BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRỊNH THỊ THANH THẢO
NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 8380103
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hƣớng ứng dụng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Tuyết
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu
trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy
định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thanh Thảo
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật dân sự
BTTH
Bồi thường thiệt hại
HĐND
Hội đồng nhân dân
TAND
Tòa án nhân dân
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
CHƢƠNG I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ................................................................................. 7
1.1. Một số vấn đề chung về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng. 7
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng .........................................7
1.1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.............................11
1.2. Một số vấn đề chung về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng ...................... 19
1.2.1. Khái niệm về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng .....................................19
1.2.2. Cơ sở hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng ..............................20
1.2.3. Lược sử hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng ..........................25
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC .27
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ......................................... 27
2.1. Nguyên tắc bồi thƣờng toàn bộ và kịp thời. ................................................. 29
2.2. Nguyên tắc bồi thƣờng hợp lý. ....................................................................... 34
2.3. Nguyên tắc giảm mức bồi thƣờng. ................................................................. 37
2.4. Nguyên tắc thay đổi mức bồi thƣờng. ........................................................... 40
2.5. Nguyên tắc bồi thƣờng khi bên bị thiệt hại cũng có lỗi. .............................. 44
2.6. Nguyên tắc không phải bồi thƣờng nếu thiệt hại xảy ra do bên bị thiệt hại
không thực hiện các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
cho chính mình. ...................................................................................................... 47
CHƢƠNG 3:THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ............... 50
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về nguyên tắc bồi thƣờng thiệt
hại ngoài hợp đồng. ................................................................................................ 50
3.1.1. Áp dụng nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời. ...............................50
3.1.2. Áp dụng nguyên tắc giảm mức bồi thường ..............................................54
3.1.3. Áp dụng nguyên tắc thay đổi mức bồi thường. ........................................56
3.1.4. Áp dụng nguyên tắc bồi thường tương ứng với mức độ lỗi. ....................57
3.1.5. Áp dụng nguyên tắc không phải bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do bên bị
thiệt hại không thực hiện các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế
thiệt hại cho chính mình. ...................................................................................63
3.2. Những bất cập, khó khăn trong áp dụng nguyên tắc bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng và hƣớng hoàn thiện. .................................................................. 64
3.2.1. Những bất cập, khó khăn trong áp dụng nguyên tắc bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng ..................................................................................................64
3.2.2. Hướng hoàn thiện ....................................................................................67
PHẦN KẾT LUẬN .......................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng
trong Bộ luật Dân sự, là một phần không thể thiếu trong việc bảo vệ các quyền, lợi
ích chính đáng của các chủ thể trong xã hội, đảm bảo trật tự, ổn định xã hội. Chế
định BTTH ngoài hợp đồng ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong
những trường hợp có thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín của người khác mà người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại không có việc
giao kết hợp đồng trước đó hoặc có hợp đồng nhưng hành vi vi phạm pháp luật gây
thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng.
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một chế định có lịch sử phát triển lâu
dài và sớm nhất trong pháp luật trên thế giới nói chung cũng như pháp luật của Việt
Nam nói riêng. Vào thời La Mã (thế kỷ thứ VIII TCN đến thế kỷ thứ VII SCN),
pháp luật đã quy định “chế độ phục cừu” là nguyên tắc trả thù ngang bằng. Sau đó
đến thời kỳ cổ đại, hậu cổ đại các quy định về BTTH ngoài hợp đồng cũng được các
nước chú trọng phát triển. Ở Việt Nam, trong các thời kỳ trước đây, trách nhiệm dân
sự do hành vi gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏa cũng được pháp luật quy
định từ rất sớm. Và tiêu biểu đầu tiên được quy định trong Quốc triều hình luật, sau
đó là Bộ Luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long. Giai đoạn trước khi BLDS 1995 được
ban hành, ở Việt Nam dưới chế độ mới cũng có một số văn bản hướng dẫn biện
pháp giải quyết những tranh chấp về BTTH do hành vi trái pháp luật gây ra, và
trách nhiệm của chủ sở hữu tài sản BTTH do tài sản gây ra. Có thể kể đến Thông tư
số 173-UBTP ngày 23 tháng 3 năm 1972 của TANDTC hướng dẫn xét xử BTTH
ngoài hợp đồng, Nghị định số 49-CP ngày 9 tháng 4 năm 1968 quy định về trách
nhiệm vật chất, BLDS 2005 và hiện nay BLDS 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017
đã có những điểm đổi mới, tiến bộ hơn nhiều so với những quy định trước đây.
Hiện nay, BLDS năm 2015 quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
tại chương XX từ Điều 584 đến Điều 608, gồm có 3 mục. Mục 1: Những quy định
chung từ Điều 584 đến Điều 588; Mục 2: Xác định thiệt hại, từ Điều 589 đến Điều
593; Mục 3: Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể, từ Điều 594 đến
Điều 608. Chế định BTTH ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong BLDS
2015, điều chỉnh các quan hệ về tài sản và nhân thân phát sinh từ trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng do có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về
2
tài sản, sức khỏe, tính mạng và các quyền nhân thân khác. Chế định trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng còn điều chỉnh các quan hệ tài sản phát sinh từ những sự
kiện pháp lý do tài sản gây thiệt hại cho người khác.
Trách nhiệm BTTH không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra
mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ
nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp
dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt
hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt đối với
các hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi. Vì vậy, trong pháp luật dân sự không thể
coi trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp hnh sự hay
hnh phạt phụ.
Đối với chế định BTTH ngoài hợp đồng, nguyên tắc BTTH được coi là kim
chỉ nam, là xương sống để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết các vụ
việc tranh chấp trên thực tế. Bởi lẽ, khi xác định mức bồi thường, xác định thiệt hại
thực tế, xác định mức độ lỗi của các bên trong tranh chấp mỗi một cơ quan tiến
hành tố tụng lại có sự áp dụng giải quyết không giống nhau. Do đó, vai trò của
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng lại càng được đề cao và tuân thủ một cách tuyệt
đối để pháp luật được thực thi thống nhất, đảm bảo công bằng xã hội.
Về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng, có thể nói BLDS 2015 đã có những
thay đổi đáng kể, thể hiện quan điểm lập pháp của nhà làm luật cũng đã thay đổi để
phù hợp hơn với thực tiễn. Mục đích của việc thay đổi cũng là để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mọi người một cách tốt nhất. Không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị thiệt hại mà còn giảm bớt gánh nặng cho người có trách nhiệm
BTTH, đảm bảo nguyên tắc nhân đạo và tính khả thi của các quy định pháp luật.
Đến nay, BLDS 2015 mới có hiệu lực thi hành được hơn 1 năm, các nguyên
tắc mới bước đầu đã được Tòa án áp dụng để giải quyết các vụ việc tranh chấp trên
thực tế. Tuy nhiên đã xuất hiện những cách áp dụng khác nhau và cách đánh giá
mức độ lỗi, các tình tiết giảm mức bồi thường cũng khác nhau đối với từng cơ quan
tiến hành tố tụng.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ quy định của
pháp luật về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng cũng như hiểu rõ hơn trên thực tiễn,
cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng những nguyên tắc này để giải quyết các vụ
việc dân sự như thế nào là vô cùng cần thiết.
3
2. Tình hình nghiên cứu
BTTH ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong BLDS 2015, và trên
thực tiễn áp dụng xét xử còn xuất hiện nhiều cách hiểu, cách áp dụng khác nhau. Do
đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo và bài viết
trên các tạp chí đề cập đến vấn đề này, trong đó có phân tích đến nguyên tắc BTTH
ngoài hợp đồng:
- PGS.TS Phùng Trung Tập (2017), Luật Dân sự Việt Nam (Bình giải và áp
dụng), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Công an nhân dân.
- PGS.TS Trần Thị Huệ, TS. Vũ Thị Hải Yến, TS. Vũ Thị Hồng Yến
(2011), Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn,
Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- TS. Trần Thị Huệ (chủ biên), Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo
pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính Hà Nội 2013.
- Nguyễn Văn Chương, Chu Thị Hoa (2005), Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 4/2005).
- Nguyễn Văn Hợi (2017), Luận án tiến sĩ Luật học, “Trách nhiệm BTTH
do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Trường đại học Luật Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đã phân tích những vấn đề
chung về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng như các căn cứ phát sinh trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng, cách xác định thiệt hại đối với tài sản gây ra, thiệt hại đối
với sức khỏe, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm… Đề tài bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng là đề tài có tính thực tiễn cao. Trên thực tế, người dân chưa hiểu rõ
quy định của pháp luật về vấn đề này, đặc biệt là nguyên tắc bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng nên phát sinh nhiều sự việc đáng tiếc xảy ra. Hơn nữa, đối với thiệt
hại về sức khỏe, tính mạng, tinh thần thì việc xác định mức bồi thường toàn bộ thiệt
hại xảy ra cũng bắt gặp nhiều sự không tương đồng khi xét xử thực tế. Về nguyên
tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được quy định rõ trong điều luật nhưng
đến khi áp dụng trên thực tế, vào mỗi vụ việc với tình tiết khác nhau, cơ quan tiến
hành tố tụng các địa phương khác nhau lại có cách hiểu và áp dụng khác nhau. Việc
xác định mức độ lỗi của từng người hay mức độ thiệt hại do lỗi của từng người gây
ra để xác định mức bồi thường cũng gặp không ít khó khăn. Đến nay, chưa có một
đề tài nào đi sâu phân tích về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng và thực tiễn áp
dụng trên thực tế. Trải qua một khoảng thời gian tuy không dài khi áp dụng nguyên
4
tắc BTTH ngoài hợp đồng theo BLDS 2015 nhưng cũng bộc lộ những mặt hạn chế
nhất định.
3. Phạm vi, mục đích và đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu lý luận chung về trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng, căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và căn cứ hình thành
nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ hai, luận văn nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật về
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng.
Thứ ba, luận văn nghiên cứu về thực tiễn áp dụng nguyên tắc BTTH ngoài
hợp đồng và đưa ra phương hướng giải quyết đối với những bất cập.
Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ những vấn đề về lý luận, nội
dung quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng. BLDS
2015 quy định về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng với nhiều điểm mới, tiến bộ.
Tuy nhiên, khi áp dụng thi hành trên thực tế cũng bộc lộ những hạn chế nhất đinh.
Qua đó việc nghiên cứu đề tài, đánh giá được phần nào những điểm tiến bộ cũng
như những hạn chế, thiếu sót trong quy định của pháp luật khi áp dụng vào giải
quyết các vụ việc tranh chấp trên thực tế, đồng thời đưa ra định hướng hoàn thiện
quy định của pháp luật về vấn đề này. Thông qua luận văn, tác giả mong muốn góp
một cái nhìn tổng thể và toàn diện nhất về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng.
Đối tượng nghiên cứu luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cụ thể cần thực
hiện sau:
- Khái quát được những nội dung về lý luận có liên quan đến trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng và căn cứ phát sinh nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng.
- Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng đối với từng nguyên tắc khác nhau thông qua các
vụ án, vụ việc trên thực tiễn, đã được xét xử. Qua đó, hiểu được cách cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng quy định của pháp luật trong việc xét xử trên thực tế. Đánh giá được
những ưu điểm, hạn chế của nguyên tắc BTTH khi áp dụng trên thực tiễn.
5
- Đưa ra những định hướng cơ bản góp phần hoàn thiện quy định của pháp
luật về nội dung nghiên cứu căn cứ trên những điểm hạn chế đã được đưa ra trong
luận văn.
4. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có tính hệ thống những vấn đề
liên quan đến nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng. BLDS 2015 ra đời đã có những
điểm mới đáng kể về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng. Từ đó, vẫn chưa có công
trình nghiên cứu khoa học đi sâu phân tích đến quy định này. Những điểm mới
được thể hiện trong luận văn so với những công trình nghiên cứu khác đã từng đề
cập đến vấn đề này bao gồm:
- Khái quát về lịch sử hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng trong
hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Đưa ra căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng;
- Phân tích một cách hệ thống những quy định của pháp luật hiện hành về
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng;
- Đưa ra những đánh giá, nhận xét về những điểm mới của BLDS 2015
trong quy định về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng theo so với BLDS 2005;
- Phân tích, bình luận những bản án, vụ việc cụ thể trên thực tế tương ứng
với từng nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng, đồng thời đánh giá những ưu điểm, hạn
chế và đưa ra một số định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về nguyên tắc
BTTH ngoài hợp đồng.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu khoa
học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ thống
quan điểm, lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác
như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh bình
luận… trong quá trình nghiên cứu đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Trong tình hình hiện nay, đã có các công trình nghiên cứu khoa học về đề tài
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của BLDS 2005 và BLDS 2015.
Tuy nhiên, có rất ít công trình nghiên cứu khoa học đi sâu phân tích, đánh giá về
nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt là khi BLDS 2015 có hiệu
lực ngày 1/7/2017. Do vậy, luận văn có vai trò làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn áp
6
dụng các quy ðịnh của pháp luật về nguyên tắc bồi thýờng thiệt hại ngoài hợp ðồng.
Kết quả nghiên cứu của luận vãn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những
ðối týợng muốn tìm hiểu về vấn đề này.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 3 phần:
Phần 1: Lời nói đầu
Phần 2: Phần nội dung, bao gồm 3 chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng và nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chương II: Quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương III: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về nguyên tắc bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Phần 3: Kết luận
7
CHƢƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NGUYÊN TẮC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1.
Một số vấn đề chung về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài
hợp đồng.
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Khi nói đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến một tình thế buộc một
người phải thực hiện một hành vi hoặc có trách chiệm gánh chịu những bất lợi về
tài sản hoặc về nhân thân của người mang trách nhiệm đó. Trong một xã hội nhất
định, với bất kỳ một quan hệ xã hội nào thì bên canh các quyền xác định được đều
gắn với trách nhiệm của các bên chủ thể tham gia quan hệ đó. Tuy nhiên, theo tính
chất của từng loại trách nhiệm thì trách nhiệm được phân ra theo đối tượng điều
chỉnh của từng ngành luật khác nhau hoặc tính chất của từng loại quan hệ tài sản
khác nhau để xác định. Tương ứng với các đối tượng điều chỉnh của mỗi một ngành
luật thì trách nhiệm pháp lý cũng được nhà nước quy định trong một phạm vi và có
những đặc điểm khác nhau như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách
nhiệm dân sự.
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là chế định bắt nguồn từ một chế định
chung nhất đó là trách nhiệm dân sự. Vì vậy để hiểu rõ nội hàm khái niệm trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì trước tiên phải tìm hiểu khái niệm trách nhiệm dân
sự là gì? Quan hệ giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng?
Trách nhiệm dân sự là căn cứ phát sinh một quan hệ nghĩa vụ của chủ thể
xác định được. Chủ thể của quan hệ trách nhiệm dân sự có thể là cá nhân, người
đại diện của pháp nhân, các tổ chức không có tư cách pháp nhân có hành vi trái
pháp luật gây thiệt hại hoặc có những hành vi vi phạm những cam kết trong hợp
đồng. Trong trường hợp người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, thì người
này phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Đó là một dạng khác trong trách
nhiệm dân sự. Cụ thể hơn đó là trách nhiệm BTTH. Các luật gia chia dạng trách
nhiệm này thành 2 loại nhỏ hơn. Đó là trách nhiệm BTTH theo hợp đồng (áp
dụng đối với những quan hệ có ràng buộc bởi một giao kết là hợp đồng) và trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
8
Qua việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của chế định BTTH
ngoài hợp đồng như trên, có thể nhận thấy chế định trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng là một trong những chế định có lịch sử hình thành và phát triển sớm trong các
chế định pháp luật dân sự. Bởi lẽ, nó điều chỉnh trực tiếp các quan hệ dân sự diễn ra
phổ biến trong cuộc sống. Trong giai đoạn hiện nay, chế định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng dựa trên nền tảng của các quy định mang tính nguyên tắc của trách
nhiệm dân sự. Các quy định về BTTH ngoài hợp đồng hướng tới bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của những người bị thiệt hại, và sâu xa hơn, mục đích cuối cùng là
nhằm hướng tới bảo vệ quyền con người và các quyền cơ bản của công dân.
Trong khoa học pháp lý trên thế giới, có nhiều học thuyết về trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng được hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử khác
nhau. Trong đó có hai học thuyết điển hình vẫn tồn tại trong khoa học pháp lý dân
sự hiện đại, đó là học thuyết cổ điển (quan điểm cổ điển) và học thuyết trách nhiệm
khách quan (quan điểm trách nhiệm khách quan; hay còn gọi là thuyết rủi ro).
Những người theo thuyết cổ điển cho rằng “cần phải có một sự quá thất (có
lỗi) mới có trách nhiệm dân sự” [11; tr.481]. Theo học thuyết này, người bị thiệt hại
muốn được bồi thường thì phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại. Những tư
tưởng trong học thuyết này còn tồn tại cho đến tận ngày nay và được cụ thể hóa
trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Căn cứ quy định
tại Điều 604 BLDS 2005 có thể nhận thấy, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát
sinh khi có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại. Thực tế cho thấy, học thuyết
này chỉ phù hợp với trường hợp BTTH do hành vi của con người gây ra. Do đó, đối
với trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra thì khi áp dụng quy định này sẽ bộc lộ
nhiều điểm hạn chế. Bên cạnh đó, trong trường hợp sự kiện gây thiệt hại xảy ra
nhưng người bị thiệt hại không thể chứng minh được lỗi của người gây thiệt hại
hoặc thiệt hại xảy ra mà không một chủ thể nào có lỗi. Do đó, “nếu buộc nạn nhân
phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân” [15;
tr.16]. BLDS 2015 ra đời với những sự thay đổi đáng kể về quy định BTTH ngoài
hợp đồng, cũng xuất phát từ sự thay đổi về quan điểm lập pháp. Theo quy định tại
Điều 584 BLDS 2015, trách nhiệm BTTH do hành vi hay do tài sản gây ra đều
không phụ thuộc vào điều kiện lỗi, tức là người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có
thiệt hại xảy ra, có nguyên nhân gây thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả là đã có
thể yêu cầu người gây thiệt hại hoặc người có liên quan phải BTTH.
Theo quan điểm của những người theo học thuyết trách nhiệm khách quan
(lý thuyết rủi ro), trách nhiệm BTTH phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của
9
bất cứ chủ thể nào. Theo đó, chỉ cần có thiệt hại xảy ra, có hành vi hoặc hoạt động
của tài sản gây ra thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả thì người bị thiệt hại đã có
thể yêu cầu BTTH mà không cần chứng minh lỗi của người phải bồi thường. Do đó,
học thuyết này gắn liền với trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra. Những người ủng
hộ cho học thuyết này thường đưa ra nhiều lý do để bảo vệ, và một trong những lý
do có tính thuyết phục nhất đó là “lý do công bằng xã hội” [12; tr.243]. Đây không
phải là học thuyết mới xuất hiện trong pháp luật dân sự hiện đại, mà nó xuất hiện từ
thời La Mã cổ đại. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, “khi một sự tổn hại đã do một súc
vật hay một người nô lệ gây ra, người chủ phải chịu trách nhiệm” [11; tr.560]. Cho
đến ngày nay, học thuyết này vẫn tồn tại và được nhiều luật gia, học giả, nhà nghiên
cứu thừa nhận [16; tr.16]. Khi nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra,
quan điểm của nhiều học giả Việt Nam cũng phù hợp với học thuyết này khi cho
rằng trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra không cần điều kiện về lỗi. Để xác định
trách nhiệm BTTH chỉ cần 3 điều kiện sau đây: (i) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (ii)
Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện
gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Trên cơ sở những phân tích ở trên có thể thấy rằng, trong khoa học pháp lý
thế giới vẫn còn tồn tại các học thuyết đối lập nhau về trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng. Mặc dù vậy, mỗi học thuyết đều dựa trên nền tảng những lý luận vững chắc
và vẫn được áp dụng ở các quốc gia khác nhau cho đến tận ngày nay. Thông qua
quá trình lập pháp dân sự ở Việt Nam, có thể nhận thấy việc xây dựng chế định
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không định hình trên một học thuyết cụ thể, mà
dường như dựa trên nền tảng của các học thuyết khác nhau. Điều này có thể dễ dàng
nhận thấy thông qua quy định trong BLDS 2015, trong đó khoản 2 Điều 584 đưa ra
hai căn cứ loại trừ trách nhiệm BTTH mà trong đó đều thể hiện người chịu trách
nhiệm BTTH không có lỗi (thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn
do lỗi của bên bị thiệt hại). Điều này cho thấy, nếu người gây thiệt hại có lỗi sẽ
không được loại trừ trách nhiệm bồi thường, tức là lỗi vẫn được coi là một trong các
điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH. Tuy vậy, theo nguyên tắc giảm mức bồi
thường được quy định tại khoản 2 Điều 585 có thể thấy, việc người chịu trách
nhiệm BTTH “không có lỗi” chỉ là một trong các điều kiện để có thể xem xét giảm
mức bồi thường chứ không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường, nghĩa là
chủ thể phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi, hay lỗi không phải là một trong
các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng) [13; tr.17]. Qua các
10
phân tích trên có thể nhận thấy rằng quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
của pháp luật Việt Nam được xây dựng trên cơ sở vận dụng linh hoạt các nền tảng
lý luận từ các học thuyết trên.
Từ trước khi BLDS 2015 ra đời, trong khoa học pháp lý dân sự, khi nói đến
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng nhất cho
rằng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật
(hành vi gây thiệt hại). Đây không chỉ là quan điểm của các học giả nghiên cứu các
vấn đề mang tính lý luận về BTTH ngoài hợp đồng, mà đó cũng là quan điểm của
các học giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng.
Những quan điểm nêu trên đều phù hợp với quan điểm lập pháp của Việt Nam trong
thời điểm đó.
Có quan điểm cho rằng: “Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách
nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản,
sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân…”[14; tr8];
Ý kiến khác lại nhận định rằng: “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là quy
định của luật dân sự nhằm buộc người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe,
tính mạng,… của các chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại
mà mình gây ra”[15; tr.389]
Điều 604 BLDS 2005 quy định: “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của cá nhân, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc
các chủ thể khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường”.
Các khái niệm về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nêu trên đều được xây
dựng trên căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được quy định tại
Điều 604 BDLS 2005, trong đó nguyên nhân gây ra thiệt hại được xác định là hành
vi xâm phạm các đối tượng được pháp luật bảo vệ. Trước thời điểm BLDS 2015 có
hiệu lực, các khái niệm được đưa ra hoàn toàn phù hợp với quan điểm lập pháp của
Việt Nam. Tuy nhiên, BLDS 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017, đã có sự thay đổi
cơ bản về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, không chỉ được xây dựng trên cơ sở
hành vi gây thiệt hại mà còn phải dựa vào cả trường hợp tài sản gây thiệt hại, nhưng
vẫn dựa trên nền tảng của trách nhiệm dân sự nói chung. Theo đó, khái niệm trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có thể được hiểu như sau:
“Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự mà trong đó một
hoặc nhiều chủ thể có trách nhiệm BTTH phải bù đắp những tổn thất về vật chất và
11
tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật
bảo vệ bị xâm phạm”
BTTH ngoài hợp đồng là một trong những vấn đề pháp lý lớn và phức tạp.
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồn
g là một loại trách nhiệm dân sự, được hiểu là trách nhiệm của người có hành
vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các
quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có
giao kết hợp đồng hoặc giữa họ có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại
không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng.
Nếu như trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phát sinh trên cơ sở
một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách
nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà giữa họ không có giao kết
hợp đồng hoặc có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành
vi vi phạm hợp đồng.
1.1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH. Điều 584 BLDS 2015
quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH:
“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của
bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo
quy định tại khoản 2 Điều này.”
Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, BLDS 2015 đã
được sửa đổi và có sự tiến bộ so với BLDS 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy
định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
khác”. Như vậy, trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là “hành vi
12
xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định trước đây tại Điều 604 BLDS
2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi
cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại
có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại
có lỗi. Yếu tố lỗi được coi là một trong những căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Thể hiện quan điểm lập pháp
thay đổi tiến bộ hơn so với BLDS 2005. Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi
có các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại là căn cứ đầu tiên và rất quan trọng khi xác định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng. Nếu không có thiệt hại xảy ra sẽ không phát sinh trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng.
Theo từ điển Bách khoa, “thiệt hại là những hậu quả bất lợi ngoài ý muốn về
tài sản hoặc phi tài sản do một sự kiện hoặc một hành vi nào đó gây ra; những chi
phí phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; những hư hỏng mất mát
về tài sản, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. Gồm có: thiệt hại về thể chất (sự
mất mát sức khoẻ, sắc đẹp, thể hình của nạn nhân do người khác gây ra); thiệt hại
về tinh thần (sự tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
nhưng không dẫn đến thiệt hại về tài sản hoặc sự suy sụp về tâm lí, tình cảm); thiệt
hại về vật chất (sự mất mát hư hỏng hoặc bị huỷ hoại về tài sản do bị lấy cắp, bị
phá hỏng hoặc bị phá huỷ không còn khôi phục được)”.
Có thể giải thích về khái niệm thiệt hại như sau: “đó là thiệt hại về vật chất,
biểu hiện cụ thể là thiệt hại về tài sản, hoặc là những chi phí và những thu nhập bị
giảm sút hay bị mất do có sự thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đưa đến. Thiệt hại ấy
phải thực sự đã xảy ra và có thể tính toán được.
Tuy nhiên đối với thiệt hại như: hoa màu sắp được thu hoạch một cách chắc
chắn mà bị làm hư hỏng, hay súc vật sắp đến ngày đẻ mà bị làm chết, thì có thể xem
xét thiệt hại một cách thích đáng”.
Thiệt hại không chỉ được hiểu đơn thuần là những thiệt hại về vật chất, làm
suy giảm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị
thiệt hại; mà còn là thiệt hại về tinh thần, chính người bị thiệt hại và những người
thân của họ cũng phải chịu ảnh hưởng xấu về tinh thần khi thiệt hại xảy ra. Phạm vi
13
của “thiệt hại” ngày nay đã được mở rộng hơn, bao quát cả thiệt hại về vật chất và
thiệt hại về tinh thần, là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng. Tại mục 1.1 mục 1 Phần I của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định:
“Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định
tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều
609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610
BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1
Điều 611 BLDS.
b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị
xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương,
buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do
bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ
phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không
phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm
phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm
và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.
Từ những quy định trên của pháp luật có thể đưa ra nhận xét Thiệt hại được
hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất và phi vật chất của một chủ thể xác định
được trên thực tế bằng một khoản tiền cụ thể tương đương.
Từ những quy định trên nhận thấy rằng pháp luật đã mở rộng phạm vi của
thiệt hại. Thiệt hại không những là thiệt hại về vật chất có thể xác định được bằng
một giá trị định lượng cụ thể mà còn bao gồm cả thiệt hại về tinh thần của cá nhân
và tổ chức, pháp nhân. Như vậy, pháp luật đã quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân và cả tổ chức, pháp nhân. Quy định BTTH trong tường hợp tổn
thất tinh thần của pháp nhân còn góp phần nâng cao uy tín, trách nhiệm của tổ chức,
pháp nhân trong hoạt động của mình. Bởi lẽ uy tín của một pháp nhân là giá trị vô
hình và vô cùng lớn, quyết định đến sự thành công của pháp nhân khi hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Hiện nay, BLDS 2015 có hiệu lực đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng. BLDS 2005 quy định về các đối tượng bị xâm phạm trong
căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH theo hướng liệt kê. Cụ thể, khoản 1 Điều 604
BLDS 2005 quy định: “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức
14
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường”. Với quy định như trên, đối với cá nhân, BLDS 2005 có phạm vi
điều chỉnh rất rộng. Tuy nhiên, đối với pháp nhân, BLDS 2005 chỉ liệt kê ba đối
tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản”. Quy định mới tại khoản 1 Điều 584
BLDS 2015 đã khắc phục được nhược điểm trên, theo đó, đối tượng bị xâm phạm
làm phát sinh trách nhiệm BTTH của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”.
Ngoài ra, BLDS 2015 đã quy định phạm vi điều chỉnh trong trường hợp đối
tượng tài sản gây ra thiệt hại. Các quy định của BLDS 2015 đã khái quát các trường
hợp khi đối tượng gây ra thiệt hại là tài sản; đó là súc vật, cây cối, nhà cửa, công
trình xây dựng và nguồn nguy hiểm cao độ. Nếu gây ra thiệt hại thì trách nhiệm
BTTH sẽ được áp dụng dựa trên căn cứ là tài sản gây thiệt hại chứ không phải là
hành vi trái pháp luật.
Thứ hai, có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại.
Trước một hành vi của con người, xét theo hậu quả pháp lý thì có hành vi
phù hợp với quy định của pháp luật, có hành vi bị pháp luật ngăn cấm, trừng phạt.
Những hành vi gây tổn thất cho người khác bị pháp luật cấm cho dù hành vi đó
được thể hiện do cố ý hay vô ý. Xét về mặt pháp lý, một người phải thực hiện một
việc, hoặc cấm không được thực hiện một việc cụ thể nhưng người đó không thực
hiện hoặc thực hiện việc pháp luật cấm đều bị coi là hành vi trái pháp luật.
Các quyền, lợi ích hợp pháp của con người được pháp luật bảo vệ như quyền
đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình, quyền bất khả xâm phạm về tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm… Đạo luật cao nhất là Hiến pháp quy định rõ những
quyền cơ bản này của con người. Điều 19 Hiến pháp năm 2013 bảo vệ quyền tối
cao của con người là quyền sống: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người
được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Khoản 1 Điều
20 Hiến pháp năm 2013 quy đinh: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn,
bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân
thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Quyền sở hữu của con người được
pháp luật bảo vệ thông qua quy định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người
có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư
liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế
15
khác…”. Như vậy, hành vi gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, uy tín,
danh dự… của người khác phải được xác định là hành vi trái pháp luật và người đó
phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi của mình. Hành vi trái pháp luật là
hành vi của một người được tiến hành gây ra những thiệt hại về vật chất hoặc tinh
thần của cá nhân, tổ chức, Nhà nước… mà những lợi ích đó được pháp luật quy
định bảo vệ.
Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, trên thực tế thường phát sinh từ
những sự kiện do hành vi cố ý hoặc vô ý của người gây ra thiệt hại. Hành vi gây
thiệt hại phải xác định được là hành vi trái pháp luật, người gây thiệt hại có trách
nhiệm bồi thường.
Một hành vi có thể theo đánh giá của nhiều người dưới góc độ xã hội, đạo
đức thì đã bị lên án nhưng hành vi đấy nếu không được quy định trong luật là không
được thực hiện, cấm thực hiện thì cũng không thể coi là trái pháp luật. Đất nước ta
từ thời kỳ mới giành độc lập, Thông tư 173/UBTP lúc đó đã có quy định về hành vi
trái pháp luật, theo đó, “Hành vi trái pháp luật có thể là một việc phạm pháp về
hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội”. Quy định trên giải
thích về khái niệm hành vi vi phạm pháp luật bằng cách liệt kê ra tất cả các hành vi
được coi là vi phạm pháp luật.
Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nước chủ nghĩa xã hội, Nghị định
03/2006 cũng khái quát lại về định nghĩa này như sau: “Hành vi trái pháp luật là
những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không
hành động trái với các quy định của pháp luật”. So với quy định trước đây của
Thông tư số 173/UBTP, quy định của Nghị quyết 03/2006/NQ-TANDTC đã ngắn
gọn hơn, giải thích mang tính khái quát hơn là liệt kê. Bởi theo cách liệt kê sẽ bị
quy định chung chung và không bao quát hết các trường hợp.
Điều 604 BLDS 2005 đã có những quy định về hành vi BTTH ngoài hợp
đồng: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường.”
Khoản 1 Điều 584 BLDS 20015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật
này, luật khác có liên quan quy định khác”.
16
Từ các quy định trên cho thấy “hành vi trái pháp luật” sẽ có hai đặc điểm cơ
bản sau:
Một là, hành vi trái pháp luật phải do con người thực hiện, không thể được
thực hiện bởi một chủ thể không phải là con người. Bởi pháp luật được hình thành,
xây dựng trong xã hội con người và áp dụng điều chỉnh các hành vi của con người.
Tuy nhiên, cũng không nên hiểu bó hẹp là con người chỉ đại diện cho hành vi của
chính mình. Đó là trường hợp hoạt động của tổ chức, pháp nhân. Trong trường hợp
tổ chức, pháp nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì
hành vi đó của tổ chức, pháp nhân vẫn phải thực hiện thông qua hành vi cụ thể của
cá nhân trng tổ chức, pháp nhân đó.
Đối với thiệt hại do tài sản là súc vật, vật nuôi hoặc nhà cửa, công trình xây
dựng, nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chủ vật nuôi, chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp
pháp tài sản có trách nhiệm BTTH do không quản lý tài sản gây thiệt hại cho người
khác. Những trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì
sẽ không phải bồi thường.
Hai là, hành vi vi phạm pháp luật gồm có hai dạng là hành động và không
hành động. Không hành động trái pháp luật trên thực tế sẽ khó xác định hơn vì
không thể hiện rõ ràng dưới hành động cụ thể và cũng khó để xác định chủ thể vi
phạm pháp luật do không thực hiện hành động mà pháp luật quy định.
Khi xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, yếu tố
hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là căn cứ quan trọng xác định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, xét về hậu quả pháp lư th không phải bao giờ hành vi
gây thiệt hại cũng bị coi là hành vi trái pháp luật. Hành vi gây thiệt hại được xác
định là hành vi trái pháp luật thì người có hành vi đó phải bồi thường, nhưng hành
vi gây thiệt hại được xác định là hành vi không trái pháp luật thì người có hành vi
đó không phải bồi thường. Trong những trường hợp sau đây mặc dù hành vi gây
thiệt hại cho người khác nhưng người gây ra thiệt hại không phải bồi thường cho
hành vi của mình. Đó là:
- Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 594 BLDS 2015);
- Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, không vượt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết (Điều 595 BLDS 2015);
- Người bị thiệt hại có lỗi cố ý, mong muốn thiệt hại xảy ra đối với mình
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại
17
Theo quy định tại mục 1.3 mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
quy định: “Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại
hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại”. Theo quy định tại khoản 1
Điều 584 BLDS 2015, người nào có hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác, mà
hành vi đó chính là nguyên nhân gây thiệt hại cho họ thì người có hành vi xâm
phạm phải bồi thường cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp pháp luật quy định
khác. Như vậy, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật có mối quan hệ nhân
quả với thiệt hại xảy ra.
Quan hệ nhân quả là mối quan hệ khách quan của bản thân các sự vật. Quan
hệ nhân quả của bản thân sự vật tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ
thuộc vào việc con người có nhận thức được hay không. Quan hệ nhân quả của các
hiện tượng, sự vật mang tính phổ biến. Trên cơ sở của việc nhận thức biện chứng thì
tất cả mọi hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều là kết quả của một sự việc
nào đó, đều có nguyên nhân. Do đó, khi có nguyên nhân sẽ phát sinh kết quả. Khi
xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra, cần
phân biệt nguyên nhân với điều kiện nhất định. Có thể nói rằng nguyên nhân bao
giờ cũng phát sinh một hoặc nhiều kết quả nào đó, còn điều kiện tự nó không thể
làm phát sinh bất kỳ kết quả nào. Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân và thiệt
hại chính là kết quả. Người có hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây nên thiệt
hại thì người đó phải bồi thường.[9.tr.65]
Khi xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra,
cần thiết phải xác định được những đặc điểm sau đây:
Một là, tính thời gian trong quan hệ nhân quả: Quan hệ nhân quả là một diễn
biến, quá trình thể hiện trong một khoảng thời gian cụ thể. Nghĩa là nguyên nhân
phải có trước và kết quả có sau. Thiệt hại có thể xảy ra ngay sau khi có hành vi vi
phạm pháp luật hoặc trải qua một khoảng thời gian sau đó mới phát sinh hậu quả.
Hai là, tính hiển nhiên trong quan hệ nhân quả: Tính hiển nhiên phản ánh
mối quan hệ bản chất, thể hiện quy luật vốn có của sự vật, sự việc. Nếu có một hành
vi xảy ra là nguyên nhân thì kết quả chắc chắn sẽ xảy ra theo đó và không thể thay
đổi theo hướng khác.
Ba là, tính khách quan trong quan hệ nhân quả: Quan hệ nhân quả giữa hành
vi vi phạm pháp luật và kết quả của hành vi đó tồn tại độc lập, khách quan và không
phụ thuộc vào ý chí của con người. Cho dù con người có muốn kết quả không xảy
18
ra hoặc thay đổi kết quả theo hướng khác đi thì quan hệ nhân quả vẫn tồn tại khách
quan và không thay đổi được.
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, có thể nói BLDS
2015 đã có những tiến bộ đáng kể, thay đổi phần nào quan điểm lập pháp của Việt
Nam từ thời kỳ đầu cho đến nay.
Theo quy định của BLDS 2005 thì một trong những điều kiện để phát sinh
trách nhiệm BTTH là có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, điều này sẽ là
không hợp lý với những trường hợp thiệt hại là do tài sản gây ra. Bởi vì, theo lý
luận về Nhà nước và pháp luật thì lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể
đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vậy thì,
không thể tìm kiếm được yếu tố lỗi trong trường hợp tài sản - một vật vô tri, vô giác
- gây ra thiệt hại đối với người bị thiệt hại. BLDS 2015 đã khắc phục được thiếu sót
này khi bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại”.
Cụ thể, khoản 3 Điều 584 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải
chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp tài sản gây thiệt hại”. Sự bổ sung của
BLDS 2015 đã thiết thực hơn với đời sống, khắc phục được hạn chế của BLDS
2005 và tạo nên sự thống nhất trong quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Vậy, trong trường hợp nào tài sản gây ra thiệt hại và không liên quan đến hành
vi của con người? Đó là những trường hợp mà tài sản gây ra thiệt hại nhưng lại không
chứng minh được lỗi của bất kỳ chủ thể nào: Không có lỗi cố ý cũng như vô ý.
Những tài sản mà trong quá trình tồn tại hoạt động của chúng, có khả năng gây thiệt
hại bất cứ lúc nào cho những người xung quanh, nguy cơ, tiềm tàng gây thiệt hại đó
vượt khỏi sự kiểm soát của con người, tức là tự thân các tài sản này gây ra thiệt hại
cho người khác mà không phải do lỗi của người quản lý, sử dụng.
BLDS 2015 đã quy định phạm vi điều chỉnh trong trường hợp đối tượng tài
sản gây ra thiệt hại. Các quy định của BLDS 2015 đã khái quát các trường hợp khi
đối tượng gây ra thiệt hại là tài sản. Các trường hợp tài sản gây ra thiệt hại được điều
chỉnh đó là súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng và nguồn nguy hiểm cao
độ. Nếu gây ra thiệt hại thì trách nhiệm BTHT sẽ được áp dụng dựa trên căn cứ là tài
sản gây thiệt hại chứ không phải là hành vi trái pháp luật.
Ngoài ra, trong từng trường hợp bồi thường cụ thể, BLDS 2015 cũng đã có sự
sửa đổi để đảm bảo tính thống nhất giữa tiêu đề của điều luật và nội dung của điều
luật, mở rộng phạm vi áp dụng điều luật liên quan. Cụ thể, Điều 604 - Bồi thường
thiệt hại do cây cối gây ra, bỏ điều kiện “do cây cối đổ, gẫy gây ra”. Như vậy, điều
19
luật sẽ có phạm vi áp dụng cho tất cả những trường hợp thiệt hại do cây cối gây ra
chứ không chỉ khi cây “đổ, gẫy”. Hoặc Điều 627 - Bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra, thay nội dung “phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà
cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người
khác” thành “phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây
thiệt hại cho người khác”. Điều luật sẽ áp dụng cho mọi trường hợp nhà cửa, công
trình xây dựng khác gây thiệt hại chứ không chỉ trường hợp thiệt hại do nhà cửa, công
trình xây dựng khác gây ra khi “bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở”.
Qua việc phân tích một số điểm mới của BLDS 2015 về căn cứ phát sinh trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng trong Chương XX “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng”, tác giả cho rằng, BLDS 2015 đã sửa đổi khá hoàn chỉnh những hạn chế cũng
như bất cập của các quy định liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra, BLDS 2015 còn bổ
sung nhiều điểm mới rất tiến bộ và hợp lý so với các quy định trong BLDS 2005.
1.2.
Một số vấn đề chung về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng
1.2.1. Khái niệm về nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng
Nguyên tắc của một ngành luật là những khung pháp lí chung, những quy tắc
chung được pháp luật ghi nhận có tác dụng định hướng và chỉ đạo cho toàn bộ các
quy phạm pháp luật của ngành luật đó. Các nguyên tắc của một ngành luật không
chỉ là những quy phạm khi điều tiết mà còn là phương châm chỉ đạo khi áp dụng
pháp luật, đặc biệt là áp dụng tương tự pháp luật. Các nguyên tắc của Luật dân sự
được ghi nhận tại Chương I – Phần thứ nhất của BLDS 2015: “Các nguyên tắc cơ
bản của luật dân sự”. Bắt nguồn từ tư tưởng chỉ đạo của Hiến pháp 2013, “Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” Bất cứ một chế định nào ra đời hay nói chung là
Pháp luật của bất kì quốc gia nào cũng hướng đến mục tiêu cao nhất là bảo vệ
quyền con người, công bằng xã hội. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, quan
hệ dân sự có thể nói là quan hệ rộng nhất, gắn với thực tiễn cuộc sống, ðiều chỉnh
trực tiếp quyền và nghĩa vụ của công dân. Pháp luật Việt Nam cũng không nằm
ngoài quy luật ðó. Hiến pháp là ðạo luật cao nhất, ghi nhận rất rõ nội dung về bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, đảm bảo công bằng xã hội. Bởi mục đích cuối
cùng của pháp luật cũng là để đảm bảo quyền con người, bảo vệ tốt nhất quyền và
lợi ích hợp pháp của họ.
20
Đối với từng chế định của luật dân sự, lại tồn tại những nguyên tắc riêng dựa
trên nền tảng, trên tinh thần của nguyên tắc cơ bản luật dân sự đồng thời phù hợp
với tính chất riêng của các chế định đó.
Chế định BTTH ngoài hợp đồng cũng quy định nguyên tắc riêng, đó là
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc
chung của luật dân sự, đồng thời cụ thể hóa đối với chế định BTTH ngoài hợp đồng.
Xuất phát từ đặc điểm các quan hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh cũng
như địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, những điều kiện
khách quan cũng như chủ quan của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại, tính khả
thi của quyết định bồi thường…, BLDS đã quy đinh nguyên tắc BTTH ngoài hợp
đồng tại Điều 585 BLDS 2015.
Nguyên tắc pháp luật được coi là tư tưởng chỉ đạo, thể hiện tính nghiêm
minh của pháp luật và không loại trừ, không phân biệt trách nhiệm dân sự của chủ
thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Nguyên tắc BTTH ngoài
hợp đồng theo quy định tại Điều 585 BLDS 2015 là nguyên tắc được áp dụng trong
việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng. Nó quy định cụ thể về mức bồi thường, các
điều kiện để được giảm mức bồi thường, thay đổi mức bồi thường hoặc miễn giảm
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Đó là căn cứ, là kim chỉ nam để cơ quan tiến
hành tố tụng áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể về vấn đề BTTH.
Trên thực tế, khi giải quyết các vụ án về tranh chấp BTTH ngoài hợp đồng,
việc xác định mức thiệt hại, mức bồi thường, xác định thay đổi mức bồi thường hay
loại trừ trách nhiệm BTTH…, cơ quan tiến hành tố tụng cần vận dụng linh hoạt các
nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng, khéo léo áp dụng và đưa ra hướng giải quyết sao
cho thấu tình đạt lý nhất. Bởi lẽ, trong một số trường hợp, pháp luật không đưa ra
khái niệm giải thích cụ thể mà quy định theo hướng mở, đối với các cơ quan tiến
hành tố tụng khác nhau lại có cách áp dụng giải quyết khác nhau.
1.2.2. Cơ sở hình thành nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng
1.2.2.1. Thuyết tự do ý chí.
Học thuyết tự do ý chí đã phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ XVIII, theo
đó cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được tuyên bố một cách
trực tiếp thông qua các hợp đồng hay gián tiếp qua pháp luật. Học thuyết này cho
rằng, pháp luật thể hiện ý chí chung của các cá nhân trong xã hội, nên các quy định
của pháp luật có giá trị thúc buộc mà các cá nhân đã gián tiếp ưng thuận. Học thuyết
này nhằm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân thông qua tự do thương thuyết,