Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.57 MB, 93 trang )

f
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG NGUYỄN BẢO ANH

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG
VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)

HÀ NỘI - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG NGUYỄN BẢO ANH

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số


: 83800104

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. BÙI KIÊN ĐIỆN

HÀ NỘI - NĂM 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Kiên Điện – Trường Hải quan Hà
Nội.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Những thông tin, số liệu và trích dẫn trong luận văn là hoàn
toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chính xác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn
này.
Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn

TS. Bùi Kiên Điện

Tác giả luận văn

Hoàng Nguyễn Bảo Anh


LỜI CÁM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực

tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ
nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp cùng với sự đóng góp của gia đình, tôi đã
hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Luật học.
Qua đây tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các
Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến
thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Cám ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện
quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như
chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp hoàn thành luận
văn này đúng tiến độ.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Bùi Kiên Điện
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận
văn.
Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập.
Tác giả luận văn


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. BLHS:

Bộ luật hình sự

2. BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

3. BPNC:


Biện pháp ngăn chặn

4. CQĐT:

Cơ quan điều tra

5. ĐTV:

Điều tra viên

6. HĐXX:

Hội đồng xét xử

7. KSV:

Kiểm sát viên

8. LTHTGTG:

Luật thi hành tạm giữ, tạm giam

9. TAND:

Tòa án nhân dân

10. TTHS:

Tố tụng hình sự


11. THTT:

Tiến hành tố tụng

12. VKS:

Viện kiểm sát

13. VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN
THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN TẠM GIAM ........................................................................................ 9
1.1. Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam................................................................. 9
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ........................... 9
1.1.2. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, Tòa án khi kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
......................................................................................................................... 19
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.................................. 22
1.2.1. Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam ở giai đoạn điều tra .......... 22
1.2.2. Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử...... 37

Kết luận chương 1 ........................................................................................... 41
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM ............................... 43
2.1. Thực trạng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam................................................................................ 43
2.1.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 43
2.1.2. Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân ............................................ 50
2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam......................................... 57
2.2.1. Giải pháp lập pháp ................................................................................ 57
2.2.2. Các giải pháp khác ................................................................................ 66
Kết luận chương 2 ........................................................................................... 72
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 73


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biện pháp ngăn chặn tạm giam (BPNC) là biện pháp nghiệp vụ của các
cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án hình sự. Nó thể hiện sự cưỡng chế mạnh mẽ của Nhà nước
đối với người phạm tội, đảm bảo cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm
đạt hiệu quả cao. Song nó cũng trực tiếp xâm hại đến quyền tự do của công
dân được quy định trong Hiến pháp. Vì vậy, đòi hỏi biện pháp này phải được
quy định đầy đủ, chặt chẽ trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) và phải
được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt để, nhằm tránh tình trạng tạm
giam oan người vô tội.
Viện kiểm sát (VKS) có vị trí rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước

pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và là cơ quan duy nhất được Nhà
nước giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp. Trong những cơ quan có thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam,
VKS là cơ quan có vai trò rất quan trọng, đảm bảo biện pháp tạm giam được
áp dụng đúng pháp luật. VKS không những là cơ quan có quyền trực tiếp áp
dụng biện pháp tạm giam mà còn là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc áp dụng BPNC tạm giam của các cơ quan có thẩm quyền khác.
Cho nên, vai trò của VKS có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của việc áp
dụng BPNC tạm giam.
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC
tạm giam là một trong các công tác thực hiện chức năng của VKS theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật. Đối tượng của hoạt động kiểm sát của VKS
trong việc áp dụng BPNC tạm giam là sự tuân thủ pháp luật của cơ quan, đơn
vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giam nhằm đảm bảo việc áp dụng
BPNC tạm giam đúng theo quy định của pháp luật; chế độ tạm giam được
chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người


2

bị tạm giam và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ. Hoạt động
này giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thống nhất, công bằng và
nghiêm minh của pháp luật nhằm phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội
phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền dân chủ
của công dân góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của ngành Kiểm sát.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong công tác của mình, VKS đã
thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng
BPNC tạm giam, đảm bảo việc áp dụng BPNC tạm giam được thực hiện đúng
pháp luật, hạn chế đáng kể việc giam giữ oan, sai. Tuy nhiên, bên cạnh những
kết quả đạt được, trên thực tế vẫn còn những hạn chế nhất định như vẫn có

không ít những trường hợp tạm giam không đúng pháp luật, xâm phạm đến
các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ngược lại, có trường hợp cần
thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam nhưng không được áp dụng dẫn đến
nhiều vụ án không được điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án do người phạm
tội bỏ trốn, đã gây nên sự hoài nghi của quần chúng nhân dân, làm giảm uy
tín của các cơ quan tiến hành tố tụng. Những sai sót, hạn chế nêu trên có trách
nhiệm của VKS, trực tiếp là công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam.
Bên cạnh đó, những quy định của BLTTHS về BPNC tạm giam vẫn còn
nhiều bất cập, đặc biệt là những quy định liên quan đến kiểm sát việc áp dụng
BPNC tạm giam. Thêm vào đó, còn những nguyên nhân chủ quan, nguyên
nhân khách quan khác như yếu tố con người, yếu tố cơ sở vật chất cũng làm
phát sinh những vi phạm, ảnh hưởng phần nào đến việc thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam.
Vì vậy, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong việc áp dụng BPNC tạm
giam, không chỉ dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
mà phải kết hợp đánh với đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam
trong một số năm gần đây, từ đó tìm ra những nguyên nhân và đề xuất các


3

giải pháp khắc phục góp phần nâng cao hơn nữa chức năng này của VKS
trong việc áp dụng BPNC này.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam” làm đối tượng
nghiên cứu cho Luận văn Thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS
trong công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đã được

một số chuyên gia và những người làm công tác thực tiễn nghiên cứu dưới
dạng luận văn thạc sỹ, các bài báo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, có
thể kể đến một số công trình như sau:
- Sách chuyên khảo:
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai
đoạn điều tra, Lê Hữu Thể (chủ biên), năm 2005; “Hoàn thiện các quy định
của BLTTHS về quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự Việt
Nam”, Phạm Mạnh Hùng, năm 2007; Tài liệu tập huấn công tác kiểm sát việc
tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của
VKSND Tối cao, năm 2008; Tài liệu tập huấn giải đáp những vướng mắc về
công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của VKSND
Tối cao, năm 2018...
- Các đề tài khoa học:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Những giải pháp nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện
khoa học kiểm sát VKSND Tối cao; công trình dự giải thưởng “Sinh viên
nghiên cứu khoa học”: Biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự của trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2001; đề tài khoa học cấp Bộ: Vai trò của Viện
kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị của Viện
khoa học kiểm sát VKSND tối cao; đề tài cấp cơ sở: Thực trạng áp dụng các


4

biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự của Viện khoa học
pháp lý, do Nguyễn Mạnh Cường làm chủ chủ nhiệm, năm 2011;....
- Luận văn thạc sỹ luật học, luận án tiến sỹ:
Phạm Duy Trường: “Vai trò của VKS trong việc áp dụng biện pháp
tạm giam” (bảo vệ năm 2006); Vương Thị Thanh Hương: “Chức năng

của VKSND trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” (bảo vệ năm 2010);
Nguyễn Vũ Quang: “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự” (bảo vệ năm 2011); Bùi Ngọc Tú: “Nhiệm vụ,
quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra” (bảo vệ năm 2013); Nguyễn
Thị Thu Phượng: “Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong việc bắt, tạm
giữ, tạm giam” (bảo vệ năm 2013); Tăng Ngọc Kim Mỹ: “Kiểm sát việc
tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” (bảo vệ năm 2016)...
- Các bài viết khác trên tạp chí chuyên ngành:
“Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về tạm giam nhằm đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp”, (Tạp chí Kiểm sát năm số 9/2008) của tác giả Lê
Minh Tuấn; “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về biện pháp tạm
giam” (Tạp chí Kiểm sát số 21/2012) của tác giả Trần Văn Độ; “Nội dung
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với cơ quan điều tra trong điều tra, xử
lý các vụ án hình sự” (Tạp chí kiểm sát số 16/2017) của tác giả Lại Anh
Tuấn; “Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015” (Tạp chí Kiểm sát số 07/2018) của tác giả Hoàng Tám
Phi;…
Các tài liệu, giáo trình giảng dạy của các trường đại học như: Giáo
trình Luật tố tụng hình sự của các trường đại học Luật Hà Nội, khoa Luật
đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát tập III,
tập V của trường đại học Kiểm sát Hà Nội cũng đề cập tới vấn đề này.
Nhìn chung, những công trình khoa học, những bài viết, sách chuyên
khảo, tài liệu, giáo trình trên đây đã đề cập một cách khái quát, cơ bản v ề


5

các BPNC cụ thể hoặc về BPNC với nội dung về thẩm quyền, điều kiện,
căn cứ, đối tượng áp dụng BPNC trong đó có nội dung khái quát về chức

năng, nhiệm vụ của VKSND. Các nghiên cứu trên đã có những đóng góp
khoa học nhất định và đáng trân trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy
nhiên, về vấn đề “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giam” vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách chuyên sâu, trực tiếp, có hệ thống, toàn diện về mặt lý luận và
thực tiễn.
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy, cần phải có nghiên cứu
về mặt lý luận và thực tiễn về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, đánh giá biện pháp ngăn chặn
này ở những góc độ khác nhau để phát huy những ưu điểm và khắc phục
những hạn chế trong thực tiễn áp dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của VKS trong việc áp dụng BPNC tạm giam; đồng thời phân tích
kết quả thực tiễn của hoạt động này để đánh giá những ưu điểm cũng như hạn
chế và nguyên nhân của những hạn chế đó, luận văn đưa ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam ở
nước ta giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, đề tài tập trung làm rõ các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm
giam và mối quan hệ giữa VKS với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
áp dụng BPNC tạm giam.


6

- Nghiên cứu một cách khái quát những quy định của pháp luật tố tụng

hình sự về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, vai trò của VKS trong
việc áp dụng BPNC tạm giam.
- Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực trạng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam trong thời gian qua.
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng đó.
- Trên cơ sở những nguyên nhân đó, tác giả đề xuất một số giải pháp,
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng công tác kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của VKS trong việc áp dụng BPNC tạm giam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn của công
tác kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam của VKSND đảm bảo việc tuân
thủ pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam. Ngoài ra, luận văn cũng
nghiên cứu và làm rõ những điểm mới trong các quy định về kiểm sát việc áp
dụng BPNC tạm giam của BLTTHS năm 2015.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam” là một đề tài có tính khái quát cao, nội dung rất
rộng và phong phú. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả tập
trung nghiên cứu những quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật khác
liên quan đến chức năng, vai trò của VKS trong việc áp dụng BPNC tạm giam
như: Luật tổ chức VKSND năm 2014, Quy chế tạm thời công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo
Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng VKSND Tối
cao, Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong xét xử vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số
505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSND Tối cao..., kết
hợp với đánh giá thực tiễn công tác kiểm sát việc tuân theo pháp trong việc áp
dụng BPNC tạm giam.



7

Về thời gian và không gian: tác giả nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực
tế, thu thập số liệu, tài liệu thực tiễn công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC
tạm giam trong khoảng thời gian 05 năm (từ năm 2013 đến năm 2017) trên
phạm vi toàn quốc.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa MácLê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề cải cách tổ
chức và hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam
và công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam của VKSND.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp luận
của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Các phương pháp cụ
thể được sử dụng kết hợp đó là: thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp dựa
trên các quy phạm pháp luật hiện hành, các tài liệu, sách báo liên quan, các
bài viết của các tác giả đã nghiên cứu trước đó, kết hợp với phương pháp
khảo sát thực tiễn để đánh giá thực tiễn áp dụng để hoàn thành luận văn này
một cách có chất lượng.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Bằng việc nghiên cứu, đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về biện pháp tạm giam xoay quanh chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của VKS trong việc áp dụng BPNC tạm giam ở giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử sẽ tạo ra được một cách nhìn mới về vấn đề này. Đề tài tổng
hợp một cách khoa học đưa ra những nguyên nhân, tồn tại, vướng mắc trong
công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam
của VKSND. Đưa ra những giải pháp để xây dựng, hoàn thiện chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp



8

luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam theo yêu cầu đổi mới hiện nay.
Những kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát và ứng
dụng trực tiếp vào việc hoàn thiện pháp luật.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng
BPNC tạm giam mang một ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Về
mặt lý luận, đề tài làm rõ lý luận về vị trí, vai trò của VKSND trong công tác
kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét
xử. Từ đó, có thể áp dụng vào thực tiễn nhằm đảm bảo đúng quy định của
pháp luật, góp phần đảm bảo tốt hơn quyền con người nói chung, quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tạm giam theo quy định của Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, cũng như tháo gỡ những vướng
mắc, bất cập trong công tác kiểm sát này. Về mặt thực tiễn, để đáp ứng và
không ngừng nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong tình hình toàn Ngành
tổ chức thực hiện các đạo luật tư pháp có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018,
luận văn được sử dụng như là một tài liệu tham khảo về kiến thức chuyên sâu
cho cán bộ, Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác kiểm sát việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn tạm giam và tất cả những ai quan tâm lĩnh vực này, cũng có thể nói
rằng đây là đề tài có giá trị như tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
đối với các chức danh tư pháp nói chung và chức danh Kiểm sát viên nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
02 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam


9

Chƣơng 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TẠM GIAM
1.1. Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.1.1. Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giam
Kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam là một trong những công tác để
thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Hoạt động này
giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thống nhất, công bằng và
nghiêm minh của pháp luật, phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền dân chủ của công dân ở nơi tạm
giam. Việc hiểu, nhận thức đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về
BPNC tạm giam và công tác kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam là yêu
cầu bắt buộc đối với cán bộ kiểm sát làm công tác kiểm sát tạm giam.
Trước hết, cần làm rõ khái niệm BPNC tạm giam trong tố tụng hình sự.
Trong lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, biện pháp
tạm giam với tính chất là BPNC được quy định lần đầu tiên tại Luật số 103SL/L005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả
xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Tại Điều 6 quy định:
“Cơ quan tư pháp, Công an từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên, hoặc Tòa án

binh... quyết định việc tha hẳn, tạm tha, hoặc tạm giam. Lệnh tạm giam can
phạm do cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc Tòa án
binh ký”. Để hướng dẫn chi tiết một số nội dung của Luật số 103-SL/L005


10

nói trên, ngày 10/7/1957 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 301Ttg, trong đó tại Điều 6 quy định: “Lúc ra lệnh tạm giam, hoặc gia hạn tạm
giam một người phạm pháp, cơ quan tư pháp phải báo tin cho thân nhân
người ấy biết lý do việc tạm giam”.
Ngày 15/3/1976, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Sắc luật số 02-SL/76,
quy định về việc bắt buộc phải có phê chuẩn của VKS nếu lệnh tạm giam do
các cơ quan khác ban hành. Tại Điều 5 quy định: “Sau khi bắt hoặc nhận
người bị bắt trong trường hợp pham tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp,
cơ quan an ninh hoặc VKSND phải xét hỏi ngay. Nếu xét thấy cần thiết phải
tạm giam, thì việc tạm giam phải có lệnh viết của VKSND từ cấp huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên, hoặc lệnh viết của Cơ quan an ninh cấp
tương đương, đã được sự phê chuẩn của VKSND cùng cấp”.
Những quy định về BPNC tạm giam được quy định ở nhiều văn bản luật
khác nhau, chỉ đến khi BLTTHS năm 1988 được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào ngày 18/6/1988, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/1989 thì những quy định về BPNC tạm giam nói riêng và quy
định về tố tụng hình sự nói chung mới được pháp điển hóa trong một bộ luật.
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và mới đây nhất là năm 2015 những quy định
về biện pháp ngăn chặn tạm giam đã ngày càng được hoàn chỉnh hơn.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm BPNC tạm giam
nhưng còn chưa thật sự đầy đủ, chưa bao hàm được hết mục đích, phạm vi đối
tượng cũng như thẩm quyền áp dụng BPNC này. Theo từ điển Luật học thì
tạm giam là “biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong một thời gian
nhất định, nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra,

truy tố, xét xử, thi hành án được thuận lợi”1. Mục đích của tạm giam là ngăn
chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm
cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn,
còn hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do Tòa án
1

Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 690.


11

áp dụng nhằm trừng phạt người phạm tội và nhằm mục đích cải tạo họ trở
thành người có ích cho xã hội.
Có tác giả đưa ra quan điểm: “Tạm giam là biện pháp tạm thời tước bỏ
tự do, do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng với bị can, bị cáo
trong trường hợp do luật định”2. Khái niệm này tuy khá đầy đủ nhưng chưa
chỉ ra mục đích cụ thể của BPNC này.
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự của trường Đại học Kiểm sát thì:
“Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
áp dụng, hạn chế tự do thân thể trong một thời hạn nhất định đối với bị can,
bị cáo khi có căn cứ do BLTTHS quy định nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo
sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội
hoặc để bảo đảm thi hành án”3. Tác giả cho rằng khái niệm này là hợp lý hơn
cả bởi vì nó đã chỉ ra được đối tượng áp dụng BPNC này là bị can, bị cáo tức
là những người đã bị khởi tố hình sự hoặc những người bị Tòa án quyết định
đưa ra xét xử. Căn cứ áp dụng là những căn cứ do BLTTHS quy định. Việc áp
dụng BPNC tạm giam này được thực hiện bởi những người có thẩm quyền
của CQĐT, VKS, Tòa án. Đồng thời, khái niệm cũng khái quát được mục
đích áp dụng BPNC này. Việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về BPNC tạm
giam này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng

đúng pháp luật, giam đúng người, đúng tội, tránh oan sai, xâm phạm đến
quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền tự do của công dân. Đồng thời
góp phần giải quyết kịp thời, nhanh chóng vụ án hình sự, đảm bảo trật tự an
toàn xã hội.
Tóm lại, về mặt khoa học pháp lý có thể định nghĩa: “Tạm giam là một
biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do người
có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với
Hoàng Tám Phi (2018), “Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015”, Tạp
chí kiểm sát (7), tr 46 – 49.
3 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
tr 242.
2


12

người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét
xử khi có những căn cứ do BLTTHS quy định nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo
bỏ trốn, tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.
Về khái niệm kiểm sát, theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển
học thuộc Viện ngôn ngữ - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
xuất bản năm 2000 thì “kiểm sát” có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp
hành pháp luật của Nhà nước.
Theo Từ điển Luật học thì kiểm sát hoạt động tư pháp có nghĩa là “kiểm
tra, xem xét theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và
giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân bảo đảm cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”4.
Từ cách giải thích khái niệm “kiểm sát” của các cuốn từ điển nêu trên,

tác giả cho rằng kiểm sát gốm hai loại hình hoạt động là kiểm tra và giám sát.
Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của người, cơ
quan bị kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của
các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động
phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật
sửa chữa vi phạm đó.
Hoạt động áp dụng BPNC tạm giam ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền
cơ bản của công dân, vì vậy cần có quy định về cơ chế kiểm tra, giám sát
nhằm phát hiện kịp thời và khắc phục những vi phạm trong việc áp dụng
BPNC tạm giam. VKS là cơ quan được Nhà nước giao thực hiện chức năng
này. Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và “Viện kiểm sát nhân dân
có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
4

Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 443.


13

pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh và thống nhất”. Có thể thấy chức năng kiểm sát hoạt động tư
pháp của VKSND là chức năng hiến định nhằm bảo đảm cho pháp luật được
áp dụng thống nhất và nghiêm chỉnh, có nội dung là giám sát mọi hoạt động
của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số
hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình
sự, qua đó bảo đảm Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, tôn trọng
và bảo vệ các quyền và tự do của con người, góp phần đấu tranh phòng,
chống tội phạm.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam là
một công tác quan trọng, thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
của VKS. Căn cứ để VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp
dụng BPNC tạm giam là các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND,
BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan để kiểm tra, xem xét, đánh
giá tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, cá nhân trong áp
dụng BPNC tạm giam. VKS có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp do pháp
luật quy định như kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu... để loại trừ việc vi phạm
pháp luật của các cơ quan, người có thẩm quyền trong việc áp dụng BPNC
tạm giam kể từ khi có quyết định áp dụng BPNC tạm giam đến khi những
quyền cơ bản của công dân là người bị áp dụng BPNC tạm giam được phục
hồi. Phạm vi của kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam bắt đầu từ khi các cơ
quan THTT ra quyết định áp dụng BPNC tạm giam và kết thúc khi người bị
tạm giam có quyết định thi hành án hình sự, hoặc họ được hủy bỏ BPNC tạm
giam khi vụ án bị đình chỉ, được trả tự do vì không phạm tội.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, không phải tất cả các cơ quan
tư pháp đều có thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam mà pháp luật tố tụng
hình sự chỉ giao quyền áp dụng biện pháp tạm giam cho CQĐT, VKS và Tòa
án. Khi các cơ quan THTT áp dụng BPNC tạm giam, kiểm sát việc tuân theo
pháp luật nhằm đảm bảo cho việc ra quyết định, tổ chức thực hiện BPNC tạm


14

giam được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Như vậy, đối tượng của
kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam là hành vi xử sự của cơ quan, người có
thẩm quyền ra lệnh tạm giam theo quy định của pháp luật, bao gồm CQĐT,
Tòa án.
Khi phát hiện vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp
dụng BPNC tạm giam, VKS có nhiệm vụ và quyền ban hành các văn bản yêu

cầu các cơ quan đó khắc phục vi phạm như có biện pháp sửa chữa, thay thế
các văn bản, quyết định áp dụng BPNC tạm giam đảm bảo đúng thẩm quyền,
trình tự, thủ tục; khôi phục các quyền lợi của người bị tạm giam không bị
pháp luật tước bỏ được tôn trọng, bảo vệ. Nội dung của kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam là những quyền năng pháp
lý của VKS được pháp luật quy định quyền phát hiện vi phạm pháp luật, yêu
cầu các cơ quan THTT khắc phục và xử lý vi phạm trong việc áp dụng BPNC
tạm giam thông qua ban hành yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị đối với CQĐT,
Tòa án. Các cơ quan có trách nhiệm thực hiện những yêu cầu, kiến nghị,
kháng nghị của VKS.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam là hoạt động thực hiện chức
năng của VKSND bằng những quyền năng pháp lý được pháp luật quy định
để kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của
cơ quan, người có thẩm quyền trong việc áp dụng các quy định của pháp luật
về tạm giam nhằm đảm bảo việc áp dụng BPNC tạm giam theo đúng quy định
của pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ các
quyền tự do của con người, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm”.
1.1.1.2. Đặc điểm của kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam có
những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam mang tính quyền lực
Nhà nước, đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong quá trình hoạt động tư pháp


15

của các chủ thể. Để hoạt động của các cơ quan tư pháp đúng pháp luật và hiệu
quả, ngoài việc chấp hành pháp luật và tự giám sát, kiểm tra nội bộ của các cơ
quan tư pháp, Hiến pháp và các đạo luật đã quy định cơ chế giám sát và quy

định các cơ quan tư pháp phải được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của Quốc
hội và cơ quan được Quốc hội giao quyền kiểm tra, giám sát việc tuân thủ
pháp luật. Thực tế cho thấy, từ khi có Hiến pháp năm 1959 đến nay, Quốc hội
không thể và không cần thiết phải tự mình trực tiếp giám sát toàn bộ hoạt
động của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Quốc hội đã giao cho
VKS thực hiện quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội và công dân trong phạm vi được Quốc hội giao cho
(quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế,
xã hội từ năm 1960 đến năm 2002 và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp từ
năm 2002 đến nay). Việc Quốc hội giao cho VKS thực hiện quyền kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội trước đây
và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp hiện nay là xuất phát từ lý do VKS
do cơ quan lập pháp cao nhất của nhà nước là Quốc hội lập ra, hoạt động theo
nguyên tắc tập trung thống nhất và độc lập so với các cơ quan nhà nước khác.
VKS là cơ quan không nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp và cơ quan
xét xử. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS luôn hướng tới
mục tiêu bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân và của các chủ thể
trong xã hội được bảo đảm một cách tốt nhất, không bị vi phạm. Trong hoạt
động tạm giam, khi phát hiện vi phạm VKS có quyền yêu cầu, kháng nghị,
kiến nghị các cơ quan, cá nhân khắc phục vi phạm. Các yêu cầu, kiến nghị
của VKS khi kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam phải được các cơ quan,
chủ thể chấp hành. Đây là chức năng hiến định, được ghi nhận trong Hiến
pháp năm 2013 và buộc các chủ thể bị kiểm sát phải tôn trọng và chấp hành.
Thứ hai, chỉ có VKS mới có thể tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám
sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam một cách trực


16


tiếp, cụ thể, liên tục. Tính liên tục thể hiện ở chỗ VKS có quyền và nghĩa vụ
có mặt tại tất cả các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án, kể từ khi có quyết định áp dụng BPNC tạm giam đến khi những quyền cơ
bản của công dân là người bị áp dụng BPNC tạm giam được phục hồi. Tính
cụ thể chính là việc VKS có quyền giám sát chi tiết, tỉ mỉ các hoạt động cụ
thể: kiểm sát chủ thể ra lệnh tạm giam, kiểm sát căn cứ tạm giam,… VKS
kiểm sát một cách trực tiếp đối với việc áp dụng BPNC tạm giam thể hiện ở
việc có mặt, theo sát, nhắc nhở kịp thời khi các cơ quan THTT trong việc tạm
giam khắc phục vi phạm khi thực hiện hoạt động áp dụng biện pháp này.
Thứ ba, mục đích của việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
áp dụng BPNC tạm giam là việc đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các cơ
quan THTT và người THTT trong việc áp dụng BPNC tạm giam. Đây là một
nội dung quan trọng, có ý nghĩa phân biệt kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm
giam với kiểm sát các BPNC khác. Tạm giam được đánh giá là BPNC nghiêm
khắc nhất trong số các BPNC, theo đó người bị tạm giam sẽ bị hạn chế một số
quyền tự do và bị giam giữ, quản lý theo một chế độ đặc biệt. So với biện
pháp tạm giam, các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm chỉ ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại hoặc quyền
và lợi ích hợp pháp về tài sản mà không ảnh hưởng đến các quyền tự do khác
của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do giao
tiếp,... So với biện pháp tạm giữ thì tạm giam là biện pháp có thời gian hạn
chế tự do của người bị áp dụng lâu hơn. Các chế độ tạm giam nghiêm khắc
hơn so với chế độ áp dụng đối với người bị tạm giữ. Vì vậy việc quy định
VKS kiểm sát việc áp dụng BPNC tạm giam là rất cần thiết nhằm đạt được
mục đích đảm bảo quyền con người, quyền công dân được tôn trọng trong
công tác thực thi pháp luật của các cơ quan THTT.
1.1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc áp dụng biện pháp tạm giam



17

Trong thẩm quyền được giao của mình, việc kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc áp dụng BPNC tạm giam của VKS có ý nghĩa rất quan
trọng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, kiểm sát việc tạm giam nhằm đảm bảo Pháp chế xã hội chủ
nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Theo đó,
khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý tối
thượng là Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS và các văn bản
pháp luật khác có liên quan để xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của
các chủ thể bị kiểm sát, cũng như bảo đảm tính hợp pháp của ngay chính các
hoạt động kiểm sát của VKS. Việc kiểm sát tạm giam của VKS là kiểm sát
việc tiến hành tạm giam đúng theo căn cứ, theo đúng trình tự thủ tục, đúng
thời gian và đúng người có thẩm quyền ra quyết định tạm giam. Công tác
kiểm sát tạm giam nhằm đảm bảo bị can bị cáo tạm giam phải có lệnh hoặc
quyết định hợp pháp của người có thẩm quyền. Khi VKS thực hiện hoạt động
kiểm sát tạm giam của mình tức là kiểm tra và giám sát các cơ quan THTT,
người THTT có thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật hay
không. Ngoài ra thông qua việc kiểm tra giám sát, VKS phát hiện được những
vi phạm pháp luật trong thực hiện các thủ tục tạm giam, qua đó xử lý nghiêm
những trường hợp vi phạm và yêu cầu khắc phục hậu quả. Chính vì vậy, khi
VKS thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ kiểm sát của mình thì sẽ đảm bảo cho
hoạt động tạm giam trong giai đoạn điều tra được diễn ra theo đúng quy định
của pháp luật; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giam
và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng và bảo
vệ, từ đó góp phần đảm bảo được pháp chế xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta.
Thứ hai, kiểm sát tạm giam nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giam. Đó là các quyền được bảo về về tính mạng, sức khỏe,
tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giam và các quyền khác của họ
không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng và bảo vệ.



18

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư
tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp 2013 khẳng định
nguyên tắc: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân; “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn
chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”
(Khoản 2 Điều 14). Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp
quyền, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, đồng thời là cơ sở
pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con
người, quyền công dân của mình. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, để đạt được
mục đích cao nhất là phát hiện tội phạm và người phạm tội, pháp luật của tất
cả các nước đều cho phép áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền con
người, quyền công dân. Song vấn đề cần nhấn mạnh là, không phải bất cứ đối
tượng nào cũng có thể bị áp dụng biện pháp này. Trường hợp cần phải áp
dụng biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân thì phải đáp ứng
đầy đủ căn cứ luật định, phải trên cơ sở và chỉ trong khuôn khổ quy định của
pháp luật. Theo đó, đối với các biện pháp có tính chất hạn chế quyền tự do
của con người phải được VKS quyết định hoặc phê chuẩn nếu vụ án ở giai
đoạn điều tra.
Thứ ba, kiểm sát tạm giam nhằm đảm bảo thuận lợi cho các hoạt động tố
tụng. Tạm giam là một BPNC được quy định trong BLTTHS nhằm ngăn chặn
tội phạm và các hành vi khác gây cản trở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử. Việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận
lợi cho CQĐT có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị
can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải triệu tập nhiều lần,
đồng thời cũng giúp cho việc quản lý, giám sát bị can được chặt chẽ. Vì vậy,

thực hiện tốt việc kiểm sát tạm giam sẽ bảo đảm sự có mặt của bị can theo
giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo sự chính xác, khách
quan của hoạt động tố tụng, ngăn ngừa các đối tượng tiếp tục phạm tội hoặc


19

tìm cách xóa dấu vết phạm tội, chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án. Từ đó
sẽ đẩy nhanh quá trình xác định sự thực khách quan, làm sáng tỏ vụ án, đảm
bảo cho các giai đoạn tố tụng sau này như giai đoạn truy tố của VKS, xét xử
của Tòa án được thực hiện đúng và nhanh chóng theo quy định của pháp luật.
Việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau
khi bản án có hiệu lực pháp luật được thuận lợi.
Với ý nghĩa như trên, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, quá trình thực
hiện nhiệm vụ kiểm sát tạm giam phải được thực hiện nghiêm túc, khách
quan. Kiểm sát tạm giam phải gắn liền với nhiệm vụ bảo đảm quyền và lợi ích
của người bị tạm giam. Nếu một người bị tạm giam trái pháp luật thì thông
qua hoạt động kiểm sát tạm giam, KSV cần nhanh chóng phát hiện để kịp thời
trả tự do cho người bị giam giữ không có căn cứ và trái pháp luật.
1.1.2. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, Tòa án
khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn tạm giam
1.1.2.1. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra
Trong giai đoạn điều tra, CQĐT là chủ thể chính áp dụng BPNC tạm
giam và VKSND với tư cách tố tụng là chủ thể kiểm tra, giám sát và phối
hợp. Trong việc thực hiện biện pháp tạm giam, mối quan hệ giữa VKS với
CQĐT luôn thể hiện rõ tính phối hợp và chế ước.
Sự phối hợp giữa VKS và CQĐT trong việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn tạm giam là sự hợp tác việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS và
của CQĐT nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị

can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục
phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án theo đúng quy định của pháp
luật. Về hình thức, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phối hợp bằng nhiều
cách thức, cấp độ, tần suất khác nhau, như: Phối hợp theo quy định của pháp
luật (Bộ luật Tố tụng Hình sự, Thông tư liên tịch…), các quy định giữa hai
ngành, hai đơn vị cùng cấp (quy chế, quy định phối hợp); phối hợp thường


×