Tải bản đầy đủ (.pdf) (308 trang)

Phan tich ky thuat john murphy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (11.98 MB, 308 trang )

CHƯƠNG I: NGUYÊN LÝ CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi tìm hiểu xem các bí kíp cũng như các công cụ của phân tích kỹ thuật thực
sự được sử dụng như thế nào, trước tiên chúng ta cần phải hiểu được khái niệm cũng như
những cơ sở triết lý xây dựng nên phân tích kỹ thuật, phân biệt được phân tích kỹ thuật và
phân tích cơ bản, và cuối cùng là nắm bắt được những phê phán chỉ trích xung quanh phương
pháp phân tích này.
Tác giả thực sự tin rằng muốn có được một đánh giá đầy đủ về phương pháp phân tích
kỹ thuật thì người nghiên cứu phải có hiểu biết thông suốt xem các kết luận rút ra từ phân tích
kỹ thuật có thể sử dụng làm gì và quan trọng hơn là cơ sở hợp lý nào đưa ra các kết luận đó.
Trước tiên, chúng ta cùng định nghĩa đối tượng nghiên cứu của cuốn sách. Phân tích
kỹ thuật là phương pháp nghiên cứu "hành động của thị trường", chủ yếu thông qua việc
sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán xu thế giá cả trong tương lai. Thuật ngữ "hành
động của thị trường" (market action) bao gồm 3 nguồn thông tin cơ bản sẵn có đối với nhà
phân tích kỹ thuật - giá, khối lượng và lượng dư mua bán (open interest). (Open interest chỉ
được sử dụng trong thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn). Thuật ngữ "hành động
giá" (Price action) cũng thường được sử dụng tuy nhiên nghĩa của nó hơi hẹp bởi vì hầu hết
các nhà phân tích kỹ thuật còn sử dụng khối lượng và Open interest như một bộ phận không
thể thiếu trong các phân tích thị trường của mình. Tuy nhiên trong cuốn sách này 2 thuật ngữ
trên được sử dụng thay thế lẫn nhau.
NGUYÊN LÝ HAY TÍNH LOGIC
Có 3 cơ sở xây dựng nên phương pháp phân tích kỹ thuật:
1.
Hành động thị trường phản ánh tất cả các thông tin (Market action discounts
everything)
2.
Giá cả biến động theo xu thế
3.
Lịch sử luôn lặp lại
Hành động thị trường phản ánh tất cả các thông tin
Lời nhận định "Hành động thị trường phản ánh tất cả các thông tin" có thể coi là giả


thuyết hình thành nên cơ sở của phương pháp phân tích kỹ thuật. Chỉ khi bạn đã hiểu đầy đủ
và chấp nhận hoàn toàn ý nghĩa của giả thuyết thứ nhất này thì những giả thuyết sau mới có ý
nghĩa. Các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng bất cứ cái gì mà có thể ảnh hưởng tới giá cả - kết
quả kinh doanh, chính trị, tâm lý hoặc những cái khác - trên thực tế đều được phản ánh trong
giá cả của thị trường đó. Vì thế nó dẫn tới chỉ cần nghiên cứu hành động giá là đủ. Lời nhận
định này dường như hơi mang tính giả định nhưng khó mà phản bác lại nếu như người ta bỏ
thời gian để nghiên cứu ý nghĩa thực sự của nó.
Tất cả các nhà phân tích kỹ thuật đều tuyên bố rằng hành động/biến động của giá cả
phản ánh sự thay đổi cung và cầu. Nếu cầu vượt cung giá sẽ tăng, nếu cung vượt cầu thì giá
giảm. Đây là nguyên lý cơ bản trong việc dự đoán các vấn đề kinh tế cũng như các hệ số cơ
bản khác. Từ đó các nhà phân tích kỹ thuật đi đến kết luận rằng nếu giá đang tăng cho dù vì
lý do gì thì cầu nhất định phải vượt cung và các hệ số cơ bản phải tăng. Nếu giá giảm thì các
hệ số cơ bản nhất định giảm. Trong điều kiện bàn luận về phân tích kỹ thuật thì cũng không
nên ngạc nhiên về nhận định cuối cùng này vì suy cho cùng, có thể nói rằng các nhà phân tích
kỹ thuật đang nghiên cứu một cách gián tiếp các hệ số cơ bản. Hầu hết các nhà phân tích kỹ
thuật đồng ý rằng chính những nhân tố kinh tế cơ bản của thị trường là lực lượng tiềm ẩn ảnh


hưởng tới cung cầu và gây ra thị trường con bò hay con gấu. Bản thân đồ thị không khiến cho
thị trường đi lên hay đi xuống mà đơn giản chúng chỉ phản ánh tâm lý tăng hay giảm trên thị
trường.
Theo quy luật, các nhà phân tích đồ thị không bận tâm tại sao giá tăng hay giảm.
Thường thường khởi đầu một xu thế giá hoặc tại các thời điểm đảo chiều quan trọng dường
như không ai biết chính xác nguyên nhân tại sao thị trường lại diễn ra theo cách đó. Trong khi
phương pháp phân tích kỹ thuật đôi khi có vẻ quá đơn giản khi đưa ra các kết luận nhưng nhà
đầu tư càng có kinh nghiệm càng thấy logíc đằng sau nó là giả thuyết đầu tiên - thị trường
phản ánh tất cả -rất hấp dẫn. Theo đó nếu mọi thứ ảnh hưởng tới giá thị trường mà cuối cùng
cũng được phản ánh vào giá thị trường thì chỉ cần nghiên cứu giá thị trường là đủ. Bằng cách
nghiên cứu đồ thị giá và hàng loạt các chỉ số kỹ thuật hỗ trợ, trên thực tế nhà phân tích đồ thị
đã khiến thị trường nói cho anh ta biết nó rất có thể vận động theo hướng nào. Nhà phân tích

đồ thị không nhất thiết phải thông minh hay láu cá hơn thị trường bởi tất cả các công cụ kỹ
thuật được bàn luận sau đây là các bí quyết đơn giản giúp đỡ họ nghiên cứu các biến động thị
trường. Các nhà phân tích đồ thị biết rằng có những lý do khiến cho giá tăng giảm nhưng họ
tin rằng biết các lý do đó cũng không cần thiết trong việc dự đoán xu hướng giá.
Giá biến động theo xu thế
Khái niệm xu thế hoàn toàn quan trọng đối với phương pháp phân tích kỹ thuật. Phải
nhắc lại một lần nữa rằng nếu bạn không chấp nhận nguyên lý là thị trường biến đông theo xu
thế thì không có lý do gì để tiếp tục đọc thêm nữa. Toàn bộ mục tiêu chính của việc vẽ đồ thị
biến động giá là để có thể nhận ra sớm nhất xu thế đang bắt đầu hình thành để giao dịch theo
xu thế đó. Thực tế thì tất cả các kỹ thuật phân tích được sử dụng đều mang tính chất chạy
theo xu thế, có nghĩa là mục đích của chúng là nhận biết và làm theo xu thế hiện có. (hình
1.1)

Hệ quả của nguyên lý giá cả biến động theo xu thế là một xu thế đang vận động có
quán tính duy trì xu thế đó hơn là vận động ngược lại.Tất nhiên, hệ quả này là sự áp dụng qui
luật đầu tiên của Newton về sự vận động. Nói theo cách khác, một xu thế sẽ tiếp tục diễn tiến
theo một xu hướng cho tới khi nó đảo chiều.

Lịch sử tự lặp lại
Phần lớn các công cụ của phân tích kỹ thuật và nghiên cứu biến động thị trường là
nghiên cứu tâm lý con người. Ví dụ như các mô hình đồ thị đã được nhận biết và phân loại


hơn 100 năm qua phản ánh một vài bức tranh về tình hình thị trường xuất hiện trên đồ thị giá.
Những bức tranh này cho biết bầu tâm lý nóng hay lạnh của thị trường. Bởi vì những mô hình
này đã hoạt động hiệu quả trong quá khứ, người ta có thể giả định rằng nó sẽ tiếp tục hoạt
động tốt trong tương lai. Những mô hình này đúc rút từ việc nghiên cứu tâm lý con người một thứ vốn khó thay đổi. Nói cách khác thì nguyên lý cuối cùng này nói rằng muốn hiểu
được tương lai thì điểm mấu chốt là phải nghiên cứu quá khứ hoặc tương lai chỉ là sự lặp lại
quá khứ.
Dự báo dựa vào phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản

Trong khi phân tích kỹ thuật tập trung vào việc nghiên cứu hành động thị trường,
phân tích cơ bản lại chú trọng đến lực lượng kinh tế cung cầu trên thị trường ảnh hưởng tới
sự tăng, giảm hay không thay đổi giá. Phân tích cơ bản xem xét tất cả các yếu tố liên quan
ảnh hưởng tới giá để xác định giá trị nội tại của cổ phiếu đó. Giá trị nội tại là giá trị thực tính
từ các chỉ số cơ bản và dựa trên qui luật cung cầu. Nếu giá trị nội tại thấp hơn giá thị trường
hiện tại thì khi đó thị trường đã định giá quá cao và nên bán cổ phiếu. Ngược lại nếu giá trị
nội tại cao hơn giá thị trường thì có nghĩa là thị trường đang định giá thấp cổ phiếu và nên
mua vào.
Cả 2 cách tiếp cận này thực ra đều nhằm giải quyết cùng một vấn đề đó là xác định
xu hướng giá cả. Họ chỉ tiếp cận vấn đề theo các cách khác nhau. Nhà phân tích cơ bản thì
nghiên cứu nguyên nhân, gốc rễ của biến động thị trường trong khi các nhà phân tích kỹ thuật
lại nghiên cứu hiệu ứng. Tất nhiên nhà phân tích kỹ thuật tin rằng tất cả những gì anh ta cần
là ảnh hưởng còn nguyên nhân gây ra thì không cần thiết. Các nhà phân tích cơ bản luôn luôn
phải biết lý do tại sao.
Hầu hết các nhà đầu tư tự cho mình hoặc là nhà phân tích cơ bản hoặc là nhà phân
tích kỹ thuật nhưng trên thực tế có sự đan xen chồng chéo. Rất nhiều nhà phân tích cơ bản có
hiểu biết về các nguyên lý cơ bản của phân tích đồ thị đồng thời rất nhiều nhà phân tích kỹ
thuật cũng có hiểu biết sơ lược về phân tích cơ bản. Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ phân tích đồ
thị và phân tích cơ bản luôn có mâu thuẫn với nhau. Thông thường khi thị trường bắt đầu một
giai đoạn chuyển biến quan trọng thì phân tích cơ bản không lý giải hay khẳng định được
điều gì. Chính tại thời điểm được coi là quan trọng của một xu thế thì 2 cách phân tích này
dường như khác nhau nhiều nhất. Thường thì chúng sẽ giống nhau ở một số thời điểm nào đó
nhưng thường là quá muộn để có thể hành động.
Một cách lý giải cho sự khác biệt này là giá cả thị trường có xu hướng đi trước những
chỉ số tài chính cơ bản mà người ta đã biết. Nói theo cách khác, giá cả thị trường chính là chỉ
số tiên phong cho các chỉ số cơ bản hoặc những sự biến động người ta thường biết. Trong khi
các chỉ số cơ bản đã được biết được bao hàm trong giá cả thị trường, thì giá cả nay lại đang
tính đến những chỉ số cơ bản mà người ta chưa biết. Một số các thị trường con bò hoặc con
gấu đáng chú ý trong lịch sử đã bắt đầu mà hầu như người ta chẳng nhận thấy có sự thay đổi
các chỉ số cơ bản nào. Vào lúc những thay đổi này được biết đến thì xu hướng mới đã xảy ra

lâu rồi.
Sau một thời gian, các nhà phân tích kỹ thuật ngày càng tin vào khả năng đọc và hiểu
các đồ thị của mình. Họ học cách bình tâm trong những trường hợp mà thị trường không
hành động giống như thường lệ. Nhà phân tích kỹ thuật bắt đầu cảm thấy sung sướng khi là
một trong số ít người nhận ra được hành động đó. Anh ta biết rằng cuối cùng thì lý do khiến
thị trường hành động như vậy cũng phải lộ ra chẳng qua nhà phân tích kỹ thuật không muốn
đợi tới khi có sự xác nhận đó.
Khi chấp nhận các nguyên lý cơ sở của phân tích kỹ thuật, người ta có thể thấy tại sao
các nhà phân tích kỹ thuật lại tin tưởng cách tiếp cận của họ hay hơn nhà phân tích cơ bản.
Nếu một nhà đầu tư chỉ được lựa chọn một trong 2 các tiếp cận, sự lựa chọn có lý phải là
phân tích kỹ thuật. Bời vì theo định nghĩa phân tích kỹ thuật bao gồm cả phân tích cơ bản.
Nếu như các chỉ số cơ bản được phản ánh trong giá thị trường thì khi đó việc nghiên cứu


chúng không cần thiết nữa. Đọc biểu đồ là một phương pháp nghiên cứu cơ bản rút gọn. Tuy
nhiên, điều ngược lại thì không đúng vì phân tích cơ bản không bao gồm việc nghiên cứu
biến động giá. Hoàn toàn có thể giao dịch trên thị trường tài chính mà chỉ sử dụng phân tích
kỹ thuật nhưng nếu một người chỉ sử dụng các chỉ số cơ bản để mua bán mà không tính đến
khía cạnh kỹ thuật của thị trường thì còn phải bàn cãi.
Phân tích và thời điểm
Nếu như chia quá trình ra quyết định thành 2 giai đoạn riêng biệt- phân tích và thời
điểm thì đây là vấn đề cuối cùng cần phải làm rõ. Do yếu tố đòn bẩy cao trên thị trường
tương lai, thời điểm là đóng vai trò cực kỳ quan trọng trên thị trường này. Bạn hoàn toàn có
thể đúng theo xu hướng chung của thị trường nhưng vẫn mất tiền bởi vì lợi nhuận biên yêu
cầu quá thấp trong các giao dịch tương lai (thường ít hơn 10%), chỉ cần một sự biến động giá
tương đối nhỏ theo hướng ngược lại có thể khiến nhà đầu tư bật ra khỏi thị trường và kết quả
là mất gần hết hoặc tòan bộ phần lợi nhuận đó. Giao dịch trên thị trường chứng khoán lại
khác, nhà đầu tư nhận thấy rằng mình đang ở phía bất lợi có thể quyết định nắm giữ và hi
vọng rằng thị trường sẽ quay ngược lại tại thời điểm nào đó.
Các nhà đầu tư hợp đồng tương lai không có được sự xa xỉ đó. Chiến lược "mua và

nắm giữ" không áp dụng được trên thị trường mua bán hợp đồng tương lai. Cả 2 cách tiếp cận
cơ bản và kỹ thuật đều có thể được sử dụng trong giai đoạn đầu tiên- quá trình dự đoán. Tuy
nhiên, để trả lời cho câu hỏi thời điểm, xác định thời điểm nhảy vào và thoát ra khỏi thị
trường một cách cụ thể hầu như chỉ có phân tích kỹ thuật mới làm được. Vì vậy khi xem xét
các bước mà một nhà đầu tư phải trải qua trước khi quyết định tham gia vào thị trường, người
ta thấy rằng ở một số bước việc ứng dụng đúng đắn các nguyên tắc của phân tích kỹ thuật là
không thể thiếu thậm chí ngay cả khi phân tích cơ bản được sử dụng ở những bước đầu tiên.
Thời điểm đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn từng cổ phiếu riêng biệt và trong việc
mua bán theo lĩnh vực và nhóm ngành công nghiệp.
Tính linh hoạt và khả năng thích ứng của phân tích kỹ thuật
Một trong những sức mạnh của phân tích kỹ thuật là khả năng thích ứng với hầu hết
các phương tiện giao dịch và đơn vị thời gian (time dimension). Không có phạm vi giao dịch
nào trên thị trường cổ phiếu hay hợp đồng tương lai mà những nguyên lý này không thể áp
dụng.
Các nhà phân tích đồ thị có thể dễ dàng áp dụng các nguyên lý vào bao nhiêu thị
trường tùy theo họ muốn nhưng điều này nhìn chung không đúng với các nhà phân tích cơ
bản. Bởi vì nhà phân tích cơ bản phải giải quyết hàng đống số liệu khiến cho họ có xu hướng
chuyên môn hóa. Lợi thế này của phân tích đồ thị không nên bị bỏ qua.
Thêm một điều nữa, các thị trường trải qua các giai đoạn sôi động hoặc ảm đạm, theo
xu thế hoặc lừng khừng. Nhà phân tích kỹ thuật tập trung chú ý và các nguồn lực vào những
thị trường mà biểu hiện xu thế rõ ràng và bỏ qua thị trường còn lại. Kết quả là các nhà phân
tích đồ thị có thể xoay chuyển sự chú ý và nguồn vốn của mình để tận dụng lợi thế từ tính
biến động của thị trường. Tại các thời điểm khác nhau, một số thị trường nhất định trở nên
nóng và trải qua các xu thế quan trọng. Thường thường, sau các giai đoạn sôi động này là các
giai đoạn yên ắng và hầu như không theo xu thế nào, khi đó lại có một thị trường khác hay
nhóm thị trường khác vào giai đoạn nóng. Nhà phân tích kỹ thuật tự do lựa chọn thâm nhập
vào thị trường nào. Tuy nhiên các nhà phân tích cơ bản, có xu hướng chuyên sâu vào một
nhóm, không có tính linh hoạt này. Thậm chí nếu anh ta tự do chuyển sang nhóm khác thì các
nhà phân tích cơ bản cũng gặp khó khăn hơn các nhà phân tích kỹ thuật.
Một ưu điểm khác của nhà phân tích kỹ thuật là có được tầm nhìn rộng ("big

picture"). Bằng cách theo dõi toàn bộ thị trường, anh ta có được cảm nhận chung về điều thị
trường đang làm và tránh được tầm nhìn vụn vặt (tunnel vision) xuất phát từ việc chỉ theo dõi
một nhóm trên thị trường. Cũng vậy, bởi vì rất nhiều các chủ thể trên thị trường có các mối
quan hệ kinh tế đã xác lập và phản ứng với các nhân tố kinh tế tương tự nhau, hành động giá


của một thị trường hay một nhóm có thể là những đầu mối có giá trị về xu hướng tương lai
của thị trường khác hay nhóm khác của thị trường.
Phân tích kỹ thuật áp dụng cho các phương tiện giao dịch khác nhau
Nguyên tắc của phân tích đồ thị có thể áp dụng cho cả cổ phiếu và hợp đồng tương
lai. Thực ra, phân tích kỹ thuật được áp dụng đầu tiên cho thị trường cổ phiếu sau đó mới áp
dụng vào thị trường tương lai. Với sự ra đời của hợp đồng tương lai mua bán chỉ số cổ phiếu
(stock index furtures), ranh giới giữa 2 thị trường này nhanh chóng biến mất. Người ta cũng
biểu diễn biến động của thị trường cổ phiếu quốc tế và phân tích theo những nguyên tắc của
phân tích kỹ thuật. (Hình 1.2)

Hợp đồng tương lai tài chính, bao gồm thị trường lãi suất và ngoại hối, đã trở nên cực
kỳ phổ biến trong 2 thập kỷ qua và được chứng minh là mối quan tâm hàng đầu của các nhà
phân tích đồ thị.
Các nguyên tắc phân tích kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong giao dịch quyền
chọn. Dự báo kỹ thuật cũng rất hữu ích trong quá trình tự bảo hiểm.

Phân tích kỹ thuật được sử dụng cho các khoảng thời gian
khác nhau
Một thế mạnh khác của phân tích đồ thị kỹ thuật là khả năng phân tích được thị
trường trong các khoảng thời gian khác nhau. Cho dù người ta sử dụng đồ thị để giao dịch
theo những thay đổi nhỏ diễn ra trong ngày hay giao dịch theo xu thế trung hạn thì đều áp
dụng cùng một nguyên tắc. Dự báo kỹ thuật dài hạn (longer range technical forecasting)
thường rất hay bị bỏ qua. Quan điểm cho rằng phân tích đồ thị chỉ có ích trong ngắn hạn là
không đúng. Một số người cho rằng phân tích cơ bản được sử dụng cho dài hạn còn phân tích

kỹ thuật chỉ giới hạn trong ngắn hạn. Thực tế là người ta có thể sử dụng đồ thị tuần hoặc
tháng mà biểu diễn được thị trường trong 1 vài năm trước đó để dự báo dài hạn, đây chính là
một ứng dụng cực kỳ hữu ích của phân tích kỹ thuật.
Một khi bạn đã hiểu cặn kẽ các nguyên tắc phân tích kỹ thuật được bàn luận đến trong
quyển sách này thì chúng sẽ đem lại cho bạn khả năng ứng dụng vô cùng linh hoạt, cho mọi
phương tiện được phân tích và mọi khoảng thời gian được nghiên cứu.


Dự báo kinh tế
Phân tích kỹ thuật có thể đóng 1 vai trò trong dự báo kinh tế. Ví dụ như xu hướng của
giá cả hàng hóa cho chúng ta biết đôi điều về xu hướng của lạm phát. Chúng cũng là manh
mối cho biết về điểm mạnh hay điểm yếu của nền kinh tế. Nhìn chung nếu giá cả hàng hóa
tăng thì nền kinh tế mạnh hơn và áp lực lạm phát gia tăng. Giảm giá hàng hóa thường cảnh
báo rằng nền kinh tế đang trì trệ cùng với lạm phát giảm. Xu hướng của lãi suất cũng bị ảnh
hưởng bởi xu thế của hàng hóa. Kết quả là đồ thị diễn biến thị trường hàng hóa như vàng và
dầu lửa, cùng với Trái phiếu Kho bạc có thể nói cho chúng ta biết rất nhiều về sức mạnh hay
điểm yếu của nền kinh tế cũng như tình hình lạm phát. Xu hướng của đồng Đô la Mỹ và hợp
đồng tương lai ngoại hối cũng cung cấp chỉ dẫn ban đầu về sức mạnh hay yếu của nền kinh tế
Mỹ và triển vọng kinh tế toàn cầu. Thậm chí ấn tượng hơn là các xu thế trên các thị trường
tương lai này thường xuất hiện rất sớm trước khi chúng được phản ánh trong các chỉ số kinh
tế truyền thống được công bố hàng tháng hoặc hàng quý mà thường chỉ cho chúng ta thấy cái
gì đã xảy ra. Như tên gọi của nó, thị trường tương lai thường đem lại cho chúng ta cái nhìn
thấu vào tương lai. Chỉ số thị trường cổ phiếu S&P 500 từ lâu đã được coi là chỉ số kinh tế
chính thức hàng đầu. Cuốn sách "Leading Indicators for the 1990s" (Những chỉ số hàng đầu
của những năm 1990) do một trong những chuyên gia hàng đầu trong giới doanh nhân của
Mỹ (Moore) viết, đưa ra một trường hợp khá thuyết phục về vai trò quan trọng của xu thế
hàng hóa, trái phiếu và cổ phiếu như là các chỉ số kinh tế. Cả 3 thị trường trên đều có thể
được nghiên cứu bằng cách sử dụng phân tích kỹ thuật. Chúng ta sẽ nói nhiều về chủ đề này
trong chương 17: "Mối quan hệ giữa cổ phiếu và hợp đồng tương lai".
Nhà phân tích kỹ thuật hay nhà phân tích đồ thị

Nhà đầu tư sử dụng các tiếp cận phân tích kỹ thuật được gọi với nhiều tên khác nhau:
nhà phân tích kỹ thuật, nhà phân tích đồ thị, nhà phân tích thị trường, và nhà phân tích hình
ảnh (visual analyst). Tất cả các tên gọi này vẫn có ý nghĩa gần như nhau cho đến gần đây, tuy
nhiên cùng với sự chuyên môn hóa ngày càng sâu trong lĩnh vực này, chúng ta cần phải phân
biệt và định nghĩa các thuật ngữ này cẩn thận hơn một chút. Bởi vì cho tới tận thập kỷ vừa
qua người ta vẫn coi phân tích kỹ thuật là dựa trên việc sử dụng đồ thị, thuật ngữ "nhà phân
tích kỹ thuật" và "nhà phân tích đồ thị" có cùng một ý nghĩa tuy nhiên điều này không còn
đúng nữa.
Với phạm vi nghiên cứu ngày càng rộng, người ta đã phân chia người phân tích kỹ
thuật thành 2 loại: nhà phân tích đồ thị truyền thống và nhà phân tích kỹ thuật. Phải thừa nhận
rằng có rất nhiều sự chồng chéo và hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật kết hợp cả 2 loại đồ thị
và thống kê ở một mức độ nào đó.
Cho dù nhà phân tích đồ thị truyền thống có sử dụng các nghiên cứu thống kê để bổ
sung cho phân tích của mình hay không thì đồ thị vẫn là công cụ làm việc cơ bản hàng đầu,
mọi thứ khác chỉ là thứ yếu. Đồ thị vẫn cần có cái gì đó mang tính chủ quan. Sự thành công
của việc phân tích phần lớn phụ thuộc vào kỹ năng của mỗi nhà phân tích đồ thị. Thuật ngữ
"nghệ thuật đồ thị" (art charting) đã được sử dụng cho loại phân tích này vì đọc đồ thị chủ
yếu vẫn là một nghệ thuật.
Ngược lại, phân tích kỹ thuật sử dụng các nguyên tắc mang tính chủ quan này, lượng
hóa, thử nghiệm và tối đa hóa với mục đích phát triển hệ thống giao dịch một cách máy móc.
Hệ thống này đi từ đơn giản tới phức tạp. Tuy nhiên, mục đích là giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn
toàn nhân tố chủ quan của con người trong giao dịch, khiến cho nó khoa học hơn. Các nhà
phân tích kỹ thuật này có thể hoặc không sử dụng đồ thị giá nhưng họ được coi là nhà phân
tích kỹ thuật miễn là công việc của họ hạn chế ở việc nghiên cứu hành động thị trường.
Thậm chí các nhà phân tích kỹ thuật sử dụng máy tính có thể được chia nhỏ hơn nữa
thành những người thích hệ thống máy móc hay còn gọi là cách tiếp cận "hộp đen", và những
người sử dụng công nghệ máy tính để phát triển thêm các chỉ số kỹ thuật tốt hơn. Nhóm thứ 2
này vẫn là nhóm đưa ra ý nghĩa của các chỉ số và cả quá trình ra quyết định.



Một cách khác để phân biệt giữa nhà phân tích đồ thị và nhà phân tích kỹ thuật là có
thể nói rằng tất cả các nhà phân tích đồ thị đều là nhà phân tích kỹ thuật nhưng không phải
mọi nhà phân tích kỹ thuật là nhà phân tích đồ thị. Mặc dù được sử dụng thay thế nhau trong
quyển sách này, bạn nên nhớ rằng đồ thị chỉ thể hiện một phần trong đối tượng nghiên cứu rất
rộng của phân tích kỹ thuật.
So sánh ngắn gọn giữa phân tích kỹ thuật cổ phiếu và hợp đồng tương lai
Một câu hỏi khá quen thuộc mà người ta thường đặt ra là liệu phân tích kỹ thuật áp
dụng cho hợp đồng tương lai có giống như áp dụng cho thị trường cổ phiếu. Câu trả lời là vừa
có vừa không. Nguyên lý cơ bản thì giống nhưng vẫn có một số khác biệt lớn. Các nguyên lý
của phân tích kỹ thuật trước tiên được áp dụng trong việc dự báo thị trường cổ phiếu, chỉ sau
đó mới được áp dụng vào hợp đồng tương lai. Hầu hết các công cụ cơ bản -đồ thị que, đồ thị
điểm và hình, mô hình giá, khối lượng, đường xu thế, đường bình quân động và máy tạo dao
động - được sử dụng trong cả 2 thị trường. Bất kỳ ai mà biết đến những khái niệm này dù từ
thị trường cổ phiếu hay hợp đồng tương lai đều không gặp khó khăn trong việc điều chỉnh
cho phù hợp với thị trường còn lại. Tuy nhiên điều khác biệt xuất phát từ sự khác nhau về bản
chất của cổ phiếu và hợp đồng tương lai chứ không phải do chính các công cụ phân tích.
Cấu trúc giá
Cấu trúc giá trên thị trường hợp đồng tương lai phức tạp hơn nhiều so với cổ phiếu.
Mỗi hàng hóa được niêm yết theo các đơn vị tiền tệ và khối lượng khác nhau. Ví dụ như thị
trường ngũ cốc niêm yết bằng cent cho mỗi bao, thị trường gia súc gia cầm yết bằng cent cho
một Pound, vàng và bạc bằng đô la trên một ounce, lãi suất thì bằng các điểm cơ bản. Người
đầu tư phải biết chi tiết về hợp đồng trên mỗi thị trường: hợp đồng được giao dịch trên trung
tâm giao dịch nào, mỗi hợp đồng được yết như thế nào và price increment tối đa và tối thiểu
là bao nhiêu, và mỗi price increment trị giá bao nhiêu.
Vòng đời ngắn
Không giống như cổ phiếu, hợp đồng tương lai có ngày đáo hạn ví dụ một hợp đồng
trái phiếu chính phủ tháng 3 năm 1999 sẽ đáo hạn vào tháng 3 năm 1999. Hợp đồng tương lai
điển hình giao dịch trong thời gian 1 năm rưỡi trứoc khi đáo hạn. Vì thế tại bất kỳ một thời
điẻm nào luôn có ít nhất nửa tá khác nhau các hợp đồng tương lai tháng giao dịch cùng một
loại hàng hóa. Nhà đầu tư phải biết hợp đồng nào nên và không nên giao dịch. Đặc điểm hữu

hạn về thời gian này gây khó khăn cho việc dự báo trong dài hạn. Nó bắt buộc phải liên tục
vẽ mới các đồ thị khi các hợp đồng cũ ngừng giao dịch vì đồ thị của các hợp đồng đã đáo hạn
không có giá trị sử dụng nhiều. Các hợp đồng mới với các thông số kỹ thuật của nó phải được
vẽ lại trên đồ thị. Việc vẽ liên tục các đồ thị mới khiến việc lưu trữ các dữ liệu đồ thị gặp
nhiều khó khăn. Thậm chí đối với những người sử dụng máy tính thì cập nhật số liệu mới khi
các hợp đồng đáo hạn cũng cần nhiều thời gian và chi phí.
Yêu cầu lợi nhuận biên thấp hơn (Lower Margin Requirements)
Đây có lẽ là điểm khác biệt nhất giữa cổ phiếu và hợp đồng tương lai. Tất cả các hợp
đồng tương lai đều được giao dịch theo các biên độ lợi nhuận, thường ít hơn 10% giá trị hợp
đồng. (phần này chưa hiểu rõ bỏ lại)
Khung thời gian ngắn hơn rất nhiều
Do nhân tố đòn bẩy cao và yêu cầu kiếm soát vị thế trên thị trường nên thời gian giao
dịch của hàng hóa cũng ngắn hơn. Các nhà phân tích kỹ thuật thị trường cổ phiếu có xu
hướng quan sát và bàn luận thời kỳ dài hơn mà vượt ngoài mối quan tâm của các nhà đầu tư
hàng hóa thông thường. Nhà phân tích cổ phiếu có thẻ bàn luận xem 3 hay 6 tháng tới cổ
phiếu sẽ ra sao trong khi các nhà đầu tư trên thị trường tương lai chỉ muốn biết giá cả trong
tuần tới, ngày mai hay thậm chí ngay trong buổi chiều. Do đó cần phải chọn lọc những công
cụ xác định thời điểm ngắn hạn. Một ví dụ đó là đường bình quân động. Số ngày theo dõi
bình quân thường là 50-200 ngày đối với cổ phiếu. Trong thị trường hàng hóa thì ngày bình


quân dịch chuyển thường dưới 40 ngày. Các đường bình quân động trên thị trường tương lai
thường là 4, 9 hoặc 18 ngày.
Phụ thuộc nhiều hơn vào thời điểm
Thời điểm là tất cả trên thị trường hợp đồng tương lai. Xác định chính xác xu thế của
thị trường chỉ giải quyết một phần của vấn đề giao dịch. Nếu thời điểm gia nhập bị bỏ qua 1
ngày hoặc đôi lúc chỉ vài phút, bạn có thể trở thành người chiến thắng hay kẻ bại trận. Nếu ở
vị trí ngược lại với xu thế của thị trường và mất tiền đã là tồi tệ thì việc theo đúng xu thế thị
trường và vẫn mất tiền là một trong những điều làm cho các nhà đầu tư trên thị trường hợp
đồng tương lai đau đầu và nản nòng nhất. Thời điểm tự thân nó đã mang tính kỹ thuật bởi vì

phân tích cơ bản hiếm khi phụ thuộc vào các thay đổi hàng ngày.

Ít phụ thuộc vào số bình quân thị trường và các chỉ số khác
Phân tích thị trường cổ phiếu dựa rất nhiều vào các chỉ số bình quân của thị trường như chỉ số bình quân ngành công nghiệp Dow Jones hay chỉ số S&P500. Hơn nữa các chỉ số
kỹ thuật mà đo lường sức mạnh hay điểm yếu của thị trường rộng lớn hơn -như đường tănggiảm NYSE hay danh mục các điểm đỉnh và đáy mới- cũng được sử dụng rất nhiều. Trong
khi đó có thể theo dõi thị trường hàng hóa chỉ thông qua các chỉ số như Chỉ số giá hợp đồng
tương lai Sở nghiên cứu hàng hóa, người ta ít sử dụng đến chỉ số nghiên cứu thị trường rộng
lớn hơn. Nhà phân tích thị trường hàng hóa tập trung nhiều hơn vào các hành động thị trường
riêng lẻ. Cũng như vậy, các chỉ số kỹ thuật mà đo lường xu thế thị trường hàng hóa rộng
không được sử dụng nhiều. Chỉ cần khoảng 20 hoặc tương đương vậy…
Các công cụ phân tích kỹ thuật cụ thể
Trong khi hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật ban đầu được phát triển trên thị
trường cổ phiếu sau đó có một vài ứng dụng vào thị trường hàng hóa nhưng chúng không
được sử dụng y hệt như vậy. Ví dụ, mô hình đồ thị trên thị trường hợp đồng tương lai không
có xu hướng hình thành một cách đầy đủ như trên thị trường cổ phiếu.
Các nhà đầu tư hợp đồng tương lai phụ thuộc nhìều vào các chỉ số ngắn hạn và tập
trung vào các dấu hiệu giao dịch chính xác. Những điểm khác nhau này sẽ được bàn luận sau
trong cuốn sách.
Cuối cùng, có một lĩnh vực khác nhau cơ bản giữa cổ phiếu và hợp đồng tương lai là
Phân tích kỹ thuật cổ phiếu dựa chủ yếu vào việc sử dụng các chỉ số tâm lý và phân tích dòng
vốn quỹ. Các chỉ số tâm lý kiểm soát sự hoạt động của các nhóm khác nhau như odd
lotters,quỹ tương hỗ và các chuyên gia trên sàn. Vai trò vô cùng quan trọng của chỉ số tâm lý
là đo lường tòan bộ tâm lý tăng hay giảm của thị trường theo lý thuyết là quan điểm chung
thường sai. Phân tích dòng vốn quỹ đề cập đến vị thế dòng tiền của các nhóm khác nhau, như
quỹ tương hỗ hay các tài khỏan của các tổ chức lớn. Quan điểm ở đây là càng nhiều tiền thì
càng nhiều vốn để mua cổ phiếu.
Phân tích kỹ thuật trên thị trường hợp đồng tương lai là dạng phân tích giá sơ khai
hơn. Trong khi những quan điểm trái ngược cũng được sử dụng ở mức độ nào đó, người ta
vẫn tập trung vào phân tích xu thế cơ bản và ứng dụng của các chỉ số truyền thống.
Một số phê phán xung quanh phân tích kỹ thuật

Có một số câu hỏi thường nổi lên xung quanh phân tích kỹ thuật, trước hết đó là sự tự
kỷ ám thị (self-fulfilling phrophercy). Một vấn đề khác đó là liệu số liệu quá khứ có dùng để
tiên đoán tương lai không. Những người phê phán phân tích kỹ thuật thường nói rằng : "đồ
thị chỉ cho chúng ta biết nơi thị trường đã đi qua chứ không cho biết nơi nó sẽ đến". Hiện tại
chúng ta sẽ gạt tạm câu trả lời rất rõ ràng sang 1 bên rằng đồ thị không thể nói cho ta biết
điều gì nếu bạn không biết cách đọc nó. Lý thuyết tản bộ ngẫu cũng đặt ra câu hỏi liệu giá cả
có theo xu hướng và nghi ngờ rằng các kỹ thuật dự báo có thể chiến thắng chiến lược mua và
nắm giữ. Những câu hỏi này xứng đáng phải trả lời.


Sự tự kỷ ám thị
Sự nghi ngờ liệu có sự tự kỷ ám thị trên thị trường khiến cho nhiều người bực mình
nhất vì nó là câu hỏi thường xuyên được nêu ra. Đây là một băn khoăn hợp lý tuy nhiên nó
không quan trọng bởi hầu hết mọi người đã giải đáp được. Tuy nhiên cách tốt nhất để giải
quyết thắc mắc này là trích dẫn đoạn trích mà bàn luận một số nhược điểm của v iệc sử dụng
mô hình đò thị:
a.
Việc sử dụng mô hình đồ thị được phổ biến rộng rãi trong một vài năm gần
đây. Rất nhiều nhà đầu tư rất quen với mô hình này và giao dịch theo tín
hiệu của chúng. Điều này tạo ra tâm lý "tự kỷ ám thị" vì làn sóng mua bán
thực chất chỉ để phản ứng trước mô hình tăng giảm giá trên thị trường…
b.
Mô hình giá hòan toàn mang tính chủ quan. Không một nghiên cứu nào
thành công trong việc lượng hóa toán học các mô hình đồ thị đó. Chúng rõ
ràng chỉ có trong tâm trí của người phân tích…
Hai cách phê phán trên rõ ràng là mâu thuẫn với nhau, cái sau phủ định cái trước. Nếu
mô hình đồ thị hoàn toàn chủ quan và chỉ có trong tâm trí của mỗi người thì thật khó mà
tưởng tượng làm sao mọi người có thể nhìn thấy một điều hòan toàn giống nhau tại cùng một
thời điểm-điều tạo nên sự tự kỷ ám thị. Việc phê phán phân tích đồ thị theo 2 cách trên là
hoàn toàn không thể. Một mặt họ không thể phê phán phân tích đồ thị quá khách quan và rõ

ràng khiến mọi người sẽ hành động giống nhau cùng một lúc (vì thế khiến cho mô hình giá
trở thành sự thật), và sau đó lại phê phán đồ thị là quá mang tính chủ quan.
Sự thật của vấn đề là đồ thị rất mang tính chủ quan và việc đọc đồ thị là một nghệ
thuật (có lẽ từ “kỹ năng”thì chính xác hơn). Các mô hình giá hiếm khi thể hiện một cachs rõ
ràng đến nỗi thậm chí các nhà phân tích đồ thị có kinh nghiệm cũng đôi khi không đồng ý với
cách diễn giải của chính họ. Luôn luôn có sự hoài nghi và bất đồng quan điểm nổi lên. Như
quyển sách này đã trình bày, có rất nhiều cách tiếp cận phân tích kỹ thuật mà thường mâu
thuân với nhau.
Thậm chí nếu hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật cùng dự đoán giống nhau về thị
trường, họ cũng không nhất thiết phải nhảy vào thị trường cùng một lúc và cùng một cách
như nhau. Một số có thể cố gắng tiên đoán dấu hiệu của đồ thị và tham gia thị trường từ sớm.
Số còn lại có thể mua tại khoảng trống “breakout” từ việc xem xét một mô hình hoặc chỉ số
sẵn có. Cũng có thể số khác đợi cho đến khi thị trường sụt giảm sau khi tăng giá sau đó mới
hành động. Một số nhà đầu tư quá nôn nóng trong khi số còn lại bảo thủ. Một số dùng lệnh
dừng (stops) để mua bán, trong khi số nhà đầu tư khác lại thích sử dụng lệnh thị trường hay
lệnh giới hạn nghỉ (resting limit orders). Một số mua bán dài hạn số khác chỉ mua bán trong
ngày. Chính vì thế khả năng mà các nhà phân tích kỹ thuật hành động cùng lúc và cùng thời
điểm thực tế còn lâu mới xảy ra.
Thậm chí nếu sự tự kỷ ám thị là mối bận tâm hàng đầu, nó cũng có thể tự sửa chữa
theo bản chất tự nhiên. Nói cách khác, các nhà đầu tư có thể dựa chủ yếu vào đồ thị cho đến
khi hành động phối hợp của họ bắt đầu ảnh hưởng hay bóp méo thị trường. Một khi họ nhận
ra điều này hoặc là họ sẽ dừng sử dụng đồ thị hoặc là sẽ điều chỉnh chiến lược mua bán của
mình. Ví dụ họ có thể có gắng hành động trước đám đông hoặc là đợi chờ sự xác nhận chắc
chắn hơn. Vì thế, thậm chí nếu có sự tự kỷ ám thị trong ngắn hạn nó sẽ có xu hướng tự điều
chỉnh.
Bạn phải luôn tâm niệm rằng thị trường con gấu hay con bò chỉ diễn ra và được duy
trì khi chúng được điều chỉnh bởi quy luật cung cầu. Các nhà phân tích kỹ thuật không có khả
năng tạo ra một xu thế thị trường lớn chỉ bằng chính sức mua và bán của họ. Nếu điều này
xảy ra hẳn là tất cả các nhà phân tích kỹ thuật đều trở nên giàu có vô cùng nhanh chóng.
Một trong số những mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích đồ thị đó là sự tăng

trưởng mạnh mẽ việc sử dụng hệ thống giao dịch kỹ thuật máy tính hóa tại thị trường hợp
đồng tương lai. Hệ thống này về bản chất là mang tính xu thế nghĩa là chúng được lập trình


để nhận diện và mua bán theo các xu thế chính. Với sự gia tăng số tiền được quản lý chuyên
nghiệp trong lĩnh vực hợp đồng tương lai, và sự sinh sôi nảy nở các quỹ công chúng và tư
nhân trị giá hàng triệu đô la, mà hầu hết chúng đều sử dụng hệ thống kỹ thuật này, khiến cho
một luồng tiền lớn chỉ tập trung theo đuổi một số ít các xu thế hiện có. Bởi vì tính toàn cầu
của thị trường hợp đồng tương lai vẫn còn khá nhỏ, khả năng bóp méo biến động giá trong
ngắn hạn của hệ thống này ngày càng tăng. Tuy nhiên, thậm chí cả trong truờng hợp có xảy
ra sự bóp méo thị trường thì việc này nhìn chung chỉ diễn ra trong ngắn hạn và không gây ra
được các xu thế chủ đạo.
Nhắc lại một lần nữa thậm chí nếu có vấn đề một số lượng tiền lớn được mua bán theo
hệ thống kỹ thuật này thì sự điều chỉnh có thể xảy ra. Và nếu tất cả hệ thống này bắt đầu
giống nhau tại cùng một thời điểm thì các nhà đầu tư có thể điều chỉnh bằng cách điều chỉnh
hệ thống của mình hoặc nhạy cảm hơn hoặc kém nhạy cảm hơn.
Sự tự kỷ ám thị thường được coi là những phê phán kỹ thuật đồ thị tuy nhiên hợp lý
hơn nếu coi nó là lời ca tụng. Sau cùng, đối với bất kỳ kỹ thuật dự báo nào khi trở nên phổ
biến và bắt đầu ảnh hưởng tới thị trường thì nó phải có điểm tốt. Chúng ta chỉ tự hỏi là tại sao
điều này hiếm khi đặt ra đối với phân tích cơ bản.
Liệu qúa khứ có thể dùng để tiên đoán tương lai?
Một câu hỏi khác cũng được chú ý là tính tin cậy của việc sử dụng số liệu giá cả quá
khứ để tiên đoán tương lai. Thật đáng ngạc nhiên khi các nhà phê phán phân tích kỹ thuật rất
thường xuyên đưa ra câu hỏi này bởi vì mọi phương pháp dự báo đã biết, từ dự báo thời tiết
cho tới phân tích cơ bản, đều hòan toàn dựa trên cơ sở nghiên cứu số liệu quá khứ. Liệu còn
có loại dữ liệu nào khác để dự báo?
Trong khoa học thống kê ngừơi ta phân biệt thống kê mô tả và thống kê quy nạp.
Thống kê mô tả là sự biểu diễn số liệu theo đồ thị như các số liệu giá theo các đồ thị tiêu
chuẩn. Thống kê quy nạp là sự tổng quát hóa, sự dự báo, hay phép ngoại suy rút ra từ số liệu
đã cho. Vì thế, đồ thị giá chính bản thân nó chỉ là sự mô tả trong khi đó nhà phân tích kỹ

thuật phân tích trên số liệu giá đó lại được xếp vào loại quy nạp.
Theo 1 văn bản thống kê: “bước đầu tiên trong việc dự báo công việc kinh doanh hay
kinh tế bao gồm việc tập hợp các số liệu quan sát từ quá khứ” (Freund và Williams) Phân tích
đồ thị chỉ là một dạng khác của phân tích chuỗi thời gian, dựa trên việc nghiên cứu quá khứ.
Loại số liệu duy nhất mà bất kỳ ai cũng phải sử dụng đến đó là số liệu quá khứ. Chúng ta chỉ
có thể dự báo tương lai bằng cách dựa trên các kinh nghiệm quá khứ.
Vì thế dường như việc sử dụng số liệu quá khứ để tiên đóan tương lai trong phân tích
kỹ thuật dựa trên cơ sở các khái niệm thống kê mang tính logic. Nếu bất kỳ ai nghi ngờ vấn
đề này của dự báo trong phân tích kỹ thuật thì anh ta cũng phải nghi ngờ tính chắc chắn của
mọi loại dự đoán khác dựa trên số liệu quá khứ, chúng cũng bao gồm cả dự báo kinh tế và
phân tích cơ bản.
Lý thuyết tản bộ ngẫu nhiên
Lý thuyết tản bộ ngẫu được phát triển và nuôi nấng trong một cộng đồng học thuật
tuyên bố rằng các thay đổi giá cả "độc lập theo từng kỳ" và rằng lịch sử giá cả không phải là
một chỉ số tin cậy về xu hướng giá cả trong tương lai. Tóm lại biến động giá là ngẫu nhiên và
không dự đoán trước được. Lý thuyết này dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả, cho rằng giá
cả biến động ngẫu nhiên quanh giá trị nội tại của nó. Lý thuyết này cũng cho rằng chiến lược
thị trường tốt nhất là chiến lược "mua và nắm giữ" ngược lại với nỗ lực "đánh bại thị trường".
Trong khi người ta rất ít nghi ngờ là có một số sự ngẫu nhiên hoặc "noise" tồn tại trên
tất cả các thị trường thế nhưng thật không thực tế khi tin rằng tất cả biến động giá đều ngẫu
nhiên. Về mặt này sự quan sát theo kinh nghiệm và kinh nghiệm thực hành chứng minh là có
ích hơn là những kỹ thuật thống kê phức tạp, điều mà dường như có khả năng chứng minh
mọi thứ người ta nghĩ hoặc chẳng thể chứng minh điều gì. Có thể hữu ích khi bạn tâm niệm
rằng sự ngẫu nhiên chỉ có thể được định nghĩa theo nghĩa tiêu cực là không có khả năng


khám phá ra mô hình có tính hệ thống của hành động giá. Thực tế rất nhiều nghiên cứu học
thuật không thể khám phá ra sự hiện diện của các mô hình giá này không chứng minh được
rằng chúng không tồn tại.
Tranh cãi của các nhà học thuật về việc liệu có xu thế thị trường là một trong những

điều ít được quan tâm nhất bởi các nhà phân tích thị trường bình thường và các nhà đầu tư
người mà buộc phải kinh doanh trong thế giới thực nơi mà xu thế thị trường hiển hiện rõ
ràng. Nếu người đọc có bất kỳ nghi ngờ gì về điểm này, hãy nhìn một cách bình thường vào
bất kỳ quyển sách đồ thị nào (lựa chọn một cách ngẫu nhiên) sẽ chỉ cho bạn thấy sự hiện diện
của các xu thế theo đồ thị hình học. Làm thế nào "những người đi bộ lang thang" giải thích
được sự duy trì các xu thế này nếu giá cả độc lập theo từng thời kỳ, có nghĩa là cái gì xảy ra
ngày hôm qua, tuần qua không có ảnh hưởng gì tới cái gì có thể xảy ra ngày hôm nay hoặc
ngày mai? Làm thế nào họ có thể lý giải được kỳ tích lợi nhuận của rất nhiều hệ thống phân
tích theo xu thế?
Ví dụ làm thế nào một chiến lược mua và nắm giữ có thể tồn tại trên thị trường hàng
hóa tương lai nơi mà thời điểm đóng vai trò tối quan trọng? Liệu vị thế trường này có thể
được nắm giữ trong thị trường con gấu? Thậm chí làm thế nào nhà đầu tư có thể biết sự khác
biệt giữa thị trường con bò và con gấu nếu giá không thể lường trước được và không theo xu
thế? Thực tế làm thế nào một thị trường con gấu có thể tồn tại trước tiên bởi vì điều đó có thể
ngụ ý một xu thế? (Hình 1.3.)

Các bằng chứng thống kê sẽ chứng minh hoặc không chứng minh hòan tòan Lý thuyết
đi bộ ngẫu nhiên là điều còn phải hoài nghi. Tuy nhiên ý tưởng cho rằng thị trường hoạt động
ngẫu nhiên hòan toàn bị từ chối bởi cộng đồng các nhà phân tích kỹ thuật. Nếu thị trường
thực sự ngẫu nhiên thì không có kỹ thuật dự báo nào hoạt động hiệu quả cả. Không hề bác bỏ
tính tin cậy của cách tiếp cận phân tích kỹ thuật, lý thuyết thị trường hiệu quả rất gần với một
nguyên lý của phân tích kỹ thuật là thị trường phản ánh mọi thứ. Tuy nhiên, các nhà học giả
cảm thấy rằng bởi vì thị trường nhanh chóng phản ánh mọi thông tin nên chẳng có cách nào
kiếm lợi từ thông tin đó. Nền tảng cơ bản của dự báo kỹ thuật là những thông tin thị trường
quan trọng được phản ánh vào giá cả thị trường rất lâu trước khi nó được biết đến. Không cần
đả động gì đến ý nghĩa, các nhà học giả tuyên bố rất hùng hồn cần phải giám sát hành động
giá cả một cách chặt chẽ và vô ích khi cố gắng kiếm lợi nhuận từ những thông tin cơ bản, ít
nhất là trong ngắn hạn.



Cuối cùng, công bằng mà nói thì với những người mà họ không hiểu quy luật bên
dưới các quá trình thì các quá trình đó dường như ngẫu nhiên và không đoán trước được. Ví
dụ như một bản in điện tâm đồ có thể có rất nhiều cách diễn giải ngẫu nhiên đối với một
người không chuyên môn còn với người được đào tạo về y khoa tất cả các tín hiệu sáng này
đều có rất nhiều ý nghĩa và tất nhiên là không ngẫu nhiên. Sự hoạt động của thị trường có thể
ngẫu nhiên với những người mà không bỏ thời gian để nghiên cứu các hành vi của thị trường.
Ảo tưởng về sự ngẫu nhiên dần dần biến mất khi kỹ năng đọc đồ thị được nâng cao. Hi vọng
rằng đó chính là điều sẽ xảy ra khi người đọc tiến bộ dần dần qua từng phần khác nhau của
quyển sách này.
Cũng hi vọng như vậy đối với giới học thuật. Rất nhiều các trường đại học hàng đầu
của Mỹ đã bắt đầu khám phá ra cách "cư xử tài chính" mà tâm lý con người và định giá
chứng khoán tác động qua lại lẫn nhau. Đương nhiên đó chính là nền tảng đầu tiên của phân
tích kỹ thuật.
Các nguyên tắc mang tính tòan cầu
Khi phiên bản đầu tiên của cuốn sách này được xuất bản cách đây 12 năm, rất nhiều
các công cụ xác đinhj thời điểm của phân tích kỹ thuật được sử dụng chủ yếu trên thị trường
hợp đồng tương lai. Tuy nhiên trong suốt thập kỷ qua, các công cụ này được vận dụng rộng
rãi trong việc phân tích xu thế thị trường cổ phiếu. Các nguyên tắc phân tích kỹ thuật được
bàn luận trong cuốn sách có thể ứng dụng tại mọi thị trường trên toàn cầu - thậm chí cả các
quỹ tương hỗ. Một đặc điểm nữa của giao dịch thị trường cổ phiếu mà đã nhận được sự ưa
thích rộng rãi trong thập kỷ qua là đầu tư vào ngành, đầu tiên là qua quyền chọn các chỉ số và
quỹ tương hỗ. Sau đó trong cuốn sách chúng tôi sẽ chỉ ra làm cách nào để xác định ngành nào
đang "hot" và ngành nào không bằng cách áp dụng các công cụ phân tích thời điểm.


CHƯƠNG II: Lý thuyết Dow
Lời giới thiệu
Charles Dow và đồng nghiệp của anh ta Edward Jones thành lập công ty Down Jones
& Company vào năm 1882. Hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật và các sinh viên của thị
trường đều đồng tình rằng hầu hết những công cụ mà chúng ta gọi là phân tích kỹ thuật ngày

nay có nguồn gốc từ những lý thuyết lần đầu được Dow đưa ra vào khoảng đầu thế kỷ này.
Dow xuất bản những ý tưởng của mình trong một seri các bài báo ông viết cho cho Tạp chí
Wall Street. Hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật ngày nay công nhận và sử dụng các ý tưởng
cơ bản của Dow, cho dù có hay không công nhận nguồn gốc. Lý thuyết Dow vẫn tạo nên nền
tảng cơ bản của nghiên cứu phân tích kỹ thuật, thậm chí theo công nghệ máy tính tinh vi ngày
nay và sự ra đời ngày càng nhiều các chỉ số kỹ thuật mới hơn và được cho là tốt hơn.
Vào 3/7/1884, Dow xuất bản chỉ số bình quân thị trường cổ phiếu đầu tiên bao gồm
giá đóng cửa của 11 cổ phiếu: 9 công ty đường sắt và 2 công ty chế tạo. Dow cảm thấy rằng
11 cổ phiếu này đại diện tốt cho sự hưng suy của nền kinh tế. Vào năm 1897, Dow xác định
rằng 2 chỉ số riêng biệt đại diện tốt hơn cho sức khỏe của nền kinh tế và ông tạo ra chỉ số
ngành công nghiệp gồm 12 cổ phiếu và chỉ số đường sắt gồm 20 cổ phiếu. Đến năm 1928 chỉ
số ngành công nghiệp tăng thêm thành 30 cổ phiếu, là con số vẫn dùng ngày nay. Các biên
tập viên của tạp chí Wall Street đã cập nhật danh sách rất nhiều lần vào các năm kế tiếp, gộp
thành một chỉ số hữu ích vào năm 1929. Năm 1984, nhân dịp kỷ niệm 100 năm lần xuất bản
lý thuyết Dow lần đầu, Hiệp hội các nhà phân tích kỹ thuật thị trường đã tặng công ty Dow
Jones & Co một chén bạc Gorham. Theo hiệp hội MTA (Market Technicians Association),
giải thưởng trên công nhận sự đóng góp lâu dài mà Charle Dow đã cống hiến cho lĩnh vực
phân tích đầu tư. Chỉ số do ông tạo ra, tiền thân của chỉ số ngày nay, được coi như phong vũ
biểu quan trọng cho các hoạt động của thị trường cổ phiếu, và 80 năm sau khi ông mất nó vẫn
là một công cụ cần thiết cho các nhà phân tích kỹ thuật.
Không may cho chúng ta Dow không hề viết một cuốn sách nào về lý thuyết của
mình. Thay vào đó ông đã thể hiện tư tưởng về cách ứng xử của thị trường thông qua một
loạt các ấn phẩm mà tạp chí Wall Street xuất bản đầu thế kỷ.Vào năm 1903, năm sau khi
Dow mất, S.A.Nelson tập hợp các bài luận này trong một cuốn sách có tựa đề The ABC of
Stock Speculation. Trong cuốn sách đó, Nelson lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Lý thuyết
Dow”. Richard Russell, người viết phần giới thiệu cho lần tái bản năm 1978, đã so sánh đóng
góp của Dow cho lý thuyết thị trường cổ phiếu với đóng góp của Freud cho ngành tâm thần
học. Năm 1922, William Peter Hamilton (Đồng nghiệp và là người kế nhiệm Dow tại tạp chí
WS) đã phân loại và xuất bản những nguyên lý của Dow trong cuốn The Stock Market
Barometer. Robert Rhea phát triển lý thuyết hơn nữa trong cuốn Dow theory (New York:

Barron’s), được xuất bản năm 1932.
Dow đã ứng dụng tư tưởng của mình vào các chỉ số thị trường mà ông tạo ra, gọi là
chỉ số ngành công nghiệp và đường sắt. Tuy nhiên, hầu hết các tư tưởng mang tính phân tích
của ông cũng áp dụng tốt cho tất cả các chỉ số bình quân khác. Chương này sẽ mô tả 6
nguyên lý cơ bản của Lý thuyết Dow và sẽ bàn luận xem các tư tưởng này phù hợp với việc
nghiên cứu phân tích kỹ thuật hiện đại ra sao. Chúng ta cũng sẽ phân tích lần lượt từng
nguyên lý trong các chương tiếp theo.

Những nguyên lý cơ bản
1.
Các chỉ số trung bình phản ánh tất cả các thông tin liên quan
Kết quả tổng hợp cũng như xu hướng của các giao dịch trên sở giao dịch chứng
khoán phản ánh toàn bộ những hiểu biết của Phố Wall về quá khứ, ngay tức thì hay còn xa
xôi, được sử dụng để phản ánh tương lai. Không cần thiết phải cầu kỳ thêm vào chỉ số bình
quân bất kỳ chỉ số giá cả hàng hóa, việc thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng, biến động tỷ


giá, giá trị thương mại trong và ngoài nước hay các thứ khác như một số nhà thống kê
thường làm. Phố Wall đã cân nhắc tất cả những chỉ số đó (Hamilton, trang 40-41).
Quan điểm cho rằng thị trường phản ánh toàn bộ các nhân tố có thể biết mà có tác
động tới tổng cung tổng cầu trên thị trường là một trong những nguyên lý cơ bản của lý
thuyết về phân tích kỹ thuật, như đề cập trong chương 1. Trong khi thị trường không thể dự
đoán trước được động đất, thiên tai và các tai họa thiên nhiên khác, nó lại rất nhanh chóng
tính toán được những sự kiện này và hầu như ngay lập tức phản ánh hậu quả của chúng vào
giá cả.
2.
Thị trường có 3 xu thế
Trước khi bàn luận xem các xu hướng hành xử như thế nào thì cần phải hiểu rõ quan
niệm về xu thế của Dow như thế nào. Dow định nghĩa xu thế tăng giá là xu thế mà trong đó
mỗi đợt tăng giá sau đạt mức cao hơn đợt tăng giá trước và mỗi đợt điều chỉnh giảm vẫn đạt

mức giá cao hơn đợt giảm trước. Nói cách khác, xu thế tăng giá có hình đồ thị các điểm đỉnh
và đáy hướng chếch lên. Xu thế ngược lại, có các đỉnh và đáy ngày càng chếch xuống, được
xem là xu thế giảm giá. Định nghĩa của Dow đã đứng vững trước thử thách thời gian và vẫn
đặt nền tảng cho trường phái phân tích xu thế thị trường.
Dow tin rằng những qui luật về “Hành động và Phản ứng” phát huy tác động trên thị
trường cũng giống như trong thế giới vật chất. Theo Dow: "các kết quả giao dịch quá khứ cho
thấy trong nhiều trường hợp khi một cổ phiếu đạt đến đỉnh, giá sẽ giảm nhẹ và sau đó tăng trở
lại gần tới ngưỡng này. Sau những biến động như vậy, giá cổ phiếu lại giảm và rất có thể
giảm nhiều".
Dow coi một xu thế có 3 cấp: cấp 1, cấp 2 và cấp 3 được ông so sánh như thủy triều,
sóng và gợn sóng của biển. Xu thế cấp 1 ví như thủy triều, xu thế cấp 2 ví như những con
sóng tạo nên thủy triều, và xu thế cấp 3 giống như những gợn sóng nhỏ.
Một người quan sát có thể xác định được phương hướng của thủy triều bằng cách chú
ý đến điểm xa nhất mà những con sóng nối tiếp nhau vươn vào trong bờ. Nếu mỗi con sóng
kế tiếp sau tiến sâu vào bờ hơn con sóng trước thì thủy triều đang lên. Ngược lại thì thủy triều
đang rút xuống. Tuy nhiên không giống như thủy triều chỉ diễn ra trong vài giờ đồng hồ,
Dow mường tượng "thủy triều" của thị trường có thể kéo dài hơn 1 năm hoặc có thể vài năm.
Xu thế cấp 2 thể hiện sự điều chỉnh xu thế cấp 1 và thường kéo dài 3 tuần cho tới 3
tháng. Xu thế này thường đi ngược chiều với xu thế cấp 1 trước đó một nửa giá trị và nhìn
chung là từ 1/3 tới 2/3.
Theo Dow, xu thế cấp 3 hay còn gọi là xu thế ngắn hạn thường diễn ra dưới 3 tuần. xu
thế ngắn hạn này biểu thị dao động của xu thế cấp 2.
3.
Những xu thế chủ đạo gồm 3 giai đoạn
Dow tập trung chú ý vào xu thế cơ bản cấp 1 mà theo ông thường diễn ra theo 3 giai
đoạn riêng biệt: giai đoạn tích lũy, giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn phân phối. Trong giai
đoạn tích lũy các nhà đầu tư nhạy bén nhận thấy rằng giá cả thị trường đã phản ánh hết các
tin tức được coi là xấu và có dấu hiệu đảo chiều do vậy họ bắt đầu mua. Giai đoạn tăng
trưởng là giai đoạn hầu hết các nhà đầu tư phân tích xu thế bắt đầu tham gia vào thị trường
khi mà các tin tức về tình hình kinh doanh được cải thiện và giá tăng chóng mặt. Trong giai

đoạn phân phối, báo chí bắt đầu đăng tải ngày càng nhiều các tin tức về tình hình tăng trưởng
của các công ty, thông tin kinh tế tốt hơn bao giờ hết cũng như khối lượng đầu cơ và công
chúng đầu tư tăng lên. Trong giai đoạn cuối này, những nhà đầu tư nhanh nhạy đã mua cổ
phiếu gần đáy của thị trường con gấu (khi mà không ai muốn mua cổ phiếu) lại bắt đầu “phân
phối” ra trước khi những nhà đầu tư khác bán.
4.
Các chỉ số bình quân phải xác nhận lẫn nhau
Các chỉ số bình quân mà Dow muốn đề cập đến ở đây chính là chỉ số bình quân ngành
công nghiệp và đường sắt. Ông cho rằng dù có những dấu hiệu của thị trường con bò hay thị
trường con gấu thì điều đó không mấy quan trọng trừ khi 2 chỉ số trên cùng cho thấy cùng


một xu thế và do đó xác nhận lẫn nhau. Theo cảm nhận của Dow thì cả 2 chỉ số trên phải tăng
vượt đỉnh giá cấp 2 trước đó mới xác nhận sự bắt đầu hay tiếp tục xu thế của thị trường con
bò. Tuy nhiên, dấu hiệu trên không nhất thiết phải xảy ra đồng thời ở cả 2 chỉ số mà chỉ cần
thời điểm xảy ra chúng càng gần nhau càng tốt. Khi 2 chỉ số này khác biệt nhau thì rất có thể
xu hướng trước đó vẫn duy trì. (theo lý thuyết sóng Elliott chỉ cần các dấu hiệu xảy ra ở 1 chỉ
số bình quân riêng biệt)
5.
Khối lượng giao dịch phải xác nhận xu thế
Dow coi khối lượng giao dịch như là yếu tố thứ yếu nhưng không kém phần quan
trọng trong việc xác nhận xu thế giá cả. Nói một cách đơn giản: "khối lượng giao dịch ngày
càng tăng theo xu thế chủ đạo của giá cả". Trong xu thế tăng giá, khối lượng phải tăng khi
giá cả tăng và giảm khi giá giảm. Ngược lại khi thị trường đi xuống, khối lượng phải tăng khi
giá cả giảm và giảm khi giá hồi phục. Thực sự Dow chỉ coi khối lượng giao dịch như là chỉ
số thứ cấp và hoàn tòan căn cứ vào giá đóng cửa để nhận diện các dấu hiệu mua-bán của
mình. Trong chương 7, "khối lượng và Open interest", sẽ đề cập đến khối lượng và những thứ
được xây dựng trên tư tưởng của Dow. Những chỉ số về khối lượng tinh vi ngày nay giúp nhà
đầu tư có thể quyết định được liệu khối lượng đang tăng hay đang giảm. Các nhà đầu tư có
hiểu biết sau đó có thể so sánh thông tin này với diễn biến giá cả xem liệu chúng có xác định

lẫn nhau không.

Quan sát lý thuyết Dow trong khoảng thời gian dài trên thực tế. Để một xu hướng
tăng giá cấp 1 tiếp diễn, cả chỉ số ngành công nghiệp Dow và chỉ số ngành vận tải Dow phải
cùng tăng.
6.
Một xu hướng được coi là thực sự xảy ra cho đến khi nó có những biểu
hiện xác định rằng nó đã đảo chiều
Nguyên lý này là nền tảng chủ yếu hình thành nên các cách phân tích xu hướng hiện
đại. Bằng cách liên hệ giữa quy luật của thế giới vật chất với biến động của thị trường,
nguyên lý tuyên bố như sau: một thực thể đang chuyển động (trong trường hợp này là một xu
thế) có quán tính tiếp tục chuyển động cho đến khi có ngoại lực nào đó tác động làm thay đổi
hướng đi. Hiện nay có rất nhiều công cụ phân tích kỹ thuật trợ giúp cho nhà đầu tư tìm ra
những dấu hiệu đảo chiều của thị trường, bao gồm các nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng
cự, mô hình giá, đường xu thế và đường bình quân động. Thậm chí một số chỉ số có thể cung
cấp những dấu hiệu cảnh báo rất sớm về khả năng thay đổi xu hướng hiện tại. Tất cả chúng
không thống nhất với nhau thì nhiều khả năng xu thế hiện tại sẽ tiếp tục.


Ví dụ về sự xác nhận lẫn nhau của 2 chỉ số theo lý thuyết Dow. Vào đầu năm 1997
(điểm 1), chỉ số ngành vận tải Dow xác nhận trước sự tăng trưởng đầu tiên của chỉ số ngành
công nghiệp. Tháng 5 sau đó (điểm 2), chỉ số công nghiệp Dow xác nhận sự tăng giá mới của
chỉ số ngành vận tải.
Việc khó khăn nhất đối với các nhà lý thuyết Dow là có thể phân biệt được giữa xu
thế điều chỉnh cấp 2 thông thường với thời kỳ bắt đầu của một xu hướng mới ngược chiều.
Các nhà lý thuyết Dow thường bất đồng quan điểm về vấn đề khi nào thị trường đưa ra các
dấu hiệu đảo chiều thực sự. Hình minh họa 2.3a và 2.3b bộc lộ sự bất đồng này như thế nào.
Hình 2.3a và 2.3b minh họa 2 viễn cảnh thị trường khác hẳn nhau. Trong hình 2.3a,
chú ý rằng sự tăng giá đến điểm C thấp hơn đỉnh giá trước đó tại A. Sau đó giá giảm xuống
dưới điểm B. Sự hiện diện của 2 đỉnh thấp hơn và 2 điểm đáy thấp hơn cho thấy dấu hiệu bán

rõ ràng tại điểm phá vỡ đáy B (điểm S). Mô hình đảo chiều này đôi khi được coi như "cú
nhảy hụt""failure swing".


Trong hình 2.3b, giá tăng đến đỉnh C cao hơn đỉnh trước tại A. Sau đó giá giảm xuống
dưới điểm B. Một số nhà phân tích kỹ thuật không coi việc giá giảm xuống dưới mức S1 là
một dấu hiệu nên bán ra chắc chắn. Trong trường hợp này, họ có thể lý luận rằng đó chỉ là
những điểm đáy thấp hơn nhưng có thể giá lại tăng lên đỉnh cao hơn. Dấu hiệu bán chắc chắn
phải là giá tăng tới điểm E thấp hơn điểm C và sau đó xu thế giá giảm xuống thấp hơn điểm
D. Đối với các nhà phân tích kỹ thuật, S2 chỉ ra dấu hiệu bán thực sự.
Mô hình thay đảo chiều được chỉ ra trong hình 2.3a được gọi là "nonfailure swing". A
failure swing là mô hình yếu hơn mô hình chỉ ra trong hình 2.3b. Hình minh họa 2.4a và 2.4b
biểu thị những trường hợp tương tự trong thị trường giá xuống.
CÁCH SỬ DỤNG GIÁ ĐÓNG CỦA VÀ HÌNH DẠNG CỦA ĐƯỜNG GIÁ
Dow hoàn toàn dựa vào giá đóng cửa. Ông tin rằng các chỉ số bình quân phải có giá
đóng cửa cao hơn đỉnh trước và thấp hơn đáy trước thì mới có nhiều ý nghĩa. Dow không coi
những biến động trong ngày có nhiều giá trị.

Khi các nhà đầu tư nói về các đường giá, họ ám chỉ đến những đường chân trời thỉnh
thoảng xuất hiện trên đồ thị. Những đường mua bán này thường đóng vai trò trong giai đoạn
điều chỉnh và thường được coi là sự củng cố thị trường. Theo thuật ngữ hiện đại hơn, chúng
ta có thể gọi những mô hình bên lề như vậy là "hình chữ nhật".
MỘT SỐ PHÊ PHÁN LÝ THUYẾT DOW
Qua nhiều năm Lý thuyết Dow đã ứng dụng khá tốt trong việc nhận diện xu thế thị
trường con bò hay con gấu, tuy nhiên nó cũng không tránh khỏi bị phê phán. Tính bình quân
thì xu thế diễn ra được từ 1/5 tới ¼ thì Lý thuyết Dow mới chỉ ra dấu hiệu. Nhiều nhà đầu tư
cho rằng như vậy là quá muộn. Dấu hiệu để mua vào theo Lý thuyết Dow thường xảy ra trong
giai đoạn thứ 2 của xu thế tăng giá khi giá đã tăng trở lại sau khi đã thiết lập một đỉnh giá
trung gian trước đó. Tình cờ, đây cũng là thời điểm mà hầu hết các hệ thống phân tích kỹ
thuật về xu thế của thị trường bắt đầu nhận diện được và tham gia vào xu thế hiện tại.

Bác lại những phê phán này, các nhà đầu tư nên nhớ rằng Dow không hề có ý định dự
đoán xu thế, thay vào đó ông muốn tìm cách nhận diện sự xuất hiện của thị trường con bò
hoặc con gấu và nắm bắt được giai đoạn giữa khá dài của các xu thế thị trường quan trọng.
Những ghi chép hiện có cho thấy rằng Lý thuyết Dow đã thực hiện mục tiêu đó khá tốt. Từ
năm 1920 đến năm 1975, những dấu hiệu theo Lý thuyết Dow nhận diện được 68% những
biến động của chỉ số bình quân ngành công nghiệp và ngành giao thông vận tải và 67% biến
động của chỉ số tổng hợp S&P 500 (nguồn: Barron's). Những người cho rằng Lý thuyết Dow
thất bại trong việc nắm bắt được những điểm đỉnh và đáy thực sự của thị trường là những
người thiếu những hiểu biết căn bản về triết lý của phân tích xu hướng.
CÁC CỔ PHIẾU ĐƯỢC COI LÀ NHỮNG CHỈ SỐ KINH TẾ
Rõ ràng là Dow không hề có ý định sử dụng lý thuyết của mình để dự đoán xu thế thị
trường chứng khoán. Ông chỉ cảm thấy rằng giá trị thực tế của lý thuyết của ông là sử dụng
xu thế của thị trường chứng khoán làm thước đo điều kiện kinh tế nói chung. Chúng ta chỉ có


thể ngạc nhiên trước tầm nhìn và tài năng của Dow. Ngoài việc góp phần xây dựng nên phần
lớn phương pháp dự báo giá ngày nay, ông còn là một trong số những người đầu tiên nhận ra
tính hữu ích của chỉ số bình quân thị trường chứng khoán như là một chỉ số dự báo kinh tế.
LÝ THUYẾT DOW ĐƯỢC ÁP DỤNG CHO CÁC GIAO DỊCH TƯƠNG LAI
Lý thuyết Dow đã nghiên cứu hành vi của chỉ số bình quân thị trường cổ phiếu. Trong
khi hầu hết các nghiên cứu ban đầu có ứng dụng quan trọng cho hợp đồng tương lai hàng hóa
thì vẫn có một số khác biệt quan trọng giữa giao dịch cổ phiếu và giao dịch hợp đồng tương
lai. Trước hết, Dow giả định rằng hầu hết các nhà đầu tư chỉ quan tâm tới xu thế chính và chỉ
sử dụng xu thế điều chỉnh trung gian cho mục đích xác định thời điểm. Ông coi xu thế cấp 3
hay xu thế ngắn hạn không quan trọng. Rõ ràng, điều này không đúng trong giao dịch các
hợp đồng tương lai tại đó các nhà đầu tư theo xu thế mua bán theo các xu thế trung gian hơn
là theo các xu thế chính. Các nhà đầu tư này phải chú trọng rất nhiều vào các dao động nhỏ
với mục đích tìm kiếm thời điểm thích hợp. Nếu một nhà giao dịch hợp đồng tương lai dự
đoán có một xu thế cấp 2 tăng giá diễn ra trong 2 tháng, anh ta sẽ tìm kiếm cơ hội mua trong
ngắn hạn. Trong xu thế cấp 2 điều chỉnh giảm, các nhà đầu tư sẽ sử dụng các đợt tăng giá nhỏ

để thực hiện các nghiệp vụ bán khống. Vì thế, xu thế cấp 3 trở nên cực kỳ quan trọng trong
giao dịch hợp đồng tương lai.

Những cách thức mới để giao dịch các chỉ số bình quân Dow
Chỉ số bình quân ngành công nghiệp Dow Jones chỉ được sử dụng như là
một chỉ số thị trường trong 100 năm tồn tại đầu tiên của mình. Tất cả đã
thay đổi vào ngày 6 tháng 10 năm 1997 khi hợp đồng tương lai và quyền
chọn bắt đầu mua bán dựa trên chỉ số bình quân đáng kính của Dow lần
đầu tiên. Sở giao dịch Chicago đã giao dịch hợp đồng tương lai về chỉ số
bình quân ngành công nghiệp DJ và Sở giao dịch quyền chọn chứng khoán
bắt đầu mua bán các quyền chọn chỉ số Dow (mã DJX). Bên cạnh đó, các
quyền chọn liên quan tới chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải DJ (mã
DJTA) và chỉ số Tiêu dùng DJ (mã DJUA) cũng ra đời. Vào tháng 2 năm
1998, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ bắt đầu giao dịch Quỹ tín thác
Diamonds, một đơn vị quỹ tín thác đầu tư bắt chước theo 30 chỉ số công
nghiệp của Dow (The 30 Dow Industrials). Thêm vào đó, 2 quỹ tương hỗ
chào bán dựa trên cơ sở the 30 Dow benchmark. Ngài Dow có lẽ rất vui
mừng khi biết rằng một thế kỷ sau khi ông tạo ra các chỉ số, người ta có thể
mua bán chúng và thực sự đã áp dụng Lý thuyết Dow vào thực tiễn.

KẾT LUẬN
Chương này trình bày một cái nhìn tương đối ngắn gọn về những khía cạnh quan
trọng hơn của Lý thuyết Dow. Vấn đề này sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu
toàn bộ cuốn sách để thấy rằng Lý thuyết Dow đem lại nền tảng vững chắc cho bất cứ nghiên
cứu nào Trường phái phân tích kỹ thuật. Rất nhiều trong số đó sẽ được bàn luận trong các
chương tiếp theo chỉ ra những ứng dụng của lý thuyết nguyên thủy của Dow. Định nghĩa
chuẩn thế nào là một xu hướng, việc phân chia một xu hướng thành 3 loại và 3 giai đoạn,
nguyên tắc xác nhận lẫn nhau và không xác nhận nhau, ý nghĩa của khối lượng và việc sử
dụng tỷ lệ điểu chỉnh ngược chiều, tất cả đều được rút ra từ Lý thuyết Dow các này hay cách
khác.



CHƯƠNG III: CẤU TRÚC BIỂU ĐỒ
CÁC LOẠI BIỂU ĐỒ HIỆN NAY
Biểu đồ hình que hàng ngày đã được công nhận là loại biểu đồ được sử dụng rộng rãi
nhất trong phân tích kỹ thuật. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều loại biểu đồ khác cũng được các
nhà phân tích kỹ thuật sử dụng như biểu đồ đường, biểu đồ điểm hình và gần đây là biểu đồ
hình ống. Hình minh họa 3.1 minh họa biểu đồ que giao dịch hàng ngày chuẩn mực. Biểu đồ
que biểu diễn biến động mỗi ngày bằng một cột đứng, trong đó cho biết giá mở cửa, giá cao
nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa. Nhánh bên phải của mỗi cột là giá đóng cửa, và nhánh
bên trái là giá mở cửa.
Hình 3.2 minh họa cùng một biến động thị trường trên nhưng ở dạng đồ thị đường.
Trên đồ thị này, chỉ có giá đóng cửa được biểu thị cho các ngày kế tiếp nhau. Nhiều nhà phân
tích đồ thị tin rằng vì giá đóng cửa là mức giá quan trọng nhất mỗi ngày giao dịch cho nên
một đồ thị đường là một thước đo rất đáng tin cậy về diễn biến giá.

Một loại đồ thị thứ 3, đồ thị điểm và hình, được minh họa trong hình 3.3. Lưu ý rằng
đồ thị điểm và hình vẽ này cũng biểu diễn cùng một biến động giá cả như trên nhưng được


định dạng nén. Chú ý các cột x's và o's khác nhau. Cột x chỉ giá lên và cột o chỉ giá xuống.
Các dấu hiệu mua bán chính xác và dễ vẽ hơn trên đồ thị que.

BIỂU ĐỒ ỐNG
Biểu đồ ống là phiên bản của đồ thị hình que của người Nhật Bản và ngày càng được
các nhà phân tích đồ thị phương tây ưa thích trong những năm gần đây. Đồ thị ống của người
Nhật ghi lại 4 mức giá như đồ thị que truyền thống - giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất và giá
đóng cửa. Tuy nhiên hình dáng thì khác rất nhiều. Đối với biểu đồ này, một nét mảnh (gọi là
bóng) biểu diễn phạm vi giá trong ngày giao dịch từ cao đến thấp. Phần phình to của que (gọi
là Thân chính) đo khoảng cách chênh lệch giữa giá mở cửa và đóng cửa. Nếu giá đóng cửa

cao hơn giá mở cửa thì Thân chính màu trắng (dương). Nếu giá đóng cửa thấp hơn giá mở
cửa thì Thân chính màu đen (âm). (Hình 3.4)
Điểm mấu chốt của đồ thị ống là mối quan hệ giữa giá mở cửa và đóng cửa. Có lẽ một
phần do sự ưa thích ngày càng tăng đối với đồ thị ống, các nhà phân tích đồ thị phương tây
ngày càng quan tâm tới opening tic trong đồ thị hình que. Bạn có thể sử dụng đồ thị hình ống
như sử dụng sử dụng đồ thị que. Nói cách khác, tất cả các công cụ phân tích kỹ thuật và các
chỉ số mà chúng tôi đưa ra từ đồ thị hình que cũng có thể được sử dụng trên đồ thị ống. Trong
chương này chúng tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy cách xây dựng một đồ thị que theo hàng tuần
hoặc hàng tháng. Bạn cũng có thể thực hiện giống như vậy với đồ thị ống.


THANG GIÁ SỐ HỌC VÀ LOGARIT (ARITHMETIC VERSUS
LOGARITHMETIC SCALE)
Có thể sử dụng thang giá số học hoặc logarit để vẽ các đồ thị. Đối với một số loại
phân tích, cụ thể là phân tích xu hướng dài hạn, sử dụng biểu đồ logarit có một số ưu điểm
(xem hình 3.5 và 3.6). Hình3.5 biểu diễn sự khác biệt giữa các thang giá khác nhau. Với
thang giá số học, trên trục thẳng đứng khoảng cách giữa các mức giá bằng nhau. Tuy nhiên,
với thang giá logarit chú ý rằng sự tăng trưởng phần trăm ngày càng nhỏ khi mức giá tăng
lên. Khoảng cách từ điểm 1 đến 2 bằng với khoảng cách từ điểm 5 đến 10 bởi vì chúng đều
biểu thị sự tăng giá gấp đôi. Ví dụ, khoảng cách giữa mức giá 5 và 10 bằng với khoảng cách
từ 50 đến 55 trên thang giá số học mặc dù khoảng cách thứ nhất biểu thị sự tăng giá gấp đôi
và khoảng cách sau chỉ biểu thị giá tăng 10%. Giá cả được biểu thị theo thang giá tỷ lệ hoặc
logarit, thì các tỷ lệ biến đổi giá bằng nhau có khoảng cách bằng nhau. Ví dụ, khi giá biến
động từ 10 đến 20 (tăng 100%) khoảng cách được biểu diễn trên đồ thị log bằng với khoảng
cách giữa mức giá 20 đến 40 hoặc từ 40 đến 80. Phân tích chứng khoán người ta thường sử
dụng biểu đồ log, còn mua bán hợp đồng tương lai thì biểu đồ số học được ưa chuộng hơn.
Các phần mềm vẽ biểu đồ cho phép sử dụng cả 2 loại thang giá này (hình 3.6).

XÂY DỰNG BIỂU ĐỒ CỘT THEO NGÀY



Việc xây dựng biểu đồ cột hàng ngày là công việc cực kỳ đơn giản. Biểu đồ cột thể
hiện cả giá và thời gian. Trục tung y biểu thị giá còn trục hoành x biểu thị ngày giao dịch.
Tất cả công việc mà người sử dụng đồ thị phải thực hiện là vẽ cột biểu diễn giá mỗi ngày từ
mức giá cao nhất đến mức giá thấp nhất (biên độ). Đoạn chắn bên phải biểu thị giá đóng cửa,
đoạn chắn bên trái biểu thị mức giá mở cửa. Diễn biến giá của các ngày kế tiếp được vẽ sang
bên phải ngày liền trước đó. Đồ thị chỉ biểu thị những ngày giao dịch trong tuần, trường hợp
không giao dịch thì vị trí của ngày đó bị bỏ trống. Những thanh ở đáy của biểu đồ thể hiện
khối lượng giao dịch..(3.7)

KHỐI LƯỢNG (VOLUME)
Một phần thông tin không kém quan trọng cần thể hiện trong biểu đồ que là khối
lượng giao dịch. Khối lượng giao dịch là tổng số các hợp đồng tương lai hoặc các cổ phiếu


phổ thông được chuyển nhượng trên thị trường trong một ngày giao dịch - được biểu thị bởi
độ dài của các thanh ở đáy biểu đồ.
FUTURES OPEN INTEREST (nhớ xem lại)
Open interest là tổng số hợp đồng tương lai còn tồn chưa giao dịch vào thời điểm
cuối ngày. Lượng còn tồn này có thể do người bán hoặc người mua nắm giữ, nhưng không
phải cả hai. (Lưu ý rằng, trong giao dịch hợp đồng tương lai, mỗi một giao dịch mua phải
luôn có một giao dịch bán tương ứng.) Chính vì vậy, chúng ta chỉ cần biết số lượng của một
bên. Open interest được biểu thị bằng một đường liền nét phía dưới đường biểu thị giá và trên
đường khối lượng (3.8)

Tổng khối lượng, khối lượng cá biệt và số open interest của hợp đồng tương lai
Phân tích kỹ thuật về hợp đồng tương lai chỉ sử dụng tổng khối lượng giao dịch và
tổng số open interest mặc dù số liệu của các giao dịch riêng lẻ hàng tháng sẵn có. Lý do hợp
lý cho điều này như sau.
Ở đầu kỳ hạn của hợp đồng tương lai, khối lượng và open interest rất nhỏ sau đó tăng

dần, khoảng 2 tháng trước khi hợp đồng đáo hạn thì số lượng lại giảm. Rõ ràng là nhà đầu tư
phải thoát khỏi vị trí mở của mình khi hợp đồng gần đáo hạn. Vì vậy, sự tăng khối lượng
trong mấy tháng đầu và giảm khi gần đáo hạn hợp đồng không có ý nghĩa phản ánh xu hướng
của thị trường mà đơn giản là do đặc điểm của hợp đồng tương lai hàng hóa có kỳ hạn nhất
định. Để xác định khối lượng có tăng không và đưa ra được dự báo về giá trị của các hợp
đồng người ta thường sử dụng tổng khối lượng. (biểu đồ cổ phiếu chỉ biểu diễn tổng khối
lượng chứ không bao gồm cả lượng dư mua bán)
KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH VÀ DƯ MUA BÁN CỦA HĐ TƯƠNG LAI ĐƯỢC
CÔNG BỐ CHẬM
Khối lượng giao dịch và dư mua bán của hợp đồng tương lai mỗi ngày được thông
báo muộn vì vậy nhà phân tích phải hài lòng với việc có số liệu muộn để tiến hành phân tích.
Trong giờ giao dịch ngày hôm sau các số liệu mới được công bố nhưng quá muộn không kịp
để đăng trên các báo tài chính trong ngày hôm đó mà thông thường báo buổi sáng chỉ đăng tải


các thông tin ước lượng sau khi thị trường đóng cửa. Số liệu chính thức chỉ được cống bố trên
các báo ngày sau nữa. Tuy nhiên các số liệu ước tính cũng phần nào cho nhà phân tích hợp
đồng tương lai một cái nhìn tổng quan về tình hình giao dịch. Đối với các nhà phân tích biểu
đồ cổ phiếu thì họ không gặp phải vấn đề này bởi số liệu được tổng hợp ngay tức thì.
GIÁ TRỊ GIAO DỊCH VÀ CÒN DƯ CỦA MỖI HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI
Số lượng còn dư của mỗi hợp đồng tương lai cung cấp một thông tin vô cùng có giá
trị. Chúng ta biết hợp đồng nào có tính thanh khỏan nhất để giao dịch. Theo quy luật thông
thường, hoạt động giao dịch phải được giới hạn trong số tháng giao hàng với số OI cao nhất.
Các tháng mà có số OI thấp thì nên tránh giao dịch. Như thuật ngữ đã ngụ ý thfi OI càng cao
càng có nhiều lợi nhuận trong một số tháng giao hàng nhất định.
BIỂU ĐỒ QUE HÀNG TUẦN VÀ HÀNG THÁNG
Từ đầu tới giờ chúng ta chủ yếu sử dụng biểu đồ hình que hàng ngày tuy nhiên cần
nhớ rằng biểu đồ này có thể xây dựng theo bất cứ đơn vị thời gian nào. Biểu đồ hình que
trong ngày có thể xây dựng theo đơn vị thời gian là 5 phút với đầy đủ mức giá cao nhất, thấp
nhất và giá kết thúc 5 phút trước. Biểu đồ hình que theo ngày trung bình có thể biểu diễn

được
biến
động
giá
trong
khoảng
thời
gian
6
đến
9
tháng.
Tuy nhiên để có thể phân tích xu hướng giá trong khoảng thời gian dài hơn thì phải sử dụng
biểu đồ theo tuần hoặc tháng. Tính hữu ích khi sử dụng biểu đồ có thời gian dài hơn được
phân tích trong chương 8. Nhưng phương pháp xây dựng và cập nhật biểu đồ về cơ bản giống
nhau. (hình 3.9 và 3.10)


Biểu đồ theo tuần thì mỗi thanh biểu thị hành vi giá của cả tuần đó và tương tự như
vậy biểu đồ theo tháng thì mỗi que biểu thị biến động giá trong toàn bộ tháng đó. Rõ ràng là
biểu đồ theo tuần hoặc tháng cô đọng biến động giá cho phép phân tích xu hướng giá với
thời gian dài hơn. Biểu đồ theo tuần có thể biểu thị một khoảng thời gian 5 năm và biểu đồ
tháng có thể biểu thị tới 20 năm. 2 loại đồ thị này giúp cho người nghiên cứu có một tầm nhìn
dài hơi mà không thể thấy được khi nghiên cứu đồ thị theo ngày.
KẾT LUẬN
Cho đến giờ chúng ta đã biết cách vẽ một đồ thị hình que như thế nào và hiểu biết sơ
lược 3 nguồn thông tin cơ bản - giá, khối lượng và lượng dư mua bán- để có thể diễn giải các
số liệu trên biểu đồ. Tuy nhiên phải nhớ rằng số liệu bản thân nó không có nhiều ý nghĩa
giống như cây cọ và vải vẽ chỉ có giá trị khi dưới bàn tay của các nghệ sĩ tài hoa chúng tạo
nên những bức tranh tuyệt đẹp. Biểu đồ chỉ trở thành công cụ cực kỳ hữu ích trong việc dự

báo thị trường một khi chúng ta hiểu biết đầy đủ các quy luật của nó.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×