y
o
c u -tr a c k
.c
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI TRỌNG THẮNG
Thùc hµnh quyÒn c«ng tè
trong giai ®o¹n ®iÒu tra vô ¸n h×nh sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI TRỌNG THẮNG
Thùc hµnh quyÒn c«ng tè
trong giai ®o¹n ®iÒu tra vô ¸n h×nh sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 8 38 01 04
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Phượng
HÀ NỘI - 2018
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Trọng Thắng
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.
Khái niệm, đặc điểm của quyền công tố và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.
7
Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.3.
7
15
Ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
18
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN
2.1.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
2.2.
21
21
Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
32
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT
3.1.
46
Giải pháp hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các
văn bản pháp luật khác có liên quan đến thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
3.2.
46
Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
56
KẾT LUẬN
70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
ĐTV
: Điều tra viên
KSĐT
: Kiểm sát điều tra
KSV
: Kiểm sát viên
THQCT
: Thực hành quyền công tố
THTT
: Tiến hành tố tụng
TNHS
: Trách nhiệm hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
2.1
Kết quả THQCT trong khởi tố vụ án hình sự của VKSND
tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2013-2017
2.2
Kết quả THQCT trong khởi tố bị can của VKSND tỉnh
Điện Biên, giai đoạn 2013-2017
2.3
38
Tình hình VKSND 2 cấp trả hồ sơ cho CQĐT điều tra
bổ sung
2.6
36
Việc đề ra yêu cầu điều tra của VKSND tỉnh Điện Biên
2013-2017
2.5
34
Tình hình THQCT trong việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn của VKSND tỉnh Điện Biên
2.4
33
41
Tình hình TAND 2 cấp trả hồ sơ cho VKSND điều tra
bổ sung
41
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là cơ quan do Quốc hội thành lập từ năm 1960 cho tới nay, Viện kiểm
sát (VKS) thừa hành quyền lực từ Quốc hội, chức năng của VKS hiện nay
được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2, Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014, VKSND thực hành quyền công
tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật.
Trước yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong
thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế và yêu cầu hoàn thiện bộ máy nhà nước
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề cải
cách tư pháp đã được khẳng định trong các Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời
gian tới: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp"1. Tiếp đến Nghị quyết số
49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác
định: "Trước mắt Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay
là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tăng cường trách
nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra"2.
Như vậy, trong giai đoạn hiện nay mặc dù chức năng của VKSND không thay
đổi, nhưng do yêu cầu của cải cách tư pháp đòi hỏi trong quá trình thực hiện
chức năng của mình, VKSND phải từng bước đổi mới tổ chức, đổi mới
phương thức hoạt động đề cao trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng
THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nhằm đảm bảo cho hoạt
động điều tra của Cơ quan điều tra (CQĐT) đi đúng hướng, bảo đảm phát hiện
mọi hành vi phạm tội, người phạm tội để đưa ra truy tố và xét xử trước Tòa án.
1. Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp trong thời gian tới.
2. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lực cải cách tư pháp đến năm 2020.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
1
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
c u -tr a c k
w
N
y
bu
lic
Trong gần 60 năm xây dựng và trưởng thành, công tác thực hành
quyền công tố (THQCT) của VKSND trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần quan trọng vào công cuộc đấu
tranh phòng chống tội phạm, tạo điều kiện ổn định tình hình an ninh, chính trị,
trật tự, an toàn xã hội; Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, các quyền dân chủ
của công dân. Tuy nhiên vẫn còn bộc lộ những tồn tại và yếu kém như: Một
số Kiểm sát viên (KSV) được phân công nhiệm vụ THQCT ở giai đoạn điều
tra, chưa nắm vững các quy định của pháp luật, chưa bám sát được tiến độ
điều tra, còn thụ động, nể nang, ngại va chạm không kịp thời phát hiện các vi
phạm của Điều tra viên (ĐTV) để yêu cầu khắc phục dẫn đến nhiều vụ án gặp
không ít khó khăn cho cơ quan và người tiến hành tố tụng (THTT) ở giai đoạn
sau. Tình trạng phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì thiếu chứng cứ hoặc vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vẫn còn xảy ra, làm ảnh hưởng đến công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay. Những tồn tại yếu kém trên đây
do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản
đó là do trình độ nhận thức và áp dụng pháp luật của đội ngũ KSV khi được
giao thực hiện chức năng THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
chưa đúng với quy định của pháp luật, chưa đáp ứng được yêu cầu của công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.
Tuy Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, Bộ luật hình sự
(BLHS) năm 2015 mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nhưng cũng đã có
những bất cập và vướng mắc trong khi thực hiện nên đã ảnh hưởng không nhỏ
tới hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND.
Nhận thức được thực trạng đó, việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn đối với hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hết sức
cần thiết. Chính vì vậy để nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực áp dụng pháp
luật trong THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, thì việc học viên
lựa chọn vấn đề: "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự" làm đề tài luận văn thạc sĩ là đáp ứng yêu cầu khách quan hiện nay.
.d o
m
w
o
2
k
to
.c
C
m
o
.d o
w
w
w
w
w
C
lic
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
c u -tr a c k
w
N
y
bu
lic
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một chức
năng quan trọng của VKS. Có thể nêu ra các công trình, bài viết sau đây:
Đề tài cấp Bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành
quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay" VKSNDTC thực hiện năm
1999; "Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền
công tố về vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình
sự" do Trường Cao đẳng Kiểm sát nghiên cứu năm 2001;
Luận án Tiến sĩ: "Quyền công tố ở Việt Nam", của Lê Thị Tuyết Hoa
năm 2002: Trên cơ sở nghiên cứu quyền công tố ở Việt Nam và một số nước
trên thế giới, từ đó xây dựng định nghĩa về quyền công tố, hoàn thiện các vấn
đề về thực tiễn và lý luận về quyền công tố và đề xuất một số giải pháp nhằm
góp phần nâng cao chất lượng THQCT ở Việt Nam.
Luận án Tiến sĩ: "Hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân trong thực hành quyền công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt
Nam", của Lê Tuấn Phong năm 2017: phân tích và làm sáng tỏ luận cứ khoa
học của lý luận và thực tiễn về KSV VKSND trong THQCT, đối chiếu và
đánh giá đúng thực trạng pháp luật, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về KSV VKSND trong THQCT theo yêu cầu cải cách tư pháp.
Luận văn Thạc sĩ: "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Lai
Châu" của Phùng Ngọc Thanh năm 2013; "Thực hành quyền Công tố trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng", của
Phạm Thị Tuyết Chinh năm 2017; "Thực hành quyền Công tố trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự", của Nguyễn Công Cường...
Sổ tay Kiểm sát viên hình sự, của Viện Khoa học hình sự
VKSNDTCTHTT, Nxb Văn hóa dân tộc, 2006; Kỹ năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2006; Tập bài giảng bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, tập 3
của Trường Đại học Kiểm sát năm 2017.
.d o
m
w
o
3
k
to
.c
C
m
o
.d o
w
w
w
w
w
C
lic
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
Sách chuyên khảo: "Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp", do TS. Lê Hữu Thể chủ biên, năm 2008. Đây là cuốn sách tổng hợp
các đề tài nghiên cứu cấp bộ do Viện Khoa học kiểm sát thuộc VKSNDTC
phối hợp với các đơn vị trong ngành Kiểm sát nhân dân và các cơ quan thực
hiện, đã phân tích cụ thể về quyền công tố, THQCT, kiểm sát hoạt động tư
pháp của VKS và mối quan hệ giữa VKS và CQĐT...
Các bài viết, công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí như:
Bài viết: "Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự", của Phạm Thị Kim Liên, Phó Viện trưởng
VKSND tỉnh Quảng Ngãi, đăng trên trang kiemsat.vn vào ngày 27/6/2017: là
kinh nghiệm của tác giả đã rút ra từ thực tiễn công tác THQCT và kiểm sát
điều tra (KSĐT) vụ án hình sự ở VKSND cấp huyện.
Những công trình khoa học, những bài viết trên đã tập trung nghiên
cứu về tổ chức và hoạt động của VKSND nói chung; đồng thời đã có một số
công trình, bài viết nghiên cứu về quyền công tố, THQCT trên một số lĩnh vực
cụ thể. Tuy nhiên, tới thời điểm này, BLTTHS năm 2015, BLHS năm 2015 đã
có hiệu lực thi hành, đòi hỏi trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình việc THQCT trong giai đoạn điều tra của VKS như thế nào, còn gì khó
khăn vướng mắc, những gì đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cần được phát
huy. Những bài viết, nghiên cứu về những vấn đề trên chưa nhiều, việc tiếp
tục nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật THQCT trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự, luận văn nêu ra một số quan điểm, phương
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng
hiệu lực, hiệu quả công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
VKSND theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
4
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về THQCT trong giai đoạn điều tra
các vụ án hình sự của VKSND.
- Đánh giá thực trạng THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
của VKSND từ đó rút ra kết quả đã đạt được, những hạn chế vướng mắc và
những nguyên nhân của những kết quả đạt được và những hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo đảm THQCT trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND trong thời gian tới, đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ chuyên ngành hình sự và tố tụng hình sự (TTHS),
luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND (không
bao gồm VKS quân sự các cấp) từ năm 2013 đến năm 2017.
+ Số liệu khảo sát, nghiên cứu: Trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
+ Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Luận văn chỉ nghiên cứu từ sau khi
CQĐT khởi tố vụ án hình sự, đến khi CQĐT kết thúc điều tra, đề nghị VKS
truy tố (hoặc cho đến khi CQĐT đình chỉ vụ án); Từ khi VKS trả hồ sơ cho
CQĐT để điều tra bổ sung đến khi VKS nhận lại hồ sơ.
5. Các phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử trong Triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo
quan điểm phát triển, toàn diện và lịch sử cụ thể. Đồng thời, luận văn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau để thực hiện luận văn:
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
5
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp lý thuyết; Phương
pháp thu thập thông tin số liệu; Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá
thực tiễn phục vụ cho việc hoàn thành luận văn.
Các phương pháp nghiên cứu trên đây được sử dụng và kết hợp linh
hoạt trong luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học của luận văn
- Chỉ ra và đánh giá những điểm mới theo quy định của BLTTHS năm
2015 về THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Đề ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật và triển khai BLTTHS năm 2015 vào trong thực tiễn.
- Có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho KSV nghiên cứu áp
dụng trong hoạt động thực tiễn đối với công tác THQCT để nâng cao trình độ
lý luận và chuyên môn nghiệp vụ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của VKSND.
- Ngoài ra kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được sử dụng để
xây dựng các kỹ năng nghề nghiệp, các thao tác nghiệp vụ trong quan hệ phối
hợp giữa KSV với ĐTV về điều tra vụ án hình sự. Làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy của các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và thực tiễn tại tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Điện Biên.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
6
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyền công tố và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyền công tố và thực hành quyền
công tố
Theo Từ điển Luật học thì "công tố": "là quyền của Nhà nước truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội"3; Còn theo cuốn Thuật ngữ
pháp lý thì "công tố" là: "hoạt động của Kiểm sát viên và những người khác
được luật định (công tố viên xã hội) có nhiệm vụ vạch mặt kẻ phạm tội, xác
định căn cứ để kết tội và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội…"4.
Tuy có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm "công tố", nhưng
có thể hiểu: "công tố đó là một quyền được hình thành, xuất hiện và gắn với
trách nhiệm của Nhà nước trước xã hội để đưa các vụ việc vi phạm và tội
phạm ra trước cơ quan xét xử để đảm bảo an toàn, trật tự, xã hội"5. Theo tác
giả, để xác định đúng đắn về khái niệm quyền công tố cần phải dựa vào
những lập luận sau:
+ "Quyền công tố là quyền của Nhà nước thuộc phạm trù lịch sử, nó
xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và thay đổi theo bản chất Nhà
nước. Đó là quyền nhân danh nhà nước được giao cho một cơ quan thực hiện
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội"6. Theo quan điểm chỉ
đạo của Đảng thể hiện trong Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 thì: "Trước
mắt Viện kiểm sát giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công
3. Từ điển Luật học (2006) - Viện khoa học pháp lý, Nxb Từ điển bách khoa - Nxb Tư pháp.
4. Thuật ngữ pháp lý phổ thông (1986) - Nguyễn Quốc Việt (dịch), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
5. Phùng Ngọc Thanh (2013), Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Lai Châu, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh.
6. Lê Hữu Thể (chủ biên) (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 40.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
7
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp". Như vậy ở nước ta hiện nay, quyền công
tố chỉ do VKS thực hiện.
+ Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực TTHS mà không có trong
lĩnh vực tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Trong TTHS, luôn tồn
tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, gỡ tội (bào chữa) và xét xử. Trong đó
chức năng buộc tội và chức gỡ tội đối trọng nhau, còn cơ quan tài phán có chức
năng xét xử độc lập là Tòa án. Nội dung quyền công tố là buộc tội, truy cứu
trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội.
Từ những phân tích, lý giải nêu trên có thể hiểu: Quyền công tố ở Việt
Nam là quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giao cho Viện
kiểm sát, căn cứ vào những quy định của pháp luật để thực hiện việc buộc tội đối
với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án.
Quyền công tố có những đặc điểm sau:
+ Chủ thể của quyền công tố: Quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà
nước và pháp luật, nó luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước và là một bộ
phận không thể tách rời của công quyền7. Quyền công tố là một trong những
quyền năng của Nhà nước để duy trì trật tự xã hội. Khi một hành vi bị coi là tội
phạm sẽ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà nước và bên kia là
người phạm tội. Nhà nước là người nhân danh xã hội, thay mặt xã hội đứng ra
trừng phạt kẻ phạm tội. Điều đó cũng có nghĩa Nhà nước chính là chủ thể của
quyền công tố.
+ Đối tượng tác động của quyền công tố: Là cái mà quyền công tố tác
động vào nhằm đạt được mục tiêu như giữ vững an ninh Chính trị; trừng trị, giáo
dục người phạm tội. quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước để truy cứu
TNHS đối với người phạm tội, thực hiện và bảo vệ quan điểm buộc tội đó. Do
đó đối tượng của quyền công tố là tội phạm, người phạm tội. Mặt khác, hiện nay
theo pháp luật hình sự Việt Nam còn một chủ thể khác nữa cũng phải chịu
7. Phạm Thị Tuyết Chinh (2017), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trên địa
bàn thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
8
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
c u -tr a c k
w
N
y
bu
lic
TNHS đó là pháp nhân thương mại phạm tội. Như vậy, đối tượng của quyền
công tố là tội phạm, người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội.
+ Phạm vi quyền công tố: phát sinh từ khi có hành vi phạm tội xảy ra
và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị đình
chỉ). Phạm vi quyền công tố như vậy nói nên được bản chất của quyền công tố
là phát hiện và xử lý nhanh chóng nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, đồng
thời nói nên được vị trí, vai trò của VKS trong quá trình hoạt động tố tụng.
+ Nội dung quyền công tố: Tác giả cho rằng, nội dung của quyền công
tố chính là sự truy cứu TNHS - buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm
tội, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của BLHS
và BLTTHS, còn việc thực hiện các thao tác, biện pháp gì để đạt được nội
dung đó là thuộc về nội dung của THQCT.
Còn đối với THQCT, theo Từ điển Luật học giải thích: "Thực hành
quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội
dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử"8. Còn theo quy định của pháp
luật Việt Nam, từ thuật ngữ "thực hành quyền công tố" lần đầu tiên được đề
cập tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 khi đề cập tới chức năng của VKSND.
Quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện việc
buộc tội và truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Về bản chất, THQCT
chính là việc hiện thực hóa quyền công tố, đưa quyền công tố là quyền của
Nhà nước, vào đời sống xã hội. Nhà nước giao cho VKS thực hiện quyền
năng này thông qua các văn bản pháp luật. Và có thể hiểu: Thực hành quyền
công tố là hoạt động của VKS thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội,
pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện từ giai đoạn giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý
nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để bỏ lọt tội phạm và người phạm
tội, pháp nhân thương mại, không làm oan người vô tội.
8. Từ điển luật học (2006), Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, tr. 188.
.d o
m
w
o
9
k
to
.c
C
m
o
.d o
w
w
w
w
w
C
lic
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
c u -tr a c k
w
N
y
bu
lic
Thực hành quyền công tố có những đặc điểm sau:
+ Chủ thể của THQCT: Quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước.
Nhà nước tổ chức ra một hệ thống các cơ quan nhất định để thực hiện quyền
lực đó. Ở nước ta theo quy định pháp luật, VKS là cơ quan duy nhất được
Nhà nước giao chức năng THQCT. Hoạt động THQCT của VKS là hoàn toàn
mang tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào, chỉ có VKS được
giao nhiệm vụ buộc tội đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm
tội để bảo vệ quan điểm truy tố của mình. Do đó, chủ thể THQCT là VKS.
+ Đối tượng tác động của THQCT: Để đảm bảo THQCT trong đấu
tranh phòng chống tội phạm thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật
(BLTTHS, Luật tổ chức VKSND...), trong đó quy định các quyền năng pháp
lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người
phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội. Do vậy đối tượng của THQCT
cũng là: tội phạm, người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội.
+ Phạm vi THQCT: Nhiệm vụ của TTHS là bảo đảm mọi tội phạm xảy
ra đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật. Khi có tội phạm xảy ra đòi
hỏi quyền công tố phải được phát động. Nhưng để có cơ sở phát động quyền
công tố phải có một giai đoạn chuẩn bị xác minh, thu thập tài liệu, tin tức, khám
nghiệm gọi là giai đoạn tiền khởi tố. Theo quy định tại Điều 1 Quy chế tạm thời
Công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (ban hành kèm theo
Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC)
quy định như sau: "Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố,
điều tra và truy tố bắt đầu từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi kết
thúc giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc quyết định
đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật". Vì thế, THQCT phát sinh bắt đầu
từ giai đoạn tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, nên phạm vi THQCT hẹp hơn
phạm vi quyền công tố. Mặt khác, không phải mọi trường hợp việc THQCT đã
được phát động đều được kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà
có thể kết thúc sớm. Đó là các trường hợp vụ án được đình chỉ theo quy định
.d o
m
w
o
10
k
to
.c
C
m
o
.d o
w
w
w
w
w
C
lic
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
của pháp luật TTHS. Do vậy: Phạm vi thực hành quyền công tố nói chung bắt
đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và kết
thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo,
kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của BLHS và BLTTHS.
+ Nội dung của THQCT:
Nội dung của THQCT là sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để
thực hiện việc buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội,
pháp nhân thương mại phạm tội. Vì vậy, chỉ có cơ quan nào được phép sử
dụng tất cả các quyền năng pháp lý này để buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội trong suốt quá
trình TTHS thì mới là cơ quan THQCT, ở nước ta, chỉ có VKS mới là cơ
quan THQCT mà thôi. Trên cơ sở quy định của BLTTHS năm 2015 thì những
quyền năng pháp lý mà VKS tự quyết định và liên quan đến việc buộc tội bị
can, bị cáo là những quyền năng thuộc nội dung THQCT.
Có thể xác định: nội dung thực hành quyền công tố là hoạt động của
VKS đã sử dụng để nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi
hành vi phạm tội không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
+ Giai đoạn điều tra vụ án hình sự: là giai đoạn thứ hai của quá trình
TTHS. Giai đoạn điều tra có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự bởi: kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc
quyết định truy tố của VKS và xét xử của Tòa án. Mọi quyết định của Tòa án
về tội phạm và người thực hiện tội phạm đều chủ yếu phải dựa trên cơ sở các
chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra.
Giai đoạn điều tra có đặc điểm:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn từ sau khi cơ
quan THTT có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi CQĐT
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
11
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố
hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án.
Thứ hai, các cơ quan THTT có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do
BLTTHS quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các
tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội,
các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS, xác định nguyên nhân và điều kiện
phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa
tội phạm.
Thứ ba, chủ thể tiến hành các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều
tra là CQĐT, VKS hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều
tra. Các đồ vật, tài liệu phải do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến
hành thu thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu
TNHS. Còn các tài liệu có liên quan đến vụ án do các hoạt động khác cung
cấp như hoạt động trinh sát thì phải được CQĐT kiểm tra, thẩm định và được
chuyển hóa theo trình tự tố tụng thì mới được coi là chứng cứ để chứng minh
tội phạm. Đối với tài liệu do người bào chữa thu thập được trong giai đoạn
điều tra phải giao nộp cho CQĐT hoặc VKS theo thủ tục TTHS.
Thứ tư, trong giai đoạn điều tra các chủ thể áp dụng mọi biện pháp do
BLTTHS quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính chất
mức độ, hậu quả của từng vụ án. Cụ thể, các biện pháp đó là: Khám xét, thu
giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm hiện trường, tử thi, thực nghiệm điều tra,
hỏi cung bị can, lấy lời khai những người tham gia tố tụng khác, đối chất,
nhận dạng... theo định quy định của BLTTHS.
+ Chủ thể của THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: chủ thể
duy nhất THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật Việt Nam là VKS. Để VKS có thể THQCT buộc tội và truy cứu
TNHS đối với người phạm tội thì cần phải có các chủ thể đại diện để
THQCT. Các chủ thể đó theo quy định của pháp luật hiện hành đó là: Viện
trưởng, Phó viện trưởng, KSV, Kiểm tra viên. Mỗi một chủ thể đại diện của
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
12
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
VKS này có các nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau trong khi tham gia
THQCT nhằm đảm bảo việc buộc tội và truy cứu TNHS đúng người, đúng
tội, không oan sai, bỏ lọt tội phạm.
+ Đối tượng tác động của THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự: THQCT trong giai đoạn điều tra là một trong những nội dung cụ thể của
THQCT trong TTHS. Do đó, đối tượng của THQCT đó chính là tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi
phạm tội. Trên thực tế, hoạt động THQCT trong giai điều tra có thể thực hiện
đúng với đối tượng của quyền công tố là tội phạm, người phạm tội, pháp nhân
thương mại phạm tội, tuy nhiên cũng có những trường hợp việc THQCT
không đúng (đó là những trường hợp bị oan, sai trong TTHS), là việc thực
hiện truy cứu TNHS đối với người không thực hiện hành vi phạm tội trong
giai đoạn điều tra vụ án, những đối tượng này không phải là đối tượng của
quyền công tố. Vì vậy trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đối tượng của
THQCT là bị can và người bị nghi phạm tội, pháp nhân thương mại bị nghi
phạm tội là phù hợp.
+ Phạm vi của THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: nó
được bắt đầu từ sau khi có Quyết định KTVA của CQĐT hoặc một số cơ
quan được giao một số nhiệm vụ điều tra và kết thúc khi CQĐT hoàn thành
bản kết luận điều tra và đề nghị VKS truy tố người phạm tội ra trước Tòa án
hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra theo quy định của BLHS và BLTTHS
(trong những trường hợp vụ án áp dụng thủ tục rút gọn không làm bản kết luận
điều tra mà ra quyết định truy tố và gửi hồ sơ cho VKS). Tuy nhiên, trong giai
đoạn điều tra, phạm vi THQCT còn có thêm một trường hợp nữa đó là VKS
trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung cho đến khi VKS nhận lại hồ sơ.
+ Nội dung của THQCT trong giai đoạn điều tra bao gồm:
Thứ nhất: những hoạt động phát động quyền công tố:
- Từ sau khi CQĐT, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra khởi
tố vụ án là lúc Nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội có tội phạm
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
13
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động truy cứu TNHS đối với người đã
thực hiện tội phạm đó. Chỉ có VKS mới là cơ quan có quyền chấp nhận hoặc
không chấp nhận quyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền, có
quyền yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ
tội phạm xảy ra.
- Khởi tố bị can: "Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực
hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can"9.
Điều này có nghĩa Nhà nước đã tuyên bố chính thức một người là can phạm,
bị tình nghi đã thực hiện hành vi phạm tội. "Pháp luật đã giao quyền phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can cho Viện kiểm sát và cũng là để giao quyền
quyết định cuối cùng cho Viện kiểm sát đối với việc có khởi tố hay không khởi
tố đối với một công dân"10. Mặc dù pháp luật thực định quy định quyền khởi
tố bị can của CQĐT, nhưng quyết định đó chỉ có hiệu lực khi có sự phê chuẩn
của cơ quan THQCT đó là VKS nhằm đảm bảo cho việc khởi tố bị can của
CQĐT đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Thứ hai: Từ thời điểm sau khi CQĐT, Cơ quan được giao một số
nhiệm vụ điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì giữa VKS và
các cơ quan THTT, người THTT, bị can xuất hiện những quan hệ TTHS mà
VKS có trách nhiệm và quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS, tiến
hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật tại Điều 165
BLTTHS và Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 như: Đề ra yêu cầu
điều tra, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các lệnh, quyết định, phê chuẩn
hoặc không phê chuẩn việc giữ người... Trực tiếp tiến hành một số hoạt động
điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê
chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt
tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không
9. Khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2015 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
10. Viện Khoa học kiểm sát - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay KSV hình sự, tập 1, Hà Nội, tr. 82.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
14
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi
quyết định việc truy tố. Như vậy mới hạn chế đến mức thấp nhất những tồn
tại có thể xảy ra ở giai đoạn tố tụng sau.
Từ những phân tích làm rõ những nội dung nêu trên, tác giả luận văn
đưa ra định nghĩa về THQCT ở giai đoạn điều tra của VKS: là hoạt động của
VKS nhằm buộc tội đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại khi có hành
vi phạm tội được tiến hành từ sau khi có quyết định khởi tố vụ án đến khi kết
thúc điều tra đề nghị VKS truy tố (hoặc cho đến khi CQĐT đình chỉ vụ án),
hoặc Từ khi VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung đến khi VKS nhận
lại hồ sơ nhằm đảm bảo các hoạt động điều tra đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
1.2. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Thực hành quyền công tố như đã phân tích ở trên còn KSĐT vụ án
hình sự là hoạt động của VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ
thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong giai đoạn điều tra, được
thực hiện từ sau khi có quyết định kiểm tra vụ án của CQĐT và kết thúc khi
CQĐT đề nghị VKS truy tố bị can ra trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ
điều tra và gửi hồ sơ cho VKS nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Thực hành quyền công tố và KSĐT của VKS, nếu xem xét chúng dưới
góc độ độc lập, riêng lẻ thì chúng có mục đích khác nhau. Mục đích của hoạt
động THQCT nhằm bảo đảm việc xử lý nghiêm minh đối với tội phạm ra
trước Tòa án theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm không để lọt tội
phạm và làm oan người vô tội. Mục đích KSĐT nhằm bảo đảm việc chấp
hành pháp luật của các cơ quan tư pháp được thực hiện nghiêm chỉnh, thống
nhất, bảo vệ quyền con người, quyền của pháp nhân thương mại trong TTHS.
Tuy vậy giữa THQCT và KSĐT có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, chúng
làm tiền đề và điều kiện cho nhau. Việc VKS chỉ thực hiện chức năng công tố
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
15
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
mà không thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp11 hoặc nên tách
hai chức năng này do hai chủ thể độc lập nhau thực hiện12 là những vấn đề
cần được nghiên cứu kỹ.
Thực tế đã chứng minh hai chức năng, nhiệm vụ trên của VKS phải
luôn song hành, tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện mới phát huy
hiệu quả. Ở từng giai đoạn tố tụng, tuy các chức năng này thể hiện ở những
mức độ và nội dụng khác nhau nhưng dù ở giai đoạn nào thì chúng cũng thể
hiện mối quan hệ gắn bó, đan xen hữu cơ và bổ sung tích cực cho nhau. Công
tác KSĐT có hiệu quả sẽ tạo điều kiện giúp cho việc THQCT được đúng đắn,
có hiệu quả trong việc phê chuẩn các lệnh, quyết định, đề ra yêu cầu điều tra
chính xác, sát với nội dung vụ án... Ngược lại công tác THQCT có hiệu quả sẽ
tạo điều kiện cho hoạt động KSĐT xác định kịp thời các vi phạm pháp luật
trong quá trình điều tra, đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy
đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm trong quá trình điều tra phải
được khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm. Chỉ thực hiện tốt đồng thời hoạt
động THQCT và KSĐT thì VKS mới có thể hoàn thành tốt được và đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra: Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ,
tạm giam, bị hạn chế quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, danh dự và
nhân phẩm một cách trái pháp luật; không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội, việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội phải đúng pháp
luật, có căn cứ; việc điều tra phải được tiến hành một cách khách quan, toàn
diện, chính xác..., những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được
phát hiện kịp thời và khắc phục ngay.
Như đã phân tích và làm rõ, nội dung của THQCT trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự là các hoạt động của VKS nhằm phục vụ cho việc buộc
tội. Nội dung của KSĐT là bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo phát hiện
vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra từ đó kiến nghị, yêu cầu khắc phục
11. Ban chỉ đao Cải cách tư pháp Trung ương (2012), Đề án nghiên cứu chuyển VKS thành Viện công tố, Hà Nội
12. Tham luận tại Hội thảo khoa học về sửa đổi, bổ sung BLTTHS (2011), tác giả Trần Đình Nhã.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
16
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
vi phạm bảo đảm việc điều tra phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự thủ tục,
thẩm quyền theo quyết định của pháp luật. Trong giai đoạn điều tra, để thực
hiện tốt việc THQCT, đó là việc bảo đảm việc phê chuẩn hoặc không phê
chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng của CQĐT được chính xác, đúng pháp
luật, đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ, tính hợp pháp và tính có
liên quan của tài liệu điều tra do CQĐT thu thập, đây chính là hoạt động thực
hiện chức năng kiểm sát điều tra. Trên cơ sở kết quả của hoạt động KSĐT, thì
VKS sẽ quyết định việc phê chuẩn hoặc hoặc không phê chuẩn hoặc hủy bỏ
các lệnh, quyết định tố tụng của CQĐT. Việc thực hiện công tác KSĐT nếu
có sai sót, nhận định không chính xác sẽ kéo theo việc vi phạm tố tụng của
hoạt động THQCT.
Như vậy, mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự là mối quan hệ hỗn hợp tác động lẫn nhau cùng vì mục đích là
phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi phạm
tội, bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. Hoạt động THQCT
là bảo đảm mọi tội phạm, người phạm tội phải được xử lý, còn KSĐT trong
hoạt động điều tra nhằm bảo đảm việc xử lý tội phạm đúng trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định.
Thực hành quyền công tố và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự là hai mặt hoạt động của VKS song song diễn ra, mối quan hệ gắn
bó chặt chẽ giữa hai hoạt động này có tác dụng làm tăng hiệu quả hoạt động
của VKS, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt
động kia và ngược lại, kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc
cho hoạt động kia. Việc tổ chức thực hiện hai chức năng này nếu càng có sự
phối hợp nhịp nhàng giữa hai mặt hoạt động này thì sẽ tiến đến mục đích
chung là bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
17
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
1.3. Ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
Thứ nhất, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự góp phần bảo
vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản và các quyền lợi ích
hợp pháp khác của công dân, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội,
đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện, xử lý nhanh chóng nghiêm
minh kịp thời; không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội.
Viện kiểm sát là một trong những cơ quan THTT với phạm vi quyền
công tố và THQCT từ khi phát hiện tội phạm đến khi bản án có hiệu lực pháp
luật. Hoạt động của các CQĐT, truy tố, xét xử đều có sự đan xen, ràng buộc
nhau, vì có VKS nên CQĐT không thể tùy tiện bắt ai, khởi tố ai, bỏ qua cho
trường hợp nào cũng được; tương tự như vậy Tòa án không thể xét xử thế
nào, tuyên chọn loại, mức hình phạt nào cũng được. Họ có thể bị VKS can
thiệp bằng các quyền năng tố tụng ngay lập tức nếu CQĐT và Tòa án ra các
văn bản áp dụng pháp luật sai. Điều đó cho thấy VKS có vai trò quan trọng
trong công tác bảo vệ công lý trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.
Trong giai đoạn điều điều tra, thì mục tiêu của giai đoạn điều tra là
nhằm thu thập những chứng cứ, tài liệu để làm rõ nội dung của vụ án và
những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Để có cơ sở truy
tố, xét xử người phạm tội đúng người, đúng pháp luật thì THQCT trong giai
đoạn điều tra sẽ giúp kịp thời thu thập những tài liệu, chứng cứ làm căn cứ cho
việc buộc tội, gỡ tội, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội không bỏ lọt tội phạm.
Thông qua công tác THQCT và KSĐT, KSV là những người trực tiếp
kiểm nghiệm tính phù hợp hay không phù hợp, có căn cứ hay không có căn cứ
của các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là BLHS và BLTTHS. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay khi cơ chế quản lý kinh tế của chúng ta chưa hoàn
thiện còn nhiều vấn đề bất cập, một số quan hệ thuộc lĩnh vực mới nhưng
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
18
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
BLHS chưa được pháp điển hóa để bảo vệ, nhiều quy phạm đã lạc hậu, chồng
chéo cho nên tội phạm thường lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện hành
vi phạm tội, nhất là những tội phạm tham ô, cố ý làm trái các quy định của
nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, nhận hối lộ… Chẳng
hạn, nhiều trường hợp bị ép đưa hối lộ nhưng không dám tố cáo vì họ biết
rằng nếu tố cáo có thể cả người nhận và người đưa đều bị xử lý hoặc người
nhận thì không sao, còn người đưa hối lộ thì bị xử lý về tội vu khống. Vậy
làm sao để khắc phục những điều này, thì câu trả lời đầu tiên là chúng ta phải
hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ, có tính dự báo trên tất cả các
lĩnh vực của quản lý nhà nước. Qua công tác THQCT, VKSNDTC sẽ tổng
hợp những vấn đề bất cập nêu trên đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung thay thế
cho phù hợp. Như vậy, công tác THQCT ở giai đoạn điều tra có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Thứ hai, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự còn có vai trò
hướng các chủ thể của quan hệ pháp luật, thực hiện đầy đủ chức trách nhiệm
vụ của mình khi THTT, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người
tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giữ, bị can, người bị hại; ngăn ngừa
việc lạm quyền của những người THTT. Qua truy tố người phạm tội, công tác
THQCT đã góp phần giáo dục riêng đối với người phạm tội, răn đe phòng
ngừa chung đối với người đã và đang có ý định phạm tội, góp phần phổ biến,
tuyên truyền, giáo dục pháp luật; kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức liên quan
có biện pháp khắc phục các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các vi phạm
và tội phạm.
Thứ ba, mục đích mà quá trình TTHS cần đạt tới và đòi hỏi các cơ
quan THTT phải quan tâm được quy định tại Điều 1 BLTTHS đó là: "bảo
đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội..." và VKS với những nhiệm vụ, quyền hạn của mình là THQCT
bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, mọi
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
19
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c