Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MARX ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (143.47 KB, 13 trang )

GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ MARX
ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
PGS-TS. Nguyễn Văn Luân- Trường Đại học Kinh tế- Luật
TÓM TẮT
Học thuyết kinh tế của Marx là một hệ thống lý luận, và là một di sản lý luận khoa
học mà Marx để lại dưới góc độ quy luật phát triển kinh tế. Marx coi sự vận động xã
hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên, một quá trình phải tuân theo những quy luật
không những không tùy thuộc vào ý chí, ý thức và ý định của con người, mà ngược lại
còn quyết định cả ý chí, ý thức và ý định của con người.
Những thách thức cũng như vận hội mới của thời đại cùng với sự phát triển mạnh
mẽ về mọi mặt của công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức
xúc, đòi hỏi phải làm sáng tỏa về mặt lý luận để làm cơ sở cho việc tổ chức và quản lý
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta. Kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta là kiểu tổ chức kinh tế vận hành tuân theo những
quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời lại dựa trên cơ sở và được sự dẫn dắc, chi
phối bởi bản chất và các nguyên tắc của XHCN.
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với những thử nghiệm trên nhiều
phương diện, nhiều cấp độ khác nhau, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta đang dần được hình thành không chỉ trên phương diện nhận thức và tư duy, mà quan
trọng hơn là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta từng bước được xây
dựng, phát triển, tổ chức và quản lý đạt được những thành tựu quan trọng.
Tiền đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam là từ các lý thuyết kinh tế, và sự phát triển kinh tế thị
trường của thế giới. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một mô hình
phát triển mới, vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và định hình nên sự nhận thức, tổ
chức và quản lý nền kinh tế còn nhiều hạn chế, thiếu sót và chưa mang tính hệ thống
một cách đầy đủ.


Từ khóa: Học thuyết kinh tế Marx, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội


chủ nghĩa.
1. GIỚI THIỆU
Học thuyết kinh tế Marx nghiên cứu sự vận động và phát triển của các quy luật
phát triển khách quan của xã hội từ giai đoạn thấp lên giai đoạn cao và những nguyên
nhân làm cho phương thức sản xuất này bị phương thức sản xuất khác thay thế. Theo
Marx, mỗi một thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó. Một khi cuộc sống
đã vượt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn
khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối.
Chính vì vậy, học thuyết kinh tế Marx là cơ sở lý luận cho việc nhận thức và đổi
mới tư duy trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta. Qua hơn
30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta từng bước được xây dựng, phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng.
Về cơ bản, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đang được vận
hành có hiệu quả, đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình phát triển đất nước theo định
hướng XHCN. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một
mô hình phát triển mới, vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và định hình bản chất nên
sự nhận thức về nó còn nhiều thiếu sót và chưa mang tính hệ thống đầy đủ.
Từ thực tiễn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường trong hơn 30 năm qua cho thấy
việc nghiên cứu mang tính cơ bản, hệ thống về quá trình phát triển nhận thức và tư duy
về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là rất cần thiết. Chỉ trên cơ sở
đó, quá trình hoạch định đường lối, chiến lược và chính sách phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN cũng như tổ chức, quản lý thực hiện chúng mới nhanh chóng
thoát khỏi sự mò mẫm, kinh nghiệm chủ nghĩa và đối phó kéo dài, để đưa nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững, thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
2. HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA MARX VÀ ĐẶC TRƯNG CÓ TÍNH QUY
LUẬT CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG



2.1.

Học thuyết kinh tế Marx
Học thuyết kinh tế của K.Marx kế thừa những quan điểm kinh tế của các nhà kinh

tế học tư sản cổ điển. Tuy nhiên, học thuyết kinh tế Marx mang nội dung kinh tế hoàn
toàn khác. Các tác phẩm của Marx (đặc biệt là Bộ Tư bản) bộc lộ những quan điểm
kinh tế chính trị về thiết lập nên một trật tự xã hội và kinh tế mới – chủ nghĩa xã hội –
thay thế chủ nghĩa tư bản. Khi nghiên cứu về sự vận động của hệ thống tư bản chủ
nghĩa, Marx đưa ra tư tưởng học thuyết riêng của mình. Học thuyết Marx phê phán xã
hội tư bản chủ nghĩa; đồng thời phác họa cuộc cách mạng đi lên chủ nghĩa cộng sản,
một xã hội phồn vinh, không có giai cấp và Nhà nước.
Bộ Tư bản của Marx là một tác phẩm kinh tế kiệt xuất, nó là một cuộc cách mạng
trong lý luận kinh tế học chính trị lúc bấy giờ và đến ngày nay vẫn còn ý nghĩa về mặt
lý luận và thực tiễn. K.Marx “Mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật
vận động kinh tế của xã hội hiện đại”. Đối với Marx, chỉ có điều này là quan trọng: tìm
ra quy luật của những hiện tượng mà Marx nghiên cứu. Hơn nữa, điều quan trọng đối
với Marx không phải là cái quy luật chi phối những hiện tượng ấy trong lúc chúng đang
ở dưới một hình thái nhất định và đang nằm trong mối quan hệ qua lại mà Marx quan
sát được trong một lúc nhất định. Đối với Marx, điều quan trọng hơn là cả quy luật biến
hóa của các hiện tượng, quy luật phát triển của chúng, tức là sự chuyển hóa từ một hình
thái này sang một hình thái khác. Một khi đã phát hiện ra quy luật đó, Marx liền xem
xét tỉ mỉ hơn nữa những hậu quả mà thông qua đó, quy luật ấy biểu hiện ra trong đời
sống xã hội. Vì Thế, Marx chỉ quan tâm tới một điều: dùng sự nghiên cứu khoa học
chính xác để chứng minh tính tất yếu của những trật tự nhất định của các quan hệ xã
hội, và kiểm nghiệm lại một cách chu đáo nhất những sự kiện mà Marx đã dùng làm
điểm xuất phát và làm điểm tựa. Marx coi sự vận động xã hội như là một quá trình lịch
sử tự nhiên, một quá trình phải tuân theo những quy luật không những không tùy thuộc
vào ý chí, ý thức và ý định của con người, mà ngược lại còn quyết định cả ý chí, ý thức
và ý định của con người. Theo Marx, mỗi một thời kỳ lịch sử đều có những quy luật

riêng của nó. Một khi cuộc sống đã vượt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai
đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi


phối. Khi nghiên cứu và giải thích trật tự kinh tế tư bản chủ nghĩa, Marx chỉ nêu lên
một cách hết sức khoa học cái mục đích mà một sự nghiên cứu chính xác về đời sống
kinh tế phải có…Giá trị khoa học của sự nghiên cứu đó chính là ở chỗ giải thích rõ
những quy luật đặc thù chi phối sự phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong của một cơ
thể xã hội nhất định và sự thay thế nó bằng một cơ thể khác, cao hơn. Và các tác phẩm
của Marx đã thực sự có một giá trị như vậy.
Những đóng góp của Marx về lý luận kinh tế không chỉ dừng lại ở việc phát triển
các tư tưởng kinh tế cổ điển, mà còn hơn nữa, Marx đã đưa ra một cách nhìn tổng quát,
vạch ra các mâu thuẫn bên trong của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Những phát kiến
lớn của Marx trở thành những lý thuyết kinh tế có giá trị bền vững trong sự phát triển
kinh tế - xã hội của thế giới đương đại.
Thứ nhất, lý luận giá trị - lao động. Marx là người đầu tiên phát hiện ra tính hai
mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Một quá trình lao động của người sản xuất hàng
hóa có tính hai mặt. Một mặt, nó là quá trình lao động cụ thể, bảo tồn và di chuyển giá
trị cũ (c) vào trong giá trị của sản phẩm mới. Mặt khác, nó là quá trình lao động trừu
tượng, sáng tạo ra giá trị mới (v+ m). Toàn bộ giá trị hàng hóa, do lao động làm ra trong
quá trình lao động là c+v+m. Chính nhờ phát minh này mà Marx đã hoàn thiện lý luận
giá trị - lao động mà các tác giả trước đó không làm được, và trên cơ sở lý luận này có
thể phân tích một cách khoa học các lý luận kinh tế khác.
Thứ hai, lý luận giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư là giá trị dôi ra ngoài giá trị
hàng hóa sức lao động do người công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Như vậy, chỉ có Marx mới có thể vạch trần được nguồn gốc của giá trị thặng dư, từ đó
phân tích một cách sâu sắc bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, là bóc lột lao động
không công (lao động thặng dư) của người công nhân làm thuê. Marx cũng đã nêu ra
các phương pháp bóc lột giá trị thặng dư của các nhà tư bản: sản xuất giá trị thặng dư
tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Trong đó, phương pháp bóc lột giá trị

thặng dư tương đối là tinh vi nhất, nó che dấu bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Lý
luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” cho học thuyết kinh tế của Marx, nó trở thành lý
luận sắc bén cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản.


Thứ ba, lý luận về tích lũy, tích tụ và tập trung tư bản. Tích lũy tư bản là tư bản
hóa giá trị thặng dư, là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng. Sở dĩ giá
trị thặng dư có thể chuyển hóa thành tư bản được là vì giá trị thặng dư đã mang sẵn
những yếu tố vật chất của tư bản mới. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và
tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành nền sản
xuất xã hội hóa cao độ.
Thứ tư, lý luận về cạnh tranh. Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển
của sản xuất hàng hóa. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa tư bản, cạnh tranh trong nội
bộ ngành thúc đẩy các nhà tư bản thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất
lao động làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá
trị xã hội của hàng hóa đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Cạnh tranh giữa các ngành
nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi nhất, sự di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành
khác hình thành tỷ suất lợi nhận bình quân, và giá trị hàng hóa chuyển thành giá cả sản
xuất.
Học thuyết kinh tế của Marx ra đời cuối thế kỷ XIX, trong những xã hội do
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểu hiện ra là một “đống
hàng hóa khổng lồ”, còn từng hàng hóa một thì biểu hiện ra là hình thái nguyên tố của
của cải ấy [4, tr.13]. Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đó
sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. Mục đích của sản xuất trong
nền kinh tế hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất ra
sản phẩm mà nhằm để bán, tức là để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng (người
mua).
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đó toàn bộ
các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Nền kinh tế thị
trường đồng thời giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất hàng gì, sản xuất hàng

hóa như thế nào, hàng hóa sản xuất cho ai? đã đạt được những thành tựu nhất định
trong sự phát triển kinh tế của xã hội; nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.


Nền kinh tế thị trường hoạt động theo cơ chế thị trường, và tuân thủ theo những
quy luật của kinh tế thị trường: quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh,
quy luật lưu thông tiền tệ…
2.2.

Những đặc trưng mang tính quy luật của việc phát triển nền kinh tế thị
trường
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế phổ biến chi phối mọi nền sản xuất xã hội.

Các quy luật của kinh tế thị trường biểu hiện qua sự biến động của quan hệ hàng tiền,
quan hệ giá cả, quan hệ cung – cầu, quan hệ cạnh tranh…Trong nền kinh tế thị trường:
sản xuất hàng gì? Sản xuất hàng hóa như thế nào? Sản xuất hàng hóa cho ai? tưởng
chừng như là việc riêng của mỗi người, nhưng quan hệ giữa những người sản xuất hàng
hóa và những người tiêu dùng lại tồn tại một các khách quan, là môi trường hoạt động
của người sản xuất và người tiêu dùng, do quy luật khách quan chi phối. Trong nền kinh
tế thị trường tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình
doanh nghiệp…theo trình độ xã hội hóa của nền sản xuất.
Xã hội hóa sản xuất không ngừng được tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế thị
trường. Trình độ xã hội hóa sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển kinh tế thị trường và
đến lượt mình, kinh tế thị trường càng phát triển càng phá vỡ tính khép kín, biệt lập của
các chủ thể kinh tế, của các vùng, các địa phương và của các quốc gia, thu hút chúng
vào quá trình kinh tế thống nhất, thị trường thống nhất, tức là xã hội hóa sản xuất càng
phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Bản chất của kinh tế thị trường là quan hệ hàng – tiền – hàng, và tiền – hàng –
tiền, hình thức được con người lựa chọn để kết nối các hoạt động mang tính tự do sản
xuất kinh doanh, tự do sáng tạo để phát triển kinh tế. Như vậy, kinh tế thị trường là hình

thái kinh tế, trong đó lực lượng sản xuất được tự do phát triển dựa trên quá trình chuyên
môn hóa ngày càng sâu sắc hơn, áp dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất ngày càng
nhanh hơn nhờ con người được tự do phát triển trong mối quan hệ hợp tác với nhau
thông qua trao đổi hàng – tiền – hàng, và tiền – hàng – tiền. Những quan hệ cần thiết
cho trao đổi hàng – tiền – hàng, và tiền – hàng – tiền là quyền tự do kinh doanh, sự bình
đẳng về mặt pháp lý giữa các bên giao dịch, chế tài bảo đảm thực hiện cam kết theo hợp


đồng, các quy định thống nhất giữa các bên về đơn vị đo lường, đơn vị tiền tệ, phương
thức giao dịch…là những quan hệ sản xuất phù hợp với yêu cầu phát triển của lực
lượng sản xuất. Điều này là tất yếu không phân biệt quốc gia duy trì kinh tế thị trường
lựa chọn chế độ chính trị nào.
Phát triển nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải dân chủ hóa nền kinh tế, tự do hóa
kinh tế để phát huy mọi nguồn lực của xã hội, mở đường cho lực lượng sản xuất xã hội
phát triển ngày càng hiện đại. Lợi ích kinh tế là động lực phát triển quan trọng nhất của
nền kinh tế thị trường, trước hết là lợi ích của các nhà đầu tư, của người sản xuất kinh
doanh, của người lao động, của người tiêu dùng, của tập thể, của Nhà nước và của toàn
xã hội. Đã là kinh tế thị trường thì đều phải tuân thủ theo những quy luật khách quan
của thị trường, và vận hành theo cơ chế thị trường. Thế nhưng, kinh tế thị trường có
tính đặc thù phù hợp với trình độ, thể chế phát triển, điều kiện phát triển cụ thể của mỗi
quốc gia. Kinh tế thị trường ở nước nào cũng có các loại thị trường cơ bản để tạo thành
một chỉnh thể hữu cơ tác động qua lại trong nền kinh tế. Sự vận động của nền kinh tế
thị trường là hướng đến sự cân bằng tổng thể nền kinh tế giữa các ngành sản xuất kinh
doanh với tiêu dùng của các hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ.
Kinh tế thị trường là sản phẩm tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội,
lực lượng sản xuất xã hội càng hiện đại thì kinh tế thị trường càng hiện đại. Kinh tế thị
trường vừa là điều kiện, vừa là biểu hiện trình độ xã hội hóa của nền sản xuất xã hội.
Kinh tế thị trường là thành tựu của nền văn minh nhân loại được hình thành trong quá
trình phát triển của xã hội loài người. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tất yếu
đòi hỏi những cải biến có tính cách mạng về quan hệ sản xuất cho phù hợp với quá trình

hiện đại hóa lực lượng sản xuất. Kinh tế thị trường là môi trường thuận lợi nhất hợp quy
luật khách quan để lực lượng sản xuất phát triển. Lực lượng sản xuất càng phát triển,
càng hiện đại, càng xã hội hóa ở trình độ cao, thì càng đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất
tiến bộ, phù hợp. Do vậy, quá trình phát triển kinh tế thị trường cũng là quá trình phát
triển theo trật tự tự nhiên để xã hội loài người đi lên chủ nghĩa xã hội theo đúng nghĩa.
Kinh tế thị trường là con đường, là phương thức phát triển mà xã hội loài người phải
trải qua. Nếu không thông qua phát triển kinh tế thị trường, không phát triển kinh tế thị


trường một cách thực sự hiệu quả, bền vững bằng cách phát huy những ưu thế của kinh
tế thị trường, và hạn chế tối đa những khuyệt tất của kinh tế thị trường thì không có thể
đi lên chủ nghĩa xã hội đích thực một các hợp quy luật, nhất là trong bối cảnh cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra một cách mạnh mẽ.
Kinh tế thị trường mặc dù là mô hình phát triển phổ biến và có những đặc điểm
chung, trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế làm cho các nền
kinh tế thị trường hội nhập phải tuân theo các giá trị, các chuẩn mực của kinh tế thị
trường thế giới; nhưng bên cạnh những nguyên tắc chung, chuẩn mực chung thì nền
kinh tế thị trường ở các quốc gia không hoàn toàn giống nhau, không rập khuôn như
nhau, mà có những sắc thái riêng, có dấu ấn riêng về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội,
truyền thống, dân tộc.
3. NHẬN THỨC VÀ TƯ DUY VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Từ cơ sở lý luận về học thuyết kinh tế của Marx và những đặc trưng có tính quy
luật của sự phát triển nền kinh tế thị trường; có thể khẳng định kinh tế thị trường là
thành quả phát triển của nhân loại, và đạt được trình độ phát triển cao trong nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên nền tảng đại công nghiệp cơ khí hiện đại, khoa học –
công nghệ tiên tiến. Vì vậy, chỉ có nền kinh tế thị trường phát triển cao khi Việt Nam cơ
bản trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nhằm chuyên môn hóa sản xuất, tăng năng suất lao động và nâng cao năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế là con đường tất yếu khách quan. Vấn đề là phải tìm

được các ngành có lợi thế cạnh tranh của đất nước, tạo ra những sản phẩm có thương
hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức, là
con đường để Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội, nhưng tuyệt đối không được đi ngược
lại các quy luật, các nguyên tắc phổ biến của kinh tế thị trường và phải xuất phát từ
thực tế khách quan của đất nước, phù hợp lợi ích của nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân
tộc lên trên hết. Điều đó đòi hỏi phải tạo ra được tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh
và bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội


nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Muốn vậy phải đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế,
đổi mới mô hình tăng trưởng, chú trọng phát triển theo chiều sâu, coi chất lượng, năng
suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm an sinh xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, tích cực và chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế một cách hiệu quả, thiết thực.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tháo gỡ
mọi rào cản cho sự phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh
mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ
cao, phát triển mạnh kinh tế tri thức. Tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị
trường, nhất là trong việc hình thành cơ chế phân bổ nguồn lực, cơ chế giá…, đồng thời
nâng cao năng lực quản lý, điều hành kinh tế của Nhà nước. Giải quyết đồng bộ, hiệu
quả quan hệ giữa Nhà nước – thị trường – doanh nghiệp. Phát triển đồng bộ các yếu tố,
các loại thị trường trong nước, mở rộng, đa dạng hóa thị trường ngoài nước. Gắn kết,
phát huy tối đa vai trò và ưu thế của các thành phần kinh tế để kinh tế tư nhân thực sự
trở thành động lực phát triển của nền kinh tế; tạo điều kiện để phát huy tối đa, hiệu quả
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp để tạo thành
sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế. Mọi loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế quản lý, phân phối, bảo đảm hài hòa lợi ích, tạo động lực mạnh mẽ

phát triển kinh tế - xã hội. Kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh, bền
vững kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ bền
vững môi trường. Chuyển tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu
sang phát triển dựa vào đồng thời cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Nâng
cao hiệu quả đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế để
chuyển từ tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.
Phát triển khoa học – công nghệ và quản lý, quản trị hiện đại nhằm tăng năng suất lao
động, nâng cao chất lượng, hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng, tăng nhanh giá trị quốc
gia và tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu. Đổi mới cơ chế


phân phối vừa phải theo nguyên tắc thị trường để phân bổ, sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực, vừa có sự điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm công bằng xã hội, an sinh
xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nâng cao vai trò, năng lực quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nước. Nhà
nước với vai trò là đại diện cho nhân dân là chủ thể quyền lực, xây dựng pháp luật và
bảo đảm hiệu lực tối cao của Hiến pháp và pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm quản lý
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Hiến pháp và pháp luật đúng
các quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Nhà nước kiến tạo phát triển, xây dựng
môi trường để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và
bền vững. Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho sản xuất và đời sống của
người dân; Nhà nước hỗ trợ thị trường và doanh nghiệp; Nhà nước bảo đảm cho các
thành tố của thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo các quy luật khách
quan; đồng thời Nhà nước hạn chế và khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị
trường, và đóng vai trò trọng tài giải quyết các tranh chấp trong nền kinh tế thị trường.
Nhà nước xây dựng, thực thi hệ thống cơ chế, chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị
trường. Tăng cường điều tiết thông qua các công cụ chính sách tài khóa, chính sách tiền
tệ, chính sách thương mại quốc tế để phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, và giữ vững
ổn định kinh tế vĩ mô.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách thực

chứng ở Việt Nam là một nhiệm vụ khó khăn, đầy thử thách, lâu dài xét ở góc độ điểm
xuất phát từ một nước kém phát triển. Trình độ phát triển của kinh tế thị trường là kết
quả của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng phân công chuyên môn
hóa ngày càng sâu hơn, đi đôi với tăng năng suất lao động ở mọi mắt khâu của nền kinh
tế. Nền kinh tế có quy mô đầu ra của các ngành kinh tề càng lớn thì dung lượng thị
trường càng lớn. Nền kinh tế thị trường phát triển cao là kết quả của quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất ở quy mô lớn qua thời gian, là nâng cao năng lực nghiên cứu và phát
triển khoa học – công nghệ của quốc gia, là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế, và là nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cải cách thể chế quản lý để
tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Chính vì vậy, mô hình kinh tế thị trường


định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các nhân tố của kinh tế thị trường, các quy
luật kinh tế, quy luật thị trường đóng vai trò là động lực phát triển, bảo đảm nền kinh tế
phát triển có hiệu quả cao. Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng, dẫn dắc nền kinh
tế tới mục tiêu đã xác định. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu
quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống
nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường
đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
4. KẾT LUẬN
Học thuyết kinh tế của Marx cung cấp những tri thức về sự vận động của các quan
hệ sản xuất, về những quy luật kinh tế của xã hội trong những trình độ phát triển khác
nhau của xã hội. Những tri thức của học thuyết kinh tế Marx là cơ sở khoa học để đưa
ra những chủ trương, đường lối, chính sách kinh tế tác động vào hoạt động kinh tế, định
hướng cho sự phát triển kinh tế.
Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, do đó những kiến thức, khái niệm, phạm trù, quy luật… của kinh tế thị
trường mà học thuyết kinh tế Marx đưa ra là hết sức cần thiết không chỉ đối với việc tổ

chức và quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn cần thiết
cho việc quản lý sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư
trong nền kinh tế.
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với những thử nghiệm trên nhiều
phương diện, nhiều cấp độ khác nhau, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam đang dần được hình thành không chỉ trên phương diện nhận thức và tư duy, mà
quan trọng hơn là trong việc thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường. Mặc dù là một
mô hình chưa từng có trong lịch sử, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam và sự nổ lực tổ chức và quản lý của Chính phủ, vừa không ngừng học hỏi, sáng
tạo, lại vừa tổng kết rút kinh nghiệm, mạnh dạn, thẳng thắn trong đấu tranh chống tư


tưởng tả, hữu khuynh… nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đang có
những bước phát triển vững chắc.
Từ chỗ đối lập kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội, với kế hoạch hóa nền kinh
tế quốc dân…chúng ta đã dần dần từng bước tiếp cận với lý luận và thực tiễn phát triển
nền kinh tế thị trường trong quá khứ và hiện tại để có được một hệ thống nhận thức và
tư duy như ngày nay; khẳng định phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế
trong thời kỳ quá độ đi lên CNHX ở Việt Nam. Đó là một sự phát triển nhận thức và tư
duy theo khuynh hướng sáng tạo và khoa học, không chỉ phù hợp với quy luật của nhận
thức học thuyết kinh tế Marx, mà còn phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta,
phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Bước ngoặt có tính cách mạng trong nhận thức và tư duy về nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta – có lẽ, đó là những nhận thức và tư duy về kinh tế thị
trường vừa là cái chung, cái phổ biến; lại vừa là cái riêng, cái đặc thù trong nền kinh tế
chuyển đổi ở nước ta. Những nhận thức mới về thời đại, về mô hình kinh tế thị trường
định hướng CNXH trong điều kiện mới có giá trị bền vững của học thuyết kinh tế
Marx.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.
3.
4.

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.19.
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, T.23.
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, T.26.
C.Mác, “Góp phân phê phán khoa kinh tế chính trị”. Nhà xuất bản Sự thật, Hà

Nội, 1964, tr.13
5. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, T.16
6. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội-2001
7. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2006
8. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2011


9. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2016
10. Vũ Bình Bách và tập thể tác giả: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2008
11. Phạm Quốc Trung, Phạm Thị Túy: Sự phát triển nhận thức về nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội 2013




×