thể nhân dân. Thực
hiện tốt Luật MTTQVN. Kiện toàn tổ chức bộ máy của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tinh gọn, rõ
chức năng, nhiệm vụ, không chồng chéo.

Chữ đỏ đúng
* Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam

Hệ thống chính trị Việt Nam (HTCTVN) được tổ chức và vận hành trong điều kiện
lịch sử, kinh tế - xã hội và môi trường văn hóa chính trị đặc thù. Do đó, HTCTVN vừa mang
tính phổ biến vừa mang tính đặc thù. Tính đặc thù của hệ thống chính trị việt nam được thể
hiện ở những nội dung sau:
- Hệ thống chính trị Việt Nam (HTCTVN) do ĐCS VN lãnh đạo. Đặc thù này được
quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo của ĐCSVN
- HTCTVN được xây dựng theo mô hình hệ thống chính trị XHCN; mặc dù đang trong
quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng vẫn còn ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao
cấp
- Ở VN, các tổ chức chính trị - xã hội đều được Đảng cộng sản tổ chức rèn luyện, ra
đời ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, trở thnafh các tổ chức quần chúng, cơ
sở chính trị - xã hội của Đảng. Vì vậy, sau khi giành được độc lập, ĐCS VN trở thành đảng
cầm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội đồng thời trở thành cơ sở chính trị - xã hội của Nhà
nước, được hưởng các điều kiện tổ chức và hoạt động như các cơ quan nhà nước. Mối quan
hệ này có mặt tích cực, nhưng cũng có mặt hạn chế, đó là nguy cơ hành chính hóa, xa dân,
thụ động và thiếu tính độc lập trong hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và mối quan hệ, vừa cho
thấy những thuận lợi, khó khăn, thách thức mà chúng ta phải giải quyết, vừa đặt ra những
yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta.
* Nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đổi mới chính quyền địa phương…: Nghị quyết TW6 khóa XII


- Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế xây dựng chính quyền địa phương theo hướng phân định rõ
hơn tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; chủ động thí
điểm ở những nơi có đủ điều kiện. Nghiên cứu, thực hiện giảm hợp lý số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân
các cấp và giảm đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các cơ quan quản lý nhà nước; giảm số lượng phó chủ
tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, gắn với nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động để thực hiện từ nhiệm kỳ 2021 - 2026.
- Quy định khung số lượng các cơ quan trực thuộc Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện và khung số lượng cấp phó của các cơ quan này. Căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung

của Trung ương, cấp uỷ địa phương lãnh đạo việc sắp xếp, bố trí cho phù hợp. Rà soát, sắp xếp tổ chức bên
trong của các sở, ngành theo hướng tinh gọn đầu mối, kiên quyết cắt giảm số lượng, sắp xếp lại phòng, chi cục,
trung tâm, ban quản lý dự án và đơn vị sự nghiệp thuộc sở, ngành.
- Rà soát, điều chỉnh, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của chính quyền địa phương, góp phần đẩy
mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch,
chuyên nghiệp; tổ chức thực hiện có hiệu quả mô hình trung tâm phục vụ hành chính công, cơ chế một cửa,
một cửa liên thông ở các cấp.
- Sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính
quyền cấp xã và quy định khung số lượng cán bộ, công chức cấp xã cho phù hợp theo hướng xác định rõ vị trí
việc làm, tiêu chuẩn chức danh, đặc thù của địa phương và bảo đảm giảm biên chế. Quy định và thực hiện
nghiêm, thống nhất việc khoán chi phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân
phố.
- Nghiên cứu ban hành quy định để thực hiện hợp nhất văn phòng Hội đồng nhân dân, văn phòng đoàn đại
biểu Quốc hội và văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành một văn phòng tham mưu giúp việc chung.
- Từng bước sắp xếp, kiện toàn, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã chưa đủ tiêu chuẩn theo
quy định của pháp luật; khuyến khích sáp nhập, tăng quy mô các đơn vị hành chính các cấp ở những nơi có đủ
điều kiện để nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tăng cường các nguồn lực của địa phương. Khẩn trương,
cương quyết sắp xếp, sáp nhập các thôn, tổ dân phố không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước.
Câu 4. Chức năng và phương hướng tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND. Liên
hệ...
- Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND :
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: Hội
đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan
nhà nước cấp trên. Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận tại Điều
113: “ Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định;
giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân”
“Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cửa tri ở địa phương bầu ra.” ( khoản 1

điều 6 luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015)
Hội đồng nhân dân thực hiện hai chức năng: HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của
HĐND. Cụ thể:
HĐND quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương;
xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Đây là
những vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất đối với đời sống kinh tế- xã hội ở địa phương.
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Toà án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết; giám sát việc tuân theo pháp


luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa
phương.
- Vị trí, vai trò, chức năng của UBND:
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013: “ UBND ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu
trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp
và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà
nước cấp trên giao” ( Điều 114)
Vị trí, vai trò này khẳng định tầm quan trọng của UBND trong việc thực thi pháp luật, các nghị quyết của
HĐND và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước ở địa phương. Chức năng quan trọng của UBND
là tổ chức và chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết
của HĐND cùng cấp.
UBND chỉ đạo, điều hành hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương, đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất
bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. UBND cấp trên chỉ đạo hoạt động của UBND cấp dưới
trực tiếp.
- Phương hương tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND
* phương hướng chung:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra định hướng là: “Về chính quyền địa phương:

-Trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính quốc gia, xác định rõ
thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi cấp chính quyền địa phương theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật.
-Việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương gắn kết hữu cơ với đổi
mới tổ chức và cơ chế hoạt động của Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội ở các cấp.
-Hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn
vị hành chính-kinh tế đặc biệt theo luật định.”
* Phương hướng tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND:
Trên cở sở phương hướng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định, việc đổi mới tổ chức
và hoạt động của HĐND cần tiếp tục thực hiện theo một số nội dung cụ thể như sau:
-Đổi mới cơ chế bầu cử, đảm bảo cho dân đề cử, ứng cử, lựa chọn các đại biểu Hội đồng nhân dân thực
sự là người đại diện cho dân.
-Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động cuat hội đồng nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân, các
ban của HĐND và đại biểu của HĐND . Nâng cao chất lượng, hiệu quả tiếp xúc cử tri, hoạt động của đại biểu
tại kỳ họp, sau kỳ họp, đặc biệt là hoạt động chất vấn và tính khả thi của các nghị quyết.
-Cần có quy định cụ thể để HĐND quyết định có hiệu quả những mục tiêu kinh tế-xã hội, an ninh quốc
phòng tại địa phương theo nguyên tắc phân cấp.
* Phương hướng tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND:
-Tại Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành TW Đảng lần thứ XI, Đảng ta nêu chủ trương: “ Nghiên cứu về tổ
chức chính quyền địa phương(có phân biệt chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn)…Thực hiện mô
hình Bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch HĐND các cấp; Bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch UBND ở cấp xã,
cấp huyện đối với những nơi có đủ điều kiện…Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ HĐND , UBND xã ,phường,
thị trấn phù hợp với thực tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ mới.”
Nghiên cứu xây dựng mô hình chính quyền nông thôn, đô thị, biên giới, hải đảo, đơn vị hành chính-kinh tế đặc
biệt.
-Nghiên cứu thí điểm nhan dân trực tiếp bầu Chủ tịch UBND cấp xã .
-Đề cao trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan thuộc UBND và các thành viên UBND trong việc thực
hiện đúng những nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công, phân cấp, đặc biệt là thẩm quyền và trách nhiệm
của tập thể UBND, của chủ tịch UBND. Tiếp tục kiện toàn bộ máy của UBND.



-Thực hiện chương trình, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cán bộ, công chức của
UBND.
-Tạo điều kiện, phương tiện làm việc nhất là tạo điều kiện cho việc vhur động về ngân sách, mở rộng các
khoản thu; trang bị những phương tiện làm việc cần thiết và từng bước hiện đại hoá theo yêu cầu tin học hoá
hệ thống quản lý hành chính nhà nước.
-Cần có những quy định cụ thể và khả thi về trách nhiệm của chủ tịch UBND và những người đứng đầu các cơ
quan chuyên môn của UBND trong việc không hoàn thành những nhiệm vụ được giao, để xảy ra những vi
phạm trong lĩnh vực, cơ quan mà mình lãnh đạo, phụ trách.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Câu 1. Nội dung quản lý hành chính nhà nước; vai trò của quản lý hành chính nhà nước đối với sự
phát triển của xã hội.
1/Khái niệm
QLHCNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ TW đến cơ sở tiến hành để thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh,
thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
2/ Nội dung
2.1/ Hoạt động lập quy hành chính
Các cơ quan QLHCNN có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định
PL do cơ quan lập pháp ban hành. Hoạt động lập quy hành chính tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý, điều
hành của các cơ quan QLHCNN. Cụ thể
- Chính phủ có thẩm quyền ban hành nghị định, nghị quyết liên tịch
+Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
+Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền thành lập của Chính phủ.
+Nghị định quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ.
+Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật, pháp
lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải

được sự đông ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH)
+ Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan TW của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để
hướng dẫn thi hành những vấn đề khi PL quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản lý nhà
nước
-Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền ban hành quyết định
+Quyết định quy định biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính Nhà
nước từ TW đến cơ sở, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc TW và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
+Quyết định quy định biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ, kiểm tra hoat
động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc thực hiện chủ
trương, chính sách, pháp luật của NN.
-Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền ban hành thông tư, thông tư liên tịch.
+Thông tư quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội,pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH,
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
+Thông tư quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do
mình phụ trách.
+Thông tư quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những
vấn đề khác do Chính phủ giao.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×